MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tư tưởng Hồ chí Minh là một hệ thống toàn diện, có nội dung rất phong phú, đa lĩnh vực và là hệ thống mở. Các ngành, các giới, các đối tượng có thể lựa chọn, bổ sung những chuyên đề có nội dung phù hợp với nhiệm vụ chính trị của mình. Trong các nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc là nội dung quan trọng nhất và có ý nghĩa hàng đầu, trước hết của Cách Mạng Việt Nam. Giải phóng dân tộc, xét về thực chất là đánh đổ ách thống trị, áp bức, xâm lược của đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc, hình thành Nhà nước dân tộc độc lập và tự do lựa chọn con đường phát triển của dân tộc phù hợp xu hướng phát triển của thời đại, tiến bộ xã hội. Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong lịch sử hànng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã nhiều lần phải đương đầu với kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp bội và từ thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm, đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu. Trí tuệ đánh giặc, giữ nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam. Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh mang theo hành trang truyền thống, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc. Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm hiểu thêm tư tưởng của một số nhà yêu nước lỗi lạc trên thế giới, nâng lên tầm cao mới của thời đại, gắn quyện thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Vấn đề dân tộc tôn giáo và nhân quyền là những vấn đề nhạy cảm luôn được các thế lực thù địch lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Mặt khác do sự phát triển, biến đổi tất yếu trong nội hàm của các vấn đề trên cũng đăt ra những nội dung mới về lý luận và thực tiễn trong việc nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình mới. Đây là đòi hỏi có tính tất yếu cần được đầu tư nghiên cứu để cung cấp những luận cứ khoa học khách quan góp phần giải quyết hiệu quả hơn vấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình phát triển hiện nay của đất nước. Từ lý luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, được Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và giới khoa học vận dụng vào Việt Nam, từ thực tiễn tình hình dân tộc và việc giải quyết vấn đề dân tộc, thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong mấy chục năm qua, việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhân thức về vấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình hiện nay là rất cần thiết. Chính vì vậy em lựa chọn đề tài “Những luận điểm sáng tạo Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. Gía trị lý luận và thực tiễn” để làm rõ những sáng tạo của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; nêu lên được giá trị lý luận và thực tiễn những sáng tạo của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với công cuộc xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1.Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu về những sáng tạo của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. Đặc biệt thông qua, những sáng tạo đó có thể nêu lên những giá trị lý luận và giá trị thực tiễn cho việc vận dụng vào thực tiễn của Đảng ta hiện nay. Nhằm mục đích cho đất nước phát triển nhanh và thoát nghèo bền vững, dân giàu, nước mạnh; đồng thời đưa dân tộc ta có địa vị và đóng góp cho sự phát triển chung của nhân loại. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài tiểu luận có các nhiệm vụ sau đây: + Nêu rõ một số khái niệm chung: Khái niệm dân tộc là gì? Vấn đề dân tộc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Sáng tạo là gì? + Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc để từ đó đưa ra sáng tạo của Hồ Chí Minh đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đưa ra những nhận xét, đánh giá chung về sự vận dụng những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội hiện nay. Đưa ra những sáng tạo mới nhất trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: NHỮNG LUẬN ĐIỂM SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ
MINH VỀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: NHỮNG LUẬN ĐIỂM SÁNG TẠO HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC - GIÁ
TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: NHỮNG SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC 6 1 Một số khái niệm cơ bản: 6
1.1 Khái niệm Dân tộc, vấn đề dân tộc trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh? .6 1.2 Khái niệm sáng tạo? Sáng tạo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh? 8
2 Những sáng tạo của Hồ Chí Minh về Dân tộc: 8
2.1 Sáng tạo trong tiếp cận tự do, bình đẳng của các dân tộc: 8
2.2 Sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và vấn đề giai cấp trong Cách mạng Việt Nam: 14
CHƯƠNG II: NHỮNG SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC 25
1 Sáng tạo trong lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: 25
1.1 Sáng tạo trong tư duy độc lập và tầm nhìn mới về hướng đi và con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 25
1.2 Sáng tạo trong tư duy lý luận về lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 27
1.3 Sáng tạo trong việc đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh 28
2 Sáng tạo trong đoàn kết và tập hợp lực lượng: 30
2.1 Lực lượng giải phóng dân tộc là lực lượng của nhân dân, của bản thân các dân tộc bị áp bức bốc lột 30
2.2 Công nông là gốc cách mạng, là chủ cách mạng 31
CHƯƠNG III: VẬN DỤNG NHỮNG SÁNG TẠO HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 34
1 Gía trị lý luận: 34
2 Gía trị thực tiễn: 36
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ chí Minh là một hệ thống toàn diện, có nội dung rất phongphú, đa lĩnh vực và là hệ thống mở Các ngành, các giới, các đối tượng có thểlựa chọn, bổ sung những chuyên đề có nội dung phù hợp với nhiệm vụ chính trịcủa mình Trong các nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc lànội dung quan trọng nhất và có ý nghĩa hàng đầu, trước hết của Cách Mạng ViệtNam Giải phóng dân tộc, xét về thực chất là đánh đổ ách thống trị, áp bức, xâmlược của đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc, hình thành Nhà nước dân tộcđộc lập và tự do lựa chọn con đường phát triển của dân tộc phù hợp xu hướngphát triển của thời đại, tiến bộ xã hội
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, sẵn sàng xả thân vì độc lập,
tự do của Tổ quốc Trong lịch sử hànng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ôngcha ta đã nhiều lần phải đương đầu với kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp bội
và từ thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm, đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm
và bài học quý báu Trí tuệ đánh giặc, giữ nước là một trong những đỉnh cao củatrí tuệ Việt Nam
Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh mang theo hành trang truyềnthống, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin,tìm hiểu thêm tư tưởng của một số nhà yêu nước lỗi lạc trên thế giới, nâng lêntầm cao mới của thời đại, gắn quyện thành tư tưởng giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp, giải phóng con người
Vấn đề dân tộc tôn giáo và nhân quyền là những vấn đề nhạy cảm luônđược các thế lực thù địch lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng vànhân dân ta Mặt khác do sự phát triển, biến đổi tất yếu trong nội hàm của cácvấn đề trên cũng đăt ra những nội dung mới về lý luận và thực tiễn trong việcnhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình mới
Đây là đòi hỏi có tính tất yếu cần được đầu tư nghiên cứu để cung cấpnhững luận cứ khoa học khách quan góp phần giải quyết hiệu quả hơn vấn đềdân tộc trong bối cảnh tình hình phát triển hiện nay của đất nước Từ lý luận của
Trang 4chủ nghĩa Mác - Lê nin, được Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và giới khoa họcvận dụng vào Việt Nam, từ thực tiễn tình hình dân tộc và việc giải quyết vấn đềdân tộc, thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong mấy chục năm qua,việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhân thức về vấn đề dân tộc trong bối cảnhtình hình hiện nay là rất cần thiết.
Chính vì vậy em lựa chọn đề tài “Những luận điểm sáng tạo Hồ Chí Minh
về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc Gía trị lý luận và thực tiễn” để làm
rõ những sáng tạo của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dântộc; nêu lên được giá trị lý luận và thực tiễn những sáng tạo của Hồ Chí Minh
về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với công cuộc xây dựngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội,làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu về những sáng tạo của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách
mạng giải phóng dân tộc Đặc biệt thông qua, những sáng tạo đó có thể nêu lênnhững giá trị lý luận và giá trị thực tiễn cho việc vận dụng vào thực tiễn củaĐảng ta hiện nay Nhằm mục đích cho đất nước phát triển nhanh và thoát nghèobền vững, dân giàu, nước mạnh; đồng thời đưa dân tộc ta có địa vị và đóng gópcho sự phát triển chung của nhân loại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài tiểu luận có các nhiệm vụ sau
Trang 5- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đưa ra những nhận xét, đánh giá chung
về sự vận dụng những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dântrong quá trình xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội hiện nay Đưa ranhững sáng tạo mới nhất trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài tiểu luận là những luận điểm sáng tạo
của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc Là tính tất yếukhách quan của sự vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạngViệt Nam; những nhận định cơ bản về Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc vàcách giải phóng dân tộc
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Tiểu luận được nghiên cứu khách quan trên phạm vi lý luận những sáng
tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc thôngqua giáo trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và Cách mạng giải phóng dântộc” cùng một vài tài liệu tham khảo khác
- Nghiên cứu trên kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác Lênin và hệ thốngnghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp phân tích, tổng hợp (trên cơ sở tài liệu thu thập được để phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu)
Trang 6- Phương pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của các thầy, cô giáo nghiên cứu về “Những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc”)
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1.Ý nghĩa lý luận:
- Các kết quả, kết luận rút ra từ việc nghiên cứu đề tài tiểu luận góp phần
bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về những tạo của Hồ Chí Minh về dântộc và cách mạng giải phóng dân tộc - giá trị lý luận và thực tiễn
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Đem lại sự hiểu biết về Dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc Đưa
ra thực tiễn sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc với sự vận dụng lý luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc của Đảng ta trong điều kiện phát triển đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội hiên nay.
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương I: Những sáng tạo của Hồ Chí Minh về Dân tộc
Chương II: Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cách mạng giảiphóng dân tộc
Chương III: Vận dụng những sáng tạo Hồ Chí Minh trong cách mạngViệt Nam hiện nay Gía trị lý luận và thực tiễn
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG I:
NHỮNG SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC
1 Một số khái niệm cơ bản:
1.1 Khái niệm Dân tộc, vấn đề dân tộc trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
- Theo từ điển Tiếng Việt, Dân tộc theo nghĩa rộng cộng đồng người hình
thành trong lịch sử ở những giai đoạn phát triển khác nhau, có chung một ngôn
ngữ, một lãnh thổ, một nền kinh tế và một truyền thống văn hóa
- Theo Xtalin: Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được thành lập
trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế
và tâm lý biểu hiện trong cộng đồng văn hóa
* Vấn đề dân tộc trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh là gì?
- Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin dân tộc là sản phẩm lâu dàicủa lịch sử Hình thức cộng đồng tiền thân như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc Tiếp đó,
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của dân tộc Tư bản chủnghĩa Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đếquốc thi hành chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhỏ,
từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa Mác và Ănghen đã nêu lên quan điểm
cơ bản có tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết vấn đề nguồngốc, bản chất của dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc, thái độ của giaicấp công nhân và Đảng của nó về vấn đề dân tộc
Lê nin đã phát triển quan điểm này thành hệ thống lý luận toàn diện vàsâu sắc về vấn đề dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của
Trang 8các Đảng cộng sản về vấn đề dân tộc Sự phát triển của vấn đề dân tộc theo Lê nin có hai xu hướng trong điều kiện của Chủ nghĩa tư bản:
-+ Sự thức tỉnh ý thức dân tộc, phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc
sẽ dẫn đến hình thành các quốc gia dân tộc độc lập
+ Với việc tăng cường và phát triển các mối quan hệ giữa các dân tộc,thiết lập sự thống nhất quốc tế của Chủ nghĩa tư bản của đời sống kinh tế -chính trị - xã hội
- Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dântộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa Theo Người vấn đề dân tộc thuộcđịa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu
sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lộtthực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập
- Một là, đấu tranh chống Chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.
+ Hồ Chí Minh không bàn về vấn đề dân tộc chung Người dành sự quan
tâm đến các thuộc địa Vạch ra thực chất vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đềđấu tranh chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của nướcngoài; giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền tự quyết, thành lập nhà nước dântộc độc lập
+ Hồ Chí Minh viết nhiều tác phẩm như: Tâm địa thực dân, Vực thẳmthuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người, nhằm vạch trần cái gọi là khai hóavăn minh của chúng Nếu như C.Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chốngCNTB; Lê –Nin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống CNĐQ thì HCM tập trungbàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân C.Mác và Lê – Nin bàn về giaicấp ở các nước tư bản chủ nghĩa thì Hồ Chí Minh bàn về đấu tranh giải phóngdân tộc ở thuộc địa
- Hai là, lựa chọn con đường phát triển của dân tộc:
+ Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và dân tộc Hồ Chí Minhkhẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới làCNXH Trong cương lĩnh chính trị dầu tiên của Đảng Người viết: “ Làm tư sảndân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Con
Trang 9đường đó kết hợp trong đó cả nội dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội “
Đi tới xã hội cộng sản” là hướng phát triển lâu dài Con đường đó phù hợp vớihoàn cảnh lịch sử cụ thể ở thuộc địa
1.2 Khái niệm sáng tạo? Sáng tạo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh?
* Sáng tạo?
Sáng tạo có rất nhiều định nghĩa:
- Là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất,tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộcvào những cái đã có
- Là trong quá trình làm việc luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và học hỏi để tìm ra cáimới, cách giải quyết tốt nhất để đạt được hiệu quả tốt nhất
- Hay chỉ đơn giản là dám làm ra một cái gì đó mới mẻ, táo bạo, khác thườngnhưng vẫn rất hữu dụng
* Sáng tạo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
- Là những luận điểm sáng tạo trong hệ thống quan điểm của Hồ ChíMinh về cách mạng Việt Nam; là những sáng tạo từ cách mạng dân tộc nhândân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; đồng thời vận dụng Chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam
2 Những sáng tạo của Hồ Chí Minh về Dân tộc:
2.1 Sáng tạo trong tiếp cận tự do, bình đẳng của các dân tộc:
- Thứ nhất, tiếp cận quyền tự do, bình đẳng từ khát vọng độc lập dân tộc
Vấn đề quyền tự do, bình đẳng giữa các dân tộc từ khát vọng độc lập dântộc chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh Trong suốt cuộc đời, Người “chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Với khát
vọng cháy bỏng đó, Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp bốn biển, năm châu để tìm
ra con đường cứu nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam Người đã
Trang 10sáng lập và cùng Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo nhân dân làm nênthắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủcộng hòa.
Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập,trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể đồng bào cả nước và toàn thể thế giới: “…Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thànhmột nước tự do và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinhthần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
Tuyên ngôn độc lập là văn bản đầu tiên khẳng định cả mặt lý luận và thực
tế, quyền tự do, bình đẳng dân tộc của nhân dân Việt Nam phù hợp với đạo lý,pháp lý quốc tế Tư tưởng quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộcđược Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong bản Tuyên ngôn vừa mang tính pháp
lý vừa có giá trị lịch sử và hiện thực Viện dẫn giá trị nhân quyền trong hai bảnTuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền năm 1791 của nước Pháp: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng.
Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”;
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do
và bình đẳng về quyền lợi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lýmới có ý nghĩa thời đại, bằng cách “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả cácdân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,quyền sung sướng và quyền tự do” Và đương nhiên, “Nước Việt Nam có quyềnđược hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độclập”
Bởi thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi tin rằng các nướcĐồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghịTêhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lậpcủa dân Việt Nam” Lập luận đanh thép ấy đã khẳng định tính hợp lý, hợp pháptheo pháp luật quốc tế của quyền con người, quyền tự do, bình đẳng của dân tộc
Trang 11Việt Nam, mà những ai có trí tuệ, có lương tri, nhân phẩm không thể khôngcông nhận chân lý hiển nhiên ấy.
Việc nâng quyền con người thành quyền tự do, bình đẳng giữa các dântộc là một sáng tạo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tâm huyết lớncủa Người dành cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới Nhà nghiêncứu Nhật Bản Shingo Shibata đã nhận xét: “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ ChíMinh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi củadân tộc Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnhcủa mình” Đó là đóng góp lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng ViệtNam trong việc phát triển sáng tạo quyền con người của nhân loại ở thế kỷ XX
Sự phát triển tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người,quyền dân tộc bắt nguồn sâu xa từ truyền thống nhân đạo và tinh thần yêu nướccủa dân tộc; kế thừa, phát triển tinh hoa tư tưởng nhân loại mà trực tiếp là quanđiểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, xem quyền con người là sự thống nhất biệnchứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội”, luôn gắn với cuộc đấu tranhchống áp bức, bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội trong từngthời kỳ lịch sử của nhân loại
Trong khi đó, phải từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở đi, các văn kiện cơbản về quyền con người của Liên hợp quốc mới thừa nhận quyền dân tộc tựquyết là một quyền con người Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự,chính trị năm 1966 ghi nhận: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tựquyết” Tại Hội nghị nhân quyền thế giới ở Viên (Áo) năm 1993, cộng đồngquốc tế một lần nữa khẳng định: Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tựquyết… Việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền Nhưvậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhận thức rất sớm về mối quan hệ giữa quyềncon người với quyền độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc từ khát vọng độc lập dântộc
- Thứ hai, tiếp cận quyền dân tộc từ quyền con người và mối quan hệ biệnchứng giữa quyền con người và quyền dân tộc
Trang 12Bằng tư duy sáng tạo vượt thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng
và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa quyền con người với quyền tự do, bìnhđẳng dân tộc Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên mộtluận điểm mới về quyền con người: quyền con người không chỉ là quyền của cánhân mà còn là quyền tự quyết của mỗi dân tộc, thể hiện rõ tính thống nhất biệnchứng không thể tách rời giữa quyền con người, quyền công dân và quyền dântộc thiêng liêng Mỗi con người luôn sống trong một cộng đồng dân tộc, quốcgia dân tộc cụ thể, nên dân tộc có được độc lập, thì con người mới được tự do.Như vậy, Người đã mở rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc Đây
là nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền tự do,bình đẳng giữa các dân tộc
Từ năm 1925, trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốckết tội thực dân Pháp đã xâm phạm quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầuhạnh phúc của mỗi cá nhân con người và dân tộc, không chỉ ở Việt Nam, ĐôngDương mà còn ở cả châu Phi, châu Mỹ La tinh Người kết luận, những kháiniệm “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” mà những kẻ thực dân rêu rao ở các thuộcđịa chỉ là những lời sáo rỗng, “bịp bợm” Trong Tuyên ngôn, Người luận tộichúng: “Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng,bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳnvới nhân đạo và chính nghĩa.Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân
ta một chút tự do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp dã man…Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết nhữngngười yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trongnhững bể máu Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân… Vềkinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếuthốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”
Từ đó, Người khẳng định, nhờ “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệcủa Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minhchống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải đượcđộc lập!”
Trang 13Thực tế, quyền con người, quyền dân tộc là thành quả của cuộc đấu tranhcách mạng đầy hy sinh, gian khổ của hàng triệu triệu người Việt Nam “Độc lập
và tự do” đã trở thành giá trị sống thiêng liêng, là mục tiêu xuyên suốt chiều dàicách mạng Việt Nam Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thắng lợi vĩ đạitrong cuộc đấu tranh cho nhân quyền, thắng lợi đó không chỉ giành độc lập, tự
do cho dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làmchủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình mà còn mở đầu cho phong trào giảiphóng thuộc địa, mang lại quyền con người, quyền tự do, bình đẳng dân tộc chocác dân tộc bị áp bức, nô dịch trên toàn thế giới Thắng lợi của các cuộc khángchiến bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam là thắng lợi của tư tưởng nhânquyền cao cả, là thắng lợi của ý chí hòa bình, độc lập và phẩm giá con người
- Thứ ba, tiếp cận quyền độc lập, tự do, bình đẳng là độc lập, tự do, bìnhđẳng thực sự
Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, chi phối toàn bộ sự nghiệp cáchmạng của Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đó làtất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu Trong bản Tuyên ngônđộc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã đanhthép khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộcnào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
Hồ Chí Minh bước lên vũ đài chính trị trong bối cảnh nước mất nhà tan.Người đã tận mắt chứng kiến sự đàn áp thống trị tàn bạo của đế quốc Pháp đốivới dân tộc, sự hèn hạ của triều đình phong kiến và rất khâm phục tinh thầnchống Pháp giành độc lập của các nhà yêu nước tiền bối và đương thời Thựctiễn đó đã hình thành ở Người lòng khát khao giải phóng dân tộc, thôi thúcNgười ra đi tìm đường cứu nước vào tháng 6/1911 Vì vậy, vấn đề dân tộc trong
tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dântộc thuộc thuộc địa trong thời đại cách mạng vô sản Thực chất của vấn đề dântộc là vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thốngtrị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân,thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập
Trang 14Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã chứng kiến thựctrạng xã hội những nơi Người từng đặt chân tới, ở đâu cũng có cảnh áp bức, bóclột, bất công và nỗi thống khổ do chủ nghĩa đế quốc gây ra Hồ Chí Minh đã điđến một kết luận vô cùng quan trọng: Thế giới dù vô cùng bao la, nhân loại dù
vô cùng đông đảo, suy đến cùng chỉ có 2 giống người: đi bóc lột và bị bóc lột.Đến khi bắt gặp luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa thìnhận thức của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc được xác định trên cơ sởkhoa học và được nâng lên ở tầm cao mới
Ngay từ năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêngđược các đồng minh thắng trận thừa nhận, thay mặt cho những người Việt Namyêu nước tại Pháp, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã gửi bản Yêu sách 8điểm đến Hội nghị Vécxây đòi tự do dân chủ cho nhân dân An Nam TrongCương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã vạch rõnhiệm vụ đầu tiên của cách mạng Việt Nam là: "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩaPháp và bọn phong kiến; Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập" Đếnnăm 1941, Hồ Chí Minh về nước, khi chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng,Người đã chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”.Trong bài “Mười chính sách của Việt Minh”, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳngđịnh mục tiêu đầu tiên của cách mạng là “Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”.Câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh thể hiện ý chí đấu tranh cho độc lập dân tộcvẫn luôn là sợi chỉ đỏ của cách mạng Việt Nam: “Dù có phải đốt cháy cả dãyTrường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”
Trong Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm Độc lập (2/9/1948), Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta quyết kháng chiến đến cùng, tranh cho kỳ được thống
nhất và độc lập, thống nhất và độc lập thực sự, chứ không phải cái thứ thống nhất và độc lập bánh vẽ mà thực dân vừa thí cho bọn bù nhìn Thống nhất mà
bị chia sẻ thành “nước Nam Kỳ”, “nước Tây Kỳ”, “Liên bang Thái”… Độc lập
mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy” 1
1
Trang 15Độc lập, tự do dân tộc, theo Hồ Chí Minh, phải thực sự, hoàn toàn, chứkhông phải là thứ độc lập, tự do giả hiệu giống như "cái bánh vẽ" mà chủ nghĩa
đế quốc nêu ra Độc lập dân tộc phải được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội, các quyền dân tộc, quyền con người phải được thực hiện trênthực tế Một dân tộc độc lập thì phải có quyền tự quyết định trên tất cả các mặtkinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn lãnh thổ, mà trước hết và quantrọng nhất là quyền quyết định về chính trị Theo Người: “Các dân tộc sẽ chẳng
có quyền độc lập thật sự nếu trước đó không có độc lập về chính trị, nó là cơ sởcho độc lập về kinh tế, văn hóa, ngoại giao”
Người chỉ rõ “Nước độc lập mà dân không được tự do thì độc lập ấychảng có ý nghĩa gì” Độc lập tự do phải gắn liền với nền hòa bình chân chính.Muốn có độc lập tự do phải đứng lên đấu tranh dành độc lập ác bức dân tộc củachủ nghĩa đế quốc
Cho đến hôm nay, trong tâm thức của mỗi người Việt nam yêunước vẫn còn vang vọng lời Bác dạy trong bản Tuyên ngôn độc lập: “Nước ViệtNam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để giữ vũng quyền tự do, độc lập ấy”
2.2 Sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và vấn đề giai cấp trong Cách mạng Việt Nam:
Sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giaicấp, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là một trong những nhân tố đảmbảo thành công của cách mạng Việt Nam và đó cũng là một trong những đónggóp xuất sắc của Người vào lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin
Có thể nói Hồ Chí Minh là một trong những người cộng sản đầu tiên vậndụng thành công học thuyết cách mạng Mác - Lênin vào cách mạng của các dântộc thuộc địa, vào cách mạng Việt Nam, cách mạng của một nước thuộc địa nửaphong kiến Tuy nhiên, nhân tố cơ bản đảm bảo thành công của cách mạng Việt
Nam không chỉ đơn giản là “sự vận dụng”, mà còn là sự phát triển sáng tạo của
Trang 16Hồ Chí Minh đối với học thuyết đó, nhất là về mối quan hệ giữa dân tộc và vấn
đề giai cấp, giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
Học thuyết Mác đã cung cấp quan điểm, phương pháp khoa học để nhậnthức vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng giaicấp Tuy nhiên trong học thuyết Mác, vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc mớiđược xem dưới góc độ cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản
Sở dĩ như vậy vì vấn đề dân tộc đặt ra trong thời kỳ đó, đặc biệt là ở châu Âu làvấn đề dân tộc tư sản, nó được ra đời và củng cố bởi chủ nghĩa tư bản Chính vìthế trong học thuyết của Mác vấn đề đấu tranh giai cấp được đặt lên hàng đầu,coi giải phóng giai cấp là điều kiện để giải phóng dân tộc, các vấn đề dân tộcđược xem xét như những hệ quả của vấn đề giai cấp và giải quyết chúng trong
sự phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư
sản Nói về điều đó Mác viết: “Hãy xoá bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân
tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xoá bỏ”1
Đến thời đại đế quốc chủ nghĩa, các đế quốc tranh giành thuộc địa vớimục đích phân chia lại thế giới Vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc để xâydựng quốc gia độc lập của các nước thuộc địa và phụ thuộc đã là một trongnhững vấn đề cấp bách của thời đại Trong điều kiện đó, Lênin đã phát triển họcthuyết cách mạng của Mác lên một tầm cao mới Lênin đã chỉ ra sự gắn bó củacuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản với cuộc đấu tranh giải phóng dântộc và thực hiện quyền tự quyết dân tộc
Lênin viết: “Cuộc cách mạng xã hội chỉ có thể tiến hành được dưới hình
thức một thời đại kết hợp cuộc nội chiến của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản trong các nước tiên tiến, với cả một loạt phong trào dân chủ và cách mạng,
kể cả những phong trào giải phóng dân tộc trong các nước chưa phát triển, lạc hậu và bị áp bức” Hơn thế nữa, Lênin còn cho rằng: “Cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa sẽ không phải chỉ là và chủ yếu là một cuộc đấu tranh của giai cấp vôsản cách mạng ở từng nước chống lại giai cấp tư sản ở nước mình, không phảithế, đó sẽ là cuộc đấu tranh của tất cả các thuộc địa và tất cả các nước bị chủ
Trang 17nghĩa đế quốc áp bức, của tất cả các nước phụ thuộc chống lại chủ nghĩa đếquốc quốc tế”
Trong học thuyết cách mạng của Lênin, mặc dầu về cơ bản vấn đề dântộc vẫn được đặt ra như là hệ quả của vấn đề giai cấp, giải phóng dân tộc vẫnđược xem như là hệ quả của giải phóng giai cấp Nhưng ở học thuyết đó phongtrào giải phóng dân tộc, giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng các dân tộcthuộc địa đã được coi trọng và đã được xem là một bộ phận hữu cơ của cáchmạng vô sản thế giới Những luận điểm của Lênin về vấn đề giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp trở nên có ý nghĩa đối với tất cả các dân tộc bị áp bức Điều
đó lý giải tại sao mùa hè năm 1920, sau khi đọc Luận cương của Lênin trên báo
“Nhân đạo” nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc vui mừng đến phát khóc
Như chúng ta đã biết, Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủnghĩa Mác-Lênin, và từ đó, đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thốngcủa Việt Nam trong sự thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản Ý thức giácngộ về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng làđộng lực chủ yếu để nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp thu quan điểm mác-xít về giai cấp Đến lượt mình, quan điểmmác-xít về giai cấp là nhân tố đảm bảo tính khoa học và cách mạng cho sự pháttriển tinh thần dân tộc ở Người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa giảiphóng dân tộc và giải phóng giai cấp là hoàn toàn đứng vững trên lập trườngmác - xít Tuy nhiên, cũng như những người mác-xít chân chính khác, Hồ ChíMinh có sự phát triển và vận dụng hết sức sáng tạo, đặc biệt khi vận dụng lýluận mác-xít vào cách mạng ở các nước thuộc địa, nhất là vào cách mạng ViệtNam
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin như đã phân tích - do xuấtphát từ sự bức thiết của cách mạng vô sản ở châu Âu thời bấy giờ, nên đã coigiải quyết vấn đề dân tộc như là một hệ quả của vấn đề giải quyết giai cấp vàcách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc,chỉ có thể thành công khi cách mạng ở chính quốc thành công Hồ Chí Minh
Trang 18xuất phát từ phong trào ở các nước thuộc địa, từ thực tiễn của cách mạng ViệtNam đã có cái nhìn mới mẻ và hết sức độc đáo về quan hệ giữa hai vấn đề trên.Đặt cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản trong mối quan hệtương hỗ tác động và thúc đẩy lẫn nhau, đồng thời làm nổi bật vai trò to lớn củacuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong tiến trình cách mạng vô sản Đây làmột nét hết sức độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ sự phân tích sâu sắc bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân và nỗithống khổ của nhân dân các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng, thuộc địa
là nơi tập trung những mâu thuẫn của thời đại, là mắt khâu yếu nhất của chủnghĩa thực dân Người chỉ rõ: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người ĐôngDương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghêgớm, khi thời cơ đến”
Trên cơ sở đánh giá đúng sức mạnh to lớn của phong trào đấu tranh ở cácnước thuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộcđịa không nhất thiết phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, hơn nữa còn
có tính độc lập riêng và có thể chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản
ở chính quốc Bằng thắng lợi của mình, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộcđịa sẽ tác động trở lại đối với cách mạng chính quốc, thúc đẩy sự nghiệp cáchmạng của giai cấp vô sản ở chính quốc Người dự báo: “Ngày mà hàng trămtriệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiệncủa một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượngkhổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa
tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ởphương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”
Như vậy, xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân Hồ Chí Minh đã đi tìmđường cứu nước Người đã khảo sát nhiều nước thuộc địa, đi tìm hiểu cả banước tư bản phát triển nhất thời kỳ đó là Mỹ, Anh, Pháp với những cuộc cáchmạng tư sản điển hình nhưng tất cả đều chưa đưa lại lời giải đáp cho cách
Trang 19mạng Việt Nam Chỉ đến khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu tínhkhoa học, cách mạng và phát triển một cách sáng tạo học thuyết đó, Hồ ChíMinh mới tìm ra được con đường giành độc lập dân tộc, con đường cách mạngcho đất nước Con đường cách mạng đó gắn liền giải phóng dân tộc với giảiphóng giai cấp, gắn liền cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hộichủ nghĩa.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuầnnhuyễn vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóngdân tộc Trong khi khẳng định nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ làđánh cả đế quốc và phong kiến, nhưng xuất phát từ một nước thuộc địa, Hồ ChíMinh đã không coi hai nhiệm vụ đó ngang nhau, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụchống đế quốc để giải phóng dân tộc, đảm bảo mục tiêu trước hết, trọng tâm làđộc lập dân tộc, còn nhiệm vụ chống phong kiến đem lại ruộng đất cho dân càythì được tiến hành từng bước, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ phản đế Bởi vì, theo
Hồ Chí Minh có độc lập thì mới giành được quyền bình đẳng dân tộc, quyền tựquyết dân tộc Vả lại, kẻ áp bức, bóc lột nặng nề nhất đối với công nhân, nôngdân và cũng là đối với cả dân tộc Việt Nam là bọn đế quốc và bè lũ tay sai củachúng Do đó Người đặt vấn đề phải tập trung ngọn lửa cách mạng vào bọnchúng Xét về quan hệ lợi ích, trong cuộc cách mạng này, Hồ Chí Minh chorằng phải đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp, lấy mục tiêu độc lập dântộc làm mục tiêu hàng đầu
Nói như vậy không có nghĩa là Hồ Chí Minh quên mất lợi ích của giaicấp, mà thực chất chính tư tưởng đó thể hiện sâu sắc quan điểm giai cấp của chủnghĩa Mác - Lênin Vì như vậy nó thoả mãn yêu cầu hàng đầu của các giai cấp
là đánh đuổi đế quốc tay sai, giành độc lập cho Tổ quốc Người viết: “Trong lúcnày nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, không đòiđược độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dântộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạnnăm cũng không đòi lại được” Trong cách mạng giải phóng dân tộc đặt lợi ích
Trang 20dân tộc lên trên lợi ích giai cấp không vì thế mà làm suy giảm động lực củacách mạng.
Nói về điều đó, Hồ Chí Minh viết: “Đừng tưởng rằng chưa giải quyết
vấn đề ruộng đất cho nông dân sẽ giảm bớt sức chiến đấu Không, nông dân càng không giảm bớt sự hăng hái đấu tranh mà vẫn nỗ lực đấu tranh mạnh hơn
vì trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, họ cũng được hưởng nhiều quyền lợi to tát” Đó là cách nhìn thực tế, phân tích thấu đáo thái độ của các giai cấp
trong xã hội Việt Nam Có thể nói, Hồ Chí Minh là người Việt Nam am hiểutình cảnh của nhân dân Việt Nam nhất Để xác định bạn - thù, để tập hợp lựclượng cách mạng, Người có cách phân tích giai cấp độc đáo riêng của mình.Theo Người, không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày chung chung Khôngnên nói vô sản một cách cứng nhắc Ở đây, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắcđặc điểm của dân tộc mình - một dân tộc mà hàng ngàn năm đã phải đấu tranh
để dựng nước và giữ nước, cho nên, yếu tố dân tộc tác động đến thái độ chínhtrị của con người mạnh hơn yếu tố giai cấp, yếu tố dân tộc nổi trội hơn yếu tốgiai cấp Đất nước Việt Nam do kinh tế còn lạc hậu, chưa phát triển nên trong
xã hội phân hoá giai cấp chưa rõ rệt, mâu thuẫn giai cấp không gay gắt
Do đó “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”.Người đã phê phán sự vận dụng máy móc, cứng nhắc quan điểm đấu tranh giaicấp: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấutranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như8 thế nào để làm cho đúng” ViệtNam đã có lịch sử đấu tranh mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Trongcuộc đấu tranh đó tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộcđược phát triển cao độ Nhận thức rõ điều đó Người khẳng định: “Chủ nghĩadân tộc là động lực lớn của đất nước”10. Chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh đềcập tới ở đây là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính đã được hunđúc qua mấy nghìn năm lịch sử
Trang 21Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Thời đại của chúng ta là thời đại văn minh,thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể” Để xâydựng khối đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã phân tích tình hình và chỉ ra rằngtrong lúc cần đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là điều ngu ngốc.Người khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi đấu tranh giải phóng cao hơn hếtthảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứugiống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc làviệc chung Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần tráchnhiệm”
Trên cơ sở lòng yêu nước và lợi ích chung của các giai cấp cần lao vàtầng lớp khác trong dân tộc, Hồ Chí Minh đã hoá giải khôn khéo những đốikháng về quyền lợi giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong những điều kiện lịch
sử - cụ thể để tập trung cho lợi ích toàn cục Người viết: “Tôi khuyên đồng bào
đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác Nhưng thế này, thế khác đều là dòng dõi tổ tiên ta Vậy
ta phải khoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng yêu nước Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”
Như vậy muốn thực hiện được đại đoàn kết thì phải kế thừa được truyềnthống yêu nước, nhân nghĩa, phải có lòng khoan dung độ lượng với con người.Ngay cả đối với những người lầm đường lạc lối, nhưng đã biết hối cải, cũngphải biết kéo họ về phía dân tộc, không nên định kiến, khoét sâu cách biệt
Với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, Người đã chủ trương lôi cuốn mọingười Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghềnghiệp, nam nữ, lứa tuổi vào một khối đoàn kết chặt chẽ trong tổ chức mặt
trận thống nhất rộng rãi Mặt trận đó theo Người, phải lấy liên minh công, nông,
làm nền tảng và do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Trong cuộc vận
động phong trào yêu nước chống Pháp, Phan Bội Châu cũng nói đến đoàn kết,
Trang 22cũng nêu khẩu hiệu “toàn dân đoàn kết”, cũng chủ trương tập hợp rộng rãi từphú hào đến quan tước, sĩ tịch, bếp bồi, thông ký, lính tập , nhưng riêng côngnhân và nông dân chiếm số đông thì lại không thấy nhắc đến Ở Hồ Chí Minhđại đoàn kết nhưng phải xác định rõ lực lượng chủ yếu làm gốc vững bền.Người viết: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, màđại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao độngkhác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc củacây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dânkhác”
Hơn nữa để xây dựng được khối đại đoàn kết vững chắc Người rấtchú ý phân tích làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của từng giai cấp, tầng lớp.Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đại đa số dân
cư Vì vậy “nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc Muốn kháng chiếnkiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thực sự ắt phải dựa vào lựclượng của nông dân” Nhưng không vì thế mà Hồ Chí Minh lại ảo tưởng khiđánh giá vai trò của giai cấp nông dân Nắm vững bản chất khoa học của họcthuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua khảosát thực tế đất nước, Người đã nhận thức rõ rằng, chỉ riêng lực lượng của chínhmình, nông dân không bao giờ có thể trút bỏ được gánh nặng đang đè nén họ.Người đã đấu tranh không khoan nhượng với trào lưu cơ hội chủ nghĩa, nhữngtrào lưu “phỉnh nịnh” nông dân, coi nông dân là lực lượng chủ yếu, là động lựcduy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất Người cho rằng, nhận thức
về vấn đề nông dân như vậy sẽ đi đến chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan
vô chính phủ Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết với giai cấp nông dân,
tổ chức họ và lãnh đạo họ, thì họ mới là lực lượng to lớn vững chắc Còn đốivới trí thức, từ học trò đến công chức, thầy thuốc, họ có trình độ văn hoá tươngđối cao, song vì không có tổ chức, thiếu người lãnh đạo, cho nên họ dám nghĩ
mà không dám nói Sau khi phân tích toàn cảnh giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Trang 23Việt Nam thời bấy giờ Hồ Chí Minh khẳng định: giai cấp công nhân là giai cấpduy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng của đất nước.
Khẳng định tính dân tộc nổi trội hơn tính giai cấp là tư tưởng đúng đắn,sáng tạo phản ánh đúng tình hình thực tế của Việt Nam, cũng như các nướcthuộc địa nói chung Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là Hồ Chí Minh coinhẹ quan điểm giai cấp Ở Người độc lập được đặt lên hàng đầu Song, giảiphóng dân tộc và độc lập dân tộc phải được giải quyết trên lập trường giai cấp
vô sản
Đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh khẳng định:
“giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng màkhông có giai cấp công nhân cũng không làm được gì” Nghĩa là, cách mạng chỉ
có thể thành công nếu có Đảng của giai cấp công nhân Người viết: “Muốn cách
mệnh thành công thì phải công nông làm gốc, phải có Đảng vững bền phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc
Tư và Lênin”.
Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong quỹ đạo của cách mạng
vô sản, ng bản chất của cách mạng vô sản đã làm cho những luận điểm về giảiphóng dân tộc của Hồ Chí Minh có tính toàn diện và triệt để Để giải phóng conngười thì giành độc lập dân tộc mới chỉ giải quyết được một phần về mặt chínhtrị, mới là bước đầu tiên chưa đủ để nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc
Chính vì vậy, ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Người chorằng: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự
do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ”18 Muốn thực hiện giải phóng hoàn toàn cho nhândân lao động thì không chỉ đánh đổ bọn thực dân xâm lược, mà còn phải xoá bỏtình trạng người bóc lột người Vì thế cách mạng Việt Nam sau khi giành đượcđộc lập dân tộc tất yếu phải đi lên chủ nghĩa xã hội Người khẳng định: “Chỉ cóchủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức