Phật giáo đưa ra hệ thống quan niệm về thế giới, cho rằng tất cả sự vật hiện tượngxung quanh con người cũng như bản thân con người là không tồn tạithực, chỉ là ảo, là giả, do vô minh sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA – DU LỊCH
BÀI TẬP LỚN (Thay thế bài thi kết thúc học phần)
MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA – DU LỊCH
BÀI TẬP LỚN (Thay thế bài thi kết thúc học phần)
MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Họ tên : ĐỖ THÙY LINH
Lớp : 20TRA012_Khoa VHDL D2020 (N02)
Mã SV : 220001632
Học kì : 3 ; Năm học : 2021 – 2022 Người dạy : Nguyễn Thị Thanh Thủy
Hà Nội, tháng 12/2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại họcThủ đô Hà Nội đã đưa bộ môn Lịch sử văn minh thế giới vào chươngtrình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đếngiảng viên bộ môn – Cô Nguyễn Thị Thanh Thủy đã dạy dỗ và tâmhuyết truyền đạt những kiến thức quý giá cho em trong suốt thờigian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học của cô, em đãtrau dồi cho bản thân nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tậpnghiêm túc và hiệu quả Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức có giátrị sâu sắc, là hành trang để em vững bước sau này
Bộ môn Lịch sử văn minh thế giới là môn học thú vị, bổ ích vì có thểgiúp em nhận biết hơn về lịch sử của thế giới trải qua các thời đại và
có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đầy đủ kiến thức, kỹ năng,giúp sinh viên có thể ứng dụng vào thực tế Tuy nhiên, do khả năngtiếp thu thực tế còn nhiều hạn hẹp, kiến thức chưa sâu rộng Mặc dùbản thân đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tập lớn khó tránhkhỏi những thiếu sót, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tập lớncủa em được hoàn thiện và tốt hơn
Kính chúc cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên con đường sựnghiệp giảng dạy
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2021
Sinh viên
Đỗ Thùy
Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
PHẦN I: Trình bày tư tưởng Phật giáo Tại sao Phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới? Phân tích những đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam 6
1.1 Đặt vấn đề 6
1.2 Nội dung 6
1.2.1 Tư tưởng Phật giáo 6
1.2.1.1 Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo 6
1.2.1.2 Quan điểm về nhân sinh quan của Phật giáo 10
1.2.2 Phật giáo trở thành tôn giáo thế giới 12
1.2.2.1 Đạo Phật không có người lãnh đạo tối cao, nắm mọi quyền hành trong tay 13
1.2.2.2.Yêu chuộng hoà bình từ học thuyết đến hành động .13
1.2.2.3 Phật giáo là hiện thân của một xã hội công bằng thật sự không người bóc lột và hiếp đáp người 13
1.2.3 Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam 14
1.2.3.1 Tính tổng hợp – đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam 14
1.2.3.2 Khuynh hướng thiên về nữ tính 15
1.2.3.3 Tính linh hoạt trong đặc điểm của Phật giáo 18
1.2.3.4 Sự cải biến linh hoạt trên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo ông bà (thờ cúng tổ tiên) tạo nên Phật giáo Hoà Hảo 19
Trang 51.3 Kết luận 20
PHẦN II: Nhận xét đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời Phục Hưng so với nghệ thuật Hy Lạp thời cổ đại Từ thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục Hưng, hãy đánh giá về vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó 21
2.1 Đặt vấn đề 21
2.2 Nội dung 21
2.2.1 Đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của Hy Lạp thời cổ đại và thời Phục Hưng 21
2.2.2 Thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục Hưng 28
2.2.2.1 Vai trò 30
2.2.2.2 Ý nghĩa lịch sử 31
2.3 Kết luận 31
PHẦN III: Qua các thành tựu chính trị - xã hội và kinh tế của văn minh phương Tây cận đại, hãy đánh giá vai trò và ý nghĩa của nền văn minh này 32
3.1 Đặt vấn đề 32
3.2 Nội dung 32
3.2.1 Thành tựu chính trị - xã hội của văn minh phương Tây cận đại 32
3.2.2 Thành tựu kinh tế của văn minh phương Tây cận đại 33 3.2.3 Đánh giá vai trò và ý nghĩa 36
3.3 Kết luận 37
PHẦN IV: Nội dung và đặc điểm của cuộc Cách mạng Khoa học kỹ thuật lần thứ hai bắt đầu từ Mỹ Ý nghĩa và tác động của nó nhìn từ góc độ văn minh 37
4.1 Đặt vấn đề 37
4.2 Nội dung 38
4.3 Kết luận 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 6PHỤ LỤC 42
PHẦN I: Trình bày tư tưởng Phật giáo Tại sao Phật giáo lại trở thành tôn giáo thế giới? Phân tích những đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam.
1.1 Đặt vấn đề
Phật giáo là một tôn giáo rất phổ biến, được truyền bá và có ảnhhưởng tới rất nhiều các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam ta.Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm và có ảnh hưởng vôcùng lớn đến với đời sống văn hoá tinh thần và cả các mặt kháctrong của cuộc sống của con người Việt Nam Chính vì vậy, bài luậnnày sẽ cho mọi người hiểu rõ và sâu sắc hơn về khía cạnh tư tưởng,đặc điểm của Phật giáo và lí do tại sao Phật giáo lại trở thành tôngiáo thế giới
1.2 Nội dung
1.2.1 Tư tưởng Phật giáo
Tất cả nội dung tư tưởng của Phật giáo được thể hiện vô cùng rõràng qua Tam Tạng Kinh, gồm 3 Tạng kinh điển là Tạng Kinh, TạngLuật và Tạng Luận Trong đó thể hiện các quan điểm về thế giới vàcon người
1.2.1.1 Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo
Phật giáo thừa nhận thế giới về đại thể có hai yếu tố cơ bản là Danh
và Sắc Khái niệm danh và sắc ngụ ý là yếu tố tinh thần và yếu tố
vật chất, nó chính là vật và tâm Theo thuyết “Chư pháp nhân duyên
Trang 7sinh” thì hai cái đó liên hệ khăng khít với nhau, không tách rời nhau,
không có cái này thì không có cái kia và ngược lại Phật giáo quanniệm: “Nhất thiết duy tâm tạo” tức là mọi sự vật hiện tượng từ “tâm”
mà sinh ra Tâm là “sắc biên tế tướng” là cái ở giữa cái có và cáikhông (vô cùng nhỏ bé) rất vi tế huyền diệu và vô thủy vô chung.Tâm có tên là “Như Lai tạng tính”, “giáo diệu minh tâm”… và “Phật tính” Cái gọi là thế giới chẳng qua là thành lập trên quan hệ nhận
thức giữa sáu căn và sáu cảnh, ngoài ra thế giới đối với chúng takhông có một ý nghĩa nào khác vì không có chủ quan thì cũng không
có khách quan, mà không có khách quan thì cũng không có chủquan Ngoài quan hệ chủ quan – khách quan ra cũng không có thếgiới, cái gọi là hết thảy cũng được thành lập trên quan hệ ấy Nhưvậy, theo tinh thần Phật giáo trong hai yếu tố vật và tâm thì tâmđóng vai trò chủ đạo trong việc thành lập thế giới Tất cả thế giới chỉ
là một dòng biến hóa vô thường, vô định, không có một vị thần nàosáng tạo ra vạn vật mà chỉ do nhân quả nối tiếp nhau mà thành Trênthế giới không có sự vật nào tồn tại độc lập tuyệt đối, mọi sự vật hiệntượng đều nằm trong mối quan hệ phức tạp, tất cả mọi cái đều phảinương tựa vào nhau
* Thuyết duyên khởi
Thuyết duyên khởi trong Phật giáo gồm có nhiều thuyết: “Thuyết thứ
1 là Nghiệp cảm duyên khởi Thuyết thứ 2 là Alaida duyên khởi.Thuyết thứ 3 là Chân như duyên khởi Thuyết thứ 4 là Pháp giớiduyên khởi Thuyết thứ 5 năm là Lục đại duyên khởi.”
Nghiệp cảm duyên khởi: “Đây là học thuyết có từ thế giới Phật giáo
nguyên thủy, rút ra từ Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên” Trongquá trình luân hồi sinh tử, định luật và trật tự vận hành tạo nên vòngtròn sinh hoá là luật nhân quả Yếu tố chính của diễn trình nhân quả
là lý thuyết về nghiệp cảm Nghiệp cảm là cái năng lực tâm lý tiềmtàng, vẫn tồn tại khi thân xác bị chết đi Nghiệp gồm có biệt nghiệp
và cộng nghiệp Biệt nghiệp tạo nên cá thể và cộng nghiệp tạo nênthế giới Còn nghiệp là còn hiện tượng giới: “Sự hành vi của chúng tahàng ngày, sinh ra tam nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp)– Tam nghiệp cứ lớp trước tàn lớp sau nối, liên liên như những khoen
Trang 8dây xích Thân tâm ta bởi đó mà tiếp dẫn với chủ quan giới và kháchquan giới Ấy gọi là Nghiệp cảm duyên khởi.” Cho nên, dứt trừ đượcnghiệp là trở về với Chân như, Niết bàn, muốn giải thoát phải diệtnghiệp.
Alaida duyên khởi: Theo phái Duy Thức, thức được chia thành 8
nhóm: tiền ngũ thức, ý thức, Manas (Mạt la thức) và Alaya (A lại dathức) Thức thứ bảy – Manas là trung tâm hiện khởi của các ý tưởng
vị ngã, ích kỹ, tự ái, ảo tưởng, là trung tâm chấp ngã, ngã hoá Trongkhi đó, A lại da thức là trung tâm tích tụ ý thể (nghĩa là thức), là nơichứa nhóm các hạt giống (chủng tử) của tất cả mọi hiện khởi vàchúng được bộc lộ trong các hiện khởi đó Theo Duy thức tông,nguyên khởi của vạn pháp là hiệu quả của ý thể Tàng thức là trungtâm tích tụ của ý thể, là kho chứa hạt giống của mọi hiện hữu Khichúng tiềm ẩn, ta gọi là chủng tử; khi chúng hoạt động ta gọi là hiệnhành Những chủng tử cố hữu, những hiện hành và những chủng tửmới hỗ tương phụ thuộc lẫn nhau tạo nên một vòng tròn mãi mãi táidiễn tiến trình trước sau như nhất Cái làm cho chủng tử phát khởithành hiện hành, nghĩa là động lực tạo ra dòng vận động của duyênkhởi chính là ý thể - nghĩa là thức Đấy gọi là Alaida duyên khởi Theothuyết Alaida duyên khởi Nghiệp, Khổ khởi nguyên từ nghiệp thứchay ý thể
Chân như uyên khởi: Thuyết này theo kinh Lăng già, kinh Đại bát
Niết Bàn, kinh Đại thừa khởi tín luận thuộc thời kỳ Đại thừa (khoảngđầu công nguyên) Chân như là từ ngữ được dùng để diễn tả thực tạicứu cánh vượt ngoài định danh và định nghĩa Chân như trong nghĩatĩnh thì phi không gian, phi thời gian, bình đẳng, vô thuỷ, vô chung,
vô tướng vô sắc Chân như trong nghĩa động có thể xuất hiện dướibất cứ hình thức nào Khi được điều động bởi một nguyên nhân thuầntịnh, nó mang hình thức thanh thoát; khi được điều động bởi mộtnguyên nhân ô nhiễm, nó mang hình thức hủ bại Do vậy, chân như
có hai trạng thái: mặt tĩnh là tự thân chân như và mặt động là nhữngbiểu lộ của chân như trong vòng sống chết
Lục đại duyên khởi: Đây là chủ trương của Chân ngôn hay Mật tông.
Lục đại gồm địa, thủy, hỏa, phong, không, thức “Địa, thủy, hỏa,
Trang 9phong, không” thuộc về vật thể tức là sắc pháp còn “thức” thì thuộc
về tâm tức là tâm pháp Chính sáu yếu tố này tùy duyên sinh khởi
mà khởi sinh ra con người và vũ trụ Khi nói là vật và tâm nhưng thật
ra bản thể của chúng vẫn là một, không thể phân chia ra được Vật
là hình tướng và tâm là năng lực để hình tướng có thể hoạt động Do
đó nếu tâm rời sắc thì năng lực chẳng tồn tại được Còn nếu sắckhông nhờ tâm thì hình tướng không phát hiện được Vậy vật và tâm
là hai phương diện của bản thể “nhất như” Con người chúng ta cóđược là do lục đại kết hợp mà thành Con người cũng như vũ trụ làmột sự hoạt động không ngừng của Lục đại
Pháp giới duyên khởi: Theo Hoa Nghiêm tông, “pháp giới” có nghĩa là
“những yếu tố của nguyên lý” và có hai sắc thái: trạng thái chân nhưhay thể tánh; thế giới hiện tượng Học thuyết Pháp giới duyên khởichủ trương rằng giới (tức vũ trụ, vạn hữu) là một duyên khởi lớn tức
là các pháp làm nhân duyên cho nhau, nương tựa, tương phản, dungthông nhau mà thành lập Tất cả hoà điệu trong một thế giới toànvẹn Nếu thiếu một, vũ trụ không hiện hữu, nếu không có tất cả, cáimột cũng không thể lập Khi toàn thể vũ trụ hoà điệu toàn, nó đượcgọi là nhất chân pháp giới
* Thuyết vô thường
Đạo Phật cho rằng “Vô thường” là không cố định, luôn biến đổi Các
sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biếnđổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận là “sinh – trụ – dị– diệt” Nghĩa là sinh ra, tồn tại, biến dạng và mất đi Phật giáo đưa
ra hệ thống quan niệm về thế giới, cho rằng tất cả sự vật hiện tượngxung quanh con người cũng như bản thân con người là không tồn tạithực, chỉ là ảo, là giả, do vô minh (sự không sáng suốt) của con ngườiđưa lại Mọi vật đều được cấu tạo bởi các yếu tố vật chất (Sắc) vàtinh thần (Danh) Danh và Sắc được gồm Ngũ uẩn (năm yếu tố) là:sắc, thụ, tưởng, hành, thức Trong đó, “Sắc” là yếu tố vật chất gồm
tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong), còn “thụ”, “tưởng”, “hành”, “thức” làcảm giác, ấn tượng tư duy nói chung và ý thức là những yếu tố tinhthần (Danh) Theo thuyết vô thường, Danh và Sắc chỉ hội tụ lại vớinhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác
Trang 10Bản chất của sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liêntục, không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, cũng không có kết quảcuối cùng (vô thủy, vô chung), không có gì là tồn tại vĩnh hằng, bấtbiến, mọi vật đều biến đổi liên tục (vạn pháp vô thường), không có gì
là thường định
Thế giới biến đổi không ngừng, sự biến đổi diễn ra trong khoảng khắcgọi là niệm vô thường và sự biến đổi diễn ra theo những chu kỳ nhấtđịnh gọi là nhất kì vô thường Phật giáo cho rằng con người cũngkhông tồn tại – “vô ngã”, do đó cũng không tồn tại Atman (tiểu ngã).Phật giáo cũng phủ định sự tồn tại của Brahman (đấng sáng tạo).Thế giới các sự vật, hiện tượng luôn ở trong một chu trình biến hóakhông ngừng là sinh – trụ – dị – diệt (hoặc thành – trụ – hoại –không), ở con người là sinh – lão –bệnh – tử Đó là quá trình biến hóatheo quy luật nhân quả mãi mãi
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý củaPhật giáo, là cơ sở lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sốngcủa những con người tu dưỡng theo giáo lí nhà Phật
* Thuyết nhân quả
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạnvật đã xây dựng nên thuyết nhân quả Nhân duyên là tư tưởng thểhiện quan điểm của Phật giáo đối với đời người, với sự tồn tại và sinhmệnh, là một luận thuyết tương đối hợp lý về sự hình thành và diễnbiến và về bộ mặt vốn có của thế giới; là thế giới quan độc đáo củaPhật giáo và là đặc trưng cơ bản để phân biệt đạo Phật với các tôngiáo khác
Trong thuyết nhân duyên giải thích căn nguyên biến hóa vô thườngcủa vạn pháp, có ba khái niệm chủ yếu: nhân, quả và duyên “Nhân”
là nguyên nhân (cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kếtquả nào đó), là mầm tạo ra “quả” Cái gì tập lại từ nhân được gọi là
“quả” “Duyên” là điều kiện, mối liên hệ giúp nhân tạo ra quả Duyênkhông phải là cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điềukiện để giúp cho sự chuyển biến của vạn pháp Tất cả các sự vật,hiện tượng trong vũ trụ đều không thoát được sự chi phối của luậtnhân quả Mọi sự vật ra đời là do một nguyên nhân trước nó, nhưng
Trang 11đồng thời nó lại trở thành nguyên nhân của cái sau nó Cái nhân nhờcái duyên mới sinh ra quả; quả lại do duyên mà tạo thành nhânkhác; nhân khác lại nhờ duyên mà tại thành quả mới Cứ như vậy,quá trình tương tác nhân – quả nối tiếp nhau vô cùng, vô tận Phật giáo quan niệm: Nhân duyên hòa hợp là sự vật sinh, nhânduyên tan rã là sự vật diệt Với quan niệm này đạo Phật cho rằng:không phải sự vật hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất đi mới gọi
là diệt mà trong cái sinh đã có mầm mống của cái diệt và trong cáidiệt đã có mầm mống của cái sinh Sinh diệt là hai quá trình xảy rađồng thời trong một sự vật hiện tượng cũng như trong toàn thể vũtrụ rộng lớn Chẳng hạn như, Hạt lúa được gọi là “nhân” khi gặp
“duyên” là điều kiện thuận lợi về không khí, nước, ánh sáng, nhiệtđộ…thì nhân sẽ phát triển thành “quả” là cây lúa Như vậy, vạn vậttrong thế giới là một hệ thống nhân duyên, cứ sinh sinh diệt diệt mãinối tiếp nhau đến vô cùng vô tận Vì thế giới vạn vật vô thủy vôchung là dòng biến hóa vô thường, không có gì là cố định duy nhất
1.2.1.2 Quan điểm về nhân sinh quan của Phật giáo
Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện một cách vôcùng rõ nét qua thuyết Tứ Diệu đế (Tứ thánh đế – Catvary AryaSatya) Tứ Diệu đế bao gồm:
*Khổ đế: là chân lí về bản chất của nỗi khổ Khổ là trạng thái buồn
phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyệnvọng không được thoả mãn Đau khổ là tất yếu, là chân lý, là điềukhông thể tránh khỏi của con người Phật giáo quan niệm con ngườitồn tại trong thế giới này không có gì ngoài đau khổ Tồn tại là đồngnhất với đau khổ, bất hạnh và dù con người có cảm nhận về hạnhphúc thì cái gọi là hạnh phúc ấy cũng không thường còn và cũng kếtthúc bằng cái khổ (tử khổ) Căn cứ theo kinh Phật, có thể chia làm baloại khổ (Tam khổ) hay tám thứ khổ (Bát khổ):
Ba loại khổ (Tam khổ) là: Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ
Tám thứ khổ (Bát khổ) gồm: Sinh khổ: con người sinh ra đã là khổ thểhiện từ tiếng khóc chào đời; lão khổ: già yếu là khổ; bệnh khổ: bệnhtật là khổ; tử khổ: chết là khổ thể hiện qua tiếng khóc vĩnh biệt nhau;
ái ly biệt khổ: yêu thương mà phải lìa xa là khổ; sở cầu bất đắc khổ:
Trang 12muốn mà không được là khổ; oán tăng hội khổ: ghét nhau mà phảigần nhau là khổ; Ngũ thụ uẩn khổ: ngũ quan của con người khi tiếpxúc với sự vật sinh ra nhu cầu, có nhu cầu là khổ.
Như vậy, Phật giáo quan niệm cuộc đời con người chính là một bểkhổ Phật giáo đã phân tích nỗi khổ đó ở nhiều khía cạnh khác nhau,
có nỗi đau về thể xác và có nỗi khổ về tinh thần Với lòng từ bi, mongmuốn giải thoát con người khởi bể khổ cuộc đời Phật giáo đã chỉ ranguyên nhân của nỗi khổ
*Nhân đế (Tập đế): là chân lí về nguyên nhân của nỗi khổ, nỗi bất
hạnh của con người “Tập” là tụ hợp, kết tập lại Nguyên nhân củakhổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trởthành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc củaluân hồi Phật giáo đã vạch ra những nguyên nhân sinh ra nỗi khổđau, bất hạnh của con người, đó là “thập nhị nhân duyên” (12nguyên nhân sinh ra đau khổ) gồm: vô minh duyên hành, duyênthức, duyên danh sắc, duyên lục nhập, duyên xúc, duyên thụ, duyên
ái, duyên thủ, duyên hữu,duyên sinh, duyên lão tử
Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìnchung đều cho rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này lànhân, làm duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời
là nhân cho cái sau, nối tiếp nhau, chuyển hóa hỗ trợ nhau vừa lànhân vừa là quả của nhau Nó như nước sông chảy không bao giờcạn và không bao giờ ngừng nên đạo Phật gọi là “duyên hà” Cácnhân duyên tụ tập lại mà sinh ra mãi mãi gọi là duyên hà mãn Từ vôminh đến già chết có 12 đoạn Bởi 12 nhân duyên mà vạn vật cứ sinhhóa vô thường Trong 12 nguyên nhân thì Phật giáo cho rằng vô minh
và ái dục là hai nguyên nhân chủ yếu gây ra đau khổ của con người.Tham dục là biểu hiện sự vô minh, vô minh sinh ra tham dục, thamdục nuôi dưỡng vô minh, cứ như vậy luân chuyển mãi trong vòng đaukhổ sinh tử
*Diệt đế: là chân lí về cảnh giới diệt khổ, là giai đoạn cuối cùng của
quá trình tu tập giải thoát Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhângây ra khổ bị loại trừ Diệt đế là một sự thật khẳng định thành quả tutập của bất cứ một hành giả nào có tín tâm và tinh tu phạm hạnh Sự
Trang 13giải thoát của con người hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng củachính mình mà không phải do một ai khác Phật giáo khẳng địnhrằng nỗi khổ của con người là có thể tiêu diệt được, chấm dứt đượcbằng cách tiêu diệt vô minh và loại bỏ duyên ái Muốn diệt trừ vôminh thì phải có trí tuệ, có trí tuệ thì hết đam mê, trí tuệ là chiếcthuyền chắc chắn nhất vượt bể sinh, lão, bệnh, tử, nghĩa là thoátkhỏi được vòng luân hồi, thoát khỏi mọi đau khổ, chứng ngộ Niếtbàn Niết bàn là mục đích tu hành cứu cánh của mọi trường phái Phậtgiáo Trong đạo Phật nguyên thủy, Niết bàn được xem là đoạn triệtluân hồi Đó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là tham,sân và si Đồng thời Niết bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác độngcủa nghiệp, không còn chịu quy luật nhân duyên (duyên khởi).
*Đạo đế: là chân lí chỉ ra con đường diệt khổ Kinh điển Phật giáo
phần lớn tập trung vào phương pháp tiêu diệt cái khổ bằng cách làmtăng các yếu tố hướng đến giải thoát bằng cách rèn luyện trí tuệ đểđạt lí tưởng cuối cùng, Niết bàn Thông qua Tam học, Phật giáo đưa
ra quan niệm về con đường giải thoát Nội dung của Tam học, conđường diệt khổ, giải thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức
(giới), tư tưởng ( định) và khai sáng trí tuệ (tuệ).
Giới: (thuộc Chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến).
Giới luật là những điều răn cấm, những quy định giúp con người trênđường tu hành tránh được những lỗi lầm, trở nên trong sạch Giớiluật có những quy định cụ thể cho từng đối tượng tu hành (ngũ giới -
5 điều răn): bất sát, bất đạo, bất dâm, bất vọng ngữ, bất ấm tửu
Định: (thuộc Chính niệm, chính định) là phương pháp giúp cho người
tu hành không tán lạn thâm tâm, nhờ đó mà loại trừ được những ýnghĩ xấu, tư tưởng xấu, tạo điều kiện cho trí tuệ bừng sáng
Tuệ: (thuộc Chính kiến, chính tư duy): Người tu hành có trí tuệ sáng
suốt diệt trừ được vô minh, tham dục chứng ngộ được chân lý Phậtgiáo, do đó chỉ nghĩ làm điều thiện mưu lợi ích cho chúng sinh.Nhắc tới Đạo đế, Đạo Phật thường đề cập tới Bát chính đạo hay cónghĩa là tám con đường chân chính để đạt đạo Bát chính đạo chính
là triển khai cụ thể của Tam học bao gồm:
Trang 14Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng
về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã
Chính tư duy: suy nghĩ luôn có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý
nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm
Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, không nói dối hay nói phù
phiếm
Chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh phạm giới luật, không làm
việc xấu, nên làm việc thiện
Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp
liên quan đến sát sinh
Chính tinh tiến: cố gắng nổ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để
phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu
Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát,
luôn tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý
Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu
đế, vô ngã, vô thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian
Ngoài ra Phật giáo còn đưa ra 5 đều nhằm răn đe đem lại lợi ích chocon người và xã hội Chúng bao gồm: bất sát (không sát sinh), bất dâm (không dâm dục), bất vọng ngữ (không nói năng thô tục, bậybạ), bất âm tửu (không rượu trà) và bất đạo (không trộm cướp)
1.2.2 Phật giáo trở thành tôn giáo thế giới
Phật giáo giữ vai trò vô cùng quan trọng trong tâm linh tín ngưỡngcủa nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia Châu Á Conngười tìm đến Phật giáo như một cách giải toả tâm hồn, mong muốnđem đến sự thanh tịnh, tránh xa sự xô bồ của cuộc sống ngoài kia
Có thể thấy rằng quan điểm của Phật giáo rất tiến bộ, phù hợp vớithế giới hiện đại mà ít tôn giáo nào có thể có được
1.2.2.1 Đạo Phật không có người lãnh đạo tối cao, nắm mọi quyền hành trong tay
Đức Phật là một con người ngộ chân lý, Người tìm ra được bản chấtcủa những khổ đau hạnh phúc ở đời, rồi hướng dẫn cho chúng tathực hành những phương pháp thoát khỏi khổ đau, hướng con người
Trang 15chúng ta đến an lạc tạm thời và tuyệt đối Tôn thờ Phật giáo khôngphải là tôn thờ đấng siêu nhiên quyền uy nào, mà vì tưởng nhớ đếncon người vĩ đại ấy đã hy sinh vì mọi người để có được bài học vô giá.Phật pháp chính là những ứng dụng cụ thể trong đời sống để mỗingười tự nhìn ra bản ngã của chính mình, hướng đến một cuộc sốngchân thiện mỹ đích thực nơi mỗi người.
Đức Phật không phải là một vị Thần bảo hộ cho một dân tộc, mà làmột bậc giác ngộ với trí tuệ bao quát cả vũ trụ, không gì không thấy,không biết một cách chính xác và thấu triệt, cho nên đức Phật làthuộc tầm cỡ vũ trụ Sự giác ngộ của đức Phật bao trùm cả vũ trụ,ánh sáng từ bi của Phật rọi chiếu khắp tất cả Do đó, bản chất củaPhật giáo là có tính thế giới, có tính vũ trụ Có lẽ vì vậy mà trong gầnhơn hai nghìn năm trăm năm lại đây, Phật giáo dần dần được truyền
bá khắp các nơi trên thế giới
1.2.2.2.Yêu chuộng hoà bình từ học thuyết đến hành động
Đạo Phật luôn hướng đến sự hòa bình, suốt mấy ngàn năm có mặtchưa từng có bất cứ cuộc chiến tranh nào xuất phát từ Phật giáo,cũng chưa từng xúi dục tín đồ Phật giáo nào tham gia những cuộcchiến tranh đẫm máu dù chánh nghĩa hay phi nghĩa, dù lý do gì thìchiến tranh vẫn là thảm hoạ và gây đau thương không biết bao nhiêuchúng sanh vô tội Giáo lý nhà Phật luôn lấy an vui và hạnh phúc củatất cả chúng sanh làm điểm tựa và mục đích hướng đến
1.2.2.3 Phật giáo là hiện thân của một xã hội công bằng thật sự không người bóc lột và hiếp đáp người
Một lần tại nước Xá Vệ, đức Phật dạy cho vua Ba Tư Nặc về cách trị
dân được ghi lại tóm tắt như sau: “Những hành động thiện hay ác của chúng ta mãi theo chúng ta như bóng theo hình Điều cần thiết
mà chúng ta phải có là tình thương Hãy xem thần dân như con ruột của mình, đừng áp bức họ, đừng tổn hại họ, trái lại hãy bảo vệ họ như gìn giữ tay chân của mình Hãy sống với Chánh Pháp và đi mãi trên con đường lành Đừng nâng mình lên bằng cách đạp kẻ khác xuống Hãy gần gũi và thương yêu những kẻ nghèo khổ”.
Chúng ta có thể thấy đạo Phật luôn hướng đến điều đó như để đápứng mong ước của tuyệt đại đa số con người trên hành tinh này là
Trang 16mong muốn có một thế giới hòa bình, bình đẳng, người với ngườisống để thương nhau Thừa nhận nữ giới xuất gia trong thời kỳ cổđại, là cái nhìn tuệ giác của đức Phật mà các nhà hoạt động xã hộingày sau phải cúi đầu học tập Và bình đẳng tuyệt đối với quan niệm
“mỗi chúng sanh đều có Phật tính và sẽ thành Phật như ngài” Đây là
điểm son mà không hề có trong bất cứ một tôn giáo nào có trước haysau đức Phật cho đến bây giờ
Từ những ngày Đức Phật rời bỏ cao sang quyền quý để tìm cách lĩnhhội những đau khổ của đời và kiếm tìm phương thức giải thoát, chođến những giáo lý được hình thành, những hành trình mang phápđến với chúng sanh, rồi từ đó hình thành tổ chức, tín đồ, quá trìnhhoạt động, văn hóa biểu đạt…đã cho thấy Phật giáo không chỉ lấycon người làm trọng mà lấy tất cả chúng sanh làm trọng, lấy vạn vật
ở cõi đời này làm kim chỉ nam cho mọi hành động thánh thiện củamình
1.2.3 Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam
1.2.3.1 Tính tổng hợp – đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng
là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam
Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, dung hoà và sống chung với các tín ngưỡng ấy Hệ thống chùa “Tứ pháp” thực ra vẫn chỉ là những đền
miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây-Mưa-Sấm-Chớp và thờ
đá Lối kiến trúc phổ biến của chùa Việt Nam là “tiền Phật, hậu Thần”với việc đưa các thần, thánh, các thành hoàng, thổ địa, các anh hùngdân tộc vào thờ trong chùa Có những chùa còn có cả bàn thờ cụ HồChí Minh ở Hậu tổ Hầu như không chùa nào là không để bia hậu, bátnhang ho các linh hồn, vong hồn đã khuất
Phật giáo Việt Nam là tổng hợp các tông phái lại với nhau Ở ViệtNam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết Tuy chủ trươngcủa Thiền tông là bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các thiền sư
đã để lại nhiều trước tác có giá trị Dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thìpha trộn với Mật giáo, nhiều thiền sư phái này, nhất là những vị sốngvào thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đềunổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài biến hóa thần thông Phật giáoViệt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự lực và tha
Trang 17lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông Các chùa phía Bắc là cảmột Phật điện vô cùng phong phú với hàng mấy chục pho tượngPhật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau Ở phía Nam, Đạithừa và Tiểu thừa kết hợp mật thiết với nhau: nhiều chùa mang hìnhthức tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại theogiáo lý Đại thừa, bên cạnh Phật Thích Ca lớn vẫn có nhiều tượng nhỏ,bên cạnh áo vàng vẫn có đồ nâu lam.
Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác: Phật vớiNho, với Đạo, tạo thành quan niệm Tam giáo đồng nguyên (3 tôngiáo cùng phát nguyên từ một gốc) và Tam giáo đồng quy (3 tôn giáocùng quy về một đích)
Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ với việc đạo và việc đời Vốn làmột tôn giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam, Phật giáo trở nên rấtnhập thế Điều đó được thể hiện qua việc các cao tăng được nhànước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng Sự gắn
bó đạo – đời không chỉ thể hiện ở việc các nhà sư tham gia chính sự,
mà ngược lại còn có khá nhiều vua quan quý tộc đi tu Trong 6 thế hệ
đệ tử của phái Thảo Đường thì đã có tới 9 người là vua quan đươngnhiệm Không phải ngẫu nhiên mà ở sân chùa Phổ Minh, quê hươngnhà Trần, lại có chiếc vạc đồng lớn (1 trong “An Nam tứ đại khí”)tượng trưng cho quyền lực Vẫn với truyền thống gắn bó với đời, đầuthế kỷ XX, Phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào các hoạt động xãhội (như cuộc vận động đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang PhanChâu Trinh) Thời Diệm – Thiệu, Phật tử miền Nam đã tham gia tíchcực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập dân tộc, nổibật là sự kiện Phật tử xuống đường đấu tranh phản đối nền độc tàicủa gia đình họ Ngô, đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích QuảngĐức tự thiêu vào mùa hè 1963
1.2.3.2 Khuynh hướng thiên về nữ tính
Có thể nói không quá lời rằng: tư tưởng “Nam – Nữ bình đẳng” củaĐức Phật đã mở ra một nhận thức mới, một tư tưởng mới hết sứctiến bộ về nhân quyền, vượt qua không gian và thời gian, góp phầngợi mở những tư tưởng mới, những phong trào đấu tranh giải phóngcon người, giải phóng người phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ
Trang 18Điều đặc biệt là, ngay từ những năm tháng đầu tiên của Đạo Phậttrên đất Việt cổ, bóng dáng người phụ nữ đã in rất đậm, vai trò củangười phụ nữ đã trở nên vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên sắcthái riêng của Phật giáo Việt Nam.
* Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong Phật giáo, trong nền văn hoá dân tộc
Tinh thần hộ quốc an dân của các Nữ tu sĩ Việt
Tinh thần hộ quốc an dân, đạo pháp với dân tộc được hình thànhngay từ khi mới du nhập của Phật giáo vào Việt Nam nói chung, điểnhình qua hình ảnh các vị nữ tu sĩ Việt nói riêng Theo cuốn thiền phả
và 23 đạo sắc phong của Chùa Yên Phú (Liên Ninh, Thanh Trì, HàNội ) thì Ni sư Phương dung còn gọi là Công chúa Phương Dung đãcho hai vị đệ tử tên là Trung Vũ và Đài Liệu tòng quân dẹp giặcphương Bắc theo lời hiệu triệu của hai Bà Trưng Sau khi chiếnthắng, đã được hai Bà Trưng ban tặng nhiều mẫu ruộng cho chùa YênPhú và đến thời Lê Đại Hành có chủ trương truy tặng những người cócông với đất nước trong giai đoạn quá khứ, thì Ni sư Phương Dungđược tôn phong làm Quốc Mẫu và hai vị đệ tử được tôn phong làm tảtướng quân và hữu tướng quân Sau này được dân thôn Yên Phú xâyđền tôn thờ Ni sư Phương Dung và hai vị đệ tử làm thành hoàng làng,
và được bộ lễ của triều đình
Hình tượng phật Mẫu Man Nương và hệ thống thờ Tứ Pháp
Ra đời từ vùng Dâu – Bắc Ninh và lan tỏa ra khắp đồng bằng Bắc bộnhư minh chứng cho sự hỗn dung giữa Đạo Phật và tín ngưỡng bảnđịa Từ tín ngưỡng thờ các nữ thần nông nghiệp, thờ các hiện tượng
tự nhiên và tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước,khi tiếp thu đạo Phật của Ấn Độ, người Việt đã sáng tạo nên hìnhtượng Phật Mẫu man Nương và một dòng Phật giáo dân gian thờ TứPháp hết sức đặc sắc Nói cách khác, các nữ thần của tín ngưỡng bảnđịa đã được Phật hóa, được mang Phật tính song vẫn vô cùng gần gũivới cư dân Họ vốn là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng nay trởthành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ ở bốn ngôi chùa,quy tụ quanh Phật Mẫu Man Nương …Phật Mẫu có thể xem như hìnhảnh của người Mẹ khởi nguyên vốn xuất hiện rất sớm, rồi hỗn dung
Trang 19với Phật giáo mà ra đời hệ thống thờ Tứ Pháp và phát triển thêm mộtbước nữa trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt sau này ChùaDâu xứ Kinh Bắc xưa kia là nơi thường tổ chức các lễ cầu mưa.
Hiện tượng “ Nữ tính hóa ” trong Phật giáo Việt Nam
Trước hết là việc Nữ tính hóa hình tượng Quan Thế Âm : Trong Phậtgiáo Ấn Độ, Quan Thế Âm là một vị Phật giới tình nam Khi du nhậpvào Giao Châu và vùng đất phía nam Trung Hoa thì vị Phật này – mộtcách tự nhiên được biến đổi sang hình tướng nữ và trở thành Phật BàQuan Âm hay Quan Thế Âm Bồ Tát Các pho tượng Phật trong chùaViệt đều có gương mặt đầy đặn, đôn hậu, thiên về tính nữ cũng làmột biểu hiện của khuynh hướng “Nữ tính hóa” rất Việt Nam này
Bồ Tát Quan Thế Âm được người Việt gọi giản dị là “Phật Bà”, hiệnthân của Đức Từ Bi, cứu khổ, cứu nạn, mà người phụ nữ là người làngười đau khổ nhất, cần cứu vớt nhất “Phật Bà” cũng là hiện thâncủa một người Mẹ hiền, của tình mẫu tử thiêng liêng không một tìnhyêu thương nào sánh nổi
Thứ hai là hiện tượng Bà Chúa Xứ thờ ở Núi Sam, Châu Đốc cũng làmột minh chứng cho xu hướng “ Nữ tính hóa “ này Theo nhà khảo cổhọc người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng
Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), đượctạc vào khoảng cuối thế kỷ 6 Rất có thể đây một trong số hiện vật
cổ của nền văn hóa Óc Eo
Quả thật, đó là một nam thần được tạc trong thế ngồi vương giả rấtquen thuộc của thần Visnu trong thần thoại Ấn Độ Chất liệu tạc nênpho tượng cùng với bệ đá đặt tượng đều không có ở vùng núi AnGiang và các vùng phụ cận Song điều đáng quan tâm ở đây là khiphát hiện pho tượng, người dân đã đưa về thờ và tô điểm theo sởnguyện của mình để trở thành “Bà Chúa Xứ” – người Mẹ xứ sở thiêngliêng của cả vùng Nam bộ Trong tâm thức dân gian, “Bà Chúa Xứ”cũng được coi như một “Phật Bà Quan Âm” vậy
Sự hóa thân của Phật Bà vào các hình tướng nữ
Trong Phật giáo Việt Nam còn xuất hiện nhiều hình tượng như Quan
Âm Thị Kính, Quan Âm Tống Tử, Bà Chúa Ba Chùa Hương v.v…đều là
Trang 20hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát để cứu độ chúng sinh Phải chăng,dân gian đã mượn hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát để nói lên khátvọng được thấu hiể u và cứu vớt của những người phụ nữ khổ đautrong xã hội, cũng như khẳng định phẩm hạnh đáng trân trọng của
họ Nỗi khổ đau oan trái ấy chỉ có sức mạnh và tình yêu thương vô
bờ bến của Phật Bà mới cứu vớt nổi
Đi từ Bắc vào Nam, ta còn có thể gặp nhiều hình tượng phụ nữ khácvốn là những người Mẹ Xứ Sở sau mang Phật tính được thờ phụngthiêng liêng như Chùa Thiên Mụ ở Huế, Tháp Bà ở Nha Trang, núi BàĐen ở Tây Ninh v.v…Vào trong càc ngôi chùa, ta lại thường thấy cóBan thờ Mẫu
Đó cũng là một hiện tượng đặc biệt của Phật giáo Việt Nam, sự hòahợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân bản địa
* Hình tượng người Phụ nữ Việt Nam trong sinh hoạt Văn hóa – Phật giáo đời thường
Nguyên Phi Ỷ Lan – cô Tấm của xứ kinh Bắc, người có công chấn hưng đạo Phật thời Lý
Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu vốn xuất thân từ một làng quê Kinh Bắc – nơiquê hương của Phật giáo Việt Nam với những ngôi chùa cổ nổi tiếngnhư chùa Dâu, chùa Keo, chùa Bút Tháp…Vốn có tâm Phật, khi trởthành Nguyên Phi, rồi Hoàng Thái Hậu, lại sống trong bàu không khí
xã hội tôn vinh Phật giáo, bà đã phát tâm xây dựng hàng trăm ngôichùa lớn nhỏ Tính đến năm 1115, bà đã cho xây cất 150 ngôi chùa,đền, trong đó có chùa Từ Phúc ở quê hương Thổ Lỗi Không chỉ sùngđạo Phật, góp công xây dựng nhiều ngôi chùa, vốn thông minh, bàcòn nghiên cứu nhiều về đạo Phật Sử sách cũng nói tới việc bà hayđàm đạo với các nhà sư về Phật pháp, chính nhờ câu chuyện giữa bà
và các vị sư thời Lý mà đến nay mới biết được gốc tích sự truyền báđạo Phật vào Việt Nam Bà cũng nghiên cứ Bà cũng nghiên cứu vềvăn chương, viết những bài kệ, có những câu kệ của bà được nhiềungười biết đến và còn lưu truyền tới ngày nay
Chùa làng và người phụ nữ
Trang 21Thiết chế văn hóa làng Việt không thể thiếu đình và chùa Đó là mộtcặp sóng đôi trong tâm thức người Việt, thể hiện triết lý nhân sinh vàtinh thần khoan dung hòa hợp trong đời sống tín ngưỡng của ngườiViệt Thế nhưng, ngôi chùa làng lại là nơi lấy lại vị thế của người phụ
nữ, tạo nên nét bình đẳng làng xã trong sinh hoạt cộng đồng làngquê trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa Hình ảnh các bà, các
mẹ dắt theo con cháu, các cô thôn nữ rủ nhau đi lễ chùa từ lâu đã trởnên quen thuộc, thân thương, gợi cho người ta hình ảnh về một làngquê thanh bình, yên ấm Không chỉ đi lễ chùa, các vãi còn là nhữngngười tham gia giúp việc nhà chùa một cách tự nguyện, vô tư nhưmột nhu cầu tinh thần
Hiện nay, ngay cả tại các thành phố lớn, hầu hết các đạo tràngchuyên tu của các chùa, phụ nữ cũng chiếm phần nhiều Người phụ
nữ Việt Nam thời nào và ở đâu cũng luôn hướng tới cái thiện
Phụ nữ và việc xuất gia
Theo Phật giáo thì phụ nữ có quyền xuất gia làm ni và thụ Đại giớinhư nam giới Ở Việt Nam, dễ dàng bắt gặp những ni, sư là nữ, cónhiều hoạt động thiết thực như từ thiện xã hội, nuôi dưỡng trẻ mồ côihoặc người già không nơi nương tựa Có nhiều vị ni trở thành trụ trìtại các chùa lớn, có học vị cao, hoằng pháp năng động không kém gìnam giới Nữ giới có quyền tham gia vào Ban lãnh đạo Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam hay Đại biểu Quốc hội
Tóm lại: Với người phụ nữ nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng,dưới góc nhìn văn hóa Phật Giáo, vai trò và vị trí của người phụ nữtheo tinh thần bình vai trò và vị trí của người phụ nữ theo tinh thầnbình đẳng mà đức Phật dạy, không có nhiều thay đổi Đặc biệt, trongđiều kiện văn hóa lúa nước như Việt Nam ta, vai trò của người phụ nữđối với đất nước nói chung và đối với đạo pháp nói riêng lại có phầnthiết thực và gần gũi hơn nữa Những điều kiện đó cũng góp phầnlàm cho văn hóa Phật giáo Việt Nam phong phú hơn, đa dạng hơn,đặc sắc hơn so với các quốc gia Phật giáo khác
1.2.3.3 Tính linh hoạt trong đặc điểm của Phật giáo
Ngay từ đầu, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo choriêng mình: nàng Man, cô gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ
Trang 22tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật tổ với ngày sinh là ngàyPhật đản 8 – 4
Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúcđức, trung thực hơn là đi chùa: Thứ nhất là tu tại gia, Thứ nhì tu chợ,thứ ba tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phúc cứucho một người; coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờPhật: Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu; đồngnhất cha mẹ, ông bà với Phật: Phật trong nhà không thờ đi thờ Thích
ca ngoài đường (Tục ngữ)
Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tínngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọitai họa: Nghiêng vai ngửa vái Phật, Trời, Đương cơn hoạn nạn độngười trầm luân; làm nên mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi(hệ thống chùa Tứ pháp); ban cho người hiếm muộn có con (tục đichùa cầu tự: Tay bưng quả nếp vô chùa, Thắp nhang lạy Phật xin bùa
em đeo); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt(tục đi chùa lễ phật và hái lộc lúc giao thừa); cứu độ cho người chết
và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư tới cầu kinh và làm lễ tiễn đưangười chết)
Muốn giữ cho Phật ở mãi bên mình, người Việt Nam có khi phá cả giớiPhật giáo Có nơi, do muốn buộc ông sư phải gắn bó với làng mình đểgiữ chùa, cúng lễ; dân làng đã tổ chức cưới vợ cho sư, khiến ngôichùa gần như trở thành một gia đình
Tượng Phật Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa với những tên gọi rấtdân gian: ông Nhịn ăn mà mặc (Tuyết Sơn gầy ốm), ông Nhịn mặc
mà ăn (Di-lặc to béo), ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc quăn)… Nhiều photượng được tạc theo lối ngồi không phải trên tòa sen mà là chân cochân duỗi rất thoải mái, giản dị Trên đầu Phật Bà chùa Hương cònlấp ló lọn tóc đuôi gà truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Ngôi chùa Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà cổtruyền với hình thức mái cong có 3 gian 2 chái… Chùa Một Cột nhưmột lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh thoát ở trên vàtrụ đá tròn trong hồ vuông ở dưới biểu hiện ước vọng phồn thực (no
đủ và đông đúc)
Trang 23Cùng với mái đình, ngôi chùa trở thành công trình công công cộngquan trọng thứ hai ở mỗi làng Người dân đi bất kỳ đâu có thế ghéchùa xin nghỉ tạm hoặc xin ăn Thành ngữ của chùa có nghĩa là “củacông”; từ đó sinh ra lối nói làm chùa (không được trả công), ăn chùa,học chùa,….
1.2.3.4 Sự cải biến linh hoạt trên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo ông bà (thờ cúng tổ tiên) tạo nên Phật giáo Hoà Hảo
Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khailập vào năm Kỷ Mão 1939 Ông lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bảnrồi kết hợp với đạo của dân tộc thờ ông bà tổ tiên và đề ra thuyết Tứ
ân Thuyết tứ ân (ơn) gồm ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tambảo, ơn đồng bào và nhân loại Trong đó ơn cha mẹ được xếp lênhàng đầu Đây được xem là nền tảng của Đạo Phật
Đạo Hòa Hảo chú trọng giáo dục tinh thần dân tộc, ý thức chốngngoại xâm( ơn đất nước) Chủ trương thờ phượng đơn giản, khôngcầu kỳ phức tạp, trở về với nội tâm nhiều hơn là hình tướng bênngoài
Người thuộc tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thờ cúng ba ngôi hương án tạinhà, bao gồm:
Thứ nhất là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng.
Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượngtrưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết
Thứ hai là bàn thờ thông thiên: được dựng trước sân nhà hoặc mái
nhà Theo Đức Thầy nếu nhà chật hẹp thì chỉ cần 1 bài Thông thiên
Thứ ba là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý
uống nước nhớ nguồn
Với giáo lý và cách hành đạo như trên, đạo Hòa Hảo chủ trươngkhông có hàng giáo phẩm và hệ thống tổ chức của đạo Sau này khiđạo phát triển mạnh, những người đứng đầu mới lập ra ban trị sự từtrung ương đến cơ sở Có những thời kì với tham vọng chính trị lớn,
họ còn lập ra lực lượng vũ trang và đảng phái chính trị riêng
Trang 241.3 Kết luận
Qua ba phần trình bày ở trên, ta có thể thấy được tư tưởng và đặcđiểm của Phật giáo đồng thời biết lí do tại sao Phật giáo lại trở thànhtôn giáo thế giới
Về tư tưởng, Phật giáo chia ra làm 2 quan niệm là thế giới quan vànhân sinh quan Quan niệm về thế giới quan bao gồm Thuyết DuyênKhởi, Thuyết Vô Thường và Thuyết Nhân Quả Quan niệm về nhânsinh quan của đạo Phật thì thể hiện tập trung qua Thuyết Tứ Diệu Đế
Về lí do Phật giáo trở thành tôn giáo thế giới gồm không có ngườilãnh đạo tối cao nắm mọi quyền hành trong tay, là tôn giáo yêuchuộng hoà bình từ học thuyết đến hành động và đây cũng là tôngiáo hiện thân của một xã hội công bằng thật sự không người bóc lột
và hiếp đáp người
Về đặc điểm của Phật giáo chia làm 4 đặc điểm gồm: tính tổng hợp,khuynh hướng thiên về nữ tính, tính linh hoạt và sự cải biến linh hoạttrên cơ sở tổng hợp đạo Phật với đạo thờ cúng tổ tiên tạo thành Phậtgiáo Hoà Hảo
Hi vọng qua bài luận trên, mọi người đã có cái nhìn rõ nét và sâu sắchơn về một số khía cạnh của đạo Phật Qua đó, hiểu được tầm quantrọng của đạo Phật đối với con người cùng với đời sống ngườiViệt,đồng thời có các biện pháp nhằm bảo tồn, phát huy các tư tưởng
và truyền thống tốt đẹp của đạo Phật
PHẦN II:Nhận xét đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời Phục Hưng so với nghệ thuật Hy Lạp thời cổ đại Từ thành tựu tiêu biểu của phong trào Văn hóa Phục Hưng, hãy đánh giá về vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó.
2.1 Đặt vấn đề
Mỹ học là khoa học nghiên cứu đời sống thẩm mỹ bao gồm khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật Trong đó cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm, hình tượng là tiếng nói đặc trưng, nghệ thuật là đỉnh cao của những thành tựu sáng tạo thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ là điểm tựa của sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật.
Trang 25Từ xưa đến nay, quan niệm về cái đẹp chưa bao giờ được thống nhất
ở các thời đại vì các nhà mỹ học ở mỗi thời lại xuất phát từ cơ sở triếthọc khác nhau về cái đẹp Lịch sử mỹ học rất dài, nhưng có lẽ chỉcần so sánh hai thời kỳ Hy Lạp cổ đại và Phục Hưng cũng đủ để thấyđược phần nào những khác biệt về bản chất mỹ học – nghệ thuật ởcác thời đại Chính vì vậy, bài luận này sẽ nhận diện một cách chínhxác về đặc điểm của nghệ thuật hội họa và điêu khắc của thời HyLạp cổ đại so với nghệ thuật thời Phục Hưng
Ngoài ra, bài luận cũng sẽ tìm hiểu về thành tựu tiêu biểu của Phongtrào Văn hóa Phục Hưng – nền văn hóa đã đánh thức châu Âu thoátkhỏi “đêm trường trung cổ” tăm tối Qua đó, đánh giá về vai trò và ýnghĩa của thành tựu phong trào Văn hóa Phục Hưng trong lịch sửphát triển của loài người
Nghệ thuật hội họa
Ngay cả các nhà văn cổ đại như Pliny the Elder (23 – 79) cũng mô tảhội họa Hy Lạp là thời kỳ hoàng kim của lịch sử hội họa Những nhàvăn như ông đã ghi lại tên của các danh họa nổi tiếng như Apelles(thế kỉ IV TCN), Parrhasius (thế kỉ V TCN) và Polygnotus (giữa thế kỉ VTCN) Apelles là họa sĩ riêng của Alexandre đại đế - nổi tiếng với phốicảnh và các mảng đậm nhạt Parrhasius thì nổi tiếng với những bứchọa miêu tả trận đánh của các centaur (quái vật thân người mìnhngựa – nhân mã) trên chiếc khiên của tượng thần Athena (tác phẩmcủa nhà điêu khắc Phidias) Polygnotus (làm việc chủ yếu tại Delphi
và Athens) có một khả năng đặc biệt thể hiện trạng thái tâm lý củanhân vật qua các biểu hiện trên khuôn mặt trong các tác phẩm chândung
Tuy nhiên, tất cả những tác phẩm hội họa, điêu khắc đó không còntồn tại cho đến ngày nay Tất cả những gì còn sót lại là một vài tácphẩm hiếm hoi của hội họa Hy Lạp cổ đại và những tác phẩm đó
Trang 26cũng không tiêu biểu cho thời kỳ các họa sĩ nổi tiếng trên sinh sống
và sáng tác Những ví dụ hiếm hoi còn tồn tại là những bức bích họatrong cung điện của Knossos trên đảo Crete [1] (thế kỉ XVI – XIII TCN)cho đến những bức họa trong lăng mộ Diver tại Paestum – Italia [2](480 – 470 TCN)
Qua những di chỉ như bích họa ở lăng mộ Etruscan, hội họa Rome cổđại và trên những bức khảm lâu đời – thời kỳ hoàng kim của nghệthuật Hy Lạp cổ đại được tái hiện nhưng không rõ rệt Ngoài ra cómột nguồn tài liệu khá phong phú cho nghệ thuật vẽ hình mang tính
đồ hoạ, đó là những hình vẽ trên những chiếc bình cổ Hy Lạp.Nhữnghọa tiết, tranh trên những chiếc bình có thể liên hệ tới những tácphẩm bích họa hay những mảng trạm trổ Điều đáng chú ý là cáchình vẽ trang trí trên đồ gốm cổ Hy Lạp có hai cách trang trí: Hình vẽđen trên nền trắng sáng hoặc hình vẽ màu đỏ trên nền gốm đen Cáchoạ sĩ trang trí lưu ý đặc biệt đến yếu tố nét, mảng trong các hình
vẽ Đề tài thay đổi qua các thời kỳ: Thần thoại, duyên dáng và đatình, lịch sử
Từ quan điểm của bức tranh trên bình chai và dụng cụ gốm, có thểtạm chia thành 3 phong cách như sau:
Phong cách hình học (khoảng 1100 ~ 700 TCN): Trên đồ gốm được
vẽ bằng các hình học đơn giản, thông thường Về cơ bản các bức họatrên bình đều mang tính trừu tượng bộc lộ cảm giác về tính nghiêmngặt và đều đặn ở các vị trí, các họa tiết Vào đầu thế kỷ VIII TCN,mới xuất hiện một hình tượng nhân vật rõ ràng Những bức chândung bắt đầu xuất hiện, ban đầu ở dạng tối giản theo quy luật hìnhhọc Có rất nhiều ví dụ về những bức chân dung loại này trên nhữngchiếc bình được khai quật tại nghĩa địa Athenian (Dipylon) [3] Nhữnghọa tiết trang trí trên những chiếc bình lớn này được làm để sử dụngtrong lăng mộ Chúng được sáng tạo ra để ca ngợi cuộc sống sau cáichết sự mô tả về các cuộc chiến hay các nghi lễ trong đám tang Đó
là biểu hiện trang trí đầu tiên của người bản địa Hy Lạp
Phong cách phương Đông (khoảng 750 ~ 600 TCN): Do giao thương
với khu vực Cận Đông thời đó, nên dễ dàng hấp thu những phongcách của văn hóa dân tộc khác Lấy câu chuyện ra mô tả nội dung,
Trang 27các nhân vật và động vật trở thành chủ đề trang trí, phác thảo rõràng, các nét vẽ khẳng khái và hình dạng sống động.
Phong cách sơn đen (khoảng 700 ~ 500 TCN): Lấy thuốc sơn màu
đen đem chủ đề vẽ trên đồ gốm màu đỏ, màu cam, sau đó cạođường viền và nung lên để tạo ra sự tương phản rõ nét giữa màu đen
và màu cam, đây cũng thuộc thời kỳ đỉnh cao của công nghệ sơnđen Một ví dụ minh họa quan trọng cho kỹ thuật này là chiếc vò haiquai của họa sĩ vùng Amasis với hình ảnh của thần rượu nhoDionysus và Maenad hay kylix (loại bát có hai quai dọc) mô tảDionysus đang chèo thuyền – tác phẩm của Exekias (550 – 520 TCN)[4]
Phong cách sơn đỏ (khoảng 500 tr CN): là việc phác thảo trước hình
ảnh chủ đề, dùng bút để vẽ đường ranh giới trên đất sét, giữ lại màu
đỏ cam ban đầu của đất sét và nền được sơn màu đen Do sử dụngbút vẽ để vẽ, các đường kẻ có màu đen và mịn hơn, thời kỳ này bắtđầu sử dụng phương pháp biểu hiện sáng và tối, kỹ thuật này thànhthạo hơn và sống động chân thực hơn Các tác phẩm của thời kỳ nàyvừa phức tạp vừa lộng lẫy, hình dạng của bình cũng rất đa dạng Cóbình dùng đựng nước, đựng dầu, dùng cúng tế lễ, một số được sửdụng trong tiệc cưới Chủ đề của tranh trên những chiếc bình làphong tục dân gian và thần thoại thời đó Ví dụ tiêu biểu cho điềunày là chiếc bình pha rượu calyx krater (chiếc bình lớn để pha rượuvang và nước trước khi dùng) mô tả cảnh dũng sĩ Heracles đấu vậtvới Antaeus (con trai của nữ thần Gaia) có niên đại khoảng 520 – 500TCN [5]
Nghệ thuật điêu khắc
Điêu khắc Hy Lạp được phát triển qua 3 thời kỳ:
Thời cổ sơ (Thế kỷ VII – VI trước công nguyên)
Ở thời kỳ cổ sơ hình tượng điêu khắc rất đơn giản, trước đó nghệthuật điêu khắc Hy Lạp đã bắt đầu những bước đi dò dẫm từ thế kỷ X– VIII TCN Phần lớn là các tượng nhỏ bằng đồng thanh, đồng nung,hoặc ngà voi thể hiện một cách sơ lược hình tượng các con vật, conngười hay các quái vật trong sự kết hợp giữa người và vật Đôi khi
Trang 28còn có những tượng bằng gỗ, diễn tả các vị thần Điêu khắc thời kỳnày gắn liền với tôn giáo.
Hai loại nhân vật chiếm ưu thế nhất trong điêu khắc thời kỳ này: hìnhkhỏa thân nam đứng – kouros (số nhiều kouroi )[6] và nhân vật nữmặc quần áo – kore (số nhiều korai) [7] Những tượng này được thểhiện trong dáng đứng thẳng, hai tay buông theo thân Tượng trongdáng tĩnh, nghiêm trang cân đối Tỷ lệ cơ thể cũng như hình khốichưa chuẩn mực, chất liệu sử dụng là đá
Thời gian này, điêu khắc Hy Lạp vẫn thấy những ảnh hưởng của ước
lệ tạo hình phương Đông Sang thế kỷ VI, phong cách làm tượng đã
có sự chuyển biến Tượng thẳng đứng như cây cột dần được thay thếbằng những pho tượng dáng động từ đơn giản đến phức tạp Nửa đầuthế kỷ V, điêu khắc Hy Lạp được đánh dấu bằng các tác phẩm chạmnổi ở đền thờ thần diễn tả 12 chiến công người anh hùng Hercules.Con người được diễn tả ở nhiều tư thế vận động khác nhau, sinhđộng Hình tượng điêu khắc đã thoát khỏi sự chi phối của ước lệ tạohình cơ sở Nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp bước vào thời kỳ mới
Thời cổ điển (Thế Kỷ V – IV trước công nguyên)
Từ giữa thế kỷ V, thành bang Athens đã phát triển trở thành trungtâm lớn của Hy Lạp cả về chế độ xã hội cũng như văn hoá nghệthuật Người đứng đầu về điêu khắc thời này là Phidias, Polykleitos
và Myron
Polykleitos dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và sáng tạo củamình cho việc tìm ra tỷ lệ chuẩn cân đối, hài hoà của cơ thể namgiới Tiêu biểu là tượng Doryphoros – người mang giáo [8]: có tỷ lệcân đối, hài hoà của các tỷ lệ giữa đầu, thân, tay, chân, sự mềm mại,sống động của hệ thống cơ, chất đá đã biến thành da thịt, có cảmnhận được sự vững chắc của cơ thể, sự chuẩn xác về giải phẫu tạohình kết hợp với cái đẹp của đường nét, hình khối Ngoài ra bứctượng Diadumenos – người đeo vòng nguyệt quế cũng được cho làtác phẩm của ông
Myron lại nghiên cứu dáng động của hình tượng con người Tiêu biểu
là tượng Diskobolus – người ném đĩa [9] cho ta hình ảnh của một lực
sĩ cường tráng đang vận động hết sức của cơ thể để vung tay ném
Trang 29đĩa, ở đó có sự phối hợp cái đẹp về dáng, về hình, về tỷ lệ Trong sựphối hợp phần chân nghiêng và thân nhìn chính diện Sự kết hợp đãtạo ra sự chuyển động và vẻ đẹp hoàn mỹ cho tác phẩm.
Sang thế kỷ IV, điêu khắc Hy Lạp lại tiến thêm một bước, nếu ở thời
kỳ trước các tác giả muốn đạt đến độ mẫu mực về tỷ lệ, hình khối,tạo dáng động thì thế kỷ này họ lại muốn tăng thêm chất liệu thựccho tượng, bớt chất lý tưởng hoá Từ đó cũng sản sinh ra ba nhà điêukhắc vĩ đại như: Praxiteles, Skopas và Lysippos (điêu khắc riêng choAlexander Đại Đế) Trong thể kỷ IV, điêu khắc còn mịn màng hơn thờitrước, nhưng tính vĩnh cữu của điêu khắc Phidias và Polykleitos đãnhường bước cho tính trần thế đời thường Các nghệ sĩ Hy Lạp đãphô diễn vẻ đẹp tuyệt mỹ mà tạo hoá đã ban tặng cho “phái yếu”qua những pho tượng khoả thân
Praxiteles là bậc thầy mô tả được các đường cong tinh tế và làm đátrông mềm dẽo như da thịt thật Praxiteles lột bỏ y phục củaAphrodite, nữ thần tình yêu, để khoe tất cả vẻ đẹp tinh tế và duyêndáng của nàng Bản gốc Aphrodite of Knidos, như tất cả tượng của
Hy Lạp đều đã mất, và chỉ còn được biết đến qua các phiên bản saochép của La Mã và mô tả của tác giả [10] Tượng của Praxiteles –Hermes và đứa con Dionysus [1u1] hầu như danh tiếng không kémtượng Aphrodite của ông – và cũng không kém đẹp Vẽ mềm mại vànét quang đãng cổ điển của các chi tiệt trên gương mặt cùng nétduyên dáng tinh tế của cơ thể của Hermes là dấu ấn của phong cáchcủa Praxiteles Hermes, trước đây được tin là tượng nguyên gốc, giờđược xem là một bản “nháy” tuyện vời, gần với tinh thần của bảnchính hơn bản sao Aphrodite of Knidos
Thời kỳ Hy Lạp hoá (thế kỷ III – II trước công nguyên)
Ở thời kỳ này, Aten không còn là trung tâm cường thịnh duy nhấtnhư thời trước, trên những miền đất mới ở Tiểu Á và Bắc Phi mọc lênnhững trung tâm mới Điêu khắc cũng như điêu khắc đều muốn tìmđến một phong cách mới Hoặc tiếp tục phong cách của giai đoạntrước nhưng đẩy cao hơn về mặt biểu hiện những tình cảm đauthương, bi thảm Trong pho tượng gây ấn tượng mạnh cho thị giác vàcảm xúc Hoặc phức tạp hơn trong phong cách diễn tả, hoặc cường