Thực chất của chuyên môn hoá sản xuất Trên góc độ doanh nghiệp, chuyên môn hoá sản xuất là tập trung hoạt động cùa doanh nghiệp vào việc thực hiện những công việc cùng loại nhất định, v
Trang 1m Phần thứ hai: Tổ chức sản xuất kinh doanh công nghiệp
Phần thứ hai
Tổ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH CÔNG NGHIỆP
Trang 3Chương bảy: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
Chương bảy
CHUYÊN MÔN HOÁ SẢN XUẤT VÀ ĐA DẠNG HOÁ
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp công nghiệp phài bám sát nhu cầu thị trường và sàn xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường
Đó là nguyên tắc cơ bàn chi phổi việc hình thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong sự đa dạng của nhu cầu thị trường về các sàn phâm công nghiệp và trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp có thế lựa chọn phương án kinh doanh cùa mình theo một trong ba hướng: phát triển chuyên môn hóa sản xuất; đa dạng hóa kinh doanh; kết hợp hợp lý giữa chuyên môn hóa sản xuất và đa dạng hỏa kinh doanh.
Chương này đề cập những vấn đề có tính nguyên tắc về xác định nhiệm
vụ kinh doanh cùa doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nội dung của chương đề cập tới ba vấn đề lớn:
- Thực chất và các hình thức chuyên môn hóa sán xuất trong công nghiệp.
- Đa dạng hóa kinh doanh cùa doanh nghiệp công nghiệp.
- Kết hợp giữa chuyên môn hóa và đa dạng hóa kinh doanh trong phát
triên công nghiệp.
I TH ựC CHÁT VÀ CÁC HÌNH THỨC CHUYÊN MÔN HOÁ SẢN XƯÁT TRONG CÔNG NGHIỆP
1 Thực chất của chuyên môn hoá sản xuất
Trên góc độ doanh nghiệp, chuyên môn hoá sản xuất là tập trung hoạt động cùa doanh nghiệp vào việc thực hiện những công việc cùng loại nhất định, v ề mặt sản xuất, những công việc cùng loại mà một doanh nghiệp công nghiệp thực hiện có thể thực hiện theo những nội dung khác nhau: chế tạo những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có công nghệ sản xuất tương tự nhau; thực hiện một hoặc một số giai đoạn công nghệ của quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh; tập trung chế tạo một số bộ
Trang 4m KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CỒNG NGHIỆP
phận, chi tiết của sản phẩm hoàn chỉnh; thực hiện những công việc phụ trợ nhất định phục vụ cho nhiều doanh nghiệp công nghiệp khác nhau
Sự phát triển của chuyên môn hoá sản xuất trong công nghiệp gẳn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội Các hình thức chuyên môn hoá sản xuất là biểu hiện trực tiếp của thực hiện phân công lao động theo những nội dung khác nhau Phân công lao động xã hội càng phát triển, trình
độ chuyên môn hoá sản xuất của các doanh nghiệp càng cao Trong điều kiện cơ chế thị trường có sự quàn lý cùa Nhà nước, sự phân công lao động giữa các doanh nghiệp công nghiệp để hình thành và phát triển mồi hình thức chuyên môn hoá có thể được thực hiện bàng những cách khác nhau: các doanh nghiệp thoả thuận phân công sản xuất và phân chia thị trường sàn phẩm; doanh nghiệp phân tích các cơ hội kinh doanh trên thị trường và năng lực cạnh tranh của mình để tìm ra lĩnh vực sản phẩm thị trường riêng
Quá trình hình thành chuyên môn hoá sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp gắn liền với việc xác định phương án sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp Để có phương án kinh doanh hợp lý, doanh nghiệp phải dựa vào định hướng cùa Nhà nước, điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường và phân tích các quan hệ cạnh tranh trên thị trường, khả năng các nguồn lực của bản thân doanh nghiệp, các thành tựu và xu hướng phát triển khoa học - công nghệ Sự phát triển chuyên môn hoá sản xuất của mỗi doanh nghiệp, tuy là việc tập trung thực hiện những công việc cùng loại nhất định, nhưne không loại trừ trường hợp doanh nghiệp thực hiện những công việc khác loại Nhưng một doanh nghiệp có trình độ chuyên môn hoá cao khi những công việc cùng loại ấy tạo thành nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của nó và chiếm ti trọng cao trong doanh thu của nó
2 Các hình thức chuyên môn hoá sản xuất trong công nghiệp
Trong công nghiệp, chuyên môn hoá sản xuất được thực hiện dưới những hình thức khác nhau Đê tổ chức có hiệu quả chuyên môn hoá sản xuất, cần biết rõ nội dung, điều kiện thực hiện và lợi ích của từng hình thức.Dưới đây là những hình thức chuyên môn hoá sản xuât trong công nghiệp hiện đại
2Ế/ ề Chuyên môn hoá sản phẩm
Chuyên môn hoá sản phẩm là việc tập trung hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp vào việc chế tạo một loại sản phẩm hoàn chinh đẻn mức
độ nhất định
Trang 5jg Chương bảy: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
Khi thực hiện chuyên môn hoá sản phẩm, doanh nghiệp công nghiệp tự đảm nhận việc chế tạo tất cả các bộ phận và chi tiết cấu thành sản phâm hoàn chình, tự thực hiện tất cả các khâu công nghệ của quá trình chế tạo sản phẩm Nói cách khác, về cơ bản, quá trình sản xuất sàn phẩm được khép kín trong phạm vi mỗi doanh nghiệp Việc áp dụng hình thức chuyên môn hoá sàn xuất này bảo đảm sự tập trung trong chỉ huy, điều hành sản xuất, sự chủ động trong tổ chức mối liên hệ sản xuất Tuy nhiên, nó làm cho cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp trở nên phức tạp, yêu cầu đầu tư lớn và gặp nhiều khó khăn trong tổ chức quản lý sản xuất Bởi vậy, hình thức chuyên môn hoá sản xuất chỉ được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm đom giản về kết cấu và công nghệ chế tạo
Trong thực tế, có những doanh nghiệp công nghiệp sàn xuất một số loại sản phẩm khác nhau để đáp ứng đồng bộ một loại nhu cầu của một đối tượng nhất định, chang hạn, doanh nghiệp cơ khí sàn xuất các loại công cụ khác nhau (cày, bừa, cuốc, xẻng, liềm, hái ) phục vụ nông nghiệp Trường hợp này gọi là chuyên môn hoá rộng theo sản phẩm cùng loại Đó là một biến thể của chuyên môn hoá sản phâm Tuy có trình độ thấp, nhưng kiểu chuyên môn hoá này thích hợp với điều kiện chủng loại nhu cầu phức tạp, nhưng số lượng các doanh nghiệp trong ngành không nhiều
2.2 Chuyên môn hoả bộ phận, chỉ tiết của sản phẩm
Chuyên môn hoá bộ phận, chi tiết của sàn phẩm là việc tập trung hoạt động của doanh nghiệp vào việc chế tạo một (hoặc một số) bộ phận, chi tiết của sản phẩm hoàn chinh
Khi áp dụng hình thức chuyên môn hoá này, sản phẩm hoàn chinh cuối cùng là kết tinh lao động của nhiều doanh nghiệp độc lập Tuỳ theo kiểu tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa các doanh nghiệp, các bộ phận, chi tiết sàn phẩm do mồi doanh nghiệp sản xuất có thể có đủ tư cách là hàng hoá và đem ra trao đổi trên thị trường hay không Nếu trong mối quan hệ gia công công nghiệp, thì các bộ phận chi tiết do doanh nghiệp nhận gia công sàn xuất không được coi là hàng hoá của nó Còn nếu doanh nghiệp tự bảo đảm nguyên liệu để sàn xuất, thì các bộ phận, chi tiết do nó sản xuất ra được coi
là hàng hoá, doanh nghiệp có toàn quyền bán cho doanh nghiệp khác để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chình hoặc bán ra trên thị trường như những phụ tùng thay thế
Là biểu hiện cao của trình độ chuyên môn hoá, để áp dụng có hiệu quả hình thức chuyên môn hoá này phải đàm bào những điều kiện cơ l?ản sau đây:
Trang 6KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
- Sản phẩm có kết cấu phức tạp và lượng nhu cầu lớn
- Số lượng doanh nghiệp trong ngành nhiều
- Tổ chức tốt mối liên hệ sản xuất giữa các doanh nghiệp có liên quan.
- Các bộ phận, chi tiết phải được sản xuất theo tiêu chuẩn thống nhất
- Các doanh nghiệp hữu quan được phân bố trong cự ly gần nhau để giảm chi phí vận chuyển các bộ phận, chi tiết
2.5ề Chuyên môn hoá giai đoạn công nghệ chế tạo sản phẩm
Chuyên môn hoá giai đoạn công nghệ là tập trung hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp vào việc thực hiện một hoặc một số giai đoạn công nghệ của quá trình chế tạo sản phẩm
Với việc thực hiện hình thức chuyên môn hoá này, quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp công nghiệp được thực hiện bàng cách chia tách quá trình công nghệ chế tạo sản phẩm thành các giai đoạn khác nhau và giao cho các doanh nghiệp độc lập đảm nhận Sản phẩm cuối cùng là kết quả của sự hiệp tác sản xuất của nhiều doanh nghiệp Cũng có trường hợp một doanh nghiệp đảm nhận một giai đoạn công nghệ phục vụ cho nhiều doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm khác nhau Chẳng hạn, doanh nghiệp mạ điện, đảm nhận việc mạ các chi tiết bằng kim loại phục vụ cho nhiều doanh nghiệp cơ khí
Đe áp dụng có hiệu quả hình thức chuyên môn hoá theo giai đoạn công nghệ, đòi hỏi phải bảo đảm những điều kiện cơ bản sau đây:
- Công nghệ chế tạo sản phẩm phức tạp, việc tách các giai đoạn công nghệ để hình thành doanh nghiệp độc lập bảo đảm được sự hợp lý về kinh tế
bị động khi phải chuyển hướng sản xuất
2.4 Chuyên môn hoá các hoạt động p h ù trợ
Chuyên môn hoá các hoạt động phù trợ là tập trung hoạt động cùa
Trang 7Chương bảy: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
doanh nghiệp công nghiệp vào việc thực hiện công việc phục vụ cho hoạt động chế tạo sản phẩm của các doanh nghiệp khác Ví dụ, thành lập doanh nghiệp cơ khí sừa chữa chuyên ngành, doanh nghiệp sản xuất bao bì, nhãn hiệu sản phẩm, doanh nghiệp sản xuất dụng cụ cắt gọt kim loại Nếu không
áp dụng hình thức chuyên môn hoá sản xuất này, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức các bộ phận phù trợ của mình Việc đó vừa gây sự phân tán và lãng phí vốn đầu tư, vừa không có khả năng sử dụng đầy đủ công suất của các bộ phận ấy
Tuy nhiên, hoạt động mang tính chất phù trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp khác, nhưng các doanh nghiệp thuộc hình thức chuyên môn hoá này vẫn hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp khác, sản phẩm và dịch vụ của chúng vẫn có đầy đủ tư cách là hàng hoá, để trao đổi và mua bán trên thị trường
3 Chuyên môn hoá sản xuất trong điều kiện kinh tế thị trường
Sự phát triển của chuyên môn hoá sản xuất trong công nghiệp là hình thức biểu hiện cụ thể của sự phát triển xã hội hoá sản xuất và phân công lao động xã hội Tính xã hội trong trong tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện bàng các xu thế khác nhau, mà một trong các xu thế đó
là chuyên môn hóa sản xuất của doanh nghiệp Với mỗi doanh nghiệp, việc
áp dụng hợp lý hình thức chuyên môn hoá sản xuất góp phần thiết thực vào tăng sản lượng, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tăng năng suất lao động
và lợi nhuận Thật ra, đó là kết quả tổng hợp của tất cả các hoạt động trong quản lý doanh nghiệp Sự đóng góp của chuyên môn hoá sản xuất vào kết quả này biểu hiện ở chỗ: nó vừa cho phép, vừa đòi hỏi thay thế các thiết bị vạn năng bằng thiết bị chuyên dùng có năng suất cao hơn, nghĩa là chuyên môn hoá công cụ lao động; tạo điều kiện thực tế để chuyên môn hoá lao động, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỳ năng, kỹ xảo của người lao động; làm cho công tác quản lý được tập trung và chuyên sâu hơn, đơn giản hoá các quan hệ nội bộ doanh nghiệp và các quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường Những ưu điểm ấy của chuyên môn hoá sản xuất của doanh nghiệp được thể hiện đặc biệt rõ khi điều kiện kinh doanh của chúng ổn định, phương án kinh doanh được xác định có luận chứng kh( >a học và các quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp được tô chức họp lý và ổn định Nếu không bảo đảm được những yêu cầu đó, chuyên môn hoá sản > uất của doanh nghiệp không thể mang lại hiệu quả mong muôn Đặc biệt lè doanh nghiệp chuyên môn hoá hẹp rất khó có thê phản ứng nhanh nhạy vé i sự biến động
Trang 8KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CỒNG NGHIỆP
của môi trường kinh tế, có thể gặp phải rủi ro lớn trong sản xuất kinh doanh'
và về hình thức, doanh nghiệp vẫn tồn tại độc lập, nhưng trẽn thực tế nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh của nó bị doanh nghiệp khác chi phối
Hơn nữa, trong cơ chế thị trường, chuyên môn hóa sản xuất nhất là chuyên môn hóa hẹp cũng gặp nhiều yếu tố cản trở và làm hạn chế tác dụng thực tế của nó Chẳng hạn, làm giảm tính linh hoạt năng động trong sản xuất kinh doanh, gây ra những hạn chế trong việc tận dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp luôn được đặt trong mối quan hệ với các doanh nghiệp khác và mối quan hệ đó đã vượt ra khòi phạm vi không gian hoạt động của một ngành Một sản phẩm bây giờ do nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất, trong đó mỗi doanh nghiệp chuyên môn chế tạo một hoặc một số loại chi tiết bộ phận của sản phẩm mà thôi Xét về sự vận động của giá trị, đây chính là sự phát triển chuỗi giá trị của doanh nghiệp Nói một cách khác, cùng với chuyên môn hóa, các doanh nghiệp đã hợp lại thành dây giá trị thể hiện sự liên hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với nhau trong việc cùng tạo ra sản phẩm
Với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, việc thực hiện hợp lý chuyên môn hoá sản xuất của các doanh nghiệp tạo điều kiện làm sâu sắc phân công lao động xã hội, phân hoá ngành công nghiệp hiện có, hình thành các chuyên ngành công nghiệp mới Điều này được thể hiện rõ trong ngành công nghiệp
cơ khí Ờ đây, nhiều chuyên ngành cơ khí được hình thành từ các doanh nghiệp chuyên môn hoá Qua đó, sự phát triển chuyên môn hoá sàn xuất cũng góp phần làm thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp
IIễ ĐA DẠNG HOÁ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
ỉ ễ Thực chất của đa dạng hoá kỉnh doanh
Đe thực hiện được hệ thống các mục tiêu kinh tế - xã hội đã định, mồi doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu kinh doanh hợp lý Cơ cấu đó phài phù họp với nhu cầu của khách hàng với đòi hỏi của thị trường, với khả năng của doanh nghiệp và cho phép doanh nghiệp tối đa hoá được lợi nhuận Trong điều kiện nhu cầu thị trường rất đa dạng và thường xuyên biến động, tiến bộ khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp phải được coi là cơ cấu động, nghĩa là phải thường xuyên được hoàn thiện và đổi mới Đó là một trong những điều kiện bảo đàm
Trang 9doanh nghiệp thích ứng với môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triên
Sự hoàn thiện và đổi mới cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
có thể được thực hiện theo các hướng khác nhau Chẳng hạn:
- Thu hẹp lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh bàng cách loại bỏ những lĩnh vực, mặt hàng kém sức cạnh tranh và những lĩnh vực, mặt hàng không có khả năng tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Giữ nguyên lĩnh vực, mặt hàng đang kinh doanh, nhưng cải tiến, hoàn thiện về hình thức, về nội dung đê thu hút khách hàng
- Bổ sung thêm lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường và xu hướng phát triển cùa khoa học và công nghệ
- Chuyển hoá vị trí các lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh trong cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp, đưa những lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh ở vị trí hàng thứ lên vị trí hàng đầu và ngược lại bàng cách thay đổi quy mô kinh doanh mồi loại
Trone thực tế, các hướne trên đây được thực hiện xen kẽ với nhau Khi
cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp thay đổi theo hướng thu hẹp lại, bảo đảm sự tập trung cao hơn, doanh nghiệp sẽ phát triên theo hướng chuyên môn hoá Ngược lại, khi cơ cấu kinh doanh được mơ rộng, doanh nghiệp sẽ phát triển theo hướng đa dạng hoá kinh doanh
Đa dạng hoá kinh doanh cùa doanh nghiệp gắn liền với việc mở rộng lĩnh vực và mặt hàng kinh doanh, gắn liền với quá trình đôi mới và hoàn thiện
cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp nhằm bảo đảm doanh nghiệp thích ứng với sự biến động cùa môi trường kinh doanh Như vậy, đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp là việc mở rộng lĩnh vực hoạt động và mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới một cơ cấu kinh doanh họp lý
Khi thực hiện đa dạns hoá kinh doanh, doanh nghiệp công nghiệp không chỉ mở rộng danh mục các sản phẩm công nghiệp cùa mình (đa dạng hoá sàn phẩm) mà còn có thể thâm nhập sang các lĩnh vực sản xuất khác, chẳng hạn, thâm nhập sang các lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp, hoặc xây dựng cơ bàn (đa dạng hoá sàn xuất) và có thê phát triên sang cả các lĩnh vực hoạt độna khác như thương mại, dịch v ụ
Đa dạng hoá kinh doanh là một khuynh hướng phát triên ngày càng phổ biến đối với các doanh nghiệp công nghiệp Không chi các tập đoàn kinh doanh có quy mô lớn coi thực hiện kinh doanh đa ngành và đa lĩnh vực hoạt độne là định hướng chiến lược phát triển, mà cả các doan'i nghiệp quy mô vừa và nhỏ cũng thực hiện đa dạng hóa kinh doanh với những mức độ khácfli Chương bay: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
Trang 10KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
nhau Sự phát triên của khuynh hướng này trong công nghiệp được giài thích bàng các lý do chủ yếu sau đây:
- Tính đa dạng của nhu cầu về các loại sản phẩm công nghiệp và sự thay đổi thường xuyên của nhu cầu các loại sản phẩm ấy, đòi hỏi mồi doanh nghiệp công nghiệp phải có đối sách phù hợp để đảm bảo sự thích ứng với thị trường
- Tiến bộ khoa học - công nghệ làm xuất hiện những nhu cầu mới, rút ngắn chu kỳ sống của các sản phẩm và tạo những khả năng sàn xuất mới, từ
đó làm xuất hiện những cơ hội kinh doanh mới, đòi hỏi doanh nghiệp công nghiệp phải biết tranh thủ nắm bắt để phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Thực hiện đa dạng hoá kinh doanh cho phép doanh nghiệp công nghiệp tận dụng triệt để hơn những nguồn lực và khả năng cùa doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Việc mở rộng diện kinh doanh cho phép doanh nghiệp công nghiệp có thể phân tán được rủi ro trong kinh doanh
2 Các hình thức đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
Các doanh nghiệp công nghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá kinh doanh với những hình thức khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại các hình thức đa dạng hoá kinh doanh
2.1 X ét theo sự biến đồi danh mục hoạt động, có các hình thức đa
dạng hoá kinh doanh sau đây:
- Biến đổi hoạt động là quá trình hoàn thiện các hoạt động kinh doanh
mà doanh nghiệp đang tiến hành để giữ vững thị trường hiện tại và thâm nhập vào thị trường mới Chẳng hạn, đa dạng hóa về kiểu cách, cấp độ hoàn thiện của sản phẩm thoả mãn thị hiếu, điều kiện sử dụng và khả năng thanh toán của những khách hàng khác nhau Sự hoàn thiện ấy có thể thuần tuý về hình thức sản phẩm (kiểu dáng, mẫu mã), hoặc về nội dung sản phẩm (chất lượng, cấp độ hoàn thiện về kỹ thuật), hoặc cả về hình thức và nội dung sàn phẩm Doanh nghiệp cũng có thể hoàn thiện và nâng cấp các lĩnh vực kinh doanh hiện có của mình để thu hút khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Đồi mới hoạt động là việc loại bỏ những hoạt động kinh doanh lỗi
thời, những sàn phẩm khó tiêu thụ và bổ sung những hoạt động kinh doanh
Trang 11mới, sàn phẩm mới vào cơ cấu kinh doanh cùa doanh nghiệp Những hoạt động kinh doanh và sản phẩm mới được bổ sung này có thể là mới tuyệt đối (mới đối với doanh nghiệp và với thị trường), hoặc mới tương đối (mói đối với doanh nghiệp nhưng không mới với thị trường) Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá kinh doanh này gắn liền với việc doanh nghiệp rời bò một
số thị trường cũ và gia nhập những thị trường mới
- Hỗn hợp là sự kết hợp một số nội dung của hình thức thứ nhất và hình
thức thứ hai Nghĩa là, doanh nghiệp vừa hoàn thiện, cải tiến một số hoạt động kinh doanh và sản phẩm đang thực hiện, vừa loại bò những hoạt động kinh doanh, sản phẩm không sinh lợi, vừa bổ sung những hoạt động kinh doanh, sản phẩm mới vào cơ cấu kinh doanh của mình
2.2 X ét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm , có các hình thức đa
dạng hoá kinh doanh sau đây:
- Đa dạng hoá theo chiều sâu nhu cầu mỗi loại sản phẩm Đó là việc
tăng thêm kiểu cách, mẫu mã cùa cùng một loại sản phẩm để đáp ứng toàn diện nhu cầu của các đối tượng khác nhau về cùne một loại sàn phẩm Ví
dụ, doanh nghiệp sản xuất máy ành chế tạo nhiều loại máy ảnh khác nhau,
từ máy ảnh cho những người chụp ảnh nghiệp dư, máy ảnh cho các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, đến các loại máy ảnh dùng trong điều tra tài nguyên và nghiên cứu khoa học
Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việc phân khúc (phân đoạn) nhu cầu (thị trường) sản phẩm
- Đa dạng hoả theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm thể hiện ở việc
doanh nghiệp chế tạo một số loại sản phẩm có kết cấu, công nghệ sản xuất
và giá trị sử dụng cụ thể khác nhau, đê thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên quan với nhau cùa một đối tượng tiêu dùng Ví dụ doanh nghiệp không chi chế tạo máy ảnh, mà còn sản xuất cả dụng cụ in phóng ảnh, phim, giấy ảnh và các hoá chất dùng trong in phóng ành Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này đòi hỏi phải có tiềm lực lớn về tài chính, công nghệ
để xây dựng doanh nghiệp quy mô lớn, cơ cấu sàn xuất phức tạp
- Đa dạng hoả theo hướng thoát ly sàn phâm gốc, đưa sàn phẩm mới
vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp Neu hai hình thức đa đạng hoá sản phẩm nêu trên vẫn lẩy một loại sàn phẩm chuyên môn hoá ban đầu làm
cơ sờ để mở rộng danh mục sàn phẩm của doanh nghiệp, thì ờ hình thức này sản phẩm được mờ rộns không có liên quan đến sàn phẩm chuyên môn hoá ban đầu, cả về giá trị sử dụng, công nghệ sản xuất
IP Chương bảy: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
Trang 12KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
2.Jể X ét theo mối quan hệ với sử dụrig nguyên liệu chế tạo sàn phẩm.
có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau đây:
- Sản xuất những sản phâm có giá trị sứ dụng khác nhau nhưng có
chung chủng loại nguyên liệu gốc Ví dụ, nhà máy sứ vừa sản xuất sứ dân
dụng, sứ mỹ nghệ, sứ điện, vừa sản xuất sứ vệ sinh Các sàn phẩm này có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng đều sử dụng cao - lanh và các loại men xương làm nguyên liệu chính
- Sư dụng tống hợp các chất có ích chứa đựng trong một loại nguyên
liệu để sản xuất một số loại sàn phâm có giá trị sử dụng khác nhau Chẳng
hạn, trong công nghiệp mía đường, người ta sừ dụng tổng hợp cây mía để không những sản xuất ra đường, mà còn sản xuất ra cồn công nghiệp (từ ri đường) ván ép hoặc giấy (từ bã mía)
2.4 X ét theo phương thức thực hiện, có các hình thức đa dạng hoá
kinh doanh sau đây:
- Đa dạng hoá kinh doanh trên cơ sở các nguồn lực hiện có cùa doanh
nghiệp Theo đó, doanh nghiệp đẩy mạnh kinh doanh bàng việc lận dụng
nguồn lực hiện có, từ đó có thể tiết kiệm được đầu tư, giảm bớt thiệt hại rủi
ro khi thực hiện đa dạng hoá kinh doanh Tuy nhiên, sự "tận dụng" này lại dẫn đến hạn chế khả năng mở rộng lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
- Đa dạng hoá kinh doanh trên cơ sở các nguồn lực hiện có kết hợp với
đầu tư bo sung Nghĩa là, việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đòi hòi phài
có đầu tư thêm, nhưng đầu tư ờ đây chi giữ vai trò bổ sung, nhàm khấc phục những hoạt động yếu hoặc các lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp còn thiếu So với hình thức trên, khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được nâng cao hơn
- Đa dạng hoả kinh doanh bằng đầu tư mới Hình thức này thường
được áp dụng khi doanh nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh mới,
mà khả năng hiện tại không thể đáp ứng được Trong trường hợp này nhu cầu đầu tư thường lớn và xác suất rủi ro sẽ cao hơn, nhưng khà nãng và phạm vi kinh doanh được mở rộng hơn
III K ÉT HỢ P PHÁT T R IẺ N CHUYÊN MÔN HOÁ VÀ M Ở RỘNG
ĐA DẠNG HOÁ TRONG CÔNG N G H IỆP
1 Mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh
Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh là cơ sở để xác định đúng đắn con đường, phương hướng và
Trang 13điều kiện phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tương ứng.
Đa dạng hóa vừa có những điểm khác biệt vừa có mối quan hệ hữu cơ với chuyên môn hóa
về hình thức, khi phạm vi đa dạng hoá kinh doanh càng rộng, trình độ
chuyên môn hoá của doanh nghiệp càng thấp
về nội dung, đó không phải là hai quá trình đối lập nhau, mà có quan hệ
ước định lẫn nhau:
- Bản thân hoạt động chuyên môn hoá của doanh nghiệp công nghiệp cũng phải được hoàn thiện, cải tiến để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường Đó là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho doanh nghiệp công nghiệp có được sức cạnh tranh để giữ và mở rộng thị trường hoạt động Theo đó, hoạt động chuyên môn hoá của doanh nghiệp công nghiệp được đa dạng hoá theo hình thức biến đổi hoạt động kinh doanh
- Với nhiều doanh nghiệp công nghiệp, việc thực hiện các hoạt động chuyên môn hoá thường không sử dụng hết các nguồn lực sằn có Bởi vậy, trong khi coi nâng cao một cách họp lý trình độ chuyên môn hoá là phương hướng chủ đạo trong quá trình phát triển, doanh nghiệp công nghiệp vẫn cần mở rộng các lĩnh vực kinh doanh để tận dụng các nguồn lực sẵn có, đáp ứne nhu cầu đa dạng của thị trường Với nội dung này, đa dạng hoá kinh doanh hỗ trợ quan trọng cho phát triên chuyên môn hoá
- Trong các phương thức thực hiện đa dạng hoá kinh doanh, nếu đa dạng hoá kinh doanh được thực hiện dựa trên nền tàng các điều kiện sẵn có của chuyên môn hoá sẽ giảm bớt được nhu cầu đầu tư, nâng cao được hiệu quả kinh doanh và giảm bớt rủi ro trong kinh doanh Đây chính là ràng buộc của chuyên môn hoá đen việc thực hiện đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
Trên thực tế, hai xu hướns này không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau và tạo ra một xu thế đó là kết họp chuyên môn hóa với đa dạns hóa Tuy nhiên, chuyên môn hoá luôn phải được coi là hạt nhân trung tâm và phươns hướng chủ đạo trong phát triển kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp Khi coi cơ cấu kinh doanh cùa doanh nghiệp công nghiệp là cơ cấu độns, cơ cấu ấy phải được thường xuyên hoàn thiện và đôi mới, bảo đàm cho doanh nghiệp côns nshiệp thích ứng với sự vận độns cua môi trường kinh doanh Như vậy, bản thân hoạt động chuyên môn hoá của doanh nghiệp công nghiệp cũng phải được đa dạng hoá Trong quảr lý, không nên coi đa dạne hoá kinh doanh của doanh nghiệp là giải pháp mang tính tình
jg Chương bảy: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
Trang 14HP KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
thế nhất thời Để đảm bảo hiệu quả và sự ồn định ưong kinh doanh, cần có phương hướng chiến lược về kết hợp phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp công nghiệp
Sự kết hợp chuyên môn hóa với đa dạng hóa có thể thực hiện trên nguyên tắc tổ chức theo chiều dọc (Công ty liên hợp) hoặc ưên nguyên tảc kết hợp chiều dọc và chiều ngang (Tổng công ty hoặc Tập đoàn kinh doanh
đa ngành, đa lĩnh vực) Các tổ chức này cùng với các thành viên trực thuộc
có thể đảm nhiệm các hoạt động khác nhau như sàn xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, tài chính
2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển chuyên môn hoá
và đa dạng hoá kinh doanh
Việc xác định phương hướng và nội dung kết hợp chuyên mòn hoá với phát triển đa dạng hoá kinh doanh, phải gắn liền với việc xác định phương
án kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp Để giải quyết những vấn đề trên đây, cần phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
2.1 Nhu cầu thị trường
Trong điều kiện kinh tế thị trường, mồi doanh nghiệp công nghiệp phải bám sát nhu cầu của thị trường để tiến hành các hoạt động kinh doanh, đưa
ra thị trường những sản phẩm (và dịch vụ) mà thị trường cần Việc điều tra, phân tích nhu cầu thị trường phải được coi là một trong những công tác quan trọng hàng đầu trong quản lý doaiih nghiệp và quản lý neành công nghiệp
Tuỳ theo yêu cầu thực hiện những nội dung khác nhau của quàn lý công nghiệp, việc điều tra, phân tích nhu cầu được tập trung vào những nội dung cụ thể khác nhau Neu để xác định quy mô hợp lý của doanh nghiệp, người ta quan tâm đến tổng lượng nhu cầu mỗi loại sản phẩm (dung lượng thị trường), thì để xác định phương hướng chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh, người ta lại quan tâm hơn đến những nội dung sau đây:
- Kiểu dáng, mẫu mã, kích cỡ mồi loại sản phẩm mà thị trườne đòi hỏi Việc phân đoạn thị trường có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích nhu cầu thị trường về mỗi loại sản phẩm
- Tính phức tạp về kết cấu sản phẩm và công nghệ sản xuất sản phẩm
- Nhu câu các loại sàn phâm khác nhau có liên quan trong sử dụng
- Các loại sàn phẩm có thể thav thế
Trang 15- Sự vận động của sản phẩm trong chu kỳ sống của nó.
Việc nghiên cứu phân tích các nội dung này nhàm hạn chế rủi ro trong phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp
2.2ể Khả năng của mỗi doanh nghiệp
Nhu cầu của thị trường về các loại sản phẩm vật chất và các loại dịch
vụ rất đa dạng và thường xuyên thay đổi đã tạo nên các cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp công nghiệp Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp công nghiệp cần năng động và nhạy bén nắm bất các cơ hội kinh doanh, phàn ánh chúng qua cơ cấu kinh doanh của mình trong mồi thời kỳ cụ thể
Việc đánh giá khả năng của doanh nghiệp được thực hiện theo nhiều góc độ khác nhau: khả năng các yếu tố của quá trình sàn xuất (nhân, tài, vật lực); khả năng của các tài sản hữu hình và tài sản vô hình Trong môi trường cạnh tranh, từ việc đánh giá khà năng của doanh nghiệp, cần phải đánh giá đúng mức khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nghĩa là, xuất phát từ những yêu cầu của thị trường về sản phẩm và dịch vụ (số lượng, chất lượng, giá cả, thòi gian cung ứng), cần xem xét so sánh với các đối thủ cạnh tranh, trước hết là những đối thủ cạnh tranh có thế lực nhất, phải làm
rõ doanh nghiệp có những điểm mạnh gì và điểm yếu gì Bỏ qua điều này sẽ khó tránh khỏi thất bại khi xác định phương hướng phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp
Việc đánh giá khả năng cùa doanh nghiệp đã vượt ra khỏi phạm vi từng doanh nghiệp riêng lẻ và phải được xem xét trong mối quan hệ với các doanh nghiệp khác có liên quan Để thực hiện được việc này, việc thu thập thông tin và việc đưa doanh nghiệp tham gia các tổ chức liên kết thích ứng
có tầm quan trọng đặc biệt
2ễ J Các quan hệ liên kết kinh tế
Mở rộng quan hệ liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế là một xư thế khách quan Việc tham gia cùa doanh nghiệp vào các quan hệ liên kết kinh
tế có tác động trực tiếp tới việc xác định phương hướng và nội dung thực hiện chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Quy định trực tiếp khà năng ứng dụng một số hình thức chuyên môn hoá sản xuất Chẳng hạn doanh nghiệp không thê áp dụng hình thức chuyênfỊP Chương bảy: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
Trang 16KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
môn hoá theo giai đoạn công nghệ hay chuyên môn hoá theo bộ phận chi tiết sản phẩm, nếu không tổ chức tốt các hình thức hiệp tác hoá sàn xuất thích hợp
- Tạo điều kiện tăng khả năng của doanh nghiệp thông qua việc tranh thủ sự hồ trợ từ bên ngoài Việc tăng khả năng này thể hiện không nhừng chỉ là khắc phục khâu yếu trên dây chuyền sản xuất, mà còn là sự hỗ trợ nhau về vốn, về năng lực nghiên cứu và triển khai để nắm bắt các cơ hội kinh doanh
- Tạo thành một tổ chức (như Tổng công ty, Tập đoàn kinh doanh, Công ty mẹ - công ty con) để thực hiện sự phân công lao động giừa các doanh nghiệp, khắc phục tình trạng trùng lắp kém hiệu quả trong các hoạt động, phát huy khả năng, sở trường của từng doanh nghiệp Bằng cách đó,
sự điều tiết một cách tự phát của thị trường để hình thành cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được thay thế bằng sự phân công có tổ chức giừa các doanh nghiệp
2.4 Trình độ tiêu chuẩn hoá, thống nhất hoá
Nhân tố mang tính chất tổ chức - kỹ thuật này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển tổ chức sản xuất kinh doanh khi xây dụng nền sản xuất lớn trong công nghiệp Nó đòi hỏi tất cả các sản phẩm do mỗi doanh nghiệp công nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường phải theo tiêu chuẩn thống nhất Tiêu chuẩn này không những chỉ là cơ sở để Nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, mà còn là cơ sở để tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa các doanh nghiệp có liên quan Chẳng hạn, quan
hệ giữa các doanh nghiệp chuyên môn hoá bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ; quan hệ giữa doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến nguyên liệu
2.5 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành công nghiệp chuyên môn hóa
Mỗi ngành công nghiệp chuyên môn hóa có những đặc điểm kinh tế -
kỹ thuật riêng chi phối việc lựa chọn trình độ chuyên môn hoá sản xuất Chẳng hạn, sản phẩm của ngành cơ khí thường có kết cấu phức tạp (cấu thành bởi nhiều bộ phận chi tiết), nên ở đây áp dụng khá phổ biến hình thức chuyên môn hoá theo bộ phận (chi tiết) sản phẩm, do vậy, hiệp tác hoá sản xuất rất phát triển Trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc ngành dệt - may thường thuộc loại hình sản xuất hàng loạt (hoặc khối lượng lớn), cône nghệ sản xuất các sản phẩm này tương đối đồng nhất, bởi vậy ở đây thường áp
Trang 17jp Chương bây: Chuyên môn hoá sản xuất và đa dạng hoá
dụng chuyên môn hoá theo giai đoạn công nghệ
Trên đây là một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp Việc phân tích những nhân tố này cho phép thiết lập cơ sở khoa học để đưa ra các phương án khác nhau về phương hướng và nội dung phát triển chuyên môn hoá, đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp Từ các phương
án đưa ra, người ra sẽ so sánh trên nhiều phương diện khác nhau để lựa chọn phương án hợp lý và khả thi nhất
Cuối cùng, cần chú ý rằng, mồi doanh nghiệp công nghiệp là một phần
tử cấu thành hệ thống kinh tế thống nhất, cho nên sự vận động của nó phải trong khuôn khổ hành lang pháp lý của Nhà nước đã vạch ra và hướng tới thực hiện mục tiêu chung của toàn hệ thống Bởi vậy, khi xác định phương hướng, nội dung chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp, cần phải nghiên cứu kỹ định hướng phát triển mà Nhà nước đã xác định và hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế của Nhà nước
3ẳ Phưoug hướng kết họp phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh trong công nghiệp
Trong điều kiện kinh tế thị trường, quyền chù động và tính tự chịu trách nhiệm của các doanh nehiệp công nghiệp được đề cao Đe thích ứng với môi trường kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã điều chinh kịp thời phương hướng kinh doanh của mình, kết hợp giữa hoàn thiện, phát triển chuyên môn hoá với mở rộng đa dạng hoá kinh doanh Tuy vậy, trong quá trình này còn không ít doanh nghiệp coi sự kết họp ấy như một giải pháp tình thế giải quyết những khó khăn trước mắt, chưa có định hướng dài hạn Bởi vậy, sự kết họp chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh thiếu cơ sở phát triển hiệu quả, bền vững dài hạn, thậm chí có những trường hợp, ngay trong ngắn hạn cũng không đạt được hiệu quả mong muốn Bời vậy, khi xác định phương hướng kết hợp phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh, mồi doanh nghiệp công nghiệp cần phải đặt yêu cầu kết hợp các mục tiêu ngắn hạn và các mục tiêu dài hạn Phương hướng kết hợp ấy phải được xác định thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh và phương án kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quản trị doanh nghiệp, người ta ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò của việc xây dụng và chi đạo thực hiện chiến lược phát ứiển kinh doanh của doanh nghiệp Nhờ có chiến lược phát triển kinh dc anh đúng đắn, nhiều công ty công nghiệp của các nước phát triên cũng ìhư của một số
Trang 18KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
nước đang phát triển đã tạo cho mình một thế và lực phát triển mạnh trên các thị trường
Chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều chiến lược bộ phận khác nhau Các chiến lược bộ phận không phải được áp dụng một cách biệt lập, mà được đặt trong sự kết hợp chặt chẽ với nhau Sự kết hợp các chiến lược bộ phận ấy, xét trên góc độ tổ chức kinh doanh, chính là sự kết hợp phát triển chuyên môn hoá và mở rộng hợp lý đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp Sự kết hợp ấy, xét Ưong dài hạn, sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp theo những hướng khác nhau tuỳ thuộc vào sự thay đổi của môi trường kinh doanh: loại bò nhừng hoạt động không có khả năng sinh lợi, bổ sung các hoạt động mới có hiệu quả hơn; điều chỉnh mức độ thực hiện các hoạt động kinh doanh
Cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở phân tích một loạt nhân tố (như nhu cầu thị trường, khả năng bào đảm các nguồn lực, thế lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường ) Cơ cấu kinh doanh là sự phản ánh trực tiếp phương hướng kết hợp phát triển chuyên môn hoá và đa dạng hoá kinh doanh của doanh nghiệp
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP
1- Phân tích nội dung, lợi ích và điều kiện thực hiện các hình thức chuyên môn hóa sản xuất trong công nghiệp? Lấy ví dụ thực tế minh họa?
2- Phân tích lợi ích và bất lợi của chuyên môn hóa sâu trong điều kiện cạnh tranh và tiến bộ khoa học công nghệ?
3- Phân tích thực chất rà sự cần thiết thực hiện đa dạng hóa kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp?
4- Phân tích mối quan hệ giữa chuyên môn hỏa và đa dạng hóa kinh doanh của doanh nghiệp và ỷ nghĩa thực tiễn cùa việc nghiên cứu moi quan hệ ẩy?
5- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuyên môn hóa và đa dạng hóa kinh doanh cùa doanh nghiệp công nghiệp?
Trang 19Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
Chương tám TẬP TRƯNG HOÁ VÀ QUY MÔ DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP
Quá trình ra đời và phát triển công nghiệp gắn liền với quá trình tập trung hoá Quả trình này không những chi dẫn tới hình thành các doanh nghiệp có quy mô ngày càng lớn, mà chủ yếu là hình thành hệ thống các doanh nghiệp cỏ quy mô khác nhau, bổ sung hỗ trợ nhau trong môi trường vừa cạnh tranh, vừa hợp tác của nền kinh tế thị trường Việc lựa chọn quy
mô doanh nghiệp hợp lý là một trong những vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh cùa doanh nghiệp trên thị trường.
Chương này sẽ đề cập tới các nội dung sau đây:
- Thực chất và các hình thức tập trung hoả sàn xuất.
- Thực chất vờ các chi tiêu đo lường quy mô doanh nghiệp công nghiệp.
- Ket hợp các loại quy mô doanh nghiệp công nghiệp.
I THựC CHÁT VÀ CÁC HÌNH THỨC TẬP TRƯNG HOÁ SẢN XUẤT
1 Thực chất của tập trung hoá sản xuất
Tập trung hoá sản xuất trong công nghiệp là quá trình tập hợp các hoạt động công nghiệp vào các loại hình tổ chức kinh doanh có quy mô ngày càng lớn
Sự phát triển của tập trung hoá sản xuất gắn liền với quá trình phát triển công nghiệp, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội hoá sản xuất Nội dung
cơ bản của quá tìn h này là sự tập trung về tư liệu sản xuất và lao động vào một tổ chức kinh doanh công nghiệp nhất định Mối tương quan giừa tập trung tư liệu sản xuất và tập trung lao động trong tô chức kinh doanh phụ thuộc vào sự thay đôi trình tự công nghệ khi thực hiện tập trung hoá sản xuất Nói chung, khi thực hiện đổi mới công nghệ trong quá trình tập trung
Trang 20KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
hóa, tốc độ tăng của các yếu tố vật chất và tài chính sẽ lớn hơn tốc độ tảng của lao động Song cần lưu ý ràng, việc làm tăng các yếu tố sản xuất trong một tổ chức kinh doanh không phải là mục đích tự thân Việc tảng các yếu
tố đó, qua thực hiện tập trung hoá sản xuất, chính là nhàm tăne lượng sàn phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh nhờ thúc đẩy phân công lao động, tổ chức tốt quan hệ hiệp tác sản xuất và ứng dụng những thành tựu mới của tiến bộ khoa học - công nghệ
Giữa tập trung hoá sản xuất và quy mô tổ chức kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau Trình độ cao của tập trung hoá sản xuất dẫn tới việc hình thành các loại hình tổ chức kinh doanh có quy mô lớn và thế lực lớn trên thị trường Việc mở rộng quy mô tổ chức kinh doanh không phải là mục tiêu trực tiếp của quá trình tập trung hoá, mà chỉ là hệ quả tất yếu của quá trình này Nói cách khác, quy mô của tổ chức kinh doanh chi là một Ưong nhừng hình thức biểu hiện của tập trung hoá sản xuất Có nhiều trường hợp, khi thực hiện tập trung hoá sản xuất, quy mô của từng doanh nghiệp không tăng, nhưng quy mô chung của từng tổ chức kinh doanh lại tảng lên nhờ hợp lý hoá các quan hệ phân công, hiệp tác giữa các đơn vị cấu thành tổ chức kinh doanh ấy
Quá trình phát triển của tập trung hoá sản xuất gắn liền với sự xuất hiện của nhiều loại hình tổ chức kinh doanh với những tính chất hoạt động rất khác nhau Hình thức phường, hội tập hợp những người thợ thủ công có thể thích ứng với trình độ phát triển thấp của công nghiệp Sự phát triển công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện một loạt những loại hình tổ chức kinh doanh, như các-ten, tờ-rớt, xanh-đi-ca, công-sooc-xi-om, cong-lô-me- rat Từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đến nay, đã phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế mang tính quốc tế, dưới tên gọi công ty đa quốc gia (hay công ty siêu quốc gia) Các loại hình tổ chức này có tính chất rất khác nhau, nhưng có đặc trưng chung:
- Thành lập và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần
- Có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường
- Hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực
- Phạm vi hoạt động rộng ở nhiều nước khác nhau
Đe đánh giá mức độ tập trung hoá sản xuất trong các ngành, người ta thường dựng các chi tiêu tập trung hoá sau đây:
Trang 21Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
- Chi tiêu đảnh giá trình độ tập trung hoá tuyệt đổi (CRx)
C R , = ± S m
i=lTrong đó:
- x: số doanh nghiệp có quy mô lớn nhất trong ngành
- Si: tỷ trọng sản lượng sản phẩm của doanh nghiệp i so với khối lượng sản phẩm toàn ngành
Chỉ tiêu CRX được sử dụng phổ biến ở các nước để đánh giá mức độ tập trung hoá sản xuất của các ngành CRX là tổng tỷ trọng sản lượng (hoặc
là giá trị gia tăng, số lượng lao động, giá trị tài sản .) của các doanh nghiệp lớn nhất trong ngành so với toàn ngành X là số lượng các doanh nghiệp lớn trong ngành được lựa chọn để đánh giá mức độ tập trung hoá sản xuất Thông thường có thể chọn từ 4 đến 8 doanh nghiệp Tỷ trọng sàn lượng và giá trị gia tăng được lựa chọn để tính toán phổ biến hơn so với số lượng lao động hoặc giá trị tài sản Việc tính toán theo số lượng lao động hay là giá trị tài sản có những hạn chế nhất định Do ảnh hường của trình
độ công nghệ của các doanh nghiệp không đồng nhất, nên tỷ trọng tính theo các chỉ tiêu nêu trên không phài luôn tương đương nhau Doanh nghiệp có trình độ công nghệ cao, chiếm tỷ trọng cao về sản lượng sản phẩm, nhưng tỷ trọng lao động lại thấp, bởi lẽ khi trình độ trang bị công nghệ càng cao, năng suất lao động càng lớn, lượng lao động cần dùng giảm bớt một cách tương đối Dưới đây là một ví dụ về đánh giá mức độ tập trung hoá sàn xuất trong công nghiệp của một số nước thông qua tính toán chỉ tiêu CR-i - tỷ trọng sản lượng của 4 doanh nghiệp lớn nhất trong một ngành Theo tiêu chuẩn đánh giá của một số nước: nếu CR4 ở khoảng
từ 75 - 100%, thì mức độ tập trung hoá sản xuất là rất cao; nếu CR4 ở khoảng 50 - 7 5 %, đạt mức độ tập trung hoá sản xuất cao; nếu đạt dưới 25%, đạt mức độ tập trung hoá sàn xuất thấp
Ngành có mức độ tập trung hoá sản xuất cao cũng là ngành có mức độ độc quyền cao Nghĩa là, số ít doanh nghiệp có khả năng khống chế và chi phối hoạt động của toàn ngành
- Chi số nghịch đào cùa CRX
Chi số này được tính bằng số lượng các doanh nghiệp lớn nhất trong ngành chiếm đến 80% (cao thấp tuỳ theo mức lựa chọn) tỷ ữọng sản lượng của toàn ngành Sô lượng doanh nghiệp càng ít, mức độ tập trung hoá càng
Trang 22m KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CỒNG NGHIỆP
cao (Tham khảo bảng 8.1)
Bảng 8.1- Phân loại mức độ tập trung hoá theo chỉ số nghịch đáo
Số doanh nghiệp lớn chiếm đến 80%
tỷ trọng sản lượng toàn ngành Mức độ tập trung hoá
8 - 2 0 doanh nghiệp Tương đối cao
Các ngành công nghiệp khác nhau có mức độ tập trung hoá sản xuất khác nhau Một số ngành công nghiệp nặng như sản xuất ô tô, lọc hoá dầu, sản xuất thép có mức độ tập trung hoá sản xuất cao hơn nhiều so với các ngành dệt, may, sản xuất giầy dép Theo thời gian, mức độ tập trung hoá của từng ngành công nghiệp có thể có xu thế giảm Ví dụ, ngành công nghiệp lọc dầu của Canada vào năm 1954 có chỉ so CR4 là 86,4%, nhưng đến năm 1985 chỉ còn là 64%
- Chỉ so Herfindaht-Hirschman (HHI) cũng được sừ dụng để đánh giá
mức độ tập trung hoa sản xuất Khác với CRX và chi số nghich đào, HHI tính theo tỷ trọng sản lượng của tất cả các doanh nghiệp trong một ngành HHI được xác định là tổng bình phương tỷ trọng sản lượng của tất cả các doanh nghiệp trong một ngành
Chỉ số này được tính theo công thức sau:
/ = !
Trong đó:
- n: số lượng các doanh nghiệp trong một ngành
- Sị: tỷ trọng sản lượng của doanh nghiệp i trong toàn ngành
Để minh hoạ ý nghĩa của chỉ số HHI, chúng ta xem xét ví dụ so sánh mức độ tập trung của ngành công nghiệp A và ngành công nghiệp B với già định mỗi ngành có 6 doanh nghiệp Tỷ trọng sản lượng cùa các doanh nghiệp trong hai ngành được cho theo các số liệu sau:
Ngành công nghiệp A: doanh nghiệp 1 chiếm 20%; dcxinh nghiệp 2
Trang 23chiếm 20%; doanh nghiệp 3 chiếm 20%; doanh nghiệp 4 chiếm 20%; doanh nghiệp 5 chiếm 10%; doanh nghiệp 6 chiếm 10%.
Ngành công nghiệp B: doanh nghiệp 1 chiếm 50%; doanh nghiệp 2 chiếm 10%; doanh nghiệp 3 chiếm 10%; doanh nghiệp 4 chiếm 10%; doanh nghiệp 5 chiếm 10%; doanh nghiệp 6 chiếm 10%
Neu đánh giá mức độ tập trung hoá sản xuất cùa hai ngành thông qua chỉ so CR4, hai ngành này có mức độ tập trung hoá bằng nhau Tuy vậy, chỉ
số HHI của hai ngành này lại khác nhau: HHI(A) = 0,18 và HHI(B) = 0,3 Nếu ngành chỉ có một doanh nghiệp, chỉ số HHI của ngành là 1 Trong một ngành có nhiều doanh nghiệp mà không doanh nghiệp nào có khả năng thống lĩnh thị trường, HHI của ngành này rất nhỏ Như vậy, HHI càng cao, khả năng thống lĩnh thị trường của một số ít các doanh nghiệp lớn trong ngành là rất lớn Ngành có HHI cao, mức độ tập trung hoá cao và mức độ độc quyền cũng cao Theo ví dụ trên, ngành công nghiệp B có mức độ tập trung cao hơn ngành công nghiệp A
Chỉ số CRX và HHI được sử dụng song hành và bổ sung cho nhau
Tập trung hoá sản xuất trong công nghiệp được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau:
- Các tổ chức kinh doanh với quy mô khác nhau tự nguyện liên doanh, liên kết với nhau để hình thành một tổ chức kinh doanh mới với quy mô lớn
hơn.
- Các tổ chức kinh doanh có quy mô lớn, thế lực mạnh thôn tính các doanh nghiệp kém sức cạnh tranh
- Xây dựng mới các tổ chức kinh doanh với quy mô lớn
2 Các hình thức tập trung hoá sản xuất
Trong công nghiệp, có nhiều cách phân loại các hình thức tập trung hoá sàn xuất Các cách phân loại ấy khác nhau về căn cứ, nội dung và tác dụng Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:
X ét theo tỉnh chất của các loại sản xuất được tập trung, cớ.ẳ
- Tập trung hoá theo chiều dọc: tập trung các loại hoạt động khác nhau
nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một quá trình thống nhất Việc thực hiện tập trung hoá sản xuất này chính là cách thức thống nhất lại quá trình sản xuất xã hội đã bị chia cắt bởi sự phát triển phân công lao động.Cần chú ý rằng, việc thực hiện tập trung hoá sản xuất theo chiều dọc không chì liên quan đên các hoạt động của công nghiệp (ví dụ, khai thác
Iff Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
Trang 24KINH TÊ VA QUAN LY CONG NGHIẸP
quặng sắt, luyện gang, luyện thép, cán th ép ề), mà còn liên quan đến một số loại hoạt động ngoài sản xuất công nghiệp nữa (ví dụ, hoạt động nòng - lâm
- ngư nghiệp sản xuất nguyên liệu và hoạt động công nghiệp chế biến nguyên liệu ấy) Việc hình thành loại hình tổ chức kinh doanh thích hợp, trong đó có các loại hoạt động khác nhau tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức mối liên hệ sản xuất
- Tập trung hoả sản xuất theo chiều ngang: tập trung các loại hoạt động
có cùng tính chất Việc thực hiện tập trung sản xuất này có ý nghĩa to lớn với việc thúc đẩy nâng cao trình độ chuyên môn hoá sản xuất, nhờ tổ chức tốt quan hệ phân công sản xuất Chẳng hạn, việc tập trung các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp cơ khí vào một tổ chức thống nhất sẽ là điều kiện quan trọng để tổ chức lại sự phân công sản xuất giữa chúng, khấc phục tình trạng sản xuất trùng lắp, kém hiệu quả
X ét theo sự thay đồi trình độ trang bị công nghệ các loại sản xuất được tập trung, cớễ’
- Tập trung hoả sản xuất theo chiều rộng: được thực hiện khi trinh độ
công nghệ sản xuất không có sự thay đổi đáng kể Việc tăng lượng sản phẩm do tổ chức kinh doanh sản xuất là kết quả của việc tăng tương ứng các yếu tố của sản xuất, v ề cơ bản, việc tăng sản lượng, tăng các yếu tố vật chất
và tăng các yếu tố lao động gần như tỷ lệ thuận với nhau Việc thực hiện tập trung hoá sản xuất này không tốn kém về chi phí tài chính, nhưng không đáp ứng được yêu cầu của tiến bộ khoa học - công nghệ và hạn chế khà năng cạnh tranh của tổ chức kinh doanh
- Tập trung hoá sản xuất theo chiều sâu: được thực hiện gấn liền với
quá trình đổi mới công nghệ sản xuất Nhờ đó, năng suất lao động được nâng cao, sản lượng sản phẩm tăng lên chính là nhờ kết qua tích cực này Xét về mặt lượng, tốc độ tăng lên của sản lượng, của các yếu tố vật chất và của lao động không tương đương nhau Nói chung, tốc độ tăng của lao động thấp hơn tốc độ tăng của vốn đầu tư và của sản lượng Hình thức tập trung hoá sản xuất này đáp ứng được yêu cầu phát triển của tiến bộ khoa học - công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh, nhưng gặp hạn chế khi muốn lăng thêm chỗ làm việc và năng lực tài chính của chủ đầu tư có hạn
Trong phạm vi ngành và từng tổ chức kinh doanh, cần phái kết hợp hợp
lý giữa tập trung hoá theo chiều rộng và tập trung hoá theo chiều sáu, nhăm vừa đáp ứng được yêu cầu của tiến bộ khoa học công nghệ, thích ứne với khả năng tài chính và vừa tạo thêm việc làm
Trang 25Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
X ét theo sự thay đồi tính chất của doanh nghiệp tham gia vào quá trình tập trung hóa, cớ.ễ
- Tập trung hóa có sáp nhập: các chủ thể kinh tế tham gia vào quá trình
tập trung hoá hình thành một chủ thể kinh tế mới, do đó mất đi tính độc lập ban đầu, trở thành một bộ phận trong chủ thể (pháp nhân) mới Loại hình thức tập trung hoá sàn xuất này bảo đảm tính tập trung cao và chặt chẽ về quản lý và tổ chức kinh doanh, song không có độ hấp dẫn cao so vói các chủ thể kinh tế độc lập Bởi vậy, thông thường phải dùng các biện pháp tổ chức hoặc kinh tế để thực hiện hình thức tập trung hoá này Ví dụ, một doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế sừ dụng các sức ép kinh tế để sáp nhập các doanh nghiệp khác, biến chúng thành các bộ phận phụ thuộc
- Tập trung hoả không có sáp nhập, còn gọi là tập trung quàn lý Vói
hình thức này, các chủ thể tham gia quá trình tập trung hoá vẫn giữ nguyên tính độc lập kinh doanh, nhưng một số chức năng quản lý được thực hiện tập trung Chẳng hạn, đó là sự phối hợp hành động trên thị trường, phân công sản xuất, xác định và thực hiện chiến lược đầu tư
Các hình thức tập trung hoá sản xuất trong công nghiệp có sự đan xen nhau Trên thực tế, hình thức phổ biến nhất là tập trung hoá hồn hợp, trong
đó ngoài một hình thức tập trung hoá chủ đạo còn có những hình thức khác được kết hợp vào Chẳng hạn, trong công nghiệp dệt - may, ngoài hình thức kết hợp các doanh nghiệp theo quá trình công nghệ chế biến nguyên liệu (tập trung hoá theo chiều dọc), còn có sự kết họp các doanh nghiệp có cùng tính chất ngành nghề (tập trung hoá theo chiều ngang)
Tập đoàn kinh tế là một hình thức tiêu biểu của tập trung hoá sản xuất
và đang ngày càng phát triển trên thế giới Đó là một thực thê kinh tế gồm một số doanh nghiệp có vị trí kinh tế độc lập, chọn một doanh nghiệp cốt cán làm nòng cốt, giữa các doanh nghiệp đó có mối liên kết kinh tế, kỹ thuật nhất định, cùng nhau thực hiện một liên họp kinh tế có quy mô lớn
Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trone phạm vi một nước hay nhiêu nước, trong đó
có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phôi hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển Tập đoàn kinh doanh là một
cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối
đa hoá lợi nhuận
Trên thế giới, tập đoàn kinh tế là hình thức tổ chức đà được phát triển
Trang 26m KINH TỂ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
từ lâu với những hình thức sơ khai ban đầu là các-ten, tơ-rớt, xanh-đi-ca Ngày nay, trên thế giới đó có những tập đoàn kinh tế khổng lồ dưới hình thức công ty đa quốc gia (TNC) hoạt động trong nhiều ngành và cỏ khả năng chi phối sự phát triển của nhiều ngành kinh tế
Việc thành lập các tập đoàn kinh tế mang lại nhiều lợi ích: xác định rõ
và hợp lý hoá các hoạt động nòng cốt trong chiến lược kinh doanh cùa toàn tập đoàn; đơn giản hoá các quá trình, thủ tục đầu tư; cải thiện quá trinh ra quyết định; linh hoạt trong việc huy động các nguồn lực; thúc đẩy phát triển nghiên cứu - triển khai (R&D)
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hình thành các tập đoàn kinh
tế làm nòng cốt cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Mô hình Tổng công ty 90, 91 được thành lập vào nửa sau của những năm 1995 đã bộc lộ ngày càng rõ nhiều nhược điểm, trong đó chủ yếu là các quan hệ hành chính lấn lướt các quan hệ kinh tế - kỹ thuật Nhà nước có chủ trương chuyển các tổng công ty này sang mô hình tập đoàn kinh tế cùng với quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu các doanh nghiệp nhà nước Đe các tập đoàn kinh tế phát huy vai trò tích cực, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ nội dung và cơ chế hoạt động của mô hình này
IIẾ T H ựC CHÁT VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG QUY MÔ DOANH NGHIỆP
1 Thực chất
Quy mô doanh nghiệp là phạm trù phản ánh độ lớn của doanh nghiệp
và cách thức tổ chức, bố trí các bộ phận cấu thành doanh nghiệp ấy
Xác định quy mô hợp lý của doanh nghiệp là một công việc quan ưọng của quá trình đầu tư xây dựng doanh nghiệp mới hoặc sắp xếp lại các doanh nghiệp đang tồn tại Bởi vậy, có thể coi xác định quy mô doanh nghiệp là một nội dung của công tác tổ chức hệ thống công nghiệp Công tác này luôn đòi hỏi phải được tiến hành trên cơ sở nhừng luận cứ khoa học về kinh tế,
kỹ thuật, xã hội, môi trường, quốc phòng nhất định Những luận cứ này có quan hệ ràng buộc với nhau Chẳng hạn, việc xác định quy mô của doanh nghiệp phải bảo đảm được yêu cầu kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, hoặc bảo đảm hiệu quả kinh tế, nhưng cũng phải bảo vệ được môi tniờng sinh thái
Phạm trù quy mô doanh nghiệp phàn ánh hai mặt:
về mặt lượng: để đánh giá và so sánh quy mô của doanh nghiệp, neuời
Trang 27Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
ta sử dụng những chỉ tiêu định lượng cụ thể Độ lớn của doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất Trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất càng cao, quy mô của doanh nghiệp càng lớn Nhưng điều đó không phủ nhận sự tồn tại của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Bởi lẽ, trình độ tích tụ, tập trung hoá của các ngành không đồng nhất như nhau, khả năng kinh doanh của các chủ đầu tư cũng không giống nhau Mặt khác, quá trình tích tụ, tập trung hoá diễn ra song song với quá trình nâng cao trình độ chuyên môn hoá, mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế
về mặt chất: quy mô của doanh nghiệp không phải là sự tập hợp giản
đơn các bộ phận cấu thành doanh nghiệp, mà đòi hỏi có cách thức tổ chức, sấp xếp các bộ phận ấy phù họp với yêu cầu thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp Cách thức tổ chức, sắp xếp các bộ phận trong doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau: độ lớn của doanh nghiệp; đặc điểm lĩnh vực kinh doanh; các quan hệ liên kết kinh tế mà doanh nghiệp tham gia
2ế Các chỉ tiêu đo lường quy mô doanh nghiệp
Để phản ánh quy mô doanh nghiệp và so sánh các quy mô doanh nghiệp, người ta sử dụng một số chỉ tiêu sau đây:
- Sản lượng sản phẩm (tính bằng giá trị hoặc hiện vật);
- Sổ lượng lao động;
- Giá trị tài sản cố định
Khi sử dụng các chi tiêu đo lường quy mô doanh nghiệp vào các mục tiêu trên, cần chú ý mấy điểm sau:
Thứ nhất, các chỉ tiêu này được xem xét cho từng ngành công nghiệp
chuyên môn hoá, không có chỉ tiêu chung để đo lường quy mô doanh nghiệp cho tất cả các ngành, vì các ngành công nghiệp chuyên môn hoá có đặc điểm kinh tế - kỹ thuật khác nhau
Thứ hai, việc sừ dụng các chi tiêu đo lường quy mô các doanh nghiệp
phải luôn tính đến trình độ trang bị công nghệ của chúng Khi trình độ trang
bị công nghệ của các doanh nghiệp trong ngành ngang bằng nhau, có thể sử dụng bất kỳ chỉ tiêu nào ưong các chỉ tiêu đã nêu Song, điều đó lại không
là phổ biến trong thực tế khi mà các doanh nghiệp có trình độ trang bị công nghệ khác nhau, giá trị tài sàn cô định, năng suât lao động của chúng rất khác nhau, số lượng lao động sử dụng cũng khác nhau Bởi vậy, chỉ nên sừ dụng chi tiêu sản lượng sàn phẩm hoặc giá trị tài sản (đã quy đổi) chứ
Trang 28KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
không nên sử dụng chi tiêu số lượng lao động để so sánh quy mô các doanh nghiệp Ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành quy định về xếp hạng doanh nghiệp nhà nước làm cơ sở để bố trí cán bộ quản lý Theo Thông tư số 17/1998/TTL-BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/1998, nhưng doanh nghiệp nha nước thoả mãn hai điều kiện sau đây sẽ được xem xét xếp hạng:
- Có mức vốn nhà nước (vốn chủ sở hữu) đến thòi điểm xếp hạng từ 1
tỷ đồng trở lên
- Không nằm trong danh sách chuyển đổi sở hữu
Việc xếp hạng doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào hai nhóm chi tiêu đề cho điểm xếp hạng:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ phức tạp quản lý, chiếm 50 - 60% tổng số điểm, gồm: vốn sản xuất kinh doanh; doanh thu; số đầu mối quản lý; trình
độ công nghệ sản xuất; số lượng lao động
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh, chiếm 40 - 50% tồng số điểm, gồm lợi nhuận thực hiện, nộp ngân sách, tỷ suất lợi nhuận
Công thức tính điểm:
Đ d n = X ( Đ m a x - Đ m i n ) + Đ m m
1 m a x ~ 1 m i n
Trong đó:
- Đdn'■ điểm tính theo chỉ tiêu
- Tdn'■ giá trị chỉ tiêu tính điểm của doanh nghiệp
- Tmirb Tmax'- giá trị tối thiểu và giá trị tối đa của chi tiêu tính điểm trong
bảng tiêu chuẩn
- Đmi„ và Đmax: điểm tối thiểu và điểm tối đa của các chi tiêu tính điểm
trong bảng tiêu chuẩn
Theo quy định, các doanh nghiệp được chia thành 4 hạne Ưong đó: doanh nghiệp đạt 90 - 100 điểm sẽ được xếp hạng I; 70 - 89 điểm được xếp hạng II; 50 - 69 điểm được xếp hạng II; 28 - 40 điểm được xếp hạna IV.Ngoài 4 hạng đó, một số doanh nghiệp được xếp hạng đặc biệt Loại doanh nghiệp này do Thủ tướng Chính phủ quy định (theo Quyết định sô 185/TTg ngày 28/3/1996) Các doanh nghiệp này bao gồm:
- Các tổng công ty thành lập theo các Quyết định 90/TTg và )l/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ (còn gọi là Tổng cône t' 90 và Tổng công ty 91)
Trang 29Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò trọng yếu trong nền kinh tế, cỏ
vốn pháp định trên 500 tỷ đồng, chức danh giám đốc do Thù tướng Chính phủ bổ nhiệm
Khi phân tích trình độ tập trung hoá sản xuất của một ngành công nghiệp, không tính đến các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng hàng hoá công cộng, quy mô hợp lý của doanh nghiệp phải là quy mô đảm bảo khả năng cạnh tranh cao trên thị trường Bởi vậy, quy mô hợp lý của doanh nghiệp không nhất thiết phải là quy mô lớn
Việc lựa chọn quy mô hợp lý của doanh nghiệp được coi là một công việc có tầm quan trọng đặc biệt, vì:
- Nó quy định trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cơ bản
- Anh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và qua đó, ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
- Chi phối tiềm lực kinh tể của đất nước
Đe lựa chọn quy mô hợp lý của doanh nghiệp, đòi hỏi phải đưa ra nhiều phương án khác nhau Bằng việc so sánh các phương án ấy, có thể lựa chọn được phương án hợp lý nhất Trong hệ thống các chỉ tiêu đưa ra so sánh, nguời ta thường sử dụng chỉ tiêu chi phí thực hiện cho đơn vị sản phẩm.Chỉ tiêu này được tính toán theo công thức sau đây:
c, ~ Zị + Edm. V/
Trong đó:
- Zị\ giá thành đơn vị sàn phẩm của phương án thứ i
- V,: suất đầu tư của phương án thứ i.
- Edm'• hệ số hiệu quả định mức.
Chỉ tiêu trên đây được tính toán cho từng phương án, sau đó so sánh kết quả tính toán với nhau Phương án được lựa chọn là phương án có chi phí thực hiện tính cho đơn vị sản phẩm nhỏ nhất Điều này có nshĩa, quy mô hợp lý của doanh nghiệp được lựa chọn cho phép tiết kiệm được vốn đầu tư
và chi phí sản xuất sàn phâm Đương nhiên, trong so sánh các phương án về quy mô doanh nghiệp, người ta còn phải tính toán và so sánh hệ thống các chỉ tiêu khác và phân tích kỹ lưỡng hiệu quả về xã hội
3 Các nhân tố ảnh hưỏng đến quy mô của doanh nghiệp
Để xác định các phương án về quy mô doanh nghiệp, cần phải phân
Trang 30KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
tích các nhân tố cơ bản sau đây:
5ẻ/ Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường
Trong điều kiện cơ chế thị trường, với tư cách là một chù thể hoạt động trên thị trường, mỗi doanh nghiệp phải quán triệt phương châm “sản xuất và đưa ra thị trường những hàng hoá mà thị trường cần” Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường chi phối trực tiếp toàn bộ công tác quàn lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và việc xác định quv mô doanh nghiệp nói riêng
Khi cung nhỏ hơn cầu, trên thị trường xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hoá Điều đó tạo nên cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Việc mở rộng quy mô doanh nghiệp hiện có hay việc xây dựng doanh nghiệp mới với quy mô thích họp, nói chung, không gặp phải những rủi ro lớn trong kinh doanh Ngược lại, khi cung cân bằng với cầu và khi cung lớn hơn cầu, đòi hỏi phải có phương án thu hẹp kinh doanh hoặc chuẩn bị điều kiện để chuyển hoá sang lĩnh vực sản phẩm thị trường khác
Dù trong trường hợp nào, các doanh nghiệp cũng cần chú ý không chi xét đến tổng lượng cung và tổng lượng cầu, mà còn tính đến cà cơ cấu nhu cầu, thị hiếu và điều kiện sử dụng của những đối tượng tiêu dùng khác nhau Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần phải áp dụng tồng hợp các biện pháp kích thích tăng cầu hàng hoá, chẳng hạn: cải tiến sản phẩm, hạ giá bán sản phẩm, tăng cường công tác quảng cáo, đa dạng hoá phương thức bán hàng, Khi cầu hàng hóa thị trường càng lớn, việc mở rộng quv mô sản xuất của doanh nghiệp càng thuận lợi
Trong việc xác định quy mô của doanh nghiệp, qua việc xác định lượng sản xuất, cũng cần xem xét lượng sản phẩm mà thị trường có nhu cầu đang
ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của nó Khi sản phẩm đang ỡ pha suy thoái, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu rời bỏ thị trường loại hàne hoá này,
mà doanh nghiệp lại vẫn tiếp tục thực hiện đầu tư để tăng lượng sản xuất, nghĩa là tăng quy mô sản xuất, thì có thể gặp rủi ro lớn trong kinh doanh
3.2ễ Khả năng đảm bảo các yếu tố đầu vào
Nhu cầu hàng hoá trên thị trường mới chỉ tạo thành điều kiện cẩn để xác định quy mô doanh nghiệp, điều kiện đủ là khả năng đảm bào các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp chế tạo được sản phẩm để thoả mãn nhu cầu ấy
Trước hết đó là khả năng của các chủ đầu tư Ngoài khả năne về sự năng động nhạy bén và quyết đoán trong nắm bắt cơ hội kinh doanh, khà
Trang 31n _ Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
năng đảm bảo các yếu tố đầu vào của các chủ đầu tư, thể hiện tập trung ở khả năng về tài chính Nghĩa là, mức độ nguồn lực tài chính tự có cùa từng chủ đầu tư và khả năng huy động các nguồn tài chính khác để tạo lập doanh nghiệp mới, hoặc mở rộng doanh nghiệp hiện có với quy mô thích hợp Khi đảm bảo được yếu tố tài chính, các chủ đầu tư có thể tìm mua các yếu tố vật chất cần thiết trên các thị trường thích ứng, khả năng tài chính càng cao, khả năng mở rộng quy mô của doanh nghiệp càng lớn Từ đó có thể thấy rõ việc tập trung tư bản (vốn) có ý nghĩa to lớn đối với tập trung sản xuất và mở rộng quy mô doanh nghiệp
Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hoá khả năng của từng chủ đầu tư cá biệt Cần thấy ràng, khả năng cá biệt ấy có trở thành hiện thực hay không, từng chủ đầu tư có thể tìm mua được các yếu tố cần thiết cho mình hay không còn phụ thuộc vào thị trường xã hội có những hàng hoá mà doanh nghiệp cần hay không Nói cách khác, cầu của các chủ đầu tư có được thoả mãn hay không còn Dhụ thuộc vào những điều kiện vĩ mô mang tính chất liên ngành Xem xét một cách cụ thể hơn, việc bảo đảm các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong nước (sự phát triển các ngành sản xuất tư liệu lao động, đối tượng lao động;
sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân ) và quan hệ thương mại quốc tế (nhập khẩu các yếu tố trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đủ)
3.3 Tiến bộ khoa học - công nghệ
Trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ ảnh hường trực tiếp đến khả năng canh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có trình độ khoa học - công nghệ càng cao, khả năng cạnh tranh càng lớn và ngược lại.Trình độ khoa học - công nghệ cũng ảnh hưởng to lớn đến quy mô doanh nghiệp Thông thường, trình độ khoa học - công nghệ cao có khả năng tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, nhưng nó cũng đòi hỏi lượng vốn đầu
tư lớn và tạo thành tài sản cố định có giá trị cao của doanh nghiệp Nghĩa là, việc áp dụng công nghệ có trình độ cao, xét về tổng thể, thường dẫn tới việc hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn Tuy nhiên, quy mô của doanh nghiệp còn bị ràng buộc bởi hình thức chuyên môn hoá và các quan hệ liên kết kinh tế mà ở phần tiếp theo sẽ trình bày
Cũng cần nhấn mạnh rằng, hiệu quả kinh tế cao mồi doanh nghiệp có khả năng đạt được không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ công nghệ hiện đại nhất mà còn phụ thuộc vào trình độ công nghệ thích ứng với nhu cầu và
Trang 32KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
khả năng của doanh nghiệp Bời vậy, khi lựa chọn quy mô doanh nghiệp không thể tách rời việc lựa chọn công nghệ
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, việc lựa chọn quy mô hợp lý của doanh nghiệp chịu sự ràng buộc của những yêu cầu rất phức tạp: một mặt, doanh nghiệp phải có khả năng vươn tới trình độ công nghệ cao: mặt khác, phải phù hợp với khả năng về vốn đầu tư còn hạn hẹp và có thể cần tạo thêm được nhiều việc làm Những yêu cầu ấy không phải luôn đồng hướng
mà lại thường xuyên mâu thuẫn với nhau Có thể tóm lược trong sơ đồ sau đây về mối quan hệ giữa trình độ công nghệ, yêu cầu về vốn đầu tư và khả năng giải quyết thêm việc làm khi mở rộng quy mô doanh nghiệp (sơ đồ 8.1)7
Sơ đồ 8.1- M ối quan hệ giữa vốn (công nghệ) và lao động khi mở
rộng quy mô doanh nghiệp
Theo sơ đồ, s và S’ là đường năng lực sản xuất trước và sau mở rộng quy mô doanh nghiệp Có 3 con đường giải quyết quan hệ giữa trình độ công nghệ, yêu cầu vốn đầu tư và khả năng thu hút thêm lao động:
- Con đường thứ nhất (1): trình độ công nghệ sau khi mở rộng quy mô doanh nghiệp không đổi, để tăng thêm sản lượng cần tăng thêm vốn đẩu tư
và lao động vói ti lệ tương ứng nhau
Trang 33Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
- Con đường thứ hai (2): trình độ công nghệ sau khi mở rộng quy mô doanh nghiệp được nâng cao, nhu cầu vốn đầu tư lớn, khả năng thu hút thêm lao động lại hạn chế
- Con đường thứ ba (3): trình độ công nghệ sau khi mở rộng quy mô doanh nghiệp thấp hom trước, nhu cầu vốn đầu tư nhỏ và khả năng thu hút thêm lao động lại cao
3.4 Trình độ chuyên môn hoả và các quan hệ liên kết kinh tế
Nhân tố này ràng buộc đến việc xác định phương án quy mô doanh nghiệp ở chỗ: nếu áp dụng hình thức chuyên môn hoá thích họp và mở rộng các quan hệ liên kết kinh tế, thì quy mô từng doanh nghiệp cá biệt không cần mở rộng, nhưng vẫn tăng được tổng khối lượng hàng hoá cung ứng cho thị trường
Hiện nay đang diễn ra khuynh hướng mở rộng các quan hệ liên kết kinh
tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất thông qua việc thành lập các tập đoàn kinh doanh lớn Trong thành phần của tập đoàn kinh doanh lớn này có các doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập có trình độ chuyên môn hoá sản xuất cao Như vậy, tuy tập đoàn kinh doanh hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng mỗi doanh nghiệp thành viên có thể có quy mô không lớn nhưng trình độ chuyên môn hoá cao, góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của tập đoàn trên thị trường
3.5 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của mỗi ngành
Mỗi ngành công nghiệp chuyên môn hoá có những đặc điểm riêng biệt chi phối việc lựa chọn quy mô hợp lý của mỗi doanh nghiệp trong ngành
đó Thông thường, người ta chia toàn bộ công nghiệp thành 4 nhóm ngành sau đây:
Thứ nhất, nhóm ngành công nghiệp khai thác, quy mô doanh nghiệp
được xác định dựa trên 2 căn cứ:
- Trữ lượng công nghiệp của khoáng sản trong vùng;
- Thời gian có hiệu quả để khấu hao một số loại tài sàn cố định đặc thù của ngành (hầm lò, đường sá )•
Thứ hai, nhóm ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuý sản.
Thường chia ra hai tình huống để tính toán quy mô họp lý của doanh nghiệp
- Nếu nguyên liệu không có khả năng sơ chế, quy mô có hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô vùng nguyên liệu Chảng hạn? quy mô
Trang 34KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
nhà máy sản xuất đường được xác định ừên cơ sở quy hoạch vùng ừồng mía để cung cấp nguyên liệu cho chế biến
- Neu nguyên liệu có khả năng sơ chế để vận chuyển xa và dự trừ cho chế biến, quy mô của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào những nhân tố khác (ví dụ, dung lượng thị trường) chứ không phụ thuộc vào quy mô vùng nguyên liệu quanh doanh nghiệp
Thứ ba, nhóm ngành mà thành phẩm được tiêu thụ ngay tại vùng sàn
xuất Đó là các loại:
- Sản phẩm có nhu cầu rộng rãi ở tất cả các vùng;
- Sản phẩm dễ bị hư hỏng trong vận chuyển;
- Sản phẩm mà chi phí vận chuyển nguyên liệu thấp hơn chi phí vận chuyển sản phẩm
Quy mô doanh nghiệp trong nhóm ngành này phụ thuộc vào quy mô của vùng tiêu thụ (dung lượng thị trường của vùng)
Thứ tư, nhóm ngành mà quy mô doanh nghiệp phụ thuộc vào công suất
đơn vị thiết bị chủ yếu và số lượng đơn vị thiết bị chủ yếu đó (ví dụ, công nghiệp luyện kim, điện lực, xi m ăng.ễề)
Trong tất cả các nhóm ngành công nghiệp nêu trên, có thể thấy trong mỗi loại quy mô doanh nghiệp (quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ) có thể có giới hạn tối đa và giới hạn tối thiểu Giới hạn tối đa thường được coi
là giới hạn về kinh tế và tổ chức, như giới hạn về dung lượng thị trường, khả năng đảm bảo các nguồn lực, khả năng quản lý điều hành Neu vượt quá giới hạn đó, doanh nghiệp không thể hoạt động có hiệu quả được Giới hạn tối thiểu là giới hạn về kỹ thuật, những ràng buộc về kỹ thuật sàn xuất Neu quy mô doanh nghiệp thấp hơn giới hạn này, doanh nghiệp không thể vận hành được Quy mô doanh nghiệp được lựa chọn nằm trong khoảng giữa giới hạn tối đa và tối thiểu
IIIỄ K ẾT H Ợ P CÁC LOẠI QUY M Ô DOANH N G H IỆP TRONG CÔNG N G H IỆP
1 Sự cần thiết phải kết họp các loại quy mô doanh nghiệp
Do khả năng của các chủ đầu tư rất khác nhau, trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất ở các doanh nghiệp cũng khác nhau, nên ữong mỗi ngành công nghiệp chuyên môn hoá tồn tại các doanh nghiệp có quy mô khác nhau Bên cạnh những doanh nghiệp quy mô lớn còn có những doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Song trên phương diện tồ chức, không thê đê
Trang 35các doanh nghiệp quy mô khác nhau tồn tại trong trạng thái phân tán, rời rạc
mà cần phải kết hợp chúng thành một hệ thống thống nhất Sự cần thiết phải kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp trong công nghiệp, ngoài đặc trưng của cơ chế thị trường là các doanh nghiệp tồn tại trong môi trường vừa cạnh tranh, vừa liên kết với nhau, còn là vì mỗi loại quy mô doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm nhất định
Có thể tổng hợp ưu, nhược điểm của mỗi loại quy mô doanh nghiệp trong bàng so sánh dưới đây (bảng 8.2)
gp _ Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
Bảng 8.2- Ưu nhược điểm của các loại quy mô doanh nghiệp
Nội dung so sánh Doanh nghiệp
quy mô lớn
Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ
và lao động
Có khả năng nếu
trình độ chuyên môn hoá cao
Sử dụng vốn đầu tư
- Thòi gian xây dựng - Dài - Ngăn
- Ti suât vôn - Thâp - Cao
- Thời gian hoàn vốn - Chậm - Nhanh
Chi phí sàn xuất
- Chi phí quàn lý cho đơn vị - Thâp - Cao
Kết hợp kinh tế quốc phòne Khó phần tán và bảo
vệ ữong chiến ừanh
Dê phân tán và bảo vệ
Trang 36KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
Có thể khẳng định rằng, không có loại quy mô doanh nghiệp nào có ưu thế tuyệt đối Bên cạnh những ưu điểm, các doanh nghiệp quy mô lớn có những nhược điểm nhất định Ngược lại, những doanh nghiệp quy mô vừa
và nhỏ cũng có những ưu điểm mà doanh nghiệp quy mô lớn không thể có Chính điều đó đòi hỏi phải có sự kết hợp hợp lý các loại quy mô doanh nghiệp bằng các biện pháp thích ứng
Việc kết hợp ấy phải được quán triệt trong tất cả các ngành công nghiệp chuyên môn hoá Nhưng ở mỗi ngành, do đặc điểm về kỹ thuật sàn xuất trong hệ thống kinh tế chi phối, cần xác định được loại quy mô Ưọng tâm Chẳng hạn, trong các ngành hoá dầu, luyện kim, điện lực, xi măng hướng vào việc xây dựng doanh nghiệp quy mô lớn là chủ yếu, còn các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản lại cần chú ý nhiều hơn tới xây dựng doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ
2 Các biện pháp thực hiện sự kết họp các loại quy mô doanh nghiệp
Đe thực hiện kết hợp các doanh nghiệp có quy mô khác nhau nhàm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống công nghiệp, cần phải thực hiện một số biện pháp cơ bản sau đây:
2.1 Xác định phương hướng chiến lược kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp trong chiến lược phát triển công nghiệp
Cần khẳng định rằng, dù tiêu chuẩn phân định quy mô doanh nghiệp thay đổi theo trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất trong từng thời kỳ, nhưng việc kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp hoàn toàn không phải là chủ trương nhất thời mà là một phương hướng có tầm chiến lược Ngay cà những nước có trình độ phát triển công nghiệp cao như Nhật Bàn Đức, Pháp, Ý ểế bên cạnh những tập đoàn kinh doanh lớn, các công ty xuyên quốc gia, cũng tồn tại rất nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ
Nước ta đang trong giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với việc phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, chúng ta cũng thành lập các tập đoàn kinh tế nhàm những mục tiêu cơ bản sau đây:
- Thúc đây quá trình tích tụ, tập trung hoá sản xuất, trên cơ sở đó làm sâu sắc quá trình phân công lao động xã hội
- Thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, lăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 37Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
- Tiến tới xoá bỏ phân biệt doanh nghiệp do trung ương và doanh
nghiệp do địa phương quản lý
- Tiến tới xoá bỏ “cơ quan chủ quản của doanh nghiệp nhà nước”, bảo đảm Nhà nước thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước trong nền kinh
- Nhanh chóng tạo sàn phẩm thoả mãn các nhu cầu của dân cư
- Tạo nguồn tích luỹ nội bộ nền kinh tế để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Tạo thêm nhiều việc làm, góp phần củng cố sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước
Sự ra đời và phát triển cùa các tổng công ty theo mô hình tập đoàn kinh doanh được thực hiện song song với việc phát triển mạnh các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ Chúng tạo thành những bộ phận cơ bản trong một hệ thống thống nhất có tác dụng bổ sung, hỗ trợ nhau bàng những biện pháp thích họp
2.2 M ở rộng quan hệ gia công công nghiệp
Gia công công nghiệp là một trong các hình thức của quan hệ liên kết kinh tế Đó cũng là một biện pháp về kinh tế tổ chức sự kết hợp doanh nghiệp quy mô lớn với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, phát huy vai
ứò tích cực của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ
Thực chất của quan hệ gia công công nghiệp là một doanh nghiệp (A) giao nguyên liệu và các yêu cầu gia công chế biến sản phẩm cho doanh nghiệp khác (B), bàng lực lượng lao động và cơ sở vật chất của mình, doanh nghiệp tiến hành tổ chức sản xuất, giao nộp sản phâm cho doanh nghiệp A
và nhận tiền công theo số lượng sản phẩm đã giao nộp và đơn giá đã thoả thuận Bằng việc tổ chức tốt quan hệ gia công, doanh nghiệp có thể tăng lượng sản phẩm sản xuất (quy mô sản xuất), nhưng không cần tăng vốn đầu
tư Đồng thời, doanh nshiệp nhận gia công có được việc làm và thu nhập khi quan hệ với thị trường và khả năng vốn lưu động hạn chế Nhưng để phát huy tác dụng của gia công công nghiệp, cân bảo đàm một số điều kiện
Trang 38KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
cơ bản sau đây:
- Hợp đồng gia công phải đầy đủ, rõ ràng và bảo đảm quyền lợi hợp lý của mỗi bên
- Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giao gia công phải
ổn định
- Tăng cường sự kiểm tra và hỗ trợ về kinh tế - kỹ thuật của bên giao gia công với bên nhận gia công
- Thái độ hợp tác của các bên hữu quan
2.3 Thành lập mô hình công ty mẹ - công ty con
Công ty mẹ - công ty con là mô hình được áp dụng phổ biến ờ các nước
có nền công nghiệp phát triển
Theo mô hình này, một công ty có tiềm lực lớn về kinh tế - tài chính
và khoa học - công nghệ (được gọi là công ty “mẹ”) tổ chức hàng loạt công ty con bằng cách bỏ vốn đầu tư xây dựng mới hoặc đầu tư thầm nhập vào các công ty hiện có để tiến tới chi phối công ty này, biến nó thành công ty phụ thuộc Đen lượt mình, trong quá trình phát triển, công ty
“con” lại đầu tư vốn vào các công ty khác, biến chúng thành công ty “con” của mình (và, do đó, là công ty “cháu” của công ty “mẹ”) Từ đó hình thành một tổ họp các công ty do một công ty lớn chi phối Thành phần cùa
tổ họp công ty này bao gồm các doanh nghiệp có quy mô khác nhau và hoạt động theo một chiến lược thống nhất do công ty mẹ hoạch định Mối quan hệ giữa các công ty này không phải là quan hệ hành chính thuẩn tuý
mà chủ yếu là quan hệ kinh tế Công ty “mẹ” đầu tư vốn vào các công ty
“con” và chi phối các công ty con về chiến lược phát triển, kế hoạch kinh doanh và phát triển khoa học - công nghệ Các công ty “con” là những pháp nhân kinh tế độc lập, có quyền tự chủ nhất định trong kinh doaiứ
trong khuôn khổ đường lối phát triển do công ty “mẹ” xác định Công tỵ
“mẹ” sở hữu một phần hoặc toàn bộ số phần vốn trong các công ty khác v; thực hiện quyền kiểm soát của mình đối với các quyết định, định hướn;; chiến lược trong các công ty khác
Việc áp dụng mô hình công ty mẹ - công ty con vừa dẫn đến hình than 1
hệ thông các doanh nghiệp có quy mô khác nhau trong một tổ chức thốr g nhất, vừa cho phép tổ chức một cách chặt chẽ mối quan hệ kinh tế - kỹ thu Ịt giữa chúng
Trang 39Chương tám: Tập trung hoá và quy mô doanh nghiệp
2.4 Hoàn thiện môi trường thể chế
- Hệ thống luật pháp và trong thực thi hệ thống luật pháp ấy phải thực
sự đàm bảo các doanh nghiệp có quy mô khác nhau đều bình đẳng với nhau
và bình đẳng trước pháp luật
- Nhà nước phải bảo đảm chống tình trạng độc quyền của các tổ chức kinh tế lớn trong kinh doanh, khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường
- Cùng với việc tập trung đầu tư xây dựng một số doanh nghiệp lớn
trong các ngành then chốt trọng yếu của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ thoả đáng sự phát triển của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế khác (chính sách tín dụng, chính sách thuế )
- Thành lập và phát huy vai trò tích cực của các tổ chức liên kết các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (hiệp hội theo ngành nghề; liên minh các doanh nghiệp; tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ)
Trang 40KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1 Trình bày các chỉ tiêu và ưu nhược điểm của các chi tiêu đảnh giá mức độ tập trung hóa sản xuất trong công nghiệp?
2 Tập trung hóa sản xuất có thể thực hiện bằng các cách thức nào? Các vấn đề có thể nay sinh khi thực hiện các cách thức này?
3 Phân tích mối quan hệ giữa tập trung hóa sản xuất với quy mô doanh nghiệp công nghiệp?
4 Phân tích các nhân tổ ảnh hưởng đến quy mô doanh nghiệp công nghiệp?
5 Vì sao phải kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp trong phát triển công nghiệp?
6 Các chỉ tiêu đánh giá quy mô doanh nghiệp công nghiệp và ưu nhược điểm của các chỉ tiêu?
7. Cần có biện pháp gì đế thực hiện tốt việc kết hợp các loại quy mô
trong phát triển công nghiệp?
8 Trình bày nội dung mô hình công ty mẹ - công ty con? Việc áp dụng
mô hình này có tác dụng thế nào đến kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp trong công nghiệp?