KET QUA NOI BAT CUA BE TAI a, Đóng góp mới của để tài - Đề tài đã góp phần phát triển phương pháp nghiên cứu phân tích thuốc trong dịch sinh học nói chung và đối với dược chất norfloxac
Trang 1BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TAI CAP BO
Tén dé tai:
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT VÀ ĐỊNH LƯỢNG NORFLOXACIN
TRONG DỊCH SINH HỌC
Chủ nhiệm đề tài: TS PHÙNG THỊ VINH
Cơ quan chủ trì : VIỆN KIỂM NGHIỆM - BỘ Y TẾ
Trang 2BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TÀI CAP BO
1 Tên dé tài Nghiên cứu phương pháp chiết xuất và định lượng
Norfloxacin trong dịch sinh hoc
2 Chủ nhiệm đề tài:
TS Phùng Thị Vinh
3 Cơ quan chủ trì đề tài -
VIEN KIEM NGHIỆM, BỘ Y TẾ
Điện thoại: (84-4) 8255 791 Fax: (84-4) 8 256 911 Địa chỉ: 48 Hai bà Trưng, Hà Nội
4, Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Y tế
5 Thư ký để tài: DS Tạ Mạnh Hùng
6 Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm
7 Danh sách những người thực hiện chính
PGS TS Trinh Van Quy
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO
STT |Chữviếttất | Nội dung
6 Tmax -_] Thời gian đạt nồng độ thuốc tối đa
8 NTN Người tình nguyện
10 SPE Chiét pha ran (solid phase extraction)
13 SD | Độ lệch chuẩn (standard deviation)
14 RSD | Độ lệch chuan tudng dédi (relative standard deviation)
16 T.B.A.H Tetrabutylamoni hydroxid
Trang 4
MỤC LỤC
PHAN A TOM TAT CAC KET QUA NOI BAT CUA DE TAI 1
1 Kết quả nổi bật của đề tài 1
2, áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội 3
3, Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với để cương nghiên cứu 3
đã được phê duyệt
c, Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của đề cương 4
Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Giả thiết nghiên cứu của đề tài
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 5
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
2.1.1 Nhu cầu nghiên cứu phương pháp phân tích trong dịch sinh học
2.1.2 Tổng quan về Norfloxacin
2.1.3 Phương pháp phân tích
2.1.4 Đối tượng dùng trong thử nghiệm tương đương sinh học 11
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới để tài 1
4.1.1 Nghiên cứu khảo sát sở bộ phương pháp phân tích 13
3.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 16
4.1.1 Khảo sắt và xây dựng phương pháp định lượng ¡29
4.1.1.2 Ph&n tich norfloxacin trong nước tiểu | 23
Trang 64.1.2.3 Phương pháp chiết pha rắn
4.2.1.2 Khảo sát khoảng tuyến tính và đường chuẩn 45
4.2.1.3 Xác định giới hạn định tính, định lượng của phương pháp _
nước tiểu
4.2.2.1 Tinh đặc hiệu và tương thích của hệ thống 51
4.2.2.2 Khảo sát khoảng tuyến tính và đường chuẩn 51
4.3 Áp dụng phương pháp chiết xuất để khảo sát khả năng| 56
đánh giá TĐSH trên chó nhà
4.3.1 Nghiên cứu kỹ thuật thao tác thí nghiệm trên chó nhà 56
4.3.1.4 Lưu giữ và chăm sóc 58
Trang 74.3.2 Đánh giá khả năng đáp ứng 59
Trang 8
PHAN A TOM TAT CÁC KET QUA NOI BAT CUA DE TAI
4 KET QUA NOI BAT CUA BE TAI
a, Đóng góp mới của để tài
- Đề tài đã góp phần phát triển phương pháp nghiên cứu phân tích thuốc trong dịch sinh học nói chung và đối với dược chất norfloxacin nói riêng
- Đã xây dựng được phương pháp phân tích thuốc trong dịch sinh học tin cậy, đơn giản, phù hợp với hoàn cảnh của phòng thí nghiệm trong nước Điều đó làm củng cố thêm sự tin cậy vào năng lực nghiên cứu của các cán bộ làm công tác phân tích trong các viện, trung tâm nghiên cứu của Việt Nam
- Đề tài đã đề xuất một kỹ thuật thao tác an toàn và phù hợp khi dùng giống chó nhà
để khảo sát tương đương sinh học trong quá trình phát triển sản phẩm cũng như áp
dụng thử nghiệm khi cần thiết
+ Chiết pha rắn: dùng loại cột SPE, khảo sát trên 3 loại cột đều có khả năng chiết tốt, mức độ theo thứ tự: (1) LiChrolut TSC (Mixed mode, 300mg/ 3ml), (2) LiChrolut EN (C18 polymeric Sorbent 2, 200mg/ 3ml) va (3) Strata (C18, 200mg/ 3ml) Phương pháp có thể được áp dụng để xử lý đối với cả mẫu huyết tương và mẫu nước tiểu Với mẫu huyết tương, nếu sử dụng phương pháp chiết pha rắn, chi phi cao va mat nhiều thời gian hơn Với mẫu nước tiểu, đây là kỹ thuật xử lý tốt nhất Mặc dù chỉ phí cao, nhưng các phương pháp xử lý khác không đáp ứng được yêu cầu
- Xây dựng được qui trình định lượng norfloxacin trong dịch sinh học Phương pháp phân tích đã được thẩm định theo các chỉ tiêu qui định, và đều đáp ứng yêu cầu của dược điển và các tài liệu chuyên ngành Định lượng norfloxacin trong huyết tương và
nước tiểu bằng HPLC với các điều kiện sắc ký
* Cột : Altima C18, 5um, 250 x 4mm Nhiệt độ cột : 40°C
* Pha động : MeCN - MeOH - Đệm phosphat pH 3.0 - Acid tricloracetic 0,5%,
tilệ 5; 18: 72: 5 (VNMW)
* Tốc độ dòng: 1,25 ml/phút
* Detector: 278nm
* Thể tích tiêm mẫu : 100
Trang 9Khi phân tích mẫu nước tiểu, tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, điều chỉnh pha động nếu cần
- Phương pháp phân tích đã được thẩm định đạt các chỉ tiêu qui định cho phép phân
tích dịch sinh học: đặc hiệu, độ đúng, chính xác và ổn định
- Bằng thực nghiệm, đã xây dựng được kỹ thuật thao tác an toàn trên động vật (giống chó nhà), kỹ thuật cho uống thuốc, lấy mẫu máu với 2 kỹ thuật có bộc lộ và không bộc
lộ tĩnh mạch Xây dựng tiêu chuẩn chuồng, điều kiện để có thể lưu giữ theo thiết kế
của thử nghiệm TĐSH, đảm bảo khả năng sử dụng động vật thay thế khi cần thiết trong đánh giá TĐSH cũng như các loại thí nghiệm khác cần thiết
- Đánh giá tính ổn định hấp thu của giống chó nhà Thực hiện theo qui trình thử nghiệm đã xây dựng, giống chó nhà có đáp ứng tương đối phù hợp để sử dụng trong khảo sat TDSH Qua mô hình đánh giá TĐSH trên cùng một chế phẩm có chứa Nofloxacin, kết quả cho thấy là tương đương với cả giá trị Cmax và AUC
c, Hiệu quả về đào tạo
- Đào tạo cho cán bộ của phòng Dược lý, viện Kiểm nghiệm về kỹ thuật xử lý mẫu, bảo quản và phân tích thuốc trong dịch sinh học Các cán bộ đã tham gia đề tài đã có
cơ hội để học tập, thực hành về kỹ thuật phân tích, thẩm định phương pháp và thiết kế nghiên cứu, Hiện nay tất cả đều đã có năng lực làm việc trong lĩnh vực này
- Phương pháp đã được sử dụng làm thao tác kỹ thuật mẫu cho lớp tập huấn của Tổ chức Y tế thế giới trong triển khai mô hình mẫu đánh giá TĐSH Lớp tập huấn chủ yếu
cho các cán bộ của Viện Kiểm nghiệm và Phân viện kiểm nghiệm, ngoài ra còn một
số cán bộ của trường đại học Dược, doanh nghiệp cũng tham dự
- Một phần kết quả và kinh nghiệm thực hiện của đề tài đã được sử dụng trong 2 lớp
tập huấn về Sinh khả dụng và Độ hòa tan của Viện Kiểm nghiệm tổ chức cho các cán
bộ của Trung tâm kiểm nghiệm và một số doanh nghiệp
- Cán bộ của viện Kiểm nghiệm sau khi tham gia đề tài đã có được những kinh nghiệm nghiên cứu nhất định trong lĩnh vực này, có thể tham gia vào đào tạo cho các cán bộ của Trung tâm kiểm nghiệm hoặc các học sinh sau đại học
d, Hiệu quả về kinh tế
Kỹ thuật phân tích sẽ được áp dụng trong các nghiên cứu về dược động học, tương
đương sinh học và theo dõi điều trị
Việc thử nghiệm và sử dụng thành công giống chó nhà trong khảo sát TĐSH thay thế
cho giống chó thí nghiệm Beagle mà hiện nay chúng ta chưa thể nhập của nước ngoài (mà với giá thành rất cao) sẽ giảm chỉ phí nghiên cứu cho ngành công nghiệp dược
e, Hiệu quả về xã hội
Phương pháp phân tích có khả năng áp dụng trong các thử nghiệm về TĐSH cũng như những nghiên cứu về dược động học, theo dõi điều trị Khi đó, góp phần vào việc nâng cao chất lượng thuốc, nâng cao hiệu quả và chất lượng điều trị Người bệnh sẽ
Trang 10được dùng những thuốc có chất lượng cao hơn, được hưởng những điều trị có chất lượng hơn Đó thực sự là một trong những mục tiêu lớn mà chúng tôi mong đợi
f, Các hiệu quả khác
Sử dụng phương pháp phân tích, thực hiện mô hình mẫu đánh giá TĐSH một cach kịp
thời theo kế hoạch của Tổ chức Y tế thế giới đã góp phần nâng cao uy tín của Viện
Chuyên gia của WHO đánh giá cao thao tác kỹ thuật cũng như năng lực phân tích
của cán bộ viện Kiểm nghiệm qua lớp tập huấn này
Thao tác kỹ thuật trên động vật và kỹ thuật phân tích thuốc trong dịch sinh học đã được giải nhất tại hội thao kỹ thuật liên viện ngành y tế thành phố Hà Nội
Thao tác kỹ thuật trên động vật còn có khả năng được ứng dụng trong các nghiên cứu
về tiền lâm sàng
2, AP DỤNG VÀO THỰC TIẾN SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
- Các kỹ thuật phân tích được áp dụng cho việc nghiên cứu xây dựng phương pháp và đánh giá các phương pháp phân tích
- Qui trình phân tích sẽ được áp dụng cho việc theo dõi dược động Học của các
cơ sở điều trị Tạo điều kiện thuận lợi cho các thẩy thuốc áp dụng phương thức điều trị mới, phù hợp và hiệu quả với từng trường hợp bệnh nhân
3, ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ĐỐI CHIẾU VỚI ĐỂ CƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐÃ
ĐƯỢC PHÊ DUYỆT
ị
Giai đoạn cuối năm 2005, do phải tập trung thực hiện một số công việc chuyên môn đột xuất khác của Viện, nên việc tổ chức nghiệm thu chưa được kịp thời
Trang 11Ngoài mục tiêu được ghi trong đề cương, mục tiêu riêng của cơ sở đặt ra khi thực hiện
đề tài cũng đã đạt được như mong muốn, đó là đánh giá khả năng sử dụng động vật trong nghiên cứu khảo sát TĐSH ở Việt nam
c, Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của đề cương
- Tạo ra đầy đủ các sản phẩm dự kiến trong đề cương
- Tạo ra đầy đủ các sản phẩm như tất cả đều chưa đạt chất lượng
- Tạo ra được một số sản phẩm đạt chất lượng
- Những sản phẩm chưa thực hiện được
d, Các tài liệu có liên quan tới kết quả của đề tài đã công bố
1 Xây dựng phương pháp định lượng Norfloxacin trong huyết tương bằng HPLC (Tạp chí Kiểm nghiệm, số 4 2004)
2 Khảo sát khả năng sử dụng chó nhà để đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học (Tạp chí Kiểm nghiệm, số 4 2005)
e, Đánh giá việc sử dụng kinh phí
- Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 250 triệu đồng
- Trong đó: kinh phí sự nghiệp 200 triệu đồng
- Kinh phí từ nguồn khác 50 triệu động (hoạt động thường xuyên của Viện, khấu hao máy móc thiết bị, điện nước.)
- Toàn bộ kinh phí của đề tài đã được quyết toán
- Chưa thanh quyết toán xong : Không
- Kinh phí tồn đọng Không
4 CÁC Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
- Hang nam, việc tổ chức xem xét và tuyển chọn các đề tài nghiên cứu nên được thực hiện sơm hơn, có thể tiến hành vào cuối năm trước, để đầu năm sau có thể bắt đầu thực hiện được ngay
- Việc cấp kinh phí cho các đề tài nghiên cứu cũng nên được cấp theo tiến độ của đề
tài đã đăng ký.
Trang 12PHAN B NOI DUNG BAO CAO CHI TIET
KET QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TAI CAP BO
1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu về nghiên cứu sinh khả dụng, tương đương sinh học cũng như tương dương điều trị ở Việt Nam ngày một tăng thêm Để thực hiện được những loại nghiên cứu này, một trong những nội dung quan trọng là kỹ thuật chiết tách thuốc ra khỏi các loại dịch sinh học (máu, nước tiểu, dịch não tuỷ ) và xây dựng qui trình định lượng Quá trình phân tích các thuốc trong dịch sinh học thường gặp nhiều khó khăn do thuốc
sau khi vào cơ thể thường bị chuyển hoá Các chất chuyển hoá nói chung là những
dẫn chất cùng nhóm nên việc tách được riêng và định lượng đòi hỏi phải lựa chọn những điều kiện phân tích thích hợp Hơn nữa, nồng độ thuốc trong các dịch sinh học thường rất thấp, lượng mẫu thử ít (1 - 2ml) môi trường dịch sinh học phức tạp cũng đã gây không ít khó khăn cho các nhà phân tích Theo qui định chung về phân tích thuốc trong dịch sinh học, phương pháp phân tích phải được thẩm định và đánh giá về tính đặc hiệu, độ chính xác, độ đúng, xác định được khả năng phát hiện và giới hạn định lượng đối với từng hoạt chất Ngoài ra, để đáp ứng được số lượng mẫu rất nhiều và cấp thiết về mặt thời gian trong thử nghiệm TĐSH, mẫu thử phải được nghiên cứu độ
ổn định khi bảo quản ở những điều kiện khác nhau
Theo các hướng dẫn về đánh giá tương đương sinh học (TĐSH) in vivo, tuỳ thuộc vào mục đích đánh giá, đặc tính của thuốc người ta có thể ứng dụng một số mô hình thử Thứ nghiệm trên người cho kết quả phù hợp nhất, nhưng phức tạp do phải tuân thủ qui chế về y đức và chỉ phí tốn kém Hơn nữa, đặc tính giải phóng dược chất của các chế phẩm giải phóng kéo dài đang nghiên cứu chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng Thử nghiệm trên động vật cũng đã được nêu trong hướng dẫn [32] Trong các loài động vật, chó được xem là loài thích hợp hơn cả do đặc điểm đường tiêu hoá tương tự,
có thể cho uống thuốc và lấy mẫu Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nơi nào cung cấp loài chó thí nghiệm, và khả năng mua từ nước ngoài sẽ hạn chế do giá thành cao Liệu giống chó nhà có thể sử dụng thử nghiệm thay thế trong nghiên cứu khảo sát hay không ? Cần thiết phải có những đánh giá qua thực nghiệm để khẳng định khả năng thao tác kỹ thuật cho uống thuốc và lấy mẫu máu sao cho đáp ứng yêu cầu, an toàn, giữ con vật khoẻ mạnh để tiến hành thử nghiệm chéo, đồng thời xem xét mức độ ổn định trong hấp thu thuốc của giống chó trong nước
Trang 13Trước những nhu cầu đó, Bộ Y tế đã đề xuất chủ đề nghiên cứu với mục tiêu chủ yếu
để giải quyết vấn đề kỹ thuật phân tích Chính vì vậy, Viện Kiểm nghiệm đã được Bộ Y
tế giao nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu phương pháp chiết xuất và định lượng Norfloxacin
trong dịch sinh học”
1.2 Giả thiết nghiên cứu của đề tài
- Mẫu huyết tương được xử lý bằng 3 phương pháp chiết: tạo tủa, chiết lỏng — lỗng và chiết pha rắn Mẫu nước tiểu: khảo sát xử lý bằng cách pha loãng (như các tài liệu giới thiệu) và phương pháp chiết pha rắn
- Định lượng norfloxacin trong dịch sinh học được giả thiết bằng phương pháp HPLC,
detector diod array Cột pha đảo với các loại thông thường đang lưu hành, pha động
gém co acetonitril, methanol va một số dung dịch đệm để điều chỉnh dung dịch đệm
có các pH khác nhau
- Động vật dùng trong khảo sát thử nghiệm là chó, không dùng thỏ vì theo tài liệu cho
thấy thổ có đường tiêu hóa rất khác hệ tiêu hóa của người, và qua khảo sát thực
nghiệm cho thấy không phù hợp Dùng một chế phẩm Noroxin để thử nghiệm trên 2 nhóm động vật trong 2 giai đoạn lấy mẫu máu và phân tích để tính kết quả xem 2
nhóm có cho kết quả tương đương không 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1 Xây dựng phương pháp chiết xuất Norfloxacin từ dịch sinh học
2 Xây dựng qui trình định lượng Norfloxacin trong dịch sinh học bằng sắc ký lỏng
hiệu nang cao (HPLC)
3 Đánh giá khả năng dùng động vật (giống chó nhà) trong nghiên cứu đánh giá TĐSH ở Việt Nam
Theo thông báo của Bộ Y tế gửi các cơ sở nghiên cứu khoa học (2003), đề tài được đề xuất với nội dung nghiên cứu và mục tiêu phải đạt là đánh giá khả năng sử dụng động vật để thử TĐSH ở Việt Nam Dựa trên kế hoạch phát triển
của Viện, chúng tôi đã nhận thấy đây là một nội dung nghiên cứu phù hợp với
hướng phát triển về chuyên môn Do vậy, mục tiêu thứ 3 vẫn được nhóm nghiên cứu xác định là cần phải giải quyết, và một phần nội dung nghiên đã được
chuẩn bị để thực hiện cho mục tiêu này
Trang 142 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
2.1.1 Nhu cầu nghiên cứu phương pháp phân tích trong dịch sinh học
Dược điển Mỹ (từ USP 23 — 1995 đến nay) đã giới thiệu chuyên luận "In vivo Bioequivalence guidance” Nội dung của chuyên luận là những hướng dẫn chung để thực hiện một thử nghiệm tương đương sinh học Hướng dẫn bao gồm những nội dung khi thực hiện thử nghiệm, những chỉ tiêu cần phải đạt Bên cạnh đó, chuyên luận đã giới thiệu protocol phân tích cho một số loại thuốc cụ thể Số lượng protocol đã được tăng dần lên: USP 23 — xuất bản năm 1995, có 5 protocol; USP 24 — xuất bản năm
2003, số protocol tăng lên là 26 chủ yếu cho các loại thuốc dưới dạng viên nén và viên nang, và một số thuốc tác dụng kéo dài [29] Trong các protocol này, những qui định và hướng dẫn chủ yếu về phương pháp thử nghiệm độ hoà tan (để xem xét cho miễn thử in vivo), thiết kế nghiên cứu, tính thống kê kết quả Phần phương pháp phân tích, các protocol chỉ đưa ra qui định là các phép phân tích phải đạt các chỉ tiêu thẩm định theo yêu cầu, hoàn toàn không có hướng dẫn phương pháp phân tích cụ thể Chính do đặc điểm của mẫu phân tích trong những nghiên cứu này thường rất phức tạp, nên qui định một phương pháp cụ thể trong protocol sẽ hạn chế vì ít khả thi Mặc
dù khi đã có protocol phân tích, nhưng áp dụng vào từng trường hợp, qui trình phân
tích cần điều chỉnh để phù hợp với từng điều kiện phòng thí nghiệm để có thể lựa chọn
được điều kiện phân tích tối ưu, khả thì
Dược điển Trung Quốc 2000 [15], trong chuyên luận Hướng dẫn nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học của thuốc đã qui định khá rõ ràng về các chỉ tiêu cần thẩm định đối với phương pháp phân tích áp dụng cho mẫu thử sinh học Đồng thời, hướng dẫn thử nghiệm trong lĩnh vực này của các quốc gia cũng có những qui định về phương pháp phân tích, như Hướng dẫn về thẩm định phương pháp phân tích dùng trong sinh học của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ [30] hoặc hướng dẫn của khối Asean [14] Các hướng dẫn đều có qui định chung về các chỉ tiêu cần phải thẩm định như: tính đặc hiệu, khoảng tuyến tính, độ đúng, độ chính xác (khả năng lặp lại trong ngày và khác ngày), độ ổn định
2.1.2 Tổng quan về Norfloxacin
Norfloxacin là một kháng sinh thuộc nhóm quinolon, công thức phân tử là C,;H„FN;O;, phân tử lượng 319.3 Norfloxacin dưới dạng bột kết tinh màu trắng hoặc vàng nhạt, khó tan trong nước, tan ít trong cồn hoặc aceton; hấp thụ tử ngoại trung bình UV„„„~ 274nm, A;„„'“ ~ 1109 (NaOH 0,1N) Khi định lượng bằng HPLC trên sắc
đồ peak norfloxacin thường bị doãng
Trang 15Công thức cấu tạo của Nofloxacin:
Sau khi uống, Norfloxacin hấp thu nhanh nhưng không hoàn toàn từ đường tiêu
hoá Thức ăn ở đường tiêu hóa có thể làm giảm sự hấp thu của thuốc Các thuốc
antacid có chứa magnesi hydroxid hoặc nhôm hydroxid làm giảm sinh khả dụng của Norfloxacin ở người lớn khoẻ mạnh, uống thuốc lúc đói, ít nhất 30 -50% liều uống norfioacin được hấp thu từ đường tiêu hoá, nồng độ đỉnh huyết tương thường đạt được 1-2 giờ sau khi uống Nồng độ đỉnh của norfloxacin trong huyết tương trung bình từ 0,75 — 1 meg/ ml sau khi dùng liều đơn 200mg và 1,3 — 1,9 mcg/ ml sau khi dùng liều
400 mg Sau khi uống liều đơn 800 mg, 1200 mg hoặc 1600 mg, nồng độ dỉnh trong huyết thanh trung bình là 2,4; 3,2 hoặc 3,8 mcg/ ml, tương ứng Nồng độ thuốc trong huyết tương hoặc huyết thanh có thể phát hiện được trong vòng 12 giờ sau khi uống thuốc Thuốc liên kết với protein khoảng 10 - 15% Thuốc đi qua nhau thai và vào cả dịch màng ối và máu thai nhi Chưa biết thuốc có vào sữa mẹ không
Nghiên cứu đa liều ở người lớn chức năng thận bình thường cho thấy rằng nồng
độ đỉnh huyết thanh của Norfloxacin không tăng lên sau khi uống liều nhắc lại, điều đó chứng tỏ thuốc không tích luỹ Nồng độ huyết thanh ở tình trạng ổn định đạt được sau
2 ngày điều trị Với người có chức năng thận bình thường, thời gian bán thải từ 2- 4 giờ, tăng lên ở người cao tuổi, trung bình là 4 giờ [3]
Thuốc được chuyển hoá từng phần bằng thay đổi nhóm piperazinyl tạo thành 6
chất chuyển hoá được ký hiệu là M1, M2, M3, M4 — 1, M4-2 và M5 Một số chất
chuyển hoá có tác dụng kháng khuẩn nhưng đều kém thuốc mẹ Thuốc được thải trừ
ra khỏi cơ thể theo cơ chế lọc ở cầu thận và tiết qua ống thận, thuốc cũng được bài tiết qua phân dưới dạng không đổi Sau khi uống liều 400mg ở người lớn có chức năng thận bình thường, khoảng 25 - 40% liều được bài tiết ra nước tiểu dưới dạng không
đổi, và khoảng 5 — 10% dưới dạng chất chuyển hoá trong vòng 24 — 48 giờ ít nhất
khoảng 30% bài tiết qua phân trong vòng 48 giờ Thanh thải thận của norfloxacin
Trang 16trung bình 234 — 296 ml/ phút ở người lớn có chức năng thận bình thường Nồng độ norfloxacin trong nước tiểu nói chung 200mcg/ml trong 2 —- 3giờ đầu, khoảng 30mcg/ml trong ít nhất 12 giờ sau khi uống thuốc Sau khi uống liều 400mg ở người có chức năng thận bình thường, nồng độ thuốc trong nước tiểu đạt trung bình là 417 mcg/ml (1 -2 giờ); 46,9 mcg/ml (8 - 12 giờ) và 22,5 mcg/ml (12 — 24 giờ)
Nghiên cứu về hấp thu, phân bố và thải trừ của Norfloxacin sau khi uống cũng
đã được thực hiện trên một số loài động vật như chuột nhắt, chuột cống, chó, thỏ, khỉ cho dùng Norfloxacin có đánh dấu phóng xạ Nói chung, trên động vật Norfloxacin được hấp thu không hoàn toàn sau khi uống Khoảng 10 -20% liều uống đã hấp thu
được chuyển hoá thành chất ít có tác dụng kháng khuẩn hơn Thuốc cũng được thải
trừ theo đường thận và đường mật Trên chuột cống, sau khi uống, 8% liều được tìm
thấy trong nước tiểu, 75% dưới dạng không đổi Phần còn lại của liều được tìm thấy
trong phân [13]
Trên chó, khoảng từ 10 — 12% liều norfloxacin được hấp thu sau khi uống Nồng độ đỉnh huyết thanh đạt được trong khoảng một giờ Thuốc liên kết với protein huyết thanh khoảng 18% Hoạt tính phóng xạ tìm thấy trong nước tiểu và phân với tỷ lệ
39 và 53% liều, tương ứng, 85% thuốc tìm thấy trong nước tiểu ở dưới dạng không đổi
Trên thỏ cho uống thuốc trong tình trạng không đói hoàn toàn, nồng độ đỉnh huyết thanh của các chất có tính kháng khuẩn đạt được là 1 — 2 giờ Liên kết với protein huyết thanh của thỏ là 18% Chỉ có khoảng 4,5% liều được tìm thấy trong nước
tiểu [13]
2.1.3 Phương pháp phân tích
Để phân tích các chất trong dịch sinh học (huyết tương, nước tiểu, mô), thường phải sử dụng các phương pháp phân tích dụng cụ có khả năng phát hiện mẫu thử ở nồng độ rất thấp Các phương pháp thường được lựa chọn và giới thiệu: sắc ký lỏng hiệu năng cao với detector tử ngoại, huỳnh quang, điện hóa, sắc ký khí khối phổ, sắc
ký lồng khối phổ Phương pháp sắc ký điện di mao quản vùng hiệu năng cao đang cớ
xu hướng được sử dụng để xác định các chất chuyển hóa Tuy nhiên, việc ứng dụng các phương pháp này còn tuỳ thuộc vào trang thiết bị hiện có của phòng thí nghiệm Việt nam
Hermamn và các cs [ 23 ], đã nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định nofloxacin trong huyết tương chủ yếu bằng HPLC, nhưng thường sử dụng detector huỳnh quang và phương pháp bơm mẫu tự động Với detector huỳnh quang có độ nhạy cao, giới hạn phát hiện có thể từ 10 - 30 ng/ml HPLC với detector UV cũng được một số ít tác giả dùng để định lượng norfloxacin trong dịch sinh học [ 24 ] với khoảng tuyến tính từ 0,1 - 2mcg/ ml Các phương pháp thường được dùng xử lý mẫu để loại tạp và chiết mẫu là chiết lỏng - rắn, tủa protein, chiết lỏng — lỏng
Nghiên cứu phương pháp định lượng norfloxacin trong huyết tương (mẫu tự tạo
9
Trang 17bằng cách hoà tan chuẩn trong huyết tương), các tác giả trên [23 ] dùng phương pháp tạo tủa protein với Acetonitril để xử lý mẫu huyết tương va pha loãng với nước để xử lý mẫu nước tiểu Dịch chiết cho thêm acid perclorric và triethylamin trước khi tiêm vào máy sắc ký Phân tích dùng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao với detector huỳnh quang, cột C18, 80 x 4 mm, 3 #m Nucleosil, nhiệt độ cột 40°C Huỳng quang với bước sóng kích thích 300nm, phát xạ ở 450 nm Khoảng nồng độ khảo sát tuyến tính 31 —
2507 ng/ ml (huyết tương) và 7,5 - 299 mcg/ ml (nước tiểu) Phép thử cho thấy có độ đúng và độ chính xác cao
Một số tài liệu khác đã giới thiệu định lượng norfloxacin bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao, loại protein bằng acetonitril Phân tích dùng chuẩn nội hydrochlorithiazid, cho giới hạn phát hiện 1 mcg/ ml Phân tích bằng phương pháp HPLC kết hợp các detector huỳnh quang và tử ngoại cũng đã được nghiên cứu để xác định một số chất thuộc nhóm fluoroquinolon như ciprofloxacin, norfloxacin, ofloxacin và pefloxacin [32] Một số tác giả đã nghiên cứu phân tích thuốc trong nước tiểu [20], nhưng các
phương pháp để chiết tách thuốc từ nước tiểu rất ít được giới thiệu hoặc giới thiệu
phương pháp đơn giản là pha loãng với nước Tuy nhiên, xem xét về tính chất của nước tiểu người sau khi uống norfloxacin và một số nghiên cứu thăm dò, chúng tôi thấy xử lý bằng phương pháp pha loãng với nước không phù hợp với norfloxacin
Norfloxacin sau khi vào cơ thể được chuyển hoá thành 6 chất chuyển hoá khác nhau,
do vậy việc xác định riêng norfloxacin trong nước tiểu là rất khó khăn và không thể xử
lý mẫu bằng phương pháp đơn giản như vậy được
Về phương pháp chiết xuất, có 3 phương pháp xử lý mẫu hay được sử dụng với các mẫu dịch sinh học: tủa protein với dung môi hữu cơ hoặc acid, chiết lồng — lỗng và chiết pha rắn
Tuy vao điều kiện của từng phòng thí nghiệm mà ưu thế dùng phương pháp nào Một
số phòng thí nghiệm của Hàn Quốc, Bangdung (Indonexia) hay sử dụng phương pháp chiết lỏng — lỏng; trong khi đó, phòng thí nghiệm của Malaysia thì áp dụng tất cả các phương pháp, kể cả chiết pha rắn
Phương pháp chiết pha rắn (solid phase extraction - SPE) ít được dùng phần lớn do giá thành, nhưng mức độ tinh khiết của dịch chiết cao Khi xây dựng phương pháp SPE, cần tiến hành qua 5 bước
- _ Bước 1: Lựa chọn dung môi rửa giải cho cột: Hoà tan chất cần phân tích trong dung môi rửa giải và cho chảy qua cột SPE ở điều kiện xác định Đánh giá hiệu quả tìm lại chất trong dung môi chảy qua cột để biết lượng chất còn bị lưu giữ trên cột Nếu tỷ lệ đạt 90 — 100% thì được coi là phù hợp
-_ Bước 2: Đánh giá khả năng lưu giữ mẫu của cột SPE
-_ Bước 3: đánh giá khả năng tìm lại dược chất trong mẫu thử (nước tiểu hoặc
huyết tương) so với khả năng tìm lại dược chất khi pha trong nước hoặc dung môi hữu cơ
Trang 18-_ Bước 4: Xây dựng đường chuẩn: thực hiện qui trình chiết với một dãy nồng độ cần nghiên cứu, xác định mức độ tuyến tính, hệ số đạt trên 0,95 là coi được chấp nhận
-_ Bước 5: Phân tích với mẫu có nồng độ chưa biết, so sánh độ lặp lại, độ chính xác với phương pháp trước
2.1.4 Đối tượng dùng trong thử nghiệm tương đương sinh học
Những nghiên cứu dược động học, sinh khả dụng hoặc TĐSH tốt nhất là thực
hiện trên người tình nguyện Trong một số trường hợp có thể thực hiện trên động vật
thí nghiệm (chó, thỏ, khỉ ) Với động vật thí nghiệm, mỗi loài thường có những ưu điểm và nhược điểm riêng Các tài liệu [32] giới thiệu phương pháp thường cho rằng
chó là loài thích hợp hơn những loài khác khi thử TĐSH do đường tiêu hoá của chó có
cấu tạo gần giống với người Các loại thuốc dùng cho người đều có thể dùng cho chó;
có thể lấy máu và nước tiểu với thể tích đủ cho nghiên cứu; có thể lưu giữ cho nghiên
cứu dùng đa liều hoặc nghiên cứu chéo Tuy nhiên, các tài liệu đều giới thiệu và
hướng dẫn sử dụng giống chó thí nghiệm (Beagle dog) Đây là giống chó thí nghiệm, hiền lành và sạch sẽ, nhưng ở Việt nam chưa có nơi nào sử dụng
Thỏ là một loài động vật hiển lành, dễ nuôi giữ, nhưng đường tiêu hoá của thỏ khác về cơ bản so với người Thỏ ăn cỏ nên sự tiêu hoá tương tự ở loài động vật nhai lại, nhưng dạ dày thỏ lại đơn giản là một túi rộng có dung tích khoảng 80ml và không
có các vùng đặc biệt Thức ăn được trộn, lên men và thuỷ phân ở dạ dày, sau đó
chuyển xuống tá tràng Kinh nghiệm của những nhà nghiên cứu trên động vật cho
thấy rằng việc chuẩn bị được một dạ dày rỗng hoàn toàn với thỏ thường rất công phu, hơn thế nữa, đường tiêu hoá của thỏ thường có nhiều khí Do vậy, các thuốc dùng qua đường tiêu hoá khi thử trên thỏ thì kết quả dao động nhiều Khi thí nghiệm trên thỏ,
việc lấy máu được thực hiện khá dễ dàng nhưng thể tích máu của thỏ ít, lượng lấy mỗi
lần hạn chế và thỏ có thể bị mệt nếu thời gian lấy máu kéo dài Hơn nữa thỏ khó uống được các loại thuốc ở dạng viên to nguyên vẹn Ngoài chó và thỏ, một số loài khác có thể dùng để thử nhưng thường có nhiều nhược điểm (chuột: quá nhỏ; khi, lợn: đắt)
[32]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan toi dé tai
Trên thị trường Việt Nam đang lưu hành một số chế phẩm của Norfloxacin với giá
bán rất khác nhau: Noroxin 400 (MSD) giá từ 8 - 10 nghìn đồng/ viên, trong khi đó một
viên Nor- 400 (Intas- Ấn độ) hoặc một sản phẩm của trong nước giá chỉ 4 - 5 tram đồng/ viên Không biết rằng liệu sinh khả dụng của các sẵn phẩm này có chênh lệch nhau đáng kể như vậy không Nếu có kết quả đánh giá TĐSH, chúng ta sẽ có những
dữ liệu giúp thầy thuốc và bệnh nhân chọn được một thuốc rẻ tiền mà tác dụng tương đương, hoặc có cơ sở để buộc nhà sản xuất nào đó phải thay đổi công thức bào chế
"I1
Trang 19Nghiên cứu về sinh khả dụng và TĐSH ở trong nước đang bắt đầu được quan tâm Vào thời điểm chuẩn bị cho nghiên cứu (2002 — 2003), những khái niệm này còn hầu như khá mới mẻ ở Việt Nam Khi đó, những khái niệm này mới được cập nhật và chỉ một số các bộ ngành dược quan tâm tìm phương pháp nghiên cứu trên thực nghiệm Việc đánh giá chất lượng các loại thuốc mới ở nước ta cũng chỉ dựa trên tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm do nhà sản xuất đăng ký và đánh giá chủ yếu bằng các phép phân tích hoá lý Trong khoảng 2 — 3 năm trở lại đây, những nghiên cứu về lĩnh vực này đã được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cũng mới chỉ dừng trong các trường đại học và viện để học tập và nâng cao năng lực Việc ứng dụng các qui trình phân tích cũng như tiến hành các đánh giá thử nghiệm theo nhu cầu của thực tế (doanh nghiệp, cơ sở điều trị) còn rất hạn chế Thực hiện các nghiên cứu về dược động học ở các cơ sở nghiên cứu và điều trị hầu như chưa khởi động, mặc dù một số nơi đã có thiết bị phân tích Nguyên nhân chính là do chưa có những
cán bộ được đào tạo về kỹ thuật phân tích thuốc trong các mẫu sinh học để có thể
phân bố về các cơ sở này
Cho tới tận bây giờ 3/2006), chưa có một qui chế nào qui định về việc thử nghiệm tương đương sinh học với các thuốc sản xuất trong nước cũng như các thuốc nhập khẩu ở các nước trên thế giới, những nghiên cứu, đánh giá đã được đưa vào qui chế bắt buộc trong phát triển sản phẩm và thực hiện thường xuyên từ mấy thập kỷ qua Do vậy, sớm hay muộn, Việt Nam cũng phải thực hiện vì mục tiêu hội nhập kinh tế Một khó khăn nữa khi thực hiện những nghiên cứu này là nồng độ thuốc trong các dịch sinh học thường rất thấp nên đòi hỏi các cơ sở nghiên cứu phải có đủ phương tiện phân tích hiện đại, có độ nhạy cao, cán bộ phân tích có kinh nghiệm Cho tới nay, rất hiếm cơ sở tham gia nghiên cứu phương pháp phân tích thuốc trong dịch sinh học Một số để tài cần xác định nồng độ thuốc trong dịch sinh học thường chỉ áp dụng những phương pháp tham khảo trong tài liệu, thẩm định đánh giá phương pháp thường chưa được thực hiện một cách đầy đủ
Trong một số nghiên cứu đã và đang thực hiện ở trong nước, thông thường chỉ áp dụng phương pháp xử lý mẫu bằng cho tủa protein với dung môi hữu cơ Các phương pháp chiết lỏng — lỏng và chiết pha rắn rất ít được sử dụng
Vấn đề thử nghiệm trên người cũng còn rất mới mẻ ở Việt Nam Tháng 12/ 2002, Bộ Y
tế lần đầu tiên ban hành “Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học" (số 5129/ 2002 QĐ-BYT) [4] Tiếp theo đó, tháng 7/
2003, Hội đồng đạo đức cấp Bộ của Bộ Y tế được thành lập để xem xét đánh giá các
để tài nghiên cứu cấp Bộ có liên quan đến con người Nhưng trong năm 2003, việc xem xét cho các thử nghiệm trên người còn rất hạn chế Cũng chính vì vậy mà Bộ Y tế khi chuẩn bị yêu cầu thực hiện để tài này phải đề xuất khảo sát trên động vật Thực nghiệm trên chó khi đó cũng còn bị lo ngại về vấn đề thao tác an toàn nhiều hơn là hiệu quả
Trang 20ở Việt Nam hiện nay chưa có nơi nào nuôi cung cấp loài chó thí nghiệm, khả năng mua từ nước ngoài sẽ hạn chế do giá thành cao Thao tác trên chó thí nghiệm tương đối đơn giản và an toàn, nhưng nuôi dưỡng để thực hiện nghiên cứu chéo đòi hỏi phải
có điều kiện chăm sóc đạt tiêu chuẩn
Giống chó nhà của Việt Nam cũng đã được dùng để tiến hành một số thí nghiệm dược
lý Với những thí nghiệm loại đó, chủ yếu là quan sát một số cấu tạo giải phẫu hoặc sinh lý của con vật dưới những tác động của thuốc Chó thường được bắt và thí nghiệm sau khi gây mê, nên đảm bảo an toàn cho kỹ thuật viên Sau khi thí nghiệm, chó được loại mà không cần lưu giữ, không cần giữ gìn sức khoẻ cho con vat
Những thử nghiệm sinh khả dụng và tương đương sinh học với thiết kế chéo, thử
nghiệm được thực hiện lại trên chính đối tương đó để giảm mức độ sai khác cá thể,
giữa 2 lần thử nghiệm cần khoảng thời gian rửa giải để cơ thể con vật thải trừ hết thuốc cũ Do vậy, quá trình thí nghiệm phải cố gắng giữ cho con vật vẫn được khoẻ mạnh, có khả năng lưu giữ đến thử nghiệm của giai đoạn sau Đối với giống chó ta, những thí nghiệm kiểu này chưa được áp dụng thử nghiệm nhiều Hơn nữa, giống chó
ta thường được nuôi để giữ nhà nên dữ, khó thao tác Nếu muốn sử dụng làm thí nghiệm cần có dụng cụ bắt, nuôi giữ, cố định phù hợp, đảm bảo an toàn cho kỹ thuật viên Ngoài ra, việc chăm sóc, nuôi giữ cũng cần phải xem xét trong một điều kiện thích hợp, kha thi
Cùng thời gian chúng tôi thực hiện dé tài, trường Đại học Dược cũng đã sử dụng động vật trong một số nghiên cứu TĐSH Một số ít sử dụng thổ, một số khác dùng chó, nhưng do kỹ thuật và điều kiện nuôi giữ không đảm bảo nên rất khó khăn khi thực hiện thiết kế thử nghiệm chéo Đôi khi con vật bị chết trước khi thử nghiệm giai đoạn hai
3, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Nghiên cứu khảo sát sơ bộ phương pháp phân tích
Dựa vào các tài liệu tham khảo, chúng tôi thực hiện khảo sát 3 phương pháp chiết suất
norfloxacin từ mẫu thử Mẫu thử được sử dụng là mẫu huyết tương và nước tiểu
- Phương pháp chiết xuất
+ Phương pháp tạo tủa protein
+ Phương pháp chiết lỏng — lỏng với dung môi hữu cơ
+ Phương pháp chiết pha rắn
- Phương pháp định lượng: Khảo sát định lượng bằng HPLC bằng thực nghiệm để xác địnhc ác điều kiện phân tích
3.1.2 Thẩm định phương pháp phân tích
13
Trang 21Đánh giá phương pháp phân tích theo các chỉ tiêu qui định của Dược điển [6] áp dụng cho các phép phân tích trong dịch sinh học Những chỉ tiêu bao gồm:
- Tính đặc hiệu của phương pháp
- Đường chuẩn và khoảng tuyến tính
- Độ chính xác (độ lặp lại trong ngày và khác ngày)
- Độ đúng (% tìm lại thấy)
- Giới hạn định lượng
- Độ ổn định của mẫu thử
3.1.3 Khảo sát khả năng dùng chó ta trong nghiên cứu đánh giá TĐSH
- Phương pháp thí nghiệm trên chó ta trong điều kiện phòng thí nghiệm Việt Nam
- Khảo sát tính ổn định đáp ứng của động vật thí nghiệm với khả năng hấp thu
3.2 Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Mẫu thử nghiệm:
Mẫu thử dùng để nghiên cứu, lựa chọn và xây dựng phương pháp được lựa chọn là
huyết tương và nước tiểu
- Huyết tương:
+ Sử dụng huyết tương người (mua tại Viện Huyết học và truyền máu trung
ương) làm mẫu trắng Tự tạo các mẫu bằng cách cho norfloxacin vào mẫu huyết tương
- Mẫu động vật dùng trong khảo sát là chó nhà (Canis familiaris L.), khỏe mạnh, màu vàng hoặc đen, chân ngắn, mõm ngắn, 1 — 2 năm tuổi, cân nặng khoảng 10 + 2 kg
3.2.2 Cỡ mẫu: Với các mẫu phân tích, số mẫu thử được dùng để khảo sát là 5 — 6 Với mẫu động vật (chó) dùng để khảo sát khả năng đáp ứng được dùng là 12, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 6
3.2.3 Đối tượng nghiên cứu
- Dùng Norfioxacin chuẩn làm việc của Viện Kiểm nghiệm
- Mẫu viên nén Noroxin (viên nén norfloxacin 400mg), Số lô.: HW 02720, N§X: 03/2004, HD: 03/2007; Số đăng ký: VN - 6651-02 Nhà sản xuất: Merck Sharp & Dohme B.V Đây là thuốc sáng chế của dược chất norfloxacin
Trang 223.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.7 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Phương pháp chiết xuất phải đảm bảo có khả năng tách dude dude chat (norfloxacin)
ra khỏi dịch sinh học, ổn định, lặp lại, hiệu xuất cao, thời gian chiết ngắn, chỉ phí thấp
- Phương pháp định lượng phải đáp ứng các chỉ tiêu theo qui định trong các tài liệu về phân tích Ngoài ra phương pháp phải khả thi trong điều kiện phòng thí nghiệm của Việt Nam hiện tại và trong tương lai gần Thời gian phân tích không kéo dài quá để phù hợp với yêu cầu trong phân tích đánh giá TĐSH, vì số lượng mẫu lớn và yêu cầu
về tính thời gian (cần phân tích nhanh sau khi lấy mẫu)
+ Tính đặc hiệu: phải chứng minh được rằng chất xác định được là dược chất hay chất chuyển hoá có tác dụng Sự phân tích mẫu không bị ảnh hưởng bởi các chất nội sinh và chất chuyển hoá có liên quan Báo cáo kết quả phải bao gồm cả sắc ký đồ của mẫu trắng (dịch sinh học), mẫu chất chuẩn pha trong dịch sinh học và mẫu thử thu được sau khi dùng thuốc
+ Đường chuẩn và khoảng tuyến tính: Mối quan hệ giữa đáp ứng với nồng độ của chất phân tích phải được đánh giá bằng phương trình hồi quy, thu được bằng phương pháp phân tích hồi quy (như phương pháp bình phương nhỏ nhất) Khoảng tuyến tính
là khoảng nồng độ từ thấp nhất đến cao nhất trong một đường chuẩn Trong khoảng này, phép phân tích phải thoả mãn các yêu cầu về độ đúng và độ chính xác theo qui định
Đường chuẩn nên có ít nhất 5 nồng độ của chất chuẩn pha trong cùng một mẫu
dịch sinh học Khoảng tuyến tính phải bao gồm toàn bộ khoảng nồng độ của các mẫu cần phân tích Không xác định nồng độ mẫu thử dựa trên điểm ngoại suy của khoảng tuyến tính
Thông thường, nồng độ tối đa khảo sát phải lớn hơn giá trị Cmax đã ghi trong các tài liệu tham khảo (2mcg/ml) Trong trường hợp này, do giá trị Cmax trên chó có thể cao hơn so với giá trị Cmax trên người, nên chỉ tiêu giá trị cao nhất là 8mcg/ml Nồng độ thấp nhất là giới hạn định lượng, thông thường được tính ít nhất phải bằng 1/20 — 1/10 giá trị Cmax, chỉ tiêu (0.1mcg/ml — 0,2mcg/ml) Trong khoảng nồng độ cần khảo sát, đường chuẩn phải tuyến tính và có hệ số tuyến tính ít nhất R = 0,998
+ Độ đúng và độ chính xác: được xác định cùng lúc bằng cách sử dụng 3 nồng
độ của mẫu cần kiểm tra, 1 nồng độ gần với giới hạn nhỏ nhất của phương pháp định lượng (LOQ); 1 nồng độ gần với điểm giới hạn trên của đường chuẩn và 1 nồng độ ở gần điểm giữa Mỗi nồng độ phải được xác định trên ít nhất 5 mẫu
Độ đúng có thể được biểu thị là độ lệch chuẩn tương đối (RSD) trong ngày và giữa các ngày, được xác định trên mẫu chuẩn đối chứng RSD khoảng 15%, riêng điểm gần giới hạn định lượng cho phép không vượt quá 20%,
15
Trang 23Độ chính xác được biểu thị là khả năng tiến tới gần nồng độ thực nhất của chất
phân tích trong mẫu sinh học Điều đó có thể được biểu thị bằng khả năng tìm lại
tương đối, và phải nằm trong khoảng 85-115%, nhưng có thể chấp nhận 80-120% đối với điểm gần giới hạn định lượng Độ đúng cũng cần xác định ít nhất ở 2 khoảng nồng
độ, thấp nhất và cao nhất
+Giới hạn định lượng: Giới hạn định lượng, hay còn gọi là độ nhạy, là nồng độ
thấp nhất của đường chuẩn có thể xác định được với độ đúng và độ chính xác cho
phép Giới hạn định lượng ít nhất phải thoả mãn khả năng phân tích nồng độ của mẫu thử lấy ở thời điểm bằng 3-5 lần thời gian bán thải hoặc bằng 1/10 đến 1/20 giá trị Cmax của norfloxacin
+ Độ ổn định của mẫu thử Độ ổn định của mẫu sinh học có chứa norfloxacin cần được khảo sát khi bảo quản ở nhiệt độ phòng, đông lạnh trong khoảng thời gian khác nhau để xác định điều kiện bảo quản và thời gian bảo quản mẫu sau khi lấy Theo điều kiện hiện tại của phòng thí nghiệm, mẫu sinh học có chứa norfloxacin sẽ được đánh giá độ ổn định ở điều kiện bảo quản là - 20°C trong 30 ngày
- Thí nghiệm trên động vật: động vật dễ kiếm, thao tác được, an toàn cho kỹ thuật viên Có khả năng nuôi giữ, chăm sóc trong điều kiện thí nghiệm Thí nghiệm phải đảm bảo tình trạng sức khoẻ giữa 2 lần thử nghiệm tương tự nhau, có nghĩa là động vật vẫn khoẻ mạnh sau giai đoạn 1 và được tiếp tục sử dụng trong giai đoạn 2
3.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.2.1 Khảo sát phương pháp phân tích
Tự tạo các mẫu thử sinh học bằng cách cho một lượng chất chuẩn Norfloxacin vào
huyết tương trắng, sau đó tiến hành khảo sát các phương pháp tách norfloxacin
- Nghiên cứu xây dựng phương pháp định lượng norfloxacin bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao Xác định các điều kiện phân tích: cột phân tích, dung môi pha động, phát hiện, thời gian phân tích Dùng phương pháp phân tích sơ bộ để định lượng xác định nồng độ thuốc trong các mẫu Sơ bộ đánh giá hiệu xuất tách, thu hồi
- Các phương pháp chiết tách thông thường được áp dụng để khảo sát:
+ Loại tủa protein bằng methanol/ acetonitril va acid percloric Khảo sát tỷ lệ các chất tạo tủa Phương pháp này áp dụng cho mẫu thử là huyết tương + Chiết xuất lỏng — lỏng: khảo sát để lựa chọn một dung môi hữu cơ để tiến hành chiết norfloxacin từ huyết tương và nước tiểu
+ Chiết pha rắn (rắn ~ lỏng): đây là một kỹ thuật chiết tách có tu thế trong phân tích các mẫu thử có nồng độ thấp Lựa chọn loại cột thích hợp và dung môi rửa giải, dung môi loại tạp phù hợp để áp dụng vào qui trình chiết Kỹ thuật chiết pha rắn được áp dụng để khảo sát khả năng chiết norfloxacin trong huyét tương
và nước tiểu
Trang 24So sánh và lựa chọn phương pháp chiết có hiệu suất cao, phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm nhất để tiến hành đánh giá phương pháp
3.3.2.2 Đánh giá phương pháp
Đánh giá theo các chỉ tiêu Tiêu chuẩn được chấp nhận:
- Tính đặc hiệu: Bằng thực nghiệm, điều chỉnh và lựa chọn các điều kiện xử lý mẫu, định lượng sao cho pic của norfloxacin trên sắc đồ thu được phải nằm riêng rẽ, tách riêng với các pic tạp khác có trong mẫu huyết tương trắng Có nghĩa là, việc nhận diện norfioxacin không bị ảnh hưởng bởi các chất khác có trong mẫu thử Báo cáo kết quả
sẽ bao gồm cả sắc ký đồ của mẫu trắng (dịch sinh học), mẫu chất chuẩn pha trong dịch sinh học và mẫu thử thu được ở người tình nguyện sau khi dùng thuốc
- Đường chuẩn và khoảng tuyến tính: Chuẩn bị một dãy dung dịch chuẩn pha trong huyết tương trắng có các nồng độ từ thấp đến cao Đánh giá sự đáp ứng với nồng độ của norfloxacin bằng phương trình hồi quy, bằng phương pháp phân tích hổi quy (như phương pháp bình phương nhỏ nhất) Khoảng tuyến tính là khoảng nồng độ từ thấp nhất đến cao nhất trong một đường chuẩn
Đường chuẩn nên có ít nhất 5 nồng độ của chất chuẩn pha trong cùng một mẫu dịch sinh học Xác định độ tuyến tính trong khoảng nồng độ khảo sát
- Độ đúng và độ chính xác: Độ đúng và độ chính xác được xác định cùng lúc bằng
cách sử dụng 3 nồng độ của mẫu cần kiểm tra, 1 nồng độ gần với giới hạn nhỏ nhất
của phương pháp định lượng (LOQ); 1 nồng độ gần với điểm giới hạn trên của đường chuẩn và 1 nồng độ ở gần điểm giữa Mỗi nồng độ phải được xác định trên ít nhất 5
mẫu
Với độ chính xác, xác định bằng phương pháp “thêm”, tức là thêm chính xác một lượng chuẩn đã biết trước nồng độ vào một mẫu thử pha trong dịch sinh học (tổng lượng norfloxacin thêm vào và lượng có trong mẫu “thử' giả định phải nằm trong khoảng nồng độ khảo sát Tiến hành xử lý mẫu và định lượng các mẫu đã chuẩn bị theo qui trình phân tích đã chọn, tính kết quả Kết quả được biểu thị bằng khả năng tìm lại tương đối, và phải nằm trong khoảng 85-115%, nhưng có thể chấp nhận 80 - 120% đối với điểm gần giới hạn định lượng
Độ đúng (xác định độ lặp lại): biểu thị là độ lệch chuẩn tương đối (RSD) trong ngày và giữa các ngày, được xác định trên mẫu chuẩn đối chứng Nói chung, RSD không nên vượt quá 15%, riêng điểm gần giới hạn định lượng cho phép không vượt quá 20% Chuẩn bị ít nhất 3 mẫu thử có nồng độ khác nhau (cao nhất, trung bình và thấp nhất) Tiến hành xử lý mẫu và định lượng các mẫu đã chuẩn bị theo qui trình phân tích đã chọn, mỗi mẫu làm lặp lại ít nhất 5 lần, tính kết quả Làm như vậy trong 1 ngày và tiến hành tương tự trong ít nhất 5 ngày khác nhau Tính độ lặp lại của các kết quả định lượng
17
Trang 25- Giới hạn định lượng: Giới hạn định lượng là nồng độ thấp nhất của đường chuẩn có thể xác định được với độ đúng và độ chính xác cho phép Giới hạn định lượng ít nhất phải thoả mãn khả năng phân tích nồng độ của mẫu thử lấy ở thời điểm bằng 3-5 lần thời gian bán thải hoặc bằng 1/10 đến 1/20 giá trị Cmax của norfloxacin
- Độ ổn định của mẫu thử Độ ổn định của mẫu sinh học có chứa norfloxacin cần được khảo sát khi bảo quản đông lạnh trong khoảng thời gian khác nhau để xác định điều kiện bảo quản và thời gian bảo quản mẫu sau khi lấy Theo điều kiện hiện tại của phòng thí nghiệm, mẫu sinh học có chứa norfloxacin sẽ được đánh giá độ ổn định ở điều kiện bảo quản: - 20°C trong 30 ngày
3.3.2.3 - Khảo sát tính ổn định đáp ứng của chó nhà vói khả năng hấp thu:
Tiến hành như một thử nghiệm đánh giá TĐSH trên động vật thí nghiệm Thiết kế
chéo, mù đơn, 2 giai đoạn Sử dụng 1 mẫu thử nhưng cho uống lặp lại chính mẫu thử
đó trong giai đoạn 2 nhằm đánh giá tính ổn định hấp thu của giống chó nhà Lấy mẫu máu chó tại các thời điểm trước khi cho uống thuốc và 0,5; 1,0; 1,5; 2,0; 2,5; 3; 4; 6; 8; 12; 24 và 30 giờ sau khi uống thuốc Thời gian nghỉ giữa 2 giai đoạn là 1 tuần
Các mẫu máu được tách lấy huyết tương càng sớm càng tốt và bảo quản ở — 20°C cho đến khi phân tích Thời gian bảo quản chờ phân tích tuỳ thuộc vào kết quả nghiên cứu
độ ổn định đã khảo sát để đảm bảo mẫu thử được phân tích khi chưa bị ảnh hưởng Định lượng các mẫu huyết tương chó bằng phương pháp phân tích đã được thẩm định
Mỗi mẫu thử có thể phân tích 1 lần hoặc lặp lại khi cần kiểm tra Mẫu của mỗi cá thể
(chó), được bố trí định lượng đồng thời trong một lần phân tích, thiết lập một đường chuẩn mới để phân tích song song trong cùng điều kiện
Phân tích các thông số dược động học để so sánh với kết quả nghiên cứu trên người (từ một nghiên cứu khác) nhằm đưa ra nhận xét và dé xuất khả năng áp dụng
3.3.3 Các công cụ nghiên cứu cụ thể
Mẫu thử dùng trong nghiên cứu
- Chuẩn Norfloxacin có số kiểm soát 010203
- Mẫu thử: Noroxin (viên nén norfloxacin 400mg), Số lô.: HW 02720, NSX: 03/2004, HD: 03/2007; Số đăng ký: VN — 6651-02
Huyết tương dùng trong nghiên cứu:
- Dùng huyết tương trắng của người: huyết tương mua của Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương Chọn các lô huyết tương không có nhiều pic lạ rải rác trong khoảng thời gian 4 — 10 phút
Trang 26- Huyết tương của chó trước khi cho uống thuốc (huyết tương trắng)
- Huyết tương của người sau khi cho uống viên Noroxin 400mg
- Huyết tương của chó sau khi cho uống viên Noroxin 400mg
Dụng cụ hoá chất dùng trong nghiên cứu phương pháp chiết xuất và định lượng
- Thiết bị phân tích: Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao Merck - Hitachi, detector diod — aray
- Dung môi, hoá chất:
+ Methanol, acetonitril loại dùng cho sắc ký;
+ Acid tricloroacetic, acid formic, acid percloric , acid phosphoric
+ Kali dihydro phosphat
Tất cả các loại dung môi, hoá chất đều đạt loại tinh khiết phân tích
- Cột chiết pha rắn các loại
+ Cét LiChrolut EN (C18 polymeric Sorbent2, 200mg/ 3ml)
+ Cột Strata (C18, 200mg/ 3ml)
+ Cột LiChrolut TSC (Mixed mode, 300mg/ 3m))
Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu ứng dụng phương pháp
- Động vật thí nghiệm: giống chó nhà, màu vàng hoặc đen, chân ngắn, mõm trung bình, khỏe mạnh, cân nặng khoảng 10 + 2kg, cả 2 giống
- Chuồng nhốt, bàn cố định chó;
- Các dụng cụ tiểu phẫu, kim và bơm tiêm dùng trong lấy mẫu máu
- Máy ly tâm để tách huyết tương
- Td bao quan mau 3 — 20°C
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý thống kê theo qui định:
- Gia trị trung bình, độ lệch chuẩn (SD), độ lệch chuẩn tương đối (RSD), khoảng tin cậy, phương trình hồi qui, hệ số tương quan hồi qui xác định bằng chương trình phần mềm Excel 2000
- _ Các thông số dược động học: Cmax, Tmax lay trực tiếp từ số liệu thực nghiệm, sau đó tính giá trị trung bình cho mỗi “mẫu thuốc"; đường cong dược động học (AUC) tính theo phương pháp hình thang, dựa trên nồng độ thuốc đo được theo thời gian theo hướng dẫn tính thống kê trong dược học [27]
19
Trang 27Thống kê đánh giá TĐSH: dùng phương pháp hai test t một phía (two one - side tests) để so sánh thông số InAUC, LnCmax của mẫu thử giả định với độ tỉnh cậy 90% (P= 0,10) Phương pháp cho phép so sánh tỷ số 2 giá trị trung bình, từ
đó tính được giới hạn trên và dưới của khoảng tin cậy Chỉ tiêu đánh giá tương
tự như trong đánh giá TĐSH qui định trong dược điển Mỹ Hai mẫu thử được coi
là tương đương sinh học khi tỷ số các giá trị trung bình của Cmax và AUC (đã chuyển đổi logarit) nằm trong khoảng 0,8 — 1,25
Trang 284 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Xây dựng phương pháp phân tích
4.1.1 Khảo sát và xây dựng phương pháp định lượng
4.1.1.1 Phân tích norfloxacin trong huyết tương
- Mẫu chuẩn
Dung dich chuan géc: Héa tan norfloxacin WS trong methanol để thu được dung dịch có
nồng độ chính xác khoảng 160 ug norfloxacin/ mi
Mẫu chuẩn: Lấy một thể tích xác định dung dịch chuẩn gốc, bốc hơi dung môi thu
được cắn (nhiệt độ 50°C, dưới luồng khí N;) Hòa tan cắn trong huyết tương trắng bằng cách vortex 2500 vòng/ phút x 10 phút Dịch thu được là mẫu chuẩn có nồng độ xác định
- Mẫu trắng : Huyết tương trắng không có chứa norfloxacin
- Mẫu thử : Huyết tương người tình nguyện sau khi uống norfloxacin
- Xử lý mẫu
Khảo sát trên ba kỹ thuật xử lý mẫu trong các phương pháp phân tích dịch sinh học: + Tia protein: bang acid, dung môi hữu cơ hoặc muối vô cơ)
+ Chiết lỗng — lỏng: dung môi hữu cơ thích hợp
+ Chiết pha rắn: khảo sát trên 3 loại cột (pha tĩnh)
Trong ba kỹ thuật, tủa protein là phương pháp đơn giản nhất, thời gian chiết nhanh hơn nên được chọn để xử lý mẫu trong giai đoạn thăm dò phương pháp phân tích
- Tiến hành: Lấy 1,0 ml mẫu chuẩn/ mẫu thử hoặc mẫu trắng (huyết tương) Thêm 0,5 ml acid perchloric (1/5), vortex 30 giây, ly tâm 15.000 vòng/phút x 10 phút Lấy dịch nổi, lọc qua giấy lọc 0,45um Dùng dung dịch này để chạy sắc ký
- Xác định điều kiện sắc ký
Tiến hành sắc ký trên hệ thống sắc ký HPLC Merck — Hitachi (D-7000 Interface, L-
7100 pump, L-7455 Detector Diode Array) với các điều kiện sắc ký khác nhau:
+ Cột phân tích: Khảo sát trên ba loại cột pha đảo C18 hoặc C8 của các hãng khác nhau: Merck (LiChrospher 250 x 4,6mm, 5um), Inertsil (ODS 2 150 x 4,6mm; Sụm) và Alltech (Altima 250 x 4,6mm)
+ Nhiệt độ cột: thay đổi từ nhiệt độ phòng đến 50°C
+ Pha động: khảo sát trên các pha động là dung dịch đệm acetat, đệm phosphat có thành phần, tỷ lệ và pH khác nhau
+ Thể tích tiêm mẫu: từ 20 - 100uI
Bằng thực nghiệm, lựa chọn để thu được điều kiện sắc ký đáp ứng yêu cầu của phép phân tích Điều kiện sắc ký đã chọn lựa được như sau:
+ Cột : Altima C18, 5uum, 250 x 4mm Nhiệt độ cột : 40°C
21
Trang 29+ Pha động : MeCN - MeOH - Đệm phosphat pH 3.0 - Acid tricloracetic 0,5%, tỉ
lệ 5: 18: 72: 5 (WANN)
+ Tốc độ dòng: 1,25 ml/phút
+ Detector : 6 278nm
+ Thể tích tiêm mẫu : 100uI
Sắc ký đồ của mẫu chuẩn và huyết tương trắng được trình bày ở hình 1 và 2
Ñfouen - Vụ | lạ | Biuk - ạt trơn
(Come Daa Pat: CAWINSZAPPHSM RewarhiDATA COME (01
Daa Dec DAD Extracted Bes
Vial Number: fay Neder: Sale Name: Blank
Hình 1: Sắc ký đồ huyết tương trắng Hình 2: Sắc ký đồ mẫu chuẩn (nồng
độ ~ 1ug/ml)
Khi tăng tỈ lệ MeOH trong pha động, thời gian lưu (t„) của norfloxacin giảm và không tách khỏi các pic tạp có trong mẫu trắng Khi tăng tỉ lệ MeCN trong pha động, pic norfloxacin bị doãng và mức độ đáp ứng giảm Phối hợp T.E.A và T.B.A.H với tỉ lệ thích hợp trong pha động (có trong thành phần của đệm phosphat pH 3,0) làm cho pic norfloxacin cân đối (W¿„ = 0,1527 phút, Asym = 1,0216, N > 8500); Với sự có mặt của acid tricloracetic, mức độ đáp ứng của pic norfloxacin tăng lên
22
Trang 30Norfloxacin là một dược chất khi vào cơ thể được chuyển hoá khá nhiều, có tới 6 chất
chuyển hoá vì vậy để kiểm tra xem điều kiện sắc ký đã được lựa chọn có khả năng
phan tach norfloxacin khdi cac chat chuyển hoá hay không Chúng tôi tiến hành khai triển sắc ký với mẫu thử là huyết tương NTN có sử dụng norfloxacin Kết quả cho thấy, với điều kiện sắc ký mà chúng tôi lựa chọn phù hợp với cả loại mẫu huyết tương lấy từ người tình nguyện sau khi uống viên nén Noroxin (hình 3) Pic của norfloxacin tách
riêng khỏi các pic tạp khác có trong mẫu thử
Trang 31Do vậy, điều kiện sắc ký này được sử dụng để tiếp tục khảo sát phương pháp định lượng norfloxacin trong nước tiểu, trong khảo sát phương pháp chiết tách xử lý mẫu
cũng như trong thẩm định phương pháp phân tích
4.1.1.2 Phân tích norfloxacin trong nước tiểu
Mẫu chuẩn: Lấy một thể tích xác định dung dịch chuẩn gốc, bốc hơi dung môi thu lấy cắn (nhiệt độ 50°C, khí N;) Hòa tan cắn trong nước tiểu trắng (vortex 2500 vòng/ phút
x 10 phút) để được dung dịch chuẩn có nồng độ xác định
Mẫu trắng: Nước tiểu của người tình nguyện khoẻ mạnh bình thường, không sử dụng
thuốc Norfloxacin
Mẫu thử : Mẫu nước tiểu của người sau khi uống norfloxacin, lấy trong vòng 24 giờ
Xử lý mẫu nước tiểu để tiêm vào hệ thống sắc ký theo ba phương pháp: pha
- loãng, chiết lỏng — lỏng và chiết SPE
+ Pha loãng: 1 ml nước tiểu + 9 mi pha động Lọc qua màng lọc có kích thước
lỗ lọc 0,45m Dùng dịch lọc để chạy sắc ký
+ Chiết lổng — lỏng: 1 ml nước tiểu, điều chỉnh đến pH phù hợp với điều kiện chiết Chiết với dung môi hữu cơ (xem phần 4.1.2.2) Bốc hơi dung môi thu cắn (50°C, thổi khí nitơ) Hoà tan cắn trong 1 ml pha động Lọc qua màng lọc có kích thước lỗ lọc
0,45um Dùng dịch lọc để chạy sắc ký
+ Chiết SPE: Chuyển 1ml nước tiểu lên cột chiết SPE phù hợp đã được hoạt hoá Rửa giải norfloxacin lưu giữ trên cột SPE bằng hệ dung môi thích hợp (xem phần 4.1.2.3) Bốc hơi dung môi thu cắn (40°C, thổi khí nitơ) Hoà tan cắn trong 1 ml pha động Lọc qua màng lọc có kích thước lỗ lọc 0,45um Dùng dịch lọc để chạy sắc ký Điều kiện sắc ký : Áp dụng điều kiện sắc ký đã thăm dò ở trên để đánh giá khả năng định lượng norfloxacin trong nước tiểu (có điều chỉnh để phù hợp với loại mẫu) Khai triển sắc ký các mẫu nước tiểu trắng, chuẩn và thử đã được xử lý theo ba phương pháp pha loãng, chiết lỏng — lỏng, chiết SPE, kết quả thu được như sau:
+ Với mẫu nước tiểu xử lý bằng phương pháp pha loãng, khi khai triển sắc ký
không tách được norfloxacin khỏi các thành phần tạp có trong mẫu (hình 4 và 5), thời gian lưu của norfloxacin khoảng 7 phút Vì vậy không thể sử dụng điều kiện sắc ký đã nêu ở trên để xác định nồng độ norfloxacin có trong nước tiểu khi chỉ sử lý mẫu bằng phương pháp pha loãng
+ Với các mẫu nước tiểu được xử lý bằng phương pháp chiết lỏng — lỏng và chiết SPE, khi triển khai sắc ký với điều kiện mô tả ở trên, sắc ký đồ thu được sạch và
ít tạp hơn so với mẫu xử lý bằng phương pháp pha loãng Thời gian lưu của pic
24
Trang 32norfloxacin khoảng 5 — 6 phút và norfioxacin được tách khỏi các thành phần tạp có trong mẫu (hình 6,7,8 và 9) Vì vậy có thể sử dụng điều kiện sắc ký như đã nêu trên
để xác định nồng độ Norfloxacin có trong mẫu nước tiểu khi xử lý mẫu bằng phương pháp chiết lỏng — lỏng hoặc chiết SPE phù hợp
Hình 4: Sắc ký đồ mẫu nước tiểu trắng Hình 5: Sắc ký đồ mẫu norfloxacin chuẩn
phương pháp pha loãng
Hình 6: Sắc ký đồ mẫu nước tiểu trắng xử_ Hịnh 7: Sắc ký đồ mau norfloxacin chuẩn
lý bằng phương pháp chiết lỗng-lỗng trong nước tiểu trắng, xử lý mẫu bằng
phương pháp chiết lỏng-lỗng
25
Trang 33ecencion Time (mis)
Hình 8: Sắc ký đồ mẫu nước tiểu trắng xử lý Hình 9: Sắc ký đồ mẫu norfloxacin chuẩn
bằng phương pháp chiết SPE trong nước tiểu trắng, xử lý mẫu bằng
phương pháp chiết SPE
Kết quả khảo sát cho thấy với điều kiện sắc ký mà chúng tôi đã thực nghiệm cho phép tiến hành định lượng Norfloxacin có trong huyết tương và Norfloxacin trong nước tiểu khi xử lý mẫu theo phương pháp chiết lỏng — lỏng hoặc chiết SPE
Kết luân: _Từ những kết quả khảo sát trên thực nghiệm, chúng tôi quyết định chọn các phương pháp khảo sát như sau:
-_ Khảo sát xử lý mẫu bằng 3 kỹ thuật:
+ Kết tủa protein (áp dụng cho mẫu huyết tương)
+ Chiết lỏng - lỏng: khảo sát với cả 2 loại mẫu: huyết tương và
nước tiểu + Chiết pha rắn: khảo sát với cả 2 loại mẫu huyết tương và nước
tiểu
- _ Điều kiện sắc ký dùng để định lượng:
+ Cột : Altima C18, 5um, 250 x 4mm Nhiệt độ cột : 40°C
+ Pha déng: MeCN - MeOH - Đệm phosphat pH 3.0 - Acid tricloracetic 0,5%, tỉ lệ 5 : 18 : 72 : 5 (v/v/v/V)
+ Tốc độ dòng: 1,25 ml/phút
+ Defector : ở 278nm
+ Thể tích tiêm mẫu : 100
26
Trang 344.1.2 Khảo sát phương pháp chiết xuất
4.1.2.1 Phương pháp tạo tủa protein
Mẫu chuẩn: Lấy một thể tích xác định dung dịch chuẩn gốc, pha loãng trong pha động
để có mẫu chuẩn có nồng độ xác định Mẫu chuẩn này được dùng trong định lượng và khảo sát chọn cột và chọn dung môi
Mẫu trắng: Huyết tương của người tình nguyện khoẻ mạnh bình thường, không sử dụng thuốc Norfloxacin
Mẫu thử tự tạo: Lấy một thể tích xác định dung dịch chuẩn gốc, bốc hơi dung môi thu
lấy cắn (nhiệt độ 50°C, khí N;) Hòa tan cắn trong huyết tương trắng (vortex 2500 vòng/ phút x 10 phút) để có mẫu thử tự tạo có nồng độ đã biết tương tự nồng độ của dung dịch chuẩn Những mẫu này được dùng trong đánh giá hiệu suất chiết
Qui trình xử lý mẫu huyết tương
Tủa protein theo ba kỹ thuật:
+ Tủa bằng acid: Khảo sát với 2 loại acid: acid tricloacetic, acid percloric với các
tỷ lệ khác nhau
+ Tủa bằng dung môi hữu cơ: Khảo sát với 2 loại dung môi: methanol, acetonitril với các tỷ lệ khác nhau
+ Tủa bằng muối: amoni sulphat khan
Gui trình xử lý mẫu nói chung được tiến hành như sau: Lấy 1ml mẫu huyết tương Thêm tác nhân gây tủa Lắc, trộn đều bằng cách vortex trong 5 phút Ly tâm ở tốc độ cao (15000 vòng/ phút) trong 10 phút Thu dịch nổi, lọc qua giấy lọc 0,45um Dịch lọc dùng để chạy sắc ký Riêng mẫu chiết với dung môi hữu cơ, loại dung môi hữu cơ trong dịch nổi sau khi ly tâm bằng cách để trên cách thuỷ ở 50°C, dưới luồng khí nitơ trong 30 phút
Qui trình chiết được tóm tắt qua sơ đồ 1
Triển khai sắc ký, theo điều kiện đã được lựa chọn Đánh giá các qui trình xử lý mẫu dựa trên các sắc ký đồ (hình dạng pic và khả năng tách norfioxacin khỏi các tạp có trong mẫu)
và khả năng áp dụng của các kỹ thuật, chúng tôi thu được kết quả như sau:
+ Với kỹ thuật tủa protein bằng acid: Chỉ cần một thể tích nhỏ (tỷ lệ 4:1) dung dịch acid cũng có thể tủa được protein có trong mẫu thử, dịch lọc thu được trong Khi tiêm dịch lọc vào cột sắc ký, áp suất của cột ít bị thay đổi (< 20 bar) Trên sắc ký đồ thu được cho thấy, norrfloxacin tách được khỏi các thành phần tạp (hình 10, 11)
27
Trang 35Mẫu thử
(1 ml)
Acid percloric 1/10 Methanol/ Acetonitril Amoni sulphat
Lọc dịch nổi Lọc dịch nổi Lọc dịch nổi
|
Loại dung môi
|
Sơ đồ 1: Các bước xử lý mẫu bằng phương pháp tao tủa
Khảo sát tủa protein bằng một số loại acid với thành phần và tỷ lệ khác nhau kết quả cho thấy:
- _ Sắc đồ của mẫu xử lý bằng acid trifloacetic có đường nền thường bị âm; -_ Sắc đồ của mẫu xử lý bằng acid tricloacetic có thời gian lưu của norfloxacin thay đổi theo hướng làm giảm khả năng phân tach cia norfloxacin
Do đó chúng tôi lựa chọn acid percloric làm tác nhân gây tủa trong sử lý mẫu
Khảo sát tỷ lệ acid dùng để xử lý mẫu thử , kết quả cho thấy với 1ml huyết tương (mẫu
chuẩn, thử hoặc trắng), dùng 0,25 mi acid percloric 1/10 (v/w) là đáp ứng yêu cầu đủ để
tạo tủa Hơn nữa, với tỷ lệ này dịch lọc thu được với số lượng đủ lớn để tiêm sắc ký Khi tiêm áp suất của cột ổn định, trên sắc đồ norfloxacin tách khỏi các thành phần tạp có trong mẫu