1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC: VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA M.PORTER PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM (TÌNH HUỐNG 3)

30 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng Mô hình Điều tiết Cạnh tranh của M.Porter Phân tích Và Đánh Giá Cường Độ Cạnh Tranh Ngành Tân Dược Việt Nam (Tình Huống 3)
Tác giả Nhóm 1
Người hướng dẫn GV Vũ Tuấn Dương
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Quản trị chiến lược
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 645,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Với lòng cảm ơn vô cùng sâu sắc, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại Học Thương Mại đã dùng tri thức, sự tâm huyết của mình để có thể truyền cho chúng em những tri thức bổ ích trong suốt thời gian qua. Cảm ơn thầy cô cũng như anh chị và các bạn trong trường đã cùng nhau tạo nên một môi trường học tập hiệu quả, năng động giúp chúng em không chỉ phát triển về tri thức, kĩ năng và trưởng thành hơn. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Vũ Tuấn Dương đã quan tâm, hướng dẫn chúng em trong từng buổi học, từng buổi nói chuyện và trao đổi về đề tài trên. Nhờ có những buổi học của thầy đã giúp chúng em có cơ hội, động lực, niềm yêu thích và tích lũy được nhiều kiến thức cơ bản từ đó áp dụng vào thực thế, cũng nhờ đó mà chúng em có thể hoàn thành bài thảo luận một cách tốt nhất. Một lần nữa chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy. Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Song không thể tránh khỏi những mặt thiếu sót, hạn chế do vậy chúng em rất mong nhận được những lời góp ý, nhận xét từ thầy cô và các bạn để bài thảo luận được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn.  LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay, Việt Nam được xem là một trong những điểm đến hấp dẫn, thu hút các tập đoàn dược phẩm đa quốc gia thành lập sơ cở sản xuất và xuất khẩu sang các quốc gia khác. Bởi thị trường dược Việt Nam đã và đang có tiềm năng phát triển nhanh nhờ vào nhiều yếu tố khác nhau. Có thể điểm đến một số yếu tố như: tốc độ già hoá dân số nhanh, tốc độ phát triển kinh tế tích cực và ý thức về vấn đề sức khoẻ của người dân cao. Do đó, các sản phẩm chăm sóc sức khoẻ ngày một phổ biến và được quan tâm nhiều hơn; tạo điều kiện cho ngành dược phát triển mạnh mẽ. Ngành Tân dược được du nhập vào nước ta cùng với nền y học hiện đại; là ngành bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tiếp thị các loại thuốc. Tuy nhiên ngành dược trong nước chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu thị trường. Chính vì vậy, sự cạnh tranh trong thị trường ngày một được đẩy mạnh và phức tạp. Vậy để tồn tại và phát triển trên thị trường này, doanh nghiệp cần đưa ra những chiến lược tốt nhất và hiệu quả nhất. Để làm rõ điều này, ta có thể vận dụng mô hình điều tiết các lực lượng cạnh tranh của M.Porter nhằm phân tích và đánh giá các cường độ cạnh tranh của ngành Tân dược Việt Nam. Đây được xem là phương pháp kinh điển được nhiều doanh nghiệp sử dụng và cho đến nay vẫn phát huy được hiệu quả của mình. Thông qua các kiến thức trong học phần Quản trị chiến lược, nhóm lựa chọn đề tài: “ Vận dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam.”,với mục tiêu làm rõ vấn đề lý luận và đánh giá mức cạnh tranh trên thị trường dược Việt Nam hiện nay.   CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1. Khái niệm ngành tân dược Ngành tân dược (hay ngành công nghiệp dược) là ngành bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tiếp thị các loại thuốc hoặc loại sản phẩm được cấp phép để sử dụng như thuốc để phòng trị bệnh cho người. Đây là ngành sản xuất, phân phối các loại thuốc được sản xuất từ hóa chất, một số loại vi nấm, hợp chất từ cây cỏ bào chế dưới dạng tinh khiết. 1.2. Mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter là mộ mô hình xác định và phân tích năm lực lượng cạnh tranh trong mọi ngành công nghiệp và giúp xác định điểm yếu và điểm mạnh của ngành (Theo Investopedia) Thường được sử dụng để xác định cấu trúc của một ngành để xác định chiến lược của công ty và có thể được áp dụng cho bất kì phân khúc nào của nền kinh tế để tìm kiếm lợi nhuận và tính hấp dẫn. Mô hình của Porter là một công cụ hữu ich để phân tích cường độ cạnh tranh và các yếu tố kinh tế cơ bản trong một ngành. Mô hình này được xây dựng dựa trên già thiết là có 5 lực lượng môi trường ngành sẽ xác định mức độ cạnh tranh và tính hấp dẫn của một ngànhlĩnh vực; mô hình sẽ giúp chúng ta đánh giá năng lực cạnh tranh; vị trí cạnh tranh hiện tại của tổ chức và vị trí mà tổ chức mong muốn đạy tới trong tương lai. Michael Porter nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết đế phân tích về năng lực cạnh tranh cho các doang nghiệp.Theo M.Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ đều chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau: (1) Đe đọa gia nhập mới từ đối thủ cạnh tranh tiềm năng Đối thủ cạnh tranh tiềm năng là những cá nhân, công ty, doanh nghiệp chưa cạnh tranh trong cùng ngành nhưng có khả năng sẽ gia nhập ngành khi có cơ hội. Đây cũng là một trong những mối đe dọa lớn đối với các doanh nghiệp. Nếu một ngành có lợi nhuận cao và không có rào cản tham gia, sự cạnh tranh sẽ sớm gia tăng khi các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhận thấy lợi nhuận từ ngành đó. “Mối đe dọa” từ đối thủ cạnh tranh tiềm năng sẽ tăng cao khi: • Lượng vốn phải bỏ ra để tham gia vào thị trường thấp • Các công ty hiện tại không có bằng sáng chế, nhãn hiệu hoặc không tạo được uy tín thương hiệu • Không có quy định của chính phủ • Chi phí chuyển đổi khách hàng thấp (không tốn nhiều tiền cho một công ty chuyển sang các ngành khác) • Lòng trung thành của khách hàng thấp • Sản phẩm gần giống nhau Để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn này, các doanh nghiệp trong ngành hiện tại thường có các rào cản cản trở sự gia nhập ngành như: • Tính kinh tế của quy mô • Chuyên biệt hoá sản phẩm • Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu • Chi phí • Gia nhập vào các hệ thống phân phối • Chính sách của chính phủ... (2) Đe đọa từ các sản phẩm và địch vụ thay thể: Sản phẩm thay thế là hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế các loại hàng hóa, dịch vụ khác có sự tương đồng về giá trị lợi ích, công dụng. Đặc biệt, những sản phẩm thay thế thường có tính năng, công dụng đa dạng, chất lượng tốt hơn mà giá cả lại cạnh tranh bởi lẽ sản phẩm thay thế là kết quả của những cải tiến về công nghệ. Vì vậy mà sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế sẽ làm giảm số lượng sản phẩm tiêu thụ được, giá thành từ đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, thậm chí nguy hiểm hơn nó có thể xóa bỏ hoàn toàn các hàng hóa, dịch vụ hiện tại. Các nguy cơ thay thế: • Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm • Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng • Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế. Dự đoán đe dọa từ các sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế: • Nghiên cứu chức năng sử dụng của mỗi sản phẩm hoặc dịch vụ ở mức độ rộng nhất có thể • Kiểm soát sự ra đời của công nghệ mới (3) Sự cạnh tranh trong ngành Đối thủ cạnh tranh hiện tại là những cá nhân, công ty doanh nghiệp cùng sản xuất một chủng loại sản phẩm, đang phục vụ cùng một phân khúc khách hàng mục tiêu và cùng thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng. Lực lượng này là yếu tố chính quyết định mức độ cạnh tranh và lợi nhuận của một ngành. Khi nhu cầu của thị trường tăng cao, các công ty phải cạnh tranh mạnh mẽ để giành thị phần, mở rộng thị trường dẫn đến lợi nhuận thấp. Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tại trong ngành thể hiện ở: • Các rào cản rút lui khỏi ngành • Mức độ tập trung của ngành • Mức độ tăng trưởng của ngành • Tỉnh trạng dư thừa công suất • Đặc điểm của sản phẩmdịch vụ • Các chi phí chuyển đổi • Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh • Tỉnh trạng sàng lọc trong ngành. (4) Quyền thương lượng của khách hàng Khách hàng được đề cập ở đây là người tiêu dùng cuối cùng, nhà phân phối hoặc nhà mua công nghiệp. Chúng ta vẫn thường nghe rằng “khách hàng là thượng đế”. Đúng vậy, mỗi một công ty doanh nghiệp muốn thành công họ luôn phải cố gắng để phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Khách hàng tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sản phẩm với giá thấp hơn hoặc sản phẩm chất lượng và dịch vụ tốt hơn… Khách hàng có khả năng “mặc cả” cao khi: • Khách hàng mua với số lượng lớn • Chỉ tồn tại vài người mua • Chi phí chuyển đổi sang nhà cung cấp khác thấp • Người mua nhạy cảm về giá • Có nhiều sản phẩm, công ty thay thế khác (5) Quyền thương lượng của nhà cung ứng Nhà cung ứng là các tổ chức hoặc cá nhân tham gia cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường. Nhà cung ứng có thể gây áp lực cho các công ty, doanh nghiệp thông qua việc: tăng giá sản phẩm dịch vụ, giảm chất lượng hàng hóa cung cấp, giao hàng không đúng thời gian và địa điểm quy định… Những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả cũng như chất lượng sản phẩm đầu ra đồng thời tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhà cung cấp có khả năng “áp đảo” các doanh nghiệp, công ty khi: • Có ít nhà cung cấp nhưng có nhiều người mua • Các nhà cung cấp lớn và đang thực thi “chiến lược hội nhập về phía trước” • Không có (ít) nguyên liệu thay thế • Các nhà cung cấp nắm giữ nguồn lực khan hiếm • Chi phí chuyển đổi nguyên liệu rất cao (6) Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác Ngoài các lực lượng nêu trên ta có thế nghiên cứu thêm một số bên liên quan khác trong môi trường ngành ( chính phủ, cổ đông...). Các lực lượng này biến đối rất nhiều trong các ngành khác nhau. Nhóm ảnh hưởng Các tiêu chuẩn tương ứng Cổ đông Gía cổ phiếu Lợi tức cổ phần Công đoàn Tiền lương thực tế Cơ hội thăng tiến Điều kiện làm việc Chính phủ Hỗ trợ các chương trình của Chính Phủ Củng cố các Quy định và luật Các tổ chức tín dụng Độ tin cậy Trung thành với các điều khoản giao ước Các hiệp hội thương mại Tham gia vào các chương trình của Hội Dân chúng Việc làm cho dân địa phương Đóng góp vào sự phát triển của xã hội Tối thiểu hóa các ảnh hưởng tiêu cực Các nhóm quan tâm đặc biệt Việc làm cho các nhóm thiểu số Đóng góp cải thiện thành thị CHƯƠNG II: VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA M.PORTER PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM 2.1. Tình hình sự phát triển ngành tân dược Việt Nam hiện nay Ngành tân dược tại nước ta phát triển khá mạnh và ổn định. Theo thống kê của BMI Research, năm 2018, quy mô thị trường ngành dược Việt Nam đạt giá trị 5,9 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2017, Việt Nam trở thành thị trường dược phẩm lớn thứ hai tại Đông Nam Á, là một trong 17 nước xếp vào nhóm có mức tăng trưởng ngành dược cao nhất. Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, tình hình sản xuất xuất vẫn còn hạn chế, chỉ đáp ứng được khoảng 52,5% nhu cầu, số còn lại phải thông qua nhập khẩu. Năm 2018, chi nhập khẩu dược phẩm của Việt Nam đạt 2.791 tỷ USD (tính đến 15092019, kim ngạch nhập khẩu thuốc của Việt Nam là 2.144 tỷ USD, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương con số tăng thêm khoảng 200 triệu USD). Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Dược, tính đến ngày 16052019, Việt Nam có khoảng 180 doanh nghiệp trong nước sản xuất dược phẩm và 224 cơ sở sản xuất nhà máy trong nước đạt tiêu chuẩn GMP (thực hành tốt sản xuất thuốc). Các công ty trong nước chủ yếu sản xuất dạng bào chế đơn giản, thực phẩm chức năng và các loại thuốc generic. Đi đầu phải kể đến 13 công ty dược phẩm đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đó là Dược Hậu Giang, Imexpharm, Domesco, Dược Cửu Long, Pharmedic, S.P.M (chuyên về tân dược), Traphaco, Dược OPC và Dược Phong Phú (Đông dược), cùng với 4 doanh nghiệp chuyên phân phối là Vimedimex, Ladophar, Dược Hà Tây và Dược Bến Tre. Bên cạnh khối nội, nhóm doanh nghiệp vốn nước ngoài cũng đã và đang mang lại làn gió mới cho ngành sản xuất dược trong nước. Tiêu biểu như Sanofi Aventis hay United Pharma, đều là những công ty đã đầu tư nhà máy sản xuất thuốc hiện đại tại Việt Nam. Chính tiềm năng phát triển cùng tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong những năm gần đây của ngành dược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà sản xuất cả trong lẫn ngoài nước. Việt Nam hiện được xếp vào nhóm những nước có ngành dược mới nổi (Pharmerging theo phân loại của tổ chức IQVIA Institute). Dân số đang bước vào giai đoạn “già hóa” (World Bank cảnh báo, Việt Nam đang trải qua giai đoạn tốc độ già hóa dân số nhanh nhất từ trước tới nay, tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên là 6,5% vào năm 2017, dự kiến sẽ đạt 21% vào năm 2050), đồng nghĩa với nhu cầu chăm sóc sức khỏe đang tăng lên.Cùng với thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là hơn 3.000 USDngườinăm (theo cách tính mới). Và mức độ sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế có xu hướng tăng lên do thu nhập bình quân đầu người và trình độ dân trí được cải thiện, trong khi môi trường sống ngày càng có nguy cơ ô nhiễm cao làm gia tăng ngày càng nhiều loại bệnh tật… thì đây là yếu tố chính dẫn đến sự phát triển tất yếu của ngành dược. Biểu đồ: Tăng trưởng tổng giá trị tiêu thụ thuốc và chi tiêu bình quân đầu người cho dược phẩm Từ biều đồ, có thể thấy chi tiêu bình quân đầu người cho ngành dược phẩm có dấu hiện tăng dần qua từng năm. Năm 2018 tăng 11,4% so với năm 2017, năm 2019 tăng 11,5% so với năm 2018, hay 2020 tăng 11,5% so với năm 2019. Năm 2021, Bình quân mỗi người dân chi 97 cho tiền thuốc ( bằng 13 mức trung bình của thế giới) và con số dự kiến tăng lên đến 248 người vào năm 2028. Doanh thu ngành dược phẩm Việt Nam tăng liên tục hàng năm. Do có sự ảnh hưởng của dịch Covid19 dẫn đến những nhu cầu cấp thiết về dược nên nhìn chung ngành tân dược nhưng năm 2020 vẫn có sự tăng trưởng, tổng doanh thu mảng dược phẩm Việt Nam cán mốc 6.4 tỷ USD, tăng trưởng dương 2% so với năm 2019. Năm 2021, doanh thu ngành tân dược Việt Nam vẫn tiếp tục có dấu hiệu tăng trưởng tích cực. Theo thống kê của Cục Quản lý Dược Việt Nam, ngành dược sẽ tăng trưởng tiếp tục hai con số trong vòng 5 năm tới và đạt 7,7 tỷ USD vào 2021 và đạt 16,1 tỷ USD năm 2026 (theo IBM), với tỷ lệ tăng trưởng kép lên tới 11% tính theo đồng Việt Nam. Đây cũng là kết luận được rút ra từ cuộc khảo sát các doanh nghiệp và chuyên gia trong ngành dược gần đây của CTCP Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report). Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành tân dược có nhiều khởi sắc trong những năm qua, các doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn về nguồn nguyên liệu, sự phụ thuộc này khá cao, nhất là đối với thị trường nguyên liệu từ Trung Quốc. Việt Nam nhập khẩu 351 triệu USD hoạt chất, chủ yếu từ Trung Quốc (220 triệu USD), Ấn Độ (60,5 triệu USD), Tây Ban Nha (10,4 triệu USD) và Đức (10,1 triệu USD). Đây là vấn đề của Việt Nam trong dài hạn bởi vì để sản xuất được dược liệu đòi hỏi phải đầu tư nhiều và cần có khả năng về công nghệ, nguồn nguyên liệu, những điều này ta đang lép vế hơn so với các nước khác, như Trung Quốc và Ấn Độ. 2.2. Phân tích cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam. 2.2.1. Đe dọa gia nhập thị trường mới Ngành tân dược Việt Nam đang phát triển khá mạnh và ổn định, và là thị trường màu mỡ mà nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước nhắm tới. Chỉ số tiêu dùng bình quân đối với ngành dược phẩm tăng đều hàng năm, hấp dẫn nhiều doanh nghiệp ngành khác tham gia vào thị trường ngành tân dược. Tuy nhiên, chi phí nghiên cứu và phát triển cho việc chế tạo một loại thuốc mới là rất đáng kể. Vì dược phẩm là ngành ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người nên phải trải qua quá trình kiểm tra nghiêm ngặt của chính phủ, các hàng mới được cung cấp sản phẩm ra ngoài. Ngày 19042007, Bộ Y Tế ban hành Quyết định số 272007QĐBYT về lộ trình triển khai nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất thuốc’’ (GMP). Theo quyết định này, kể từ ngày 172008, doanh nghiệp sản xuất không đạt tiêu chuẩn của GMP theo khuyến cáo của WHO thì sẽ phải ngừng sản xuất thuốc. Rào cản gia nhập ngành tân dược tại Việt Nam là rất lớn. • Theo tính kinh tế của quy mô Nguồn nguyên liệu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, vì vậy nguy cơ phải đối mặt là giá thành nguyên liệu cao hay rủi ro về tỷ giá. Giá nguyên liệu biến động, nguồn cung nguyên liệu không ổn định khiến cho các doanh nghiệp sản xuất gặp bất lợi về giá so với dược phẩm nhập khẩu. Nếu quy mô càng nhỏ thì ảnh hưởng của việc này sẽ càng lớn, tính kinh tế sẽ kém hiệu quả. • Khác biệt hóa sản phẩm Ngành tân dược cũng là ngành đòi hỏi sự chuyên biệt hóa sản phẩm rất cao. Trong ngành tân dược Việt Nam các doanh nghiệp đi trước như Domesco, Dược Hậu Giang, S.P.M, Traphaco,... các doanh nghiệp này đã có sự phát triển vững chắc và chiếm được lòng tin cũng như đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng tạo ra 1 tập khách hàng trung thành rất lớn. Người dân Việt Nam đã quen những thương hiệu này với các loại thuốc thông thường. Các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường đều phải tạo ra sản phẩm có đặc tính tốt, có điểm nổi bật hẳn so với các doanh nghiệp đi trước; nếu không đáp ứng được điều này doanh nghiệp có thể đứng trước nguy cơ bị “đá” ra khỏi ngành. • Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu và chi phí Để sản xuất dược liệu đòi hỏi có sự đầu tư về vật chất, đặc biệt là công nghệ. Hiện nay các doanh nghiệp đang có xu hướng đầu tư mở rộng nhà máy từ chuẩn WHO – GMP lên chuẩn EUGMP tuy nhiên cần ít nhất 3 năm để đầu tư và phát triển xây dựng được nhà máy sản xuất dược phẩm chất lượng cao. Như vậy bên cạnh điều kiện tiên quyết là đầu tư nguồn vốn lớn cho công nghệ hiện đại thì cũng mất rất nhiều thời gian khiến cho các doanh nghiệp e ngại. • Gia nhập vào các hệ thống phân phối Ở hầu hết các quốc gia, nhà sản xuất và nhà phân phối dược phẩm thường là các đơn vị độc lập nhằm tập trung hóa chuyên môn, nhưng tại Việt Nam, hệ thống phân phối ngành dược có cấu trúc khá phức tạp và sự tham gia của nhiều bên liên quan. Hệ thống phân phối thuốc ở Việt Nam hiện nay chủ yếu qua kênh ETC hoặc kênh OTC. Mà những doanh nghiệp nắm giữ thị phần phân phối ở các kênh này đều là những doanh nghiệp đầu ngành và có thương hiệu lâu đời như: Dược Hậu Giang, Traphaco,… Các doanh nghiệp mới muốn gia nhập vào thị trường phân phối chủ yếu sẽ muốn gia nhập vào kênh OTC vì đây là hệ thống dễ triển khai nhất. Tuy nhiên, theo thông tư 022018 kiểm soát việc lạm dụng thuốc kê đơn và thuốc không rõ nguồn gốc tại kênh OTC; theo đó mặc dù vẫn tăng trưởng cùng với thị trường chung. Tính đến nay, doanh thu cho kênh bệnh viện (ETC) chiếm hơn 60% năm 2020 và đang trong xu hướng tăng.   Biểu đồ Doanh thu theo kênh (tỷ USD) và tỷ trọng ETCOTC tại Việt Nam Nguồn: Fitch Solutions, VDSC. Những nhà thuốc tập trung vào kênh bệnh viện sẽ có lợi nhiều hơn là những là tập trung bán lẽ. Tuy đã có thông tư 112016TTBYT hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đấu thầu kênh ETC nhưng rất khó để có thể giúp các doanh nghiệp mới tiếp cận được với kênh ETC này. Đây là điều khá khó khăn khi các công ty mới gia nhập muốn thuyết phục những kênh phân phối sẵn sàng chấp nhận sản phẩm của mình bằng việc giảm giá, khuyến mại, quảng cáo,… • Chính sách của Chính Phủ Các chính sách của chính phủ vừa là hỗ trợ vừa là rào cản. Chính phủ luôn tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong ngành và thúc đẩy các doanh nghiệp muốn gia nhập ngành. Tuy nhiên chính phủ cũng rất quan tâm đến chất lượng sau cùng của sản phẩm. Theo quyết định số QDD 272007QĐ BYT về lộ trình khai thác nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất tốt “ (GMP). Theo quy định kể từ ngày 172008, doanh nghiệp sản xuất không đạt tiêu chuẩn của GMP theo khuyến cáo của WHO thì sẽ phải ngừng sản xuất. Điều này tạo ra rào cản không nhỏ cho các doanh nghiệp muốn gia nhập ngành. Như vậy, muốn gia nhập thị trường ngành tân dược Việt Nam thì các doanh nghiệp phải đối mặt với rào cản gia nhập khá lớn, việc này làm giảm nhẹ đi mức độ cạnh tranh của ngành tân dược Việt Nam. Các công ty sẽ cân nhắc khi quyết định đầu tư vào ngành dược. 2.2.2. Đe dọa từ sản phẩm dịch vụ thay thế Trên thị trường Việt Nam, ngành Tân Dược là ngành đang phát triển mạnh mẽ và có lợi nhuận cao, cùng với sự gia tăng ấn tượng trong những năm gần đây của ngành dược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà sản xuất cả trong lẫn ngoài nước do đó áp lực từ sản phẩm thay thế cao. Bản chất của ngành dược đã rất đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong ngành đều có sản phẩm không mấy khác biệt nhau nên áp lực tạo ra cho các doanh nghiệp là phải là phải làm mình luôn tốt hơn và chiếm ưu thế càng nhiều càng tốt. • Xu hướng sử dụng thuốc nhập ngoại Theo nhận định, công nghiệp Dược Việt Nam hiện nay chỉ mới đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu sử dụng thuốc tân dược của người dân, còn lại phải nhập khẩu thuốc chủ yếu từ các nước như Pháp, Đức, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Ý, Trung Quốc, Hàn Quốc,... Các thương hiệu thuốc ngoại nổi tiếng như Sanofi, GSK, Astrazeneca càng xâm lấn vào thị trường Việt Nam. Việt Nam hiện đang phải phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất dược phẩm, có tới 90% nguyên liệu phải nhập khẩu. Phần lớn doanh nghiệp tập trung sản xuất những loại thuốc thông thường, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư sản xuất các loại thuốc có dạng bào chế đặc biệt và thuốc chuyên khoa đặc trị. Nhu cầu của người sử dụng sản phẩm dược thay đổi, giảm lượng cầu ở các kênh bệnh viện, các sản phẩm thuốc chưa thiết yếu, tăng nhu cầu ch

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN

ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA M.PORTER PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH

NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM (TÌNH HUỐNG 3)

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

1.1 Khái niệm ngành tân dược 3

1.2 Mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter 3

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA M.PORTER PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM 7

2.1 Tình hình sự phát triển ngành tân dược Việt Nam hiện nay 7

2.2 Phân tích cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam 9

2.2.1 Đe dọa gia nhập thị trường mới 9

2.2.2 Đe dọa từ sản phẩm/ dịch vụ thay thế 11

2.2.3 Cạnh tranh giữa các công ty trong ngành 14

2.2.4 Quyền thương lượng của khách hàng 16

2.2.5 Quyền thương lượng của nhà cung ứng 18

2.2.6 Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác 19

2.3 Đánh giá cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam 21

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM 25

3.1 Giải pháp về xây dựng ban hành chính sách 25

3.2 Giải pháp về quy hoạch 25

3.3 Giải pháp về đầu tư 26

3.4 Giải pháp về hợp tác và hội nhập quốc tế 26

KẾT LUẬN 28

Trang 3

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Vũ Tuấn Dương đã quan tâm, hướng

dẫn chúng em trong từng buổi học, từng buổi nói chuyện và trao đổi về đề tài trên.Nhờ có những buổi học của thầy đã giúp chúng em có cơ hội, động lực, niềm yêu thích

và tích lũy được nhiều kiến thức cơ bản từ đó áp dụng vào thực thế, cũng nhờ đó màchúng em có thể hoàn thành bài thảo luận một cách tốt nhất Một lần nữa chúng em xingửi lời cảm ơn chân thành đến thầy

Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức trong suốt quá trình thực hiện đề tài Songkhông thể tránh khỏi những mặt thiếu sót, hạn chế do vậy chúng em rất mong nhậnđược những lời góp ý, nhận xét từ thầy cô và các bạn để bài thảo luận được hoàn thiệnhơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, Việt Nam được xem là một trong những điểm đến hấp dẫn, thu hútcác tập đoàn dược phẩm đa quốc gia thành lập sơ cở sản xuất và xuất khẩu sang cácquốc gia khác Bởi thị trường dược Việt Nam đã và đang có tiềm năng phát triểnnhanh nhờ vào nhiều yếu tố khác nhau Có thể điểm đến một số yếu tố như: tốc độ giàhoá dân số nhanh, tốc độ phát triển kinh tế tích cực và ý thức về vấn đề sức khoẻ củangười dân cao Do đó, các sản phẩm chăm sóc sức khoẻ ngày một phổ biến và đượcquan tâm nhiều hơn; tạo điều kiện cho ngành dược phát triển mạnh mẽ

Ngành Tân dược được du nhập vào nước ta cùng với nền y học hiện đại; làngành bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tiếp thịcác loại thuốc Tuy nhiên ngành dược trong nước chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầuthị trường Chính vì vậy, sự cạnh tranh trong thị trường ngày một được đẩy mạnh vàphức tạp Vậy để tồn tại và phát triển trên thị trường này, doanh nghiệp cần đưa ranhững chiến lược tốt nhất và hiệu quả nhất Để làm rõ điều này, ta có thể vận dụng môhình điều tiết các lực lượng cạnh tranh của M.Porter nhằm phân tích và đánh giá cáccường độ cạnh tranh của ngành Tân dược Việt Nam Đây được xem là phương phápkinh điển được nhiều doanh nghiệp sử dụng và cho đến nay vẫn phát huy được hiệuquả của mình

Thông qua các kiến thức trong học phần Quản trị chiến lược, nhóm lựa chọn đề

tài: “ Vận dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam.”,với mục tiêu làm rõ vấn đề

lý luận và đánh giá mức cạnh tranh trên thị trường dược Việt Nam hiện nay.

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Khái niệm ngành tân dược

Ngành tân dược (hay ngành công nghiệp dược) là ngành bao gồm các công tyhoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tiếp thị các loại thuốc hoặcloại sản phẩm được cấp phép để sử dụng như thuốc để phòng trị bệnh cho người Đây

là ngành sản xuất, phân phối các loại thuốc được sản xuất từ hóa chất, một số loại vinấm, hợp chất từ cây cỏ bào chế dưới dạng tinh khiết

1.2 Mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter

Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter là mộ mô hình xác định

và phân tích năm lực lượng cạnh tranh trong mọi ngành công nghiệp và giúp xác địnhđiểm yếu và điểm mạnh của ngành (Theo Investopedia) Thường được sử dụng để xácđịnh cấu trúc của một ngành để xác định chiến lược của công ty và có thể được ápdụng cho bất kì phân khúc nào của nền kinh tế để tìm kiếm lợi nhuận và tính hấp dẫn

Mô hình của Porter là một công cụ hữu ich để phân tích cường độ cạnh tranh và cácyếu tố kinh tế cơ bản trong một ngành

Mô hình này được xây dựng dựa trên già thiết là có 5 lực lượng môi trườngngành sẽ xác định mức độ cạnh tranh và tính hấp dẫn của một ngành/lĩnh vực; mô hình

sẽ giúp chúng ta đánh giá năng lực cạnh tranh; vị trí cạnh tranh hiện tại của tổ chức và

vị trí mà tổ chức mong muốn đạy tới trong tương lai

Michael Porter - nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay,

đã cung cấp một khung lý thuyết đế phân tích về năng lực cạnh tranh cho các doang

Trang 6

nghiệp.Theo M.Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuấtbất kỳ đều chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:

(1) Đe đọa gia nhập mới - từ đối thủ cạnh tranh tiềm năng

Đối thủ cạnh tranh tiềm năng là những cá nhân, công ty, doanh nghiệp chưa cạnh tranhtrong cùng ngành nhưng có khả năng sẽ gia nhập ngành khi có cơ hội Đây cũng làmột trong những mối đe dọa lớn đối với các doanh nghiệp Nếu một ngành có lợinhuận cao và không có rào cản tham gia, sự cạnh tranh sẽ sớm gia tăng khi các đối thủcạnh tranh tiềm ẩn nhận thấy lợi nhuận từ ngành đó “Mối đe dọa” từ đối thủ cạnhtranh tiềm năng sẽ tăng cao khi:

 Lượng vốn phải bỏ ra để tham gia vào thị trường thấp

 Các công ty hiện tại không có bằng sáng chế, nhãn hiệu hoặc không tạo được

uy tín thương hiệu

 Không có quy định của chính phủ

 Chi phí chuyển đổi khách hàng thấp (không tốn nhiều tiền cho một công tychuyển sang các ngành khác)

 Lòng trung thành của khách hàng thấp

 Sản phẩm gần giống nhau

Để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn này, các doanh nghiệp trong ngành hiệntại thường có các rào cản cản trở sự gia nhập ngành như:

 Tính kinh tế của quy mô

 Chuyên biệt hoá sản phẩm

 Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu

 Chi phí

 Gia nhập vào các hệ thống phân phối

 Chính sách của chính phủ

(2) Đe đọa từ các sản phẩm và địch vụ thay thể:

Sản phẩm thay thế là hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế các loại hàng hóa, dịch vụ khác

có sự tương đồng về giá trị lợi ích, công dụng Đặc biệt, những sản phẩm thay thếthường có tính năng, công dụng đa dạng, chất lượng tốt hơn mà giá cả lại cạnh tranhbởi lẽ sản phẩm thay thế là kết quả của những cải tiến về công nghệ Vì vậy mà sựxuất hiện của các sản phẩm thay thế sẽ làm giảm số lượng sản phẩm tiêu thụ được, giáthành từ đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, thậm chí nguy hiểm hơn nó có thểxóa bỏ hoàn toàn các hàng hóa, dịch vụ hiện tại

- Các nguy cơ thay thế:

Trang 7

 Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm

 Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng

 Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế

- Dự đoán đe dọa từ các sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế:

 Nghiên cứu chức năng sử dụng của mỗi sản phẩm hoặc dịch vụ ở mức độ rộng nhất có thể

 Kiểm soát sự ra đời của công nghệ mới

(3) Sự cạnh tranh trong ngành

Đối thủ cạnh tranh hiện tại là những cá nhân, công ty doanh nghiệp cùng sản xuất mộtchủng loại sản phẩm, đang phục vụ cùng một phân khúc khách hàng mục tiêu và cùngthỏa mãn một nhu cầu của khách hàng Lực lượng này là yếu tố chính quyết định mức

độ cạnh tranh và lợi nhuận của một ngành Khi nhu cầu của thị trường tăng cao, cáccông ty phải cạnh tranh mạnh mẽ để giành thị phần, mở rộng thị trường dẫn đến lợinhuận thấp

- Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tại trong ngành thể hiện ở:

 Các rào cản rút lui khỏi ngành

 Mức độ tập trung của ngành

 Mức độ tăng trưởng của ngành

 Tỉnh trạng dư thừa công suất

 Đặc điểm của sản phẩm/dịch vụ

 Các chi phí chuyển đổi

 Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh

 Tỉnh trạng sàng lọc trong ngành

(4) Quyền thương lượng của khách hàng

Khách hàng được đề cập ở đây là người tiêu dùng cuối cùng, nhà phân phối hoặc nhàmua công nghiệp Chúng ta vẫn thường nghe rằng “khách hàng là thượng đế” Đúngvậy, mỗi một công ty doanh nghiệp muốn thành công họ luôn phải cố gắng để phục vụtốt nhất nhu cầu của khách hàng Khách hàng tác động trực tiếp đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sản phẩm với giá thấp hơnhoặc sản phẩm chất lượng và dịch vụ tốt hơn… Khách hàng có khả năng “mặc cả” caokhi:

 Khách hàng mua với số lượng lớn

 Chỉ tồn tại vài người mua

 Chi phí chuyển đổi sang nhà cung cấp khác thấp

Trang 8

 Người mua nhạy cảm về giá

 Có nhiều sản phẩm, công ty thay thế khác

(5) Quyền thương lượng của nhà cung ứng

Nhà cung ứng là các tổ chức hoặc cá nhân tham gia cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụtrên thị trường Nhà cung ứng có thể gây áp lực cho các công ty, doanh nghiệp thôngqua việc: tăng giá sản phẩm dịch vụ, giảm chất lượng hàng hóa cung cấp, giao hàngkhông đúng thời gian và địa điểm quy định… Những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đếngiá cả cũng như chất lượng sản phẩm đầu ra đồng thời tác động đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Các nhà cung cấp có khả năng “áp đảo” các doanh nghiệp,công ty khi:

 Có ít nhà cung cấp nhưng có nhiều người mua

 Các nhà cung cấp lớn và đang thực thi “chiến lược hội nhập về phía trước”

 Không có (ít) nguyên liệu thay thế

 Các nhà cung cấp nắm giữ nguồn lực khan hiếm

 Chi phí chuyển đổi nguyên liệu rất cao

(6) Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác

Ngoài các lực lượng nêu trên ta có thế nghiên cứu thêm một số bên liên quan kháctrong môi trường ngành ( chính phủ, cổ đông ) Các lực lượng này biến đối rất nhiềutrong các ngành khác nhau

Nhóm ảnh hưởng Các tiêu chuẩn tương ứng

Cổ đông Gía cổ phiếu

Trung thành với các điều khoản giao ước

Các hiệp hội thương mại Tham gia vào các chương trình của Hội

Dân chúng

Việc làm cho dân địa phươngĐóng góp vào sự phát triển của xã hộiTối thiểu hóa các ảnh hưởng tiêu cực

Các nhóm quan tâm đặc biệt Việc làm cho các nhóm thiểu số

Đóng góp cải thiện thành thị

Trang 9

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA M.PORTER PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM

2.1 Tình hình sự phát triển ngành tân dược Việt Nam hiện nay

Ngành tân dược tại nước ta phát triển khá mạnh và ổn định Theo thống kê củaBMI Research, năm 2018, quy mô thị trường ngành dược Việt Nam đạt giá trị 5,9 tỷUSD, tăng 11,5% so với năm 2017, Việt Nam trở thành thị trường dược phẩm lớn thứhai tại Đông Nam Á, là một trong 17 nước xếp vào nhóm có mức tăng trưởng ngànhdược cao nhất Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, tình hình sản xuấtxuất vẫn còn hạn chế, chỉ đáp ứng được khoảng 52,5% nhu cầu, số còn lại phải thôngqua nhập khẩu Năm 2018, chi nhập khẩu dược phẩm của Việt Nam đạt 2.791 tỷ USD(tính đến 15/09/2019, kim ngạch nhập khẩu thuốc của Việt Nam là 2.144 tỷ USD, tănghơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương con số tăng thêm khoảng 200 triệuUSD) Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Dược, tính đến ngày 16/05/2019, ViệtNam có khoảng 180 doanh nghiệp trong nước sản xuất dược phẩm và 224 cơ sở sảnxuất nhà máy trong nước đạt tiêu chuẩn GMP (thực hành tốt sản xuất thuốc) Các công

ty trong nước chủ yếu sản xuất dạng bào chế đơn giản, thực phẩm chức năng và cácloại thuốc generic Đi đầu phải kể đến 13 công ty dược phẩm đang niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam Đó là Dược Hậu Giang, Imexpharm, Domesco, DượcCửu Long, Pharmedic, S.P.M (chuyên về tân dược), Traphaco, Dược OPC và DượcPhong Phú (Đông dược), cùng với 4 doanh nghiệp chuyên phân phối là Vimedimex,Ladophar, Dược Hà Tây và Dược Bến Tre

Bên cạnh khối nội, nhóm doanh nghiệp vốn nước ngoài cũng đã và đang manglại làn gió mới cho ngành sản xuất dược trong nước Tiêu biểu như Sanofi Aventis hayUnited Pharma, đều là những công ty đã đầu tư nhà máy sản xuất thuốc hiện đại tạiViệt Nam Chính tiềm năng phát triển cùng tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong nhữngnăm gần đây của ngành dược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu

mỡ cho các nhà sản xuất cả trong lẫn ngoài nước

Việt Nam hiện được xếp vào nhóm những nước có ngành dược mới nổi(Pharmerging- theo phân loại của tổ chức IQVIA Institute) Dân số đang bước vào giaiđoạn “già hóa” (World Bank cảnh báo, Việt Nam đang trải qua giai đoạn tốc độ giàhóa dân số nhanh nhất từ trước tới nay, tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên là 6,5% vàonăm 2017, dự kiến sẽ đạt 21% vào năm 2050), đồng nghĩa với nhu cầu chăm sóc sứckhỏe đang tăng lên.Cùng với thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là hơn 3.000USD/người/năm (theo cách tính mới) Và mức độ sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế

có xu hướng tăng lên do thu nhập bình quân đầu người và trình độ dân trí được cảithiện, trong khi môi trường sống ngày càng có nguy cơ ô nhiễm cao làm gia tăng ngày

Trang 10

càng nhiều loại bệnh tật… thì đây là yếu tố chính dẫn đến sự phát triển tất yếu củangành dược

Biểu đồ: Tăng trưởng tổng giá trị tiêu thụ thuốc và chi tiêu bình quân đầu người

cho dược phẩm

Từ biều đồ, có thể thấy chi tiêu bình quân đầu người cho ngành dược phẩm códấu hiện tăng dần qua từng năm Năm 2018 tăng 11,4% so với năm 2017, năm 2019tăng 11,5% so với năm 2018, hay 2020 tăng 11,5% so với năm 2019 Năm 2021, Bìnhquân mỗi người dân chi 97$ cho tiền thuốc ( bằng 1/3 mức trung bình của thế giới) vàcon số dự kiến tăng lên đến 248$/ người vào năm 2028 Doanh thu ngành dược phẩmViệt Nam tăng liên tục hàng năm

Do có sự ảnh hưởng của dịch Covid-19 dẫn đến những nhu cầu cấp thiết vềdược nên nhìn chung ngành tân dược nhưng năm 2020 vẫn có sự tăng trưởng, tổng

Trang 11

doanh thu mảng dược phẩm Việt Nam cán mốc 6.4 tỷ USD, tăng trưởng dương 2% sovới năm 2019 Năm 2021, doanh thu ngành tân dược Việt Nam vẫn tiếp tục có dấuhiệu tăng trưởng tích cực.

Theo thống kê của Cục Quản lý Dược Việt Nam, ngành dược sẽ tăng trưởngtiếp tục hai con số trong vòng 5 năm tới và đạt 7,7 tỷ USD vào 2021 và đạt 16,1 tỷUSD năm 2026 (theo IBM), với tỷ lệ tăng trưởng kép lên tới 11% tính theo đồng ViệtNam Đây cũng là kết luận được rút ra từ cuộc khảo sát các doanh nghiệp và chuyêngia trong ngành dược gần đây của CTCP Báo cáo Đánh giá Việt Nam (VietnamReport)

Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành tân dược có nhiều khởi sắc trong nhữngnăm qua, các doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn về nguồnnguyên liệu, sự phụ thuộc này khá cao, nhất là đối với thị trường nguyên liệu từ TrungQuốc Việt Nam nhập khẩu 351 triệu USD hoạt chất, chủ yếu từ Trung Quốc (220triệu USD), Ấn Độ (60,5 triệu USD), Tây Ban Nha (10,4 triệu USD) và Đức (10,1triệu USD) Đây là vấn đề của Việt Nam trong dài hạn bởi vì để sản xuất được dượcliệu đòi hỏi phải đầu tư nhiều và cần có khả năng về công nghệ, nguồn nguyên liệu,những điều này ta đang lép vế hơn so với các nước khác, như Trung Quốc và Ấn Độ

2.2 Phân tích cường độ cạnh tranh ngành tân dược Việt Nam.

2.2.1 Đe dọa gia nhập thị trường mới

Ngành tân dược Việt Nam đang phát triển khá mạnh và ổn định, và là thị trườngmàu mỡ mà nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước nhắm tới Chỉ số tiêu dùng bìnhquân đối với ngành dược phẩm tăng đều hàng năm, hấp dẫn nhiều doanh nghiệp ngànhkhác tham gia vào thị trường ngành tân dược Tuy nhiên, chi phí nghiên cứu và pháttriển cho việc chế tạo một loại thuốc mới là rất đáng kể Vì dược phẩm là ngành ảnhhưởng đến sức khỏe, tính mạng con người nên phải trải qua quá trình kiểm tra nghiêmngặt của chính phủ, các hàng mới được cung cấp sản phẩm ra ngoài Ngày 19/04/2007,

Bộ Y Tế ban hành Quyết định số 27/2007/QĐ-BYT về lộ trình triển khai nguyên tắc

“Thực hành tốt sản xuất thuốc’’ (GMP) Theo quyết định này, kể từ ngày 1/7/2008,doanh nghiệp sản xuất không đạt tiêu chuẩn của GMP theo khuyến cáo của WHO thì

sẽ phải ngừng sản xuất thuốc Rào cản gia nhập ngành tân dược tại Việt Nam là rấtlớn

Theo tính kinh tế của quy mô

Nguồn nguyên liệu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu phụ thuộcvào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, vì vậy nguy cơ phải đối mặt là giá thành nguyênliệu cao hay rủi ro về tỷ giá Giá nguyên liệu biến động, nguồn cung nguyên liệukhông ổn định khiến cho các doanh nghiệp sản xuất gặp bất lợi về giá so với dượcphẩm nhập khẩu Nếu quy mô càng nhỏ thì ảnh hưởng của việc này sẽ càng lớn, tínhkinh tế sẽ kém hiệu quả

Trang 12

Khác biệt hóa sản phẩm

Ngành tân dược cũng là ngành đòi hỏi sự chuyên biệt hóa sản phẩm rất cao.Trong ngành tân dược Việt Nam các doanh nghiệp đi trước như Domesco, Dược HậuGiang, S.P.M, Traphaco, các doanh nghiệp này đã có sự phát triển vững chắc vàchiếm được lòng tin cũng như đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng tạo ra 1 tậpkhách hàng trung thành rất lớn Người dân Việt Nam đã quen những thương hiệu nàyvới các loại thuốc thông thường Các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường đềuphải tạo ra sản phẩm có đặc tính tốt, có điểm nổi bật hẳn so với các doanh nghiệp đitrước; nếu không đáp ứng được điều này doanh nghiệp có thể đứng trước nguy cơ bị

“đá” ra khỏi ngành

Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu và chi phí

Để sản xuất dược liệu đòi hỏi có sự đầu tư về vật chất, đặc biệt là công nghệ Hiệnnay các doanh nghiệp đang có xu hướng đầu tư mở rộng nhà máy từ chuẩn WHO –GMP lên chuẩn EU-GMP tuy nhiên cần ít nhất 3 năm để đầu tư và phát triển xây dựngđược nhà máy sản xuất dược phẩm chất lượng cao Như vậy bên cạnh điều kiện tiênquyết là đầu tư nguồn vốn lớn cho công nghệ hiện đại thì cũng mất rất nhiều thời giankhiến cho các doanh nghiệp e ngại

Gia nhập vào các hệ thống phân phối

Ở hầu hết các quốc gia, nhà sản xuất và nhà phân phối dược phẩm thường là cácđơn vị độc lập nhằm tập trung hóa chuyên môn, nhưng tại Việt Nam, hệ thống phânphối ngành dược có cấu trúc khá phức tạp và sự tham gia của nhiều bên liên quan Hệthống phân phối thuốc ở Việt Nam hiện nay chủ yếu qua kênh ETC hoặc kênh OTC

Mà những doanh nghiệp nắm giữ thị phần phân phối ở các kênh này đều là nhữngdoanh nghiệp đầu ngành và có thương hiệu lâu đời như: Dược Hậu Giang, Traphaco,

… Các doanh nghiệp mới muốn gia nhập vào thị trường phân phối chủ yếu sẽ muốngia nhập vào kênh OTC vì đây là hệ thống dễ triển khai nhất Tuy nhiên, theo thông tư02/2018 kiểm soát việc lạm dụng thuốc kê đơn và thuốc không rõ nguồn gốc tại kênhOTC; theo đó mặc dù vẫn tăng trưởng cùng với thị trường chung Tính đến nay, doanhthu cho kênh bệnh viện (ETC) chiếm hơn 60% năm 2020 và đang trong xu hướngtăng

Trang 13

Biểu đồ Doanh thu theo kênh (tỷ USD) và tỷ trọng ETC/OTC tại Việt Nam

Nguồn: Fitch Solutions, VDSC

Những nhà thuốc tập trung vào kênh bệnh viện sẽ có lợi nhiều hơn là những làtập trung bán lẽ Tuy đã có thông tư 11/2016/TT-BYT hỗ trợ các doanh nghiệp trongnước đấu thầu kênh ETC nhưng rất khó để có thể giúp các doanh nghiệp mới tiếp cậnđược với kênh ETC này Đây là điều khá khó khăn khi các công ty mới gia nhập muốnthuyết phục những kênh phân phối sẵn sàng chấp nhận sản phẩm của mình bằng việcgiảm giá, khuyến mại, quảng cáo,…

Chính sách của Chính Phủ

Các chính sách của chính phủ vừa là hỗ trợ vừa là rào cản Chính phủ luôn tạođiều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong ngành và thúc đẩy các doanh nghiệpmuốn gia nhập ngành Tuy nhiên chính phủ cũng rất quan tâm đến chất lượng sau cùngcủa sản phẩm Theo quyết định số QDD 27/2007/QĐ BYT về lộ trình khai thácnguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất tốt “ (GMP) Theo quy định kể từ ngày 1/7/2008,doanh nghiệp sản xuất không đạt tiêu chuẩn của GMP theo khuyến cáo của WHO thì

sẽ phải ngừng sản xuất Điều này tạo ra rào cản không nhỏ cho các doanh nghiệpmuốn gia nhập ngành

Như vậy, muốn gia nhập thị trường ngành tân dược Việt Nam thì các doanhnghiệp phải đối mặt với rào cản gia nhập khá lớn, việc này làm giảm nhẹ đi mức độcạnh tranh của ngành tân dược Việt Nam Các công ty sẽ cân nhắc khi quyết định đầu

tư vào ngành dược

2.2.2 Đe dọa từ sản phẩm/ dịch vụ thay thế

Trang 14

Trên thị trường Việt Nam, ngành Tân Dược là ngành đang phát triển mạnh mẽ và

có lợi nhuận cao, cùng với sự gia tăng ấn tượng trong những năm gần đây của ngànhdược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà sảnxuất cả trong lẫn ngoài nước do đó áp lực từ sản phẩm thay thế cao Bản chất củangành dược đã rất đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong ngành đều

có sản phẩm không mấy khác biệt nhau nên áp lực tạo ra cho các doanh nghiệp là phải

là phải làm mình luôn tốt hơn và chiếm ưu thế càng nhiều càng tốt

Xu hướng sử dụng thuốc nhập ngoại

- Theo nhận định, công nghiệp Dược Việt Nam hiện nay chỉ mới đáp ứng được khoảng50% nhu cầu sử dụng thuốc tân dược của người dân, còn lại phải nhập khẩu thuốc chủyếu từ các nước như Pháp, Đức, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Ý, Trung Quốc, Hàn Quốc, Cácthương hiệu thuốc ngoại nổi tiếng như Sanofi, GSK, Astrazeneca càng xâm lấn vào thịtrường Việt Nam

- Việt Nam hiện đang phải phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu cho sảnxuất dược phẩm, có tới 90% nguyên liệu phải nhập khẩu Phần lớn doanh nghiệp tậptrung sản xuất những loại thuốc thông thường, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư sảnxuất các loại thuốc có dạng bào chế đặc biệt và thuốc chuyên khoa đặc trị

- Nhu cầu của người sử dụng sản phẩm dược thay đổi, giảm lượng cầu ở các kênhbệnh viện, các sản phẩm thuốc chưa thiết yếu, tăng nhu cầu cho các sản phẩm phòngbệnh như khẩu trang, nước rửa tay, các sản phẩm vitamin và tăng cường miễn dịch.Trong khi đó, trên thực tế thị phần các sản phẩm vitamin và tăng cường miễn dịchthuộc về sản phẩm nước ngoài

- Các doanh nghiệp thuốc trong nước có chiến lược tiếp thị, xây dựng thương hiệu bịhạn chế do liên quan đến các quy định về tiếp thị, khuyến mại và khai thuế mà chi phítiếp thị của các doanh nghiệp nước ngoài không bị giới hạn vì vậy các doanh nghiệpnước ngoài chiếm ưu thế về việc xây dựng thương hiệu và lòng tin với khách hàng.Hơn nữa thuốc trong nước vẫn chưa được ưu tiên sử dụng vì thường bị mang tiếng làchất lượng kém, thuốc giả, lại càng khiến khách hàng thiên về sử dụng thuốc ngoạinhiều hơn so với tiêu dùng thuốc nội

Xu hướng của chuỗi bán lẻ dược phẩm

- Hiện nay, hệ thống phân phối thuốc được trải rộng khắp cả nước với trên 2.200 đơn

vị và 43.000 cơ sở bán lẻ

- Doanh thu từ bán thuốc kê đơn không lớn, chủ yếu là thuốc cắt liều và các sản phẩmkhác trong ngành dược như thực phẩm chức năng, hóa mỹ phẩm,

Trang 15

- Xu hướng này được nhân rộng tại Việt Nam với sự xuất hiện của nhiều đối thủ cùngphân khúc Tiêu biểu là Long Châu – một thương hiệu nhà thuốc lâu năm tại TP.HCM,được mua lại bởi FPT Retail cách đây không lâu Bà Nguyễn Bạch Điệp – chủ tịchHĐQT FPT Retail khẳng định sẽ tăng tốc mở đến 70 cửa hàng trong năm 2020, và mởrộng ra các tỉnh thành, nhằm mục tiêu hướng đến 700 cửa hàng trong năm 2022 Cuộcđua ngày càng gắt gao hơn khi có sự gia nhập của “ ông lớn đa ngành” Vingroup.

Nhu cầu chăm sóc sức khỏe bị gián đoạn

- Giãn cách xã hội và kiểm soát chặt chẽ việc đến bệnh viện đã làm gián đoạn nhu cầuchăm sóc sức khỏe, vì những người có vấn đề sức khỏe không cấp bách hạn chế khámchữa bệnh, dẫn đến doanh số kê đơn và bán thuốc ít hơn Dựa trên dữ liệu ngành trong11T2020 từ VNPCA, ước tính tổng doanh thu dược phẩm của Việt Nam trong năm

2020 chỉ tăng 2,8% so với cùng kỳ (thấp hơn đáng kể mức CAGR 11,8% YoY tronggiai đoạn 2015 - 2019), đến từ những nguyên nhân:

(1) Trên kênh thị trường ETC, lo ngại lây nhiễm dịch bệnh và quy trình thăm khámbệnh viện nghiêm ngặt trong mùa dịch đã hạn chế số lượng bệnh nhân đến kiểm trasức khỏe định kỳ, khiến số lượt khám chữa bệnh toàn quốc từ Q1 đến Q3/2020 giảm10%–15% YoY Tuy nhiên, người dân cũng đã tới bệnh viện sau khi đại dịch đượckiểm soát tốt hơn sau tháng 8, với sự phục hồi về lượt khám chữa bệnh trong Q4/2020(ước tính +0-5% YoY)

(2) Trên kênh thị trường OTC, nhu cầu đi mua thuốc giảm trong năm do các đợt giãncách xã hội nghiêm ngặt và người dân chuyển từ mua thuốc sang dự trữ nước rửa tay

& khẩu trang (không phải là sản phẩm chính của hầu hết các công ty dược phẩm) làmgiảm doanh thu của toàn ngành

- Nguồn cung thuốc mới trong nước bị gián đoạn do các nhà máy GMP mới bị chậmtiến độ Theo số liệu của Bộ Y tế, thuốc sản xuất trong nước duy trì tốc độ tăng trưởngkép hàng năm (CAGR) tương đối cao ở mức 13,8% giai đoạn 2015 - 2019 với sự hỗtrợ của các chính sách của Chính phủ cùng với nhiều nhà máy GMP được đầu tư mới.Tuy nhiên, trong năm 2020, tăng trưởng nguồn cung thuốc trong nước bị gián đoạn,ước tính chỉ tăng 3,9% YoY (nguồn: VNPCA) do một số nhà máy sản xuất thuốc nộiđịa chưa thể đưa vào vận hành (do quá trình phê duyệt GMP diễn ra chậm do các lệnhgiãn cách xã hội và hạn chế đi lại)

- Do các nhà máy sản xuất thuốc trong nước mới bị chậm tiến độ và chưa thể đưa vàovận hành trong năm 2020, thuốc nhập khẩu tiếp tục chiếm lĩnh thị trường với ~58% thịphần dược phẩm Việt Nam Cụ thể, nhập khẩu thuốc tăng mạnh trong năm 2020 ởmức 10,3% YoY (nguồn: VNPCA), cao hơn CAGR 8,2% trong giai đoạn 2015 - 2019

Ngày đăng: 27/07/2023, 12:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w