cho nên cha tạo ra đợc một liênminh thật sự giữa đội ngũ tri thức với những hoạt động kinh tế - xã hội ở địaphơng, cha đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của đất nớc trong giai đoạn mới.Liên
Trang 1Mở Đầu
1 tính cấp thiết của đề tài
Sự vận động và phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào cácnguồn lực khác nhau nh nguồn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, vốn, thànhtựu khoa học và công nghệ trong đó nguồn lực con ngời là nhân tố quyết
định việc sử dụng các nguồn lực khác
Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức thì nguồn lựccon ngời ngày càng đợc đề cao ở các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta coi con ngời vừa là nguồnlực nội tại, cơ bản, quy định sự nghiệp CNH, HĐH, vừa là đối tợng mà chínhquá trình CNH, HĐH phải hớng vào phục vụ Nhng vấn đề đặt ra là cần phảiphát huy nguồn lực con ngời nh thế nào và theo hớng nào cho phù hợp Là mộtnớc nghèo đi vào CNH, HĐH, vấn đề giáo dục - đào tạo đã và đang đợc sựquan tâm chú ý của toàn xã hội Vì vậy, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Đảng ta đã đề ra mục tiêu cho gioá dục đại học là: “Phải nhanh chóng xâydựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghê, trình độ đào tạo, dân tộc,vùng miền ”
Đại học Thái Nguyên là một trong những trung tâm đào tạo đại học lớntrong nớc Nơi đây đã đào tạo ra nhiều thế hệ giáo viên, kỹ s, bác sỹ, côngnhân Họ đã có những cống hiến nhất định cho sự nghiệp CNH, HĐH ở một
số tỉnh miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ Tuy nhiên, hiệnnay ở các địa phơng đó, việc sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo ở Đại họcThái Nguyên còn nhiều bất cập, hạn chế Chẳng hạn trong số những nhân lực
đợc qua đào tạo có những ngời đi làm không đúng ngành nghề hoặc ngànhnghề không phù hợp với nhu cầu của xã hội cho nên cha tạo ra đợc một liênminh thật sự giữa đội ngũ tri thức với những hoạt động kinh tế - xã hội ở địaphơng, cha đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của đất nớc trong giai đoạn mới.Liên quan đến vấn đề trên thì nhu cầu về một hệ thống đào tạo có cấutrúc hợp lý, mục tiêu đa dạng mềm dẻo phù hợp với xu thế phát triển của đấtnớc trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đợc đặt ra và cần phải giải quyết.Bởi vậy, nghiên cứu vai trò của Đại học Thái Nguyên trong việc đào tạo ranguồn nhân lực chất lợng cao phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở n-
Trang 2ớc ta hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết Đây cũng là lý do
chính để tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Vai trò của Đại học Thái Nguyên trong việc đào tạo nguồn lực con ngời phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện hay” làm luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nguồn lực con ngời và đào tạo nguồn lực con ngời phục vụ quátrình CNH, HĐH đất nớc là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng đốivới đất nớc ta hiện nay, do vậy có không ít tác giả đã nghiên cứu vấn đề này.Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã đợc tiếp cận với một số công trìnhcủa các nhà khoa học trong và ngoài nớc liên quan đến đề tài này ở các góc độkhác nhau Tiêu biểu là một số công trình sau:
- NGƯT - TS Nguyễn Hữu Khiển trong Tạp chí Giáo dục và Thời đại số
5, ra ngày 4/2/2001 đã có quan điểm đúng đắn rằng: “Muốn có nền hành chínhdân chủ phải có đội ngũ cán bộ, công chức đợc đào tạo trong một hệ thống đàotạo hợp lý”
- Còn GS - TS Nguyễn Trọng Chuẩn thì khẳng định: “Nguồn lực con ngời
là chìa khoá đảm bảo cho sự phát triển nhanh và lâu bền của Việt Nam trongthế kỷ 21” Khi phân tích vị trí nguồn nhân lực trong quan hệ với các nguồnlực khác, tác giả đã khẳng định nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất chỉ
có thể là con ngời Từ đó, tác giả đề cập đến một số yếu tố cần thiết để kích
thích tính tích cực của con ngời, khai thác tốt nhất nguồn nhân lực (“Nguồn nhân lực trong CNH, HĐH đất nớc” - đăng trong tập: “Một số vấn đề về triết học - con ngời - xã hội” Nxb Khoa học Xã hội, 2002).
- Trong bài viết “Phát triển giáo dục - đào tạo nhân tài để thực hiện CNH, HĐH đất nớc” đăng trên tạp chí Cộng sản số 1 năm 1997, khi đề cập
đến các yếu tố cần thiết để phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao, tác giảNguyễn Văn Hiệu đã nhấn mạnh tới vai trò, nội dung và cách thức của giáodục và đào tạo trong việc bồi dỡng nhân tài
- GS - TS Nguyễn Duy Quý trong bài “Một số giải pháp nhằm khai thác
có hiệu quả nguồn lực con ngời”, đã cho rằng, phát triển con ngời về thực chất
là phát triển và hoàn thiện nhân cách con ngời theo yêu cầu của thời kỳ CNH,HĐH
Trang 3- ở bài viết: “Mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực: khái niệm, nội dung và cơ chế” đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục số 16 năm 2007, PGS
- TS Phan Văn Kha nêu lên tính tất yếu của mối quan hệ giữa đào tạo và sửdụng nhân lực trong cơ chế thị trờng và đi đến kết luận rằng, để nâng cao chấtlợng hiệu quả đào tạo cần phải tăng cờng quan hệ giữa hệ thống đào tạo với hệthống sử dụng nhân lựcvà đa dạng hoá nội dung đào tạo
- Luận án tiến sỹ triết học của Đoàn Văn Khái: “Nguồn lực con ngời trong quá trình CNH, HĐH đất nớc” và luận văn thạc sỹ của Bùi Mạnh Hằng
- “Một số quan điểm của Đảng ta về giáo dục đào tạo trong công cuộc đổi mới (1986 - 1996)” đã làm rõ khái niệm CNH, HĐH và các mô hình CNH,
HĐH để đi đến quan niệm rằng đất nớc ta đang ở trong thời kỳ công nghiệphoá theo mô hình tổng hợp (kết hợp giữa phát huy nội lực và theo lợi thế sosánh), đi liền với hiện đại hoá
- Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã đợc tiếp cận một số ấn phẩm
dới dạng sách thuộc chơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nớc: “Con ngời Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã hội” mã số KX 07 do GS
- TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm trong đó có “Vấn đề con ngời trong sự nghiệp CNH, HĐH” của tác giả Phạm Minh Hạc, “Các giá trị truyền thống và con ngời Việt Nam hiện nay” của tác giả Phan Huy Lê Các ấn phẩm này đã đề
cập đến nhiều vấn đề khác nhau trong đó có vấn đề phát triển giáo dục - đàotạo, bồi dỡng và đào tạo lại đôi ngũ nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực chất l-ợng cao
Các công trình trên đều ít nhiều đề cập đến việc đào tạo nguồn lực conngời và đã chỉ ra một vấn đề bức xúc hiện nay là vấn đề đào tạo nguồn lực conngời phục vụ cho CNH, HĐH nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ViệtNam Tuy vậy cha có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện
và sâu sắc về vai trò của Đại học Thái Nguyên trong việc đào tạo nguồn lựccon ngời phục vụ CNH, HĐH nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
nh hiện nay Bởi vậy tác giả đã lực chọn và nghiên cứu đề tài này với mongmuồn sẽ góp phần tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong côngtác đào tạo nguồn lực con ngời ở Đại học Thái Nguyên phục vụ đất nớc tronggiai đoạn mới
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 4- Mục đích của luận văn là: Trên cơ sở phân tích thực trạng đào tạo
nguồn lực con ngời ở Đại học Thái Nguyên, luận văn đa ra những giải pháp cơbản nhằm nâng cao hiệu quả của việc đào tạo nguồn lực con ngời ở Đại họcThái Nguyên trong quá trình CNH, HĐH hiện nay
- Để đạt đợc mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn lực con ngời ở các trờng
đại học trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
+ Phân tích thực trạng của việc đào tạo nguồn lực con ngời ở Đại họcThái Nguyên trong quá trình CNH, HĐH và chỉ ra những vấn đề cần khắcphục
+ Kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đào tạonguồn lực con ngời ở Đại học Thái Nguyên trong quá trình CNH, HĐH hiệnnay
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Là thực tiễn đào tạo nguồn lực con
ngời ở các trờng thành viên thuộc Đại học Thái Nguyên trong quá trình hìnhthành phát triển
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là: Dựa trên nền tảng lý luận của Triết học
Mác - Lênin, những quan điểm trong t tởng Hồ Chí Minh, lý luận của Đảng,của Nhà nớc ta về con ngời và về nguồn lực con ngời làm cơ sở lý luận choviệc nghiên cứu Ngoài ra luận văn còn tham khảo, kế thừa các bài viết, cáccông trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nớc liên quan đến vấn đề
đào tạo đại học và nguồn nhân lực
- Phơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phơng pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp chặt chẽ với cácphơng pháp khác nh đánh giá, phân tích, tổng hợp, thu thập, xử lý thông tin
5 Đóng góp khoa học của luận văn
Trên cơ sở phân tích những thực trạng, luận văn đề ra các giải pháp mangtính khả thi, đặc thù để phát huy vai trò của Đại học Thái Nguyên trong việc
đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao phục vụ cho quá trình CNH, HĐH ở nớc
ta hiện nay
Trang 56 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần vào sự nghiên cứu lý luận chung về
vai trò của nguồn lực con ngời đối với sự phát triển của xã hội Cụ thể hơn,luận văn góp phần tìm hiểu về vai trò của đào tạo đại học trong việc tạo ranguồn lực con ngời có hàm lợng trí tuệ cao để thực hiện tốt sự nghiệp CNH,HĐH ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Về mặt thực tiễn: Luận văn hy vọng thành công trong việc góp một phần
nhỏ bé vào quá trình nghiên cứu và xây dựng những giải pháp nhằm phát huyhơn nữa vai trò của Đại học Thái Nguyên trong việc đào tạo nguồn nhân lựcchất lợng cao ngày càng đáp ứng tốt hơn cho sự phát triển của đất nớc
Mặt khác, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và ờng học ở Đại học Thái Nguyên cũng nh trong tỉnh Thái Nguyên cà các tỉnhkhác
tr-7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chơng, 7 tiết
Chơng1 Tầm quan trọng và yêu cầu của đào tạo nguồn lực
con ngời ở các trờng đại học trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
1.1 Khái lợc về nguồn lực con ngời, đào tạo nguồn lực con ngời và về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1 Khái lợc về nguồn lực con ngời, đào tạo nguồn lực con ngời
1.1.2 Khái lợc về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.2 Vai trò và yêu cầu của đào tạo nguồn lực con ngời ở các trờng đại học trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở Việt Nam
1.2.1 Vai trò của nguồn lực con ngời phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đạihoá hiện nay
1.2.2 Yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với việc đào tạo nguồnlực con ngời
Chơng 2 Đào tạo nguồn lực con ngời ở đại học Thái Nguyên
hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra
Trang 62.1 Một số đặc điểm của Đại học Thái Nguyên tác động đến việc đào tạo nguồn lực con ngời
2.1.1 Tổng quan về Đại học Thái Nguyên
2.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quá trình giảng dạy ở Đại học TháiNguyên
2.2 Thực trạng của việc đào tạo nguồn lực con ngời ở Đại học Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
2.2.1 Thực trạng của việc đào tạo trình độ lý thuyết và năng lực thực tiễn ở
Đại học Thái Nguyên hiện nay
2.2.2 Thực trạng việc học của sinh viên ở các trờng thành viên.
Chơng 3 Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả đào tạo nguồn lực con ngời ở Đại học Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá hiện nay
3.1 Phơng hớng phát triển đào tạo nguồn lực con ngời ở Đại học Thái Nguyên trong những năm tới
3.1.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo gắn với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
3.1.2 Quán triệt những quân điểm, đờng lối trong công tác đào tạo nguồn lựccon ngời ở Đại học Thái Nguyên
Trang 7Chơng 1 Tầm quan trọng và yêu cầu của đào tạo nguồn lực con ngời ở các trờng đại học trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
1.1 Khái lợc về nguồn lực con ngời, đào tạo nguồn lực con
ng-ời và về quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1 Khái lợc về nguồn lực con ngời và đào tạo nguồn lực con ngời
1.1.1.1 Khái lợc về nguồn lực con ngời
* Định nghĩa nguồn lực con ngời
Con ngời, với t cách là sự phát triển cao nhất của sự sống trên trái đấtluôn mang trong mình bản tính xã hội Khác với các loài động vật cao cấpkhác về mặt kích thớc và cấu tạo não bộ, khả năng đi đợc bằng hai chân, cáckhớp tay chuyển động tự do giúp con ngời chế tạo và sử dụng công cụ mộtcách dễ dàng trong quá trình lao động Điều đó làm cho con ngời không nhữngbiết tạo ra lao động xã hội mà còn biết thiết lập nên các mối quan hệ xã hội,hình thành hiện thực văn hoá, xã hội và tiến trình lịch sử Chủ nghĩa duy vậtlịch sử, khi áp dụng các quan điểm duy vật vào xem xét con ngời, đã nêu bậtlên khả năng con ngời tự tạo ra những điều kiện cần thiết cho quá trình sinhtồn của mình Đó là những điều kiện về ăn, mặc, ở, tái sản xuất ra sức lao
động… Chính trong quá trình con ng Chính trong quá trình con ngời tham gia vào sản xuất để duy trì cuộcsống của mình và của xã hội đã tạo ra cái mà ngày nay hầu hết các quốc giatrên thế giới đều quan tâm, xem xét, giải quyết, đó chính là NLCN
Nói tới NLCN là chúng ta đang đề cập tới một yếu tố quan trọng nhất,năng động nhất của việc tăng trởng và phát triển kinh tế xã hội Nó khác so vớicác nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ, vốn ) ở chỗ NLCN cùngvới hoạt động có tính sáng tạo, đã biết tác động vào giới tự nhiên, làm biến đổigiới tự nhiên, trên cơ sở đó mà hình thành nên các quy luật lao động và quan
hệ xã hội
NLCN đợc xác định trên một địa phơng, một vùng lãnh thổ hay một quốcgia nhất định nào đó Nhng nếu xét nó trên một bình diện quốc gia nhất địnhthì NLCN còn đợc hiểu là nguồn nhân lực Mỗi quốc gia có quan niệm khácnhau về NLCN chẳng hạn:
- Theo từ điển thuật ngữ của Pháp (1977 - 1985) thì NLCN bao gồmnhững ngời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có
Trang 8việc làm Theo khái niệm này thì những ngời trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động nhng không có việc làm thì không đợc xếp vào nguồn lao động[40, 14].
- ở Australia, ngời ta coi NLCN là toàn bộ những ngời bớc vào tuổi lao
động, có khả năng lao động Quan niệm này đã không phân biệt ngời có việclàm và ngời không có việc làm [33, 34]
- Với quan niệm của Liên Hợp Quốc thì NLCN bao gồm tất cả nhữngkiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngời có liên quan tới sự phát triển của
đất nớc
- Còn ở Việt Nam, NLCN đợc hiểu theo các nghĩa sau đây:
+ Với t cách là nguồn cung cấp sức lao động để phát triển KT - XH, ởnghĩa rộng nhất thì NLCN bao gồm toàn bộ dân c có khả năng lao động,không phân biệt ngời đó đang hoạt động trong ngành nghề, lĩnh vực, khu vựcnào Với nghĩa này thì NLCN có thể coi là nguồn nhân lực xã hội [42, 7].Theo cách xác định của Tổng cục Thống kê nớc ta thì nguồn nhân lực xãhội bao gồm những ngời trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ
15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động, có việc làm Tuy nhiên cũng theo quanniệm này thì NLCN còn bao gồm cả những ngời trong độ tuổi lao động, cókhả năng lao động nhng không tham gia hoạt động kinh tế, ví dụ nh những ng-
ời đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình, hoặckhông có nhu cầu làm việc…[ 37, 21] ở đây còn có một bộ phận những ngờitrong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhng không đợc tính trongnguồn nhân lực, đó là bộ phận những ngời tham gia lực lợng vũ trang
+ Nhng với t cách là khả năng đảm đơng chính của lao động xã hội thìNLCN đợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm toàn bộ dân c trong độ tuổi lao
động và có khả năng lao động (do pháp luật lao động quy định) Với cách hiểu
này thì khái niệm NLCN tơng đơng với khái niệm nguồn lao động [42, 8] Vì
hiện nay nguồn lao động cũng đợc hiểu là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao
động và có khả lao động Tuy nhiên, giữa NLCN và nguồn lao động thể hiệntrong khái niệm này là khác nhau chứ không đồng nghĩa với nhau Sự khácnhau đó biểu hiện ở chỗ: trong xã hội, mặc dù có những ngời đang ở độ tuốilao động và có khả năng tham gia lao động nhng lại đang đi học, làm công
Trang 9việc nội trợ, hoặc không tích cực tìm kiếm việc làm… Chính trong quá trình con ng, bộ phận này đợc coi lànguồn nhân lực tiềm tàng của một địa phơng, một tỉnh, một quốc gia nhngkhông đợc tính trong nguồn lao động hiện hữu Nguồn lao động hiện hữu làtoàn bộ những ngời lao động đang tham gia làm việc hoặc đang tích cực tìmkiếm việc làm.
+ ở nớc ta còn một cách hiểu nữa về NLCN, đó là toàn bộ những con
ng-ời cụ thể tham gia vào quá trình lao động Với cách hiểu này thì số lợngNLCN trong xã hội sẽ bị thu hẹp lại, nó có thể lợng hoá đợc Đó là bộ phậnnhững ngời từ giới hạn dới của độ tuổi lao động trở lên có khả năng lao động
Nh vậy NLCN ở đây đồng nghĩa với khái niệm “lực lợng lao động”, và nó đợcxác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khuvực, vùng lãnh thổ dân số Hiện nay ở nớc ta có khoảng 80% lực lợng lao độngcha qua đào tạo ngời ta gọi là nguồn nhân lực cha qua đào tạo, còn lại là số lựclợng lao động đợc đào tạo ở các trình độ khác nhau ngời ta gọi là nguồn nhânlực đã qua đào tạo Nh vậy việc đào tạo NLCN là hết sức quan trọng và cấpbách trong giai đoạn hiện nay
+ Gần đây một số nhà khoa học Việt Nam cho rằng NLCN bao gồm dân
số và chất lợng con ngời, trong đó thể hiện cả trên phơng diện thể chất và tinhthần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, trình độ và phong cách làmviệc Quan niệm này đợc thể hiện ở đề tài KX – 07, nó thể hiện cả về mặt sốlợng và chất lợng NLCN
Nh vậy khái niệm NLCN có nội dung rất rộng, song cần khẳng định rằngNLCN ở một quốc gia phải có ba đặc điểm quan trọng sau mà nếu thiếu mộttrong ba đặc điểm này thì không thể coi đó là NLCN đợc:
Thứ nhất: NLCN chính là nguồn nhân lực của một quốc gia
Thứ hai: NLCN là một bộ phận của dân số, gắn với cung lao động
Thứ ba: NLCN phản ánh khả năng lao động của một xã hội
Ngoài ba đặc điểm đó ra thì NLCN không chỉ phản ánh bình diện số lợng
mà nó còn phản ánh cả bình diện chất lợng, trong đó chất lợng của NLCN làcái quan trọng nhất Nói tới chất lợng NLCN là nói tới trạng thái nhất định của
nó, là tố chất, bản chất bên trong của nó và đợc thể hiện cụ thể ở tình trạng sứckhoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực thực tế về tri
Trang 10thức, kỹ năng nghề nghiệp, ở khả năng sáng tạo, thích ứng linh hoạt, nhanhnhạy với công việc… Chính trong quá trình con ng Ngoài ra nó còn thể hiện ở phẩm chất đạo đức, tácphong, thái độ đối với công việc, hiệu quả hoạt động lao động của NLCN thậmchí ở cả thu nhập, mức sống và mức độ thoả mãn nhu cầu cá nhân của ngời lao
động
Chất lợng của NLCN không phải là cái cố hữu mà nó luôn vận động biến
đổi Nó phản ánh trình độ phát triển KT - XH cũng nh mức sống, dân trí củadân c Sự vận động tích cực của NLCN ở trình độ cao sẽ là cơ sở để cải biến xãhội không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hoàn thiện ngời lao
động Với ý nghĩa đó nguồn lực con ngời sẽ trở thành “nguồn vốn” không baogiờ cạn kiệt của mỗi quốc gia
* Kết cấu của nguồn lực con ngời
Để hiểu sâu hơn về NLCN cần phải phân tích kết cấu của nó Ngời ta căn
cứ vào mục đích nghiên cứu, vào quản lý mà xem xét kết cấu của NLCN dớicác góc độ khác nhau
Căn cứ vào khả năng và mức độ tham gia hoạt động kinh tế thì NLCN bao gồm NLCN trong độ tuổi lao động, NLCN tham gia hoạt động kinh tế và
bộ phận NLCN dự trữ [42, 10].
NLCN trong độ tuổi lao động bao gồm toàn bộ những ngời trong độ tuổi
lao động và có khả năng lao động, đợc quy định bởi pháp luật lao động củamột quốc gia ở mỗi quốc gia khác nhau, độ tuổi lao động đợc quy định khácnhau
NLCN tham gia hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lợng lao động) là bộ
phận năng động nhất của nguồn lực con ngời Nó đợc tính trong phạm vi mộtquốc gia, vùng, địa phơng Bộ phận này rất phong phú, bao gồm những ngờitrong và trên độ tuổi lao động đang làm việc, những ngời trong độ tuổi lao
động nhng không có việc làm hoặc đang tìm việc
NLCN dự trữ là một phần của NLCN trong tuổi lao động nhng hiện tại
cha tham gia hoạt động kinh tế và khi cần có thể huy động đợc Bộ phận nàybao gồm những ngời đang làm công việc nội trợ trong gia đình mình, nhữngngời trong độ tuổi lao động đang đi học, những ngời không có nhu cầu làmviệc, lực lợng vũ trang, những ngời nghỉ hu sớm… Chính trong quá trình con ng
Trang 11Khi căn cứ vào vị trí, NLCN có thể chia thành ba loại sau: [42, 19]
Nguồn nhân lực chính: Đây là nguồn nhân lực có số lợng lớn nhất, nằm
trong độ tuổi lao động, đảm nhiệm chủ yếu các quá trình hoạt động KT - XHcủa đất nớc
Nguồn nhân lực phụ: là bộ phận dân c nằm ngoài độ tuổi lao động, họ
có thể tuỳ theo sức của mình để tham gia vào các hoạt động kinh tế với thờigian nhất định
Nguồn nhân lực bổ sung: là bộ phận của NLCN đợc bổ sung từ các
nguồn khác, sẵn sàng tham gia làm việc, nh số ngời trong độ tuổi lao động tốtnghiệp ra trờng, số ngời hết hạn nghĩa vụ quân sự, số ngời lao động ở nớcngoài về… Chính trong quá trình con ng
Tóm lại các khái niệm về NLCN có sự khác nhau là do cách xác định quymô NLCN dựa trên dân số Mặc dù vậy chúng đều có đặc điểm chung là phản
ánh lao động của một xã hội, một vùng, một địa phơng ở những thời điểm nhất
định Đó là bộ phận dân số đang tạo ra của cải vật chất, tinh thần chủ yếu choxã hội, quyết định sự phát triển KT- XH của quốc gia Nhng cũng sẽ là sai lầmnếu chúng ta hiểu việc tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội chỉ phụthuộc vào sức mạnh cơ bắp của NLCN Trên thực tế, NLCN đợc thực hiện trớchết bằng sức mạnh của cơ bắp song nó không chỉ dừng lại ở đó mà chính hàmlợng trí tuệ, sự hiểu biết, cũng nh những phẩm chất đạo đức, tâm lý, lối sống,khả năng lao động sáng tạo… Chính trong quá trình con ng mới là cái cốt lõi, chủ đạo quy định mặt tích cựctrong NLCN, đặc biệt là trong giai đoạn KHKT & CN phát triển nh ngày nay.Bởi vậy, ở nớc ta hiện nay, muốn thành công trong sự nghiệp CNH, HĐH đấtnớc thì phải nâng cao chất lợng NLCN mà trớc hết là phải nâng cao công tácgiáo dục - đào tạo NLCN đủ sức để hội nhập kinh tế quốc tế
* Các yếu tố ảnh hởng đến nguồn lực con ngời
NLCN của một quốc gia chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố khác nhau Cónhững yếu tố thuộc về truyền thống, sự vận động của xã hội nhng chủ yếu là
do quá trình giáo dục, đào tạo, việc làm, thu nhập, năng suất lao động, quan hệxã hội mà hình thành nên Cụ thể là những yếu tố sau:
- Thứ nhất: Sự phát triển của KT- XH tác động đến chất lợng NLCN.
Trang 12Trình độ phát triển của nền kinh tế là yếu tố tác động trực tiếp lên chất l ợng NLCN Bởi đó là cơ sở để xác định tiền lơng, thu nhập, cải thiện mức sống
-và nâng cao dân trí của ngời lao động Chỉ khi nào thu nhập tăng thì các gia
đình mới có điều kiện để thực hiện tốt các dịch vụ giáo dục, đào tạo, chăm sócsức khoẻ… Chính trong quá trình con ng Sức khoẻ, trình độ văn hoá, chuyên môn của ngời lao động đợcnâng cao thì dẫn đến chất lợng NLCN cũng đợc nâng cao Thực tế đã cho thấynếu quốc gia nào có nền kinh tế phát triển thì tỷ lệ ngời đi học văn hoá,chuyên môn sẽ cao hơn ở các quốc gia có nền kinh tế thấp Điều này chứng tỏrằng tăng trởng kinh tế là cơ sở để các quốc gia nâng cao nguồn lực tài chính,tăng đầu t cho các chơng trình giáo dục, đào tạo, văn hoá, y tế, thể thao… Chính trong quá trình con ng.Nhờ đó, quy mô giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ dân c đợc mở rộng, đờisống vật chất và tinh thần của ngời lao động đợc nâng cao Đây là tiền đề đểnguồn nhân lực phát triển về thể lực và trí lực
ở nớc ta trong những năm gần đây, nhờ kinh tế tăng trởng liên tục nên Nhà
n-ớc có điều kiện đầu t cho giáo dục - đào tạo Trong các văn kiện Đại hội toànquốc của Đảng ta định mức đầu t cho giáo dục - đào tạo nh sau: nếu năm
1990, mức chi cho giáo dục, đào tạo bằng 8,9% tổng chi ngân sách nhà nớc thì
đến năm 1995 là 10,45%, năm 2000 là 15% và 2005 là 18%, chúng ta cũng dựkiến đến năm 2010 sẽ chi cho giáo dục, đào tạo là 20% Tuy nhiên, do thunhập của nớc ta cha cao nên mức chi nh trên mặc dù đã cải thiện đợc phần nàosong vẫn cha đáp ứng đủ cho nhu cầu nâng cao chất lợng giáo dục - đào tạoNLCN
Mặt khác, khi phát triển kinh tế thì cơ cấu kinh tế ắt sẽ hợp lý, sẽ sử dụngchủ yếu các sản phẩm công nghệ hiện đại, thành tựu khoa học - kỹ thuật cũng
sẽ đợc đa vào sử dụng trong nền kinh tế và trong cuộc sống của ngời lao động
Do vậy, nó cũng sẽ đòi hỏi chất lợng nguồn nhân lực phải thay đổi cho phùhợp với sự phát triển của kinh tế
Chất lợng NLCN không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế màcòn phụ thuộc vào các yếu tố khác nh năng lực t duy, trình độ nhận thức và
đạo đức đối với nghề nghiệp, lối sống, giao tiếp ứng xử và bình đẳng giới… Chính trong quá trình con ng Trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, t duy của ngờilao động cần đợc đổi mới để phù hợp với nền sản xuất công nghiệp hoá và nềnkinh tế tri thức, đặc biệt là để thích ứng với nền kinh tế thị trờng hiện đại Điều
Trang 13này đòi hỏi mỗi thành viên trong NLCN phải không ngừng vơn lên để đổi mới
t duy, thái độ và phong cách trong nghề nghiệp Khi quá trình hội nhập diễn rathì cũng là lúc lối sống hiện đại, công nghiệp với phong cách giao tiếp và cácquan hệ ứng xử mới đợc hình thành Nó tác động trực tiếp và làm thay đổi chấtlợng NLCN
Trong một chừng mực nào đó thì vấn đề bình đẳng giới cũng là nhân tốtác động đến NLCN Kinh tế phát triển sẽ tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giớibình đẳng với nhau trong thị trờng lao động Kết quả là điều đó tạo ra động cơcho phụ nữ học tập, trau dồi kiến thức, tạo ra hớng phát triển về chất trongNLCN do chỗ nguồn nhân lực nữ đợc nâng cao
- Thứ hai: Tình trạng dinh dỡng và chăm sóc sức khoẻ tác động đến NLCN.
Chúng ta biết rằng dinh dỡng là yếu tố sống còn của con ngời Nếu thiếudinh dỡng thì cơ thể sẽ không khoẻ mạnh, do đó chất lợng công việc sẽ bịgiảm đi và nh vậy thì nguồn nhân lực sẽ bị đe doạ nghiêm trọng Cùng với vấn
đề dinh dỡng thì việc chăm sóc y tế cũng ảnh hởng tới chất lợng của NLCN.Tính hiệu quả của hệ thống y tế và khả năng tiếp cận của ngời dân với hệthống này có ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ các thế hệ nguồn nhân lực Nó
có thể làm tăng hoặc thậm chí làm giảm chất lợng NLCN
- Thứ ba: Trình độ phát triển của giáo dục - đào tạo tác động đến chất ợng NLCN.
l-Mức độ phát triển của giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng nhất tác
động đến chất lợng NLCN Nó quyết định trình độ văn hoá chuyên môn củangời lao động Mức độ phát triển của giáo dục - đào tạo càng cao thì quy mônguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật càng mở rộng vì lẽ dĩ nhiên giáo dục và
đào tạo là nguồn gốc cơ bản để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyênmôn, kỹ thuật của nền kinh tế Hơn nữa nếu mức độ phát triển của giáo dục -
đào tạo càng cao thì càng có khả năng nâng cao chất lợng theo chiều sâu củanguồn nhân lực Giáo dục - đào tạo không chỉ nâng cao trình độ dân trí mà nócòn góp phần cải thiện sức khoẻ và nâng cao tuổi thọ cho con ngời, nhờ đó màsức khoẻ của nguồn nhân lực cũng đợc đảm bảo
- Thứ t: Các chính sách của Chính phủ tác động đến chất lợng NLCN
Trang 14Việc nâng cao chất lợng nguồn nhân lực quốc gia phụ thuộc nhiều vàocác chính sách của Chính phủ vì chính những chính sách của Chính phủ sẽ tạomôi trờng pháp lý để hệ thống giáo dục - đào tạo phát triển cả về chiều rộnglẫn chiều sâu tạo nên những tiền đề cần thiết để nâng cao chất lợng NLCN.Ngoài chính sách cho giáo dục thì các chính sách về tuyển dụng, sử dụng lao
động, chính sách tiền lơng, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động… Chính trong quá trình con ngcũnggiữ một vai trò không kém phần quan trọng trong việc thúc đẩy NLCN pháttriển theo hớng tích cực Tuy nhiên, để có chính sách đúng đắn còn phải phụthuộc vào nhiều yếu tố mà trớc hết là ở sự phát triển của nền kinh tế và ở chínhtrong t duy của cá nhân con ngời trong mỗi quốc gia
- Thứ năm: Vai trò của văn hoá trong việc phát triển NLCN
Trong thời đại ngày nay, văn hoá với t cách “nền tảng tinh thần của xãhội” không chỉ “vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội”, mà là yếu tố không thể thiếu cho sự phát triển con ngời nói chung vànguồn lực con ngời nói riêng Văn hoá là một tổng hợp mang tính đa nghĩa, nótác động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Với tính cách là nhữnggiá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo ra với mục đích hớng tới cáichân, thiện, mỹ, văn hoá đã tác động tới sự phát triển của NLCN theo nhiều h-ớng khác nhau Trong một giới hạn nhất định của nền kinh tế và muốn pháttriển nền kinh tế thì trớc hết phải cần đến nhân tố văn hoá (cho dù ở trình độtối thiểu) nh học vấn, tay nghề, những hiểu biết về pháp luật… Chính trong quá trình con ng ở mỗi con ngời
Đảm bảo đợc yêu cầu này thì cũng chính là nâng cao một phần nào đó chất ợng NLCN Hơn nữa, với tính cách là những giá trị vật chất và tinh thần, vănhoá trang bị cho ngời lao động không chỉ những giá trị khoa học, công nghệ,
l-kỹ thuật, không chỉ những tri thức xã hội và nhân văn, mà còn hình thành nên
ở ngời lao động cái mà nếu thiếu nó thì họ không thể đợc coi là một con ngời
đích thực - đó chính là nhân cách Nh vậy văn hoá tác động tích cực tới chất ợng NLCN Chính vì lẽ đó mà nền văn hoá Việt Nam hôm nay không thể đứngngoài chiến lợc phát triển con ngời Việt Nam hiện đại - con ngời ngang tầm
l-đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH Nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang từng bớc xây dựng ấy nằm ngaytrong chiến lợc phát triển con ngời Việt Nam mới - con ngời đủ sức đáp ứngnhững đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH
Trang 151.1.1.2 Khái lợc về đào tạo nguồn lực con ngời
Nhân loại đã bớc vào thế kỷ 21 - thế kỷ của nền kinh tế tri thức Để thíchnghi với nền kinh tế tri thức, các nớc trên thế giới đều coi trọng việc đầu t pháttriển NLCN đặc biệt là nâng cao yếu tố trí lực thông qua giáo dục - đào tạo.Trên con đờng CNH, HĐH của mình, Việt Nam phải đồng thời thực hiệnsong song hai nhiệm vụ: một mặt là phải cải biến từ nền kinh tế nông nghiệpsang kinh tế công nghiệp, và mặt khác là phải tận dụng cơ hội đi tắt đón đầu
để đi thẳng vào những ngành sử dụng công nghệ cao của nền kinh tế tri thức
Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ này, bắt buộc chúng ta phải sử dụng đội ngũ lao
động có tri thức và tay nghề cao Nhng làm thế nào để có đội ngũ lao động đápứng đợc yêu cầu đó là một việc không dễ
Trong chiến lợc phát triển KT - XH năm 2001 - 2010, Đảng ta khẳng
định: “Để đáp ứng nhu cầu về con ngời và nguồn nhân lực là nhân tố quyết
định sự phát triển đất nớc trong thời kỳ CNH, HĐH cần tạo chuyển biến cơbản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Đào tạo lớp ngời lao động có kiến thứccơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảmvới cái mới, có ý thức vơn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũcông nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinhdoanh, nhà quản lý” [13, 201] Trong tất cả các chính sách của Đảng và Nhànớc ta trong những năm gần đây đều coi giáo dục và đào tạo là quốc sách; nóvừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững xã hội Đào tạohiện nay đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, làmột trong những tiền đề cần thiết để phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hoá, quốc phòng và an ninh nh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX vạch ra: “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực conngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bềnvững” [13, 108]
Đào tạo NLCN, có thể quan niệm rằng, đó là quá trình thúc đẩy, pháttriển NLCN tri thức, phát triển các kỹ năng và phẩm chất lao động mới, thúc
đẩy sáng tạo thành tựu khoa học - công nghệ mới, đảm bảo cho sự vận độngtích cực các ngành nghề, lĩnh vực và tiến bộ xã hội
Trang 16Quá trình đào tạo sẽ làm biến đổi NLCN cả về số lợng lẫn chất lợng và cơcấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con ngời, phát triển tiến bộ vàtừng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả về năng lực phẩm chất vànăng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức
và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi, từ trình độ chất lợng này lên trình độchất lợng khác cao hơn, toàn diện hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầunăng lực cho CNH, HĐH đất nớc
ở nớc ta hiện nay, với điều kiện hệ thống giáo dục và đào tạo phát triểnphổ biến tại các địa phơng, nông thôn, thành thị, miền núi, đồng bằng, hải đảo
đã dẫn tới việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục - đào tạo của dân c rất thuận tiện,giảm chi phí Do đó, khả năng nâng cao quy mô NLCN qua đào tạo là rất hiệnthực và đó cũng là những giải pháp để cải thiện chất lợng NLCN của các địaphơng, vùng, quốc gia Tuy vậy, để đào tạo NLCN đủ sức hội nhập kinh tếquốc tế và xây dựng thành công sự nghiệp CNH, HĐH thì cần phải hớng vàomột số ngành, lĩnh vực cơ bản sau:
- Thứ nhất, đào tạo nhân lực cho ngành công nghệ cao và ngành kinh tếmũi nhọn nh các ngành: công nghệ sinh học, công nghệ điện tử, công nghệ vậtliệu mới… Chính trong quá trình con ng
- Thứ hai, đào tạo NLCN cho các khu công nghệ cao, khu công nghiệptập trung, khu chế xuất, khu kinh tế mở trên cả nớc
- Thứ ba, đào tạo NLCN cho các ngành dịch vụ chất lợng cao, trình độ cao
nh các ngành: giáo dục - đào tạo, ngân hàng, y tế, bảo hiểm, tài chính, kếtoán… Chính trong quá trình con ng
- Thứ t, đào tạo NLCN cho các khu vục có vốn đầu t nớc ngoài (FDI)
- Thứ năm, đào tạo NLCN phục vụ quá trình CNH, HĐH ở nông nghiệp
và nông thôn
- Thứ sáu, đào tạo NLCN phục vụ cho lĩnh vực xuất khẩu lao động
Đó là những ngành, lĩnh vực cơ bản mà trớc mắt cần phải tập trung vào
đào tạo Sau khi những ngành, lĩnh vực đó cơ bản đã hoàn thành thì tiến tới
đào tạo các ngành khác Việc đào tạo đợc chia ra thành các loại hình khácnhau, bao gồm các loại hình sau:
Trang 17- Thứ nhất là đào tạo mới: loại hình này sẽ áp dụng cho những ngời cha
có nghề, phải đào tạo những kiến thức cơ bản từ đầu
- Thứ hai là đào tạo lại: đợc áp dụng cho những ngời đã có nghề, song vì
lý do nào đó mà nghề của họ không còn phù hợp nữa, phải đào tạo lại
- Thứ ba là đào tạo nâng cao: việc đào tạo này nhằm bồi dỡng nâng caokiến thức và kinh nghiệm làm việc để ngời lao động có thể đảm nhiệm đợccông việc phức tạp hơn và làm việc có năng suất cao hơn
- Thứ t là đào tạo liên thông: đây là loại hình đào tạo nhằm chuyển đổigiữa lao động kỹ thuật thực hành thành lao đông chuyên môn mang tính hànlâm và ngợc lại
Nh vậy quá trình đào tạo NLCN là con đờng đa dạng, phong phú songcũng vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài Nó đòi hỏi phải có những giảipháp cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực Chỉ khi nào chúng ta làm đợc điều
đó thì mới có đợc nguồn nhân lực chất lợng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
đất nớc
1.1.2 Khái lợc về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.2.1 Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH đất nớc là một quá trình rộng lớn và phức tạp, là quá trình tạo
ra những chuyển biến về chất theo hớng tích cực, hiện đại trong toàn bộ cáchoạt động của đời sống xã hội, mà trớc hết là hoạt động sản xuất vật chất
ở nớc ta, từ trớc đến nay Đảng ta luôn quan niệm CNH, HĐH là bớcchuyển từ một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu lên nền sản xuất lớn cócác ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuậttiên tiến CNH, HĐH ở nớc ta nhằm vào thực hiện các mục đích của nền kinh
tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lợng sản xuất, pháttriển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của CNXH; nâng cao đờisống nhân dân; phát triển lực lợng sản xuất hiện đại, gắn liền với xây dựngquan hệ sản xuất mới, phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ 7 (khoá VII) của Đảng đã đa
ra khái niệm về CNH, HĐH: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản,toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xãhội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
Trang 18lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựatrên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suấtlao động xã hội cao” [9, 42].
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nh hiện nay nhất là khi chúng ta
đã gia nhập WTO, Đảng ta tiếp tục thực hiện quan điểm xây dựng nền kinh tế
mở, đa phơng và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại trên cơ sở đôi bên cùng có lợi,giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia Đồng thời Đảng ta cũng cho rằng muốnphát triển nền kinh tế thì phải thờng xuyên thúc đẩy mở cửa trên cơ sở khuyếnkhích các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết nhằm thu hút vốn, công nghệcùng những kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nớc ngoài
Khái niệm “hiện đại hoá” đợc hiểu là làm cho cái gì đó mang tính chấtcủa thời đại ngày nay, nó bao hàm hai phơng diện thứ nhất là về kinh tế kỹthuật - đây là phơng diện mà hiện đại hoá làm cho kỹ thuật và công nghệ sảnxuất cũng nh cơ cấu kinh tế đạt đợc trình độ tiên tiến của thời đại, ở nghĩa nàythì hiện đại hoá đồng nhất với khái niệm “hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân”.Hiện đại hoá còn đợc hiểu ở phơng diện thứ hai là về KT - XH ở đây hiện đạihoá là quá trình xây dựng một xã hội văn minh công nghiệp và cải biến cácngành kinh tế, các hoạt động xã hội chủ yếu theo phong cách của nền côngnghiệp lớn hiện đại Hiện đại hoá bao giờ cũng hớng đến mục tiêu cuối cùng
là vì sự phát triển KT - XH, phát triển con ngời, đảm bảo tính nhân văn Nhvậy hiện đại hoá chính là quá trình sử dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật - côngnghệ trong sản xuất, trong tổ chức, quản lý, điều hành xã hội cũng nh trongcách thức sống của con ngời để đem lại cho con ngời một cuộc sống tốt đẹphơn, nâng cao phúc lợi cho xã hội, từ đó góp phần vào việc thúc đẩy xã hộiphát triển
Trong lịch sử nhân loại có những mô hình CNH, HĐH sau đây [27,19]:
- Mô hình công nghiệp hoá cổ điển: Tiêu biểu cho mô hình này là cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứhai diễn ra ở Anh và các nớc châu Âu - Bắc Mỹ Mục tiêu u tiên hàng đầu củamô hình công nghiệp hoá cổ điển là tăng trởng kinh tế, coi lợi nhuận là độnglực duy nhất của sự phát triển ở đây con ngời chỉ đợc coi là vật phụ thuộc củamáy móc, ngời ta chỉ thiên về việc khai thác khía cạnh sinh vật, cơ bắp củacon ngời chứ cha thấy vai trò chủ động, sáng tạo có tính quyết định của con
Trang 19ngời lao động có ý thức Tuy nhiên với mô hình này thì nguồn lực tự nhiên, kỹthuật và sức lao động cơ bắp của con ngời đợc khai thác triệt để đã tạo ra đợckhối lợng vật chất khổng lồ thúc đẩy xã hội phát triển
- Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu: Mô hình này xuất hiện
vào những năm 50, 60 của thế kỷ 19 ở các nớc đang phát triển nh Liên Xô cũ,
và một số nớc ở châu á, Phi, Mỹ La tinh Mô hình này đã xác lập một nềncông nghiệp hoàn chỉnh với những ngành năng lợng, luyện kim, cơ khí, côngnghiệp nặng ở đây, mặc dù đã có sự khẳng định vai trò quyết định của conngời đối với sự phát triển xã hội song vì thực hiện trong cơ chế kế hoạch hoátập trung, bao cấp và chế độ phân phối theo kiểu bình quân, nên quá trìnhcông nghiệp hoá đã không khai thác đợc triệt để, hợp lý, có hiệu quả nguồnnhân lực, không kích thích đợc tính tích cực, năng động, sáng tạo của ngời lao
động Hơn nữa, nó còn tạo ra một đội ngũ những ngời lao động thụ động,trông chờ, ỷ lại, lãng phí, không biết lo toan, tính toán
- Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu: Mô hình này xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ 20 dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh mà nhà kinh tế
học D Ricardo đã đa ra từ đầu thế kỷ 19 Nội dung của mô hình này là pháttriển các ngành sản xuất hàng hoá chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu trên cơ sởkhai thác lợi thế so sánh của mỗi quốc gia Nhờ chủ trơng khuyến khích xuấtkhẩu nên mô hình này đã tạo ra nhiều việc làm, khai thác đợc lợi thế so sánh
về hàng hoá và lao động, hỗ trợ đào tạo nghề cho ngời lao động, tạo môi trờng
để ngời lao động tiếp xúc với công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm, nângcao trình độ chuyên môn và quản lý, do đó góp phần nâng cao chất lợng lao
động và tăng năng lực khai thác lực lợng lao động xã hội Mô hình này đợcvận dụng thành công ở một số nớc Đông á và Mỹ La tinh, hình thành nhữngnớc công nghiệp hoá mới (NICs) hoặc những nền kinh tế công nghiệp hoá mới(NIEs) Tuy nhiên mô hình này cũng có hạn chế là làm trầm trọng thêm tìnhtrạng bất bình đẳng trong các quan hệ kinh tế quốc tế
- Mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp theo hớng hội nhập quốc tế: Mô
hình này đang trong quá trình hình thành, khảo nghiệm và có một số đặc điểm
sau: Một là xây dựng cơ cấu công nghiệp theo hớng hội nhập quốc tế; Hai là
xây dựng thể chế KT - XH theo hớng hội nhập quốc tế, với hai tính chất: mở
và phù hợp với các định chế kinh tế toàn cầu trong quá trình công nghiệp hoá
và phát triển (WTO, IMF, WB… Chính trong quá trình con ng Ba là xây dựng nguồn nhân lực hội nhập)
Trang 20quốc tế Toàn bộ kết cấu nguồn nhân lực phải phấn đấu đạt tiêu chuẩn quốc tế,
từ các nhà hoạch định chiến lợc, chính sách đến các nhà quản lý, đội ngũ cán
bộ khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, công nhân… Chính trong quá trình con ng Số quốc gia thực hiện môhình này đang ngày càng tăng lên, nổi bật là các nớc Đông Nam á, trong đó
có nớc ta Do đó, muốn có một nguồn nhân lực hội nhập quốc tế thì tất yếuphải tăng mạnh ngân sách đầu t cho giáo duc, đào tạo, đồng thời phải mở rộnghợp tác quốc tế trong phát triển và khai thác, sử dụng nguồn nhân lực
1.1.2.2 Những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay
ở nớc ta hiện nay CNH, HĐH đợc hiểu là quá trình cải biến lao động thủcông, lạc hậu thành lao động sử dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đạinhằm phát triển lực lợng sản xuất và thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới,hợp lý để đạt tới năng suất lao động xã hội cao, công nghiệp hoá gắn liền vớihiện đại hoá dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- côngnghệ Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta còn khẳng định CNH,HĐH ở nớc ta hiện nay phải gắn với sự phát triển của kinh tế tri thức Cụ thể,
mô hình CNH, HĐH ở nớc ta hiện nay bao gồm những nội dung lớn sau đây: Một là: công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá; kết hợp công nghệ
truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hoá ởnhững khâu quyết định
Hai là: CNH, HĐH đợc thực hiện trong điều kiện cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản
Ba là: CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo
Bốn là: CNH, HĐH gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế mở.
Trang 21biệt là năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị,phẩm chất đạo đức… Chính trong quá trình con ng Để làm đợc điều này thì cần thiết phải đẩy mạnh côngtác giáo dục - đào tạo đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đất nớc.
1.2 Vai trò và yêu cầu của đào tạo nguồn lực con ngời ở các trờng Đại học trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nớc ta
1.2.1 Vai trò của đào tạo nguồn lực con ngời phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Đẩy mạnh phát triển đất nớc theo hớng CNH, HĐH là một trong nhữngvấn đề quan trọng đặt ra trong những kỳ Đại hội gần đây của Đảng ta Tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta khẳng định: nớc ta bớc vào thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH Nhiệm vụ này tiếp tục đợc khẳng định tại Đại hội IX
Đến Đại hội X thì sự khẳng định “đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triểnkinh tế tri thức” [ 14, 28] đã trở thành một nội dung lớn trong văn kiện của Đạihội và đợc xác định là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân trong nhữngthập niên tới
Để có thể thực hiện đợc mục tiêu đó, Đảng ta nhấn mạnh: “Nâng cao dântrí, bồi dỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhữngnhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH”
Đất nớc ta còn chậm phát triển Do đó trong CNH, HĐH chúng ta khôngthể phát triển theo chiến lợc kiểu “dẫn đầu” (Leader) nh của Mỹ, của Liên Xô
cũ và của Nhật trong những năm gần đây Chúng ta cũng không thể phát triểntheo kiểu “theo sát” ( Follower) nh của Nhật, của các nớc phát triển ở châu Âu
đợc Mà với tình hình và lợi thế hiện nay thì chúng ta chỉ có thể phát triểnCNH, HĐH theo kiểu “mở rộng”(Extender) và kiểu “khai thác” (Exploiter) -
đây là những mô hình CNH, HĐH phù hợp với những nớc đang phát triển nhnớc ta [34, 7]
Để phát triển CNH, HĐH theo hai mô hình “mở rộng” và “khai thác” thì
có nhiều thách thức đang đặt ra và cần phải giải quyết, trong đó thách thức lớnnhất là con ngời và đào tạo NLCN phục vụ cho quá trình CNH, HĐH Bởi vìtrong mối quan hệ và tác động qua lại với quá trình CNH, HĐH thì yếu tố conngời là quan trọng nhất, giữ vị trí trung tâm, quyết định sự thành công hay thấtbại của CNH, HĐH Điều này thể hiện ở chỗ: một mặt, con ngời là chủ thể của
Trang 22quá trình CNH, HĐH, là lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại,nhng mặt khác con ngời còn là động lực cơ bản nhất của sự nghiệp CNH,HĐH NLCN là lực lợng duy nhất có khả năng phát hiện, xác định mục tiêu,nội dung và tiến hành đề ra những giải pháp để thực hiện CNH, HĐH Đồngthời trong tất cả các nguồn lực (con ngời, vốn tài nguyên… Chính trong quá trình con ng) thì chỉ có NLCN
là lực lợng căn bản nhất giữ vai trò thực hiện quá trình CNH, HĐH Thực tếcho thấy quá trình CNH, HĐH sẽ không thành công nếu thiếu nguồn nhân lựcnói chung và nguồn nhân lực chất lợng cao nói riêng Vì lẽ đó mà cần thiếtphải phát triển và đào tạo NLCN
Chúng ta đều biết rằng, bản thân quá trình CNH, HĐH là vấn đề côngnghệ Do đó, muốn rút ngắn quá trình CNH, HĐH thì trong lĩnh vực côngnghệ chúng ta phải “mua một số” và “tự làm lấy một số” Song, con đờng pháttriển công nghệ đối với nớc ta là vấn đề khó khăn Việc “tự làm lấy một số”không thể nói mà làm ngay đợc, mà trớc mắt, ở giai đoạn đầu của con đờngphát triển công nghệ chúng ta chủ yếu vẫn phải là “chuyển giao công nghệ”
nh đầu t trực tiếp của nớc ngoài, nhập khẩu máy móc, thiết bị, hỗ trợ kỹ thuật,các dịch vụ t vấn, mua bằng sáng chế, cùng các hợp đồng “chìa khoá trao tay[34, 8]
Xuất phát từ vấn đề trên mà nảy sinh tính vô cùng cấp thiết của việc đàotạo NLCN phục vụ cho CNH, HĐH Trong đó, trọng tâm của đào tạo NLCNphục vụ cho CNH, HĐH trớc mắt là đào tạo khả năng về công nghệ Côngnghệ ở đây phải đợc hiểu đầy đủ là bao gồm bốn thành phần: thiết bị kỹ thuật,máy móc; nhân lực; thông tin và tổ chức quản lý Do vậy, đào tạo khả năng vềcông nghệ là phải đào tạo cả bốn thành phần đó Nếu đào tạo không đủ, thiếumột trong bốn thành phần thì không thể thành công trong quá trình CNH,HĐH Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao nhất cần chú trọng tới việc kết hợp thànhcông giữa yếu tố thiết bị kỹ thuật, máy móc với nguồn nhân lực vì việc kết hợpnày giữ vai trò chủ đạo
Khi nghiên cứu những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công của cácnớc châu á có nền công nghiệp phát triển cao nh Hàn Quốc, Nhật Bản,Malaixia… Chính trong quá trình con ng, ngời ta cho rằng không phải do các nớc này có công nghệ mới mà
là do họ biết kết hợp giữa những thành tựu khoa học, công nghệ của phơngTây với tinh thần dân tộc mà trớc hết là việc phát huy NLCN Điều này, không
Trang 23phải đến bây giờ ngời ta mới biết, mà cách đây hơn một thế kỷ, khi nói về vaitrò của yếu tố con ngời đối với sự phát triển, cụ thể là sự phát triển trong lĩnhvực sản xuất, Ph.Ăngghen đã đề cập: “Chỉ có phơng tiện cơ giới và hoá họcphù trợ thì không đủ Còn cần phải phát triển một cách tơng xứng nhân lực củacon ngời sử dụng những phơng tiện đó nữa” [2, 474] Điều quan trọng còn lại
ở đây là ngời ta có làm hay không mà thôi
Thực tiễn của nớc ta cũng nh của các nớc phát triển đã chỉ ra rằng quátrình CNH, HĐH diễn ra nhanh hay chậm, đạt đợc hiệu quả cao hay thấp… Chính trong quá trình con ng là
do sự quy định của nhiều yếu tố nh vốn, khoa học kỹ thuật, con ngời… Chính trong quá trình con ng, trong
đó yếu tố con ngời và chất lợng NLCN là cơ bản nhất Sức mạnh của NLCNkhông chỉ thể hiện ở tri thức (trí lực, chất xám) hay năng lực cơ bắp mặc dùnhững yếu tố này là vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện khoa học
kỹ thuật trên thế giới phát triển nh hiện nay Thực tế đã chứng minh trongnhiều trờng hợp, sức mạnh của NLCN còn đợc hình thành, nuôi dỡng và pháthuy bởi sự dũng cảm, năng lực sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm… Chính trong quá trình con ng Nhvậy, vấn đề ở đây là không chỉ dừng lại ở việc chú trọng và áp dụng các thànhtựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hay phát triển cơ sở hạ tầng để thựchiện CNH, HĐH mà cần tiến tới một vấn đề then chốt nhất là phát triển và đàotạo NLCN Bởi lẽ phát triển và đào tạo NLCN sẽ tạo cơ hội cho mọi ng ời tiếpcận với các dịch vụ xã hội cần thiết nh giáo dục - đào tạo, chăm sóc y tế, vănhoá thể thao… Chính trong quá trình con ng tức là nâng cao chất lợng NLCN
Một vấn đề nữa cần đề cập tới là, trong điều kiện hiện nay, vai trò của đàotạo NLCN phục vụ cho quá trình CNH, HĐH thể hiện rõ ở chỗ thông qua đàotạo mà chất lợng NLCN đợc nâng cao, do đó năng lực trong sáng tạo, giảiquyết công việc của nguồn nhân lực phổ biến hơn, điều đó làm rút ngắn điphần nào thời gian cho CNH, HĐH
Nguồn lao động ở nớc ta trong những năm gần đây là khá dồi dào, tỷ lệngời lao động trẻ ở nhóm tuổi từ 16 đến 35 tuổi chiếm tới 65,2% tổng số lao
động, đây là nhóm có u thế về sức khoẻ, sức vơn lên, năng động và sáng tạo.Trong những năm gần đây, chỉ số giáo dục ở nớc ta đã bằng và vợt một số nớctrong khu vực, cơ cấu và trình độ đào tạo nghề đối với ngời lao động đã cónhiều biến đổi rõ rệt, tỷ lệ lao động kỹ thuật cũng tăng nhanh và chỉ số pháttriển con ngời (HDI) thì không ngừng tăng Song nhìn tổng thể thì NLCN của
Trang 24nớc ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể là tỷ lệ lao động đã qua đào tạocòn thấp, ngời lao động cha vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ nên cha đápứng đợc nhu cầu đất nớc đặt ra Theo kết quả điều tra thì tính đến năm 2004 tỷ
lệ lao động qua đào tạo chỉ tăng 1,5% so với năm 2003, mới đạt 22,5%, trong
đó tỷ lệ qua đào tạo nghề là 13,3% Nếu tính theo thang điểm quốc tế thì trình
độ chuyên môn của ngời lao động nớc ta chỉ đạt 17,86/60 điểm (điểm tối đa).Tính đến năm 2004 thì tỷ lệ về trình độ đào tạo giữa đại học/trung học chuyênnghiệp/công nhân kỹ thuật là 1/0,91/2,75, con số này thể hiện sự mất cân đốinghiêm trọng giữa các cấp đào tạo, biểu hiện cụ thể là trên thị trờng lao độngthiếu một số lợng lớn công nhân kỹ thuật lành nghề và lành nghề cao, trongkhi đó ở các nớc phát triển thì cứ 1 ngời đạt trình độ đại học thì có 4 ngời đạttrình độ trung học chuyên nghiệp và 20 ngời có trình độ công nhân kỹ thuật[41, 18] Nh vậy, với thực trạng này thì trình độ NLCN ở nớc ta là quá thấp,bởi vậy cần phải đẩy mạnh công tác đào tạo NLCN cho nớc ta hiện nay
Tuy nhiên, để đào tạo đợc NLCN phục vụ tốt cho quá trình CNH, HĐH,chúng ta phải có những quan điểm và giải pháp đúng đắn Có thể nêu lên một
số giải pháp sau:
- Thứ nhất: Đảng và nhà nớc ta đã kiên trì mục tiêu CNXH nên quan điểm
đầu tiên là phải đào tạo NLCN theo định hớng XHCN Điều đó có nghĩa là đàotạo NLCN cần thiết phải hớng vào sự phát triển toàn diện con ngời cả về trítuệ, tình cảm, tinh thần và thể chất Trên cơ sở đó hình thành nhân cách, đạo
đức, tác phong công nghiệp, t duy nhạy bén với sự tiến bộ của KHCN cùng vớimột thể lực cờng tráng, sức lao động bền bỉ dẻo dai, làm việc có năng suất,chất lợng, đời sống văn hoá phong phú Yêu cầu về đào tạo NLCN phục vụcho CNH, HĐH theo quan điểm này chính là đào tạo NLCN phải tập trung ởnguồn nhân lực chất lợng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức Việc
“đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức” là vấn đề cốt lõi, làmục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta trong những thập niên tới Đảng
ta trong đại hội X đã khẳng định “tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc
tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nớc ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH theo
định hớng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu
tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH” Để thực hiện mục tiêu này phải
“đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lợngcao” [14, 34]
Trang 25Việc phát triển NLCN nói chung và nguồn nhân lực chất lợng cao nóiriêng cho CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục Hệ thống giáo dục,
đào tạo phải tạo ra đội ngũ lao động có chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng yêu cầucủa CNH, HĐH nh đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ s, cử nhân… Chính trong quá trình con ng Việc
đào tạo công nhân kỹ thuật giữ vị trí quan trọng đối với nớc ta hiện nay bởi lẽcông nhân kỹ thuật là đội ngũ chiếm tỷ lệ cao nhất trong lực lợng lao động và
có vai trò đảm bảo cho sự thành công của quá trình CNH, HĐH đất nớc Đảng
và Nhà nớc ta đặc biệt quan tâm đến đội ngũ lao động này Chiến lợc của
Đảng về lao động - việc làm và phát triển nguồn nhân lực từ năm 2001 đến
2010 đã xác định NLCN là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nớc trongthời kỳ CNH, HĐH Do đó cần tạo ra sự chuyển biến cơ bản và toàn diện vềgiáo dục, đào tạo, nhất là việc đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhânviên nghiệp vụ theo nhiều cấp độ, trình độ
Cùng với việc nhấn mạnh đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật có taynghề cao là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Đảng và Nhà nớc ta cũngxác định rằng khi chúng ta đã vào WTO thì nhu cầu về một đội ngũ ngời lao
động có hàm lợng chất xám cao là một tất yếu Nhiệm vụ này thuộc về giáodục Đại học và trên Đại học Tuy nhiên, việc đào tạo ở Đại học và trên Đạihọc chủ yếu tạo ra lực lợng lao động chuyên môn có hệ kiến thức hàn lâm,kiến thức lý thuyết và làm các công việc nh: nghiên cứu khoa học, phân tích vàthống kê kinh tế, giáo viên các trờng đại học (không gồm giáo viên kỹ thuật hệthực hành), nhà quản lý, các chuyên gia thuộc các lĩnh vực KT - XH khácnhau Mặc dù không trực tiếp tạo ra sản phẩm nh lực lợng công nhân kỹ thuậtnhng lực lợng lao động này là cầu nối giữa lực lợng công nhân kỹ thuật và sảnphẩm để có đợc những sản phẩm có chất lợng cao đủ sức hội nhập với nềnkinh tế thế giới
NLCN đợc đào tạo thờng xuyên sẽ liên tục cập nhật đợc những thông tin,tri thức KHCN tiên tiến và hiện đại đáp ứng tốt nhu cầu của thị trờng lao động,nhu cầu nhân lực của các khu vực, ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Nếu đàotạo gắn liền với sự phát triển của thị trờng lao động sẽ là động cơ thúc đẩy cácngành, các lĩnh vực phát triển nhanh, đạt hiệu quả KT - XH cao, trên cơ sở đóthúc đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH
Trang 26- Thứ hai: Vai trò của việc đào tạo NLCN còn thể hiện ở chỗ: ngoài việcnâng cao nguồn lực trí lực cho NLCN, thì việc nâng cao thể chất cho NLCNcũng đóng vai trò quyết định tới sự thành công của quá trình CNH, HĐH bởiyêu cầu khách quan của quá trình này đòi hỏi phải có con ngời có đủ sức khoẻ
để hội nhập Vấn đề nâng cao thể lực cho con ngời Việt Nam đã trở thànhchiến lợc quốc gia và đợc thể hiện ở Đại hội X “Xây dựng chiến lợc quốc gia
về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc cho con ngời Việt Nam, tăng tuổi thọ và cảithiện chất lợng giống nòi” [10, 33] Chỉ khi nào chúng ta kết hợp tốt giữa thểlực và trí lực trong phát triển NLCN thì con ngời mới trở thành vốn quý nhất đ-
a Việt Nam sớm thoát khỏi tình trạng nớc kém phát triển và vơn lên trở thànhmột nớc công nghiệp theo hớng hiện đại trong tơng lai gần
- Thứ ba: Việc đào tạo NLCN, nếu đảm bảo sự công bằng xã hội, tạo cơhội cho tất cả mọi ngời, nhất là con em những gia đình có công với nớc, ngờinghèo, vùng sâu, vùng xa đợc tiếp cận hệ thống đào tạo thì ở những nơi đó sẽphát triển về số lợng NLCN có chất lợng cao, góp phần vào viêc xây dựngthành công sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và miền núi, hải
đảo
- Việc đào tạo NLCN, nếu gắn liền với yêu cầu của toàn cầu hoá và trithức hoá kinh tế sẽ tạo tiền đề để CNH, HĐH phát triển theo hớng tiến bộ, tíchcực, phù hợp với xu thế phát triển chung của nhân loại Bởi, hiện nay các quốcgia trên thế giới đều có sự chạy đua gay gắt về phát triển NLCN để nâng caohàm lợng tri thức và hàm lợng KHCN trong từng sản phẩm, từng ngành và nềnkinh tế Nếu chúng ta không nhận thức rõ điều này thì khi chúng ta tiến hànhxong CNH, HĐH thì nó lại trở nên lạc hậu và chúng ta lại phải tiến hành mộtquá trình CNH, HĐH mới Do đó mà đào tạo NLCN theo xu hớng chung màcác nớc trên thế giới đang làm sẽ tạo ra nguồn “vốn nhân lực” càng ngày càng
có chất lợng cao hơn thúc đẩy sự cạnh tranh hiệu quả của nền kinh tế và đápứng quá trình cạnh tranh về nhân lực trên thị trờng lao động quốc tế Muốnlàm đợc điều này thì hệ thống và các chính sách đào tạo của nớc ta phải luônluôn đợc bổ sung, hoàn thiện để bắt nhịp đợc xu hớng chính sách, thể chế đàotạo của thế giới
Tóm lại, đầu t, phát triển và đào tạo NLCN trên cơ sở nâng cao trình độtri thức và khả năng ứng xử nhanh nhạy, quyết đoán, sáng tạo sẽ là yếu tố
Trang 27quyết định nhất tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế nóichung, CNH, HĐH nói riêng ở Việt Nam hiện nay.
1.2.2 Yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với việc đào tạo nguồn lực con ngời
Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển NLCN trong điều kiện cách mạngkhoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức phát triển nh ngày nay đợc coi làphơng thức cơ bản, quan trọng nhất để biến một xã hội nông nghiệp, lạc hậu,thành một xã hội công nghiệp, văn minh Do vậy mà hai quá trình này phải tồntại trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau một cách biện chứng
Khi chúng ta khẳng định vai trò quan trọng và tính chất quyết định củaviệc đào tạo NLCN đối với tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH thì ngợc lại, chúng
ta cũng cần phải thấy rằng quá trình CNH, HĐH có những ảnh hởng và yêucầu nhất định đối với mục tiêu đào tạo NLCN Quá trình CNH, HĐH đặt ra
đối với NLCN nớc ta các yêu cầu chính sau đây:
- Thứ nhất: CNH, HĐH cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức mànội dung cốt lõi của nó là cuộc cách mạng KHCN mang tính chất toàn cầuhiện nay đã dẫn tới sự thay đổi toàn diện bộ mặt của nền kinh tế thế giới Sảnphẩm hàng hoá của nền kinh tế tri thức khi ra đời đòi hỏi phải có hàm lợngkhoa học trí tuệ cao, u tiên chất lợng hơn số lợng Nếu trớc đây đầu vào vậtchất của quá trình sản xuất tăng, đầu vào trí tuệ chỉ cần đạt tới mức cần thiếtthì ngày nay do áp dụng công nghệ sản xuất mới nên cơ cấu sản xuất thay đổi.Bởi vậy mà đầu vào vật chất của quá trình sản xuất ngày càng giảm và ngàycàng tăng cho đầu vào trí tuệ Điều này cũng có nghĩa là mạng lới thông tin, trithức là những yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của cơ cấu sản xuất
Do đó, chất lợng NLCN, mà đặc biệt là sự hiểu biết và sáng tạo của con ngờicàng ngày càng có vai trò quan trọng quy định sự phát triển Tất cả những điềunày nhằm nói lên rằng CNH, HĐH đặt ra yêu cầu mở rộng quy mô NLCN cótrình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Thật vậy, khi áp dụng phổ biến công nghệ mới trong sản xuất nh côngnghiệp sinh học, tin học, năng lợng, vật liệu mới… Chính trong quá trình con ng sẽ bắt buộc ngời lao độngphải thờng xuyên tự đổi mới đầu óc của mình Khả năng chủ động, linh hoạt,sáng tạo, học hỏi, thu nạp thêm kiến thức phải thờng xuyên diễn ra trong quátrình lao động của họ Mặt khác, dới sự tác động của cách mạng KHCN ngày
Trang 28nay, các nớc dù muốn hay không đều tham gia dù ít hoặc nhiều vào các quan
hệ kinh tế quốc tế Xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới
đang phát triển mạnh Nó lôi kéo, cuốn hút hầu hết các quốc gia tham gia.Hàng loạt các tổ chức liên kết kinh tế thế giới nh WTO, EC, AFTA,NAFTA… Chính trong quá trình con ng ra đời và phát triển mạnh mẽ Những tổ chức này thúc đẩy quátrình hợp tác, đầu t, buôn bán, giao dịch giữa các nớc, và kết quả của nó làthúc đẩy nền kinh tế của các nớc phát triển Song, để có thể gia nhập một cáchtích cực vào các tổ chức ấy, đòi hỏi các nớc phải phát triển mạnh về NLCN,bởi nếu mỗi nớc không tự chuẩn bị, trang bị về nội lực, không tự nâng caochất lợng nguồn nhân lực thì không thể cạnh tranh với các nớc khác và kết quả
là sẽ bị tụt hậu, lệ thuộc hoặc sẽ bị đẩy ra khỏi quá trình toàn cầu hoá
Đối với nớc ta, chúng ta đã là thành viên của APEC, WTO, AFTA, do vậychúng ta sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH.Song, chúng ta cũng không thể không tuân theo quy luật chung của sự pháttriển kinh tế là phải phát triển mạnh về chất lợng NLCN Đảng ta đã khẳng
định phát triển CNH, HĐH là phải phát triển NLCN, mục tiêu “phát huy nhân
tố con ngời trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụcông dân, kết hợp tốt tăng trởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vậtchất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trớc mắt với chăm lo lợiích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [8, 13] đã đợc Đảng
và Nhà nớc ta xác định rõ và cho rằng đó là mục tiêu trớc mắt và lâu dài trongquá trình xây dựng đất nớc Đại hội IX và X của Đảng ta tiếp tục khẳng định
sự cần thiết phải nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi ngời đều có thể pháthuy tài năng, tham gia vào các quá trình phát triển Với những định hớng chiếnlợc này, trong những năm gần đây, việc phát triển NLCN ở nớc ta đã đợc quantâm đặc biệt Báo cáo phát triển con ngời năm 2003 của Chơng trình Liên hợpquốc (UNDP) đã nhận định trong thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt đợc những
tiến bộ vợt bậc về giảm nghèo và phát triển con ngời, chỉ số phát triển của con
ngời Việt Nam liên tục tăng từ 0,583 năm 1985 lên 0,605 năm 1990, 0,649năm 1995 và 0,688 trong hai năm 2002, 2003, còn chỉ số nghèo khổ HPIchúng ta xếp thứ 43 trong 88 nớc đang phát triển [35, 3] Tuy vậy, sự pháttriển NLCN ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Theo đánh giá của Viện Chiếnlợc và Chơng trình giáo dục thì chỉ số tổng hợp về chất lợng giáo dục vàNLCN của Việt Nam mới chỉ đạt 3,79 điểm (tính theo thang điểm 10), sự
Trang 29thành thạo Tiếng Anh đạt 2,62 điểm và sự thành thạo công nghệ cao đạt 2,50
điểm So với các nớc châu á thì chúng ta đứng thứ 11, còn so với các nớc
Đông Nam á thì chúng ta đứng thứ 5 sau Singapo, Malaixia, Philippin và TháiLan Điều này phản ánh tỷ lệ lao động qua đào tạo của chúng ta còn ít, trình
độ chuyên môn thấp, tay nghề cha cao Thực trạng này đặt ra cho chúng ta làphải phát triển hơn nữa NLCN để phục vụ cho quá trình CNH, HĐH
- Thứ hai: CNH, HĐH với việc sử dụng rộng rãi KHCN hiện đại và trong
xu thế toàn cầu hoá kinh tế thì tính cạnh tranh về chất lợng sản phẩm và lao
động nâng cao ở phạm vi toàn thế giới, do đó nó đòi hỏi chất lợng NLCN cũngphải đợc đổi mới để đạt chuẩn quốc tế Muốn vậy, giáo dục và đào tạo cầnthiết phải đổi mới để đủ sức cung ứng cho thị trờng lao động trong nớc vàquốc tế, số lợng nguồn nhân lực có chất lợng cao, phù hợp với yêu cầu pháttriển của đất nớc và quốc tế ở nớc ta, trớc yêu cầu của thị trờng trong nớc vàquốc tế, Đảng và Nhà nớc đã xác định nhiệm vụ đặt ra cho hệ thống giáo dục -
đào tạo là phải cung ứng đợc nguồn nhân lực chuyên môn - kỹ thuật cao chophát triển các ngành công nghiệp, xây dựng, kết cấu hạ tầng, dịch vụ và cácngành đầu t cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Đây lànhiệm vụ khó khăn, nó đòi hỏi giáo dục - đào tạo phải phát huy hết vai trò vàtrách nhiệm của mình
- Thứ ba: CNH, HĐH là điều kiện vật chất cần thiết để cải biến t tởng tiểunông, sản xuất nhỏ của một bộ phận đáng kể lực lợng lao động xã hội, thúc
đẩy t duy, trí tuệ của lực lợng lao động này phát triển theo hớng tiếp cậnnhững thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
Thực tế cho ta thấy rằng, xã hội ta hiện nay vẫn còn mang dấu ấn của mộtnớc nông nghiệp, bằng chứng là hiện tại chúng ta vẫn còn có một số lực lợng
đông đảo là ngời nông dân (chiếm khoảng 80% dân số cả nớc) Trong quátrình lao động họ biểu hiện ra những t tởng, tâm lý còn lạc hậu, nông cạn nhtình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, ý thức tổ chức kỷ luật kém,… Chính trong quá trình con ng Những ttởng này không những tồn tại ở họ từ rất lâu mà thậm chí nó còn phổ biến ởmột bộ phận không nhỏ cán bộ, công nhân viên chức nhà nớc Vấn đề đặt ra ở
đây là, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc sẽ tạo nên sự thay đổi mạnh mẽ, tích cựctrong thói quen, trong nhận thức và hành động mang tính kinh nghiệm trớc
Trang 30đây của ngời nông dân Kết quả là sẽ đổi mới t duy, trí tuệ của ngời lao động.
Nh vậy, do đẩy mạnh CNH, HĐH mà chất lợng của NLCN đợc nâng cao
- Thứ t: CNH, HĐH còn là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện mục tiêugiải phóng và phát triển con ngời một cách toàn diện CNH, HĐH là yêu cầuquan trọng để hớng tới mục tiêu “tăng cờng kinh tế đi liền với phát triển vănhoá, từng bớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội” [13, 89] Nh vậy, ở đây CNH, HĐH là nhân tốquan trọng để thay đổi cuộc sống con ngời Chúng ta, ai cũng biết rằng, conngời vừa là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự phát triển Với t cách là
động lực, con ngời tiến hành CNH, HĐH để phát triển kinh tế - xã hội Nhngngợc lại, chính quá trình CNH, HĐH cũng sẽ tác động trở lại để phục vụ tốthơn nhu cầu sống cho con ngời, nó làm thay đổi những định hớng giá trị trongcon ngời, trên cơ sở đó thúc đẩy NLCN phát triển Điều này thể hiện rõ nhất ởchỗ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà quá trình CNH, HĐH đem lại đãcho phép vợt qua những nhu cầu thiết yếu trong đời sống con ngời nh ăn, mặc,
ở… Chính trong quá trình con ng Con ngời đòi hỏi thực hiện nhu cầu xã hội ngày càng mạnh hơn nh nhucầu đợc tôn trọng, đợc khẳng định bản thân, đợc sáng tạo trong lao động, đợcsống trong hoà bình, nhu cầu đề cao quan hệ cộng đồng… Chính trong quá trình con ng Hơn nữa, chínhnhững công cụ hiện đại mà quá trình CNH, HĐH đem lại, đã và đang làmgiảm nhẹ lao động cho con ngời, do đó con ngời có thời gian rỗi hơn, vì vậy
họ có điều kiện quan tâm tới những dịch vụ mà trớc đây đối với họ là thứ yếu,
là xa vời nh giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, việc làm, bảo vệ môi trờng, nângcao mức sống… Chính trong quá trình con ng
Tựu trung lại, trong quá trình phát triển xã hội theo định hớng XHCN,
đẩy mạnh CNH, HĐH là phơng tiện, phơng thức để hớng tới mục tiêu cao cả,
đầy tính nhân văn, nhân đạo đó là vì cuộc sống hạnh phúc và ngày càng tốt
đẹp của con ngời, vì sự giải phóng và phát triển toàn diện con ngời Mặt khác,
có thể nói, ở một mức độ nào đó, CNH, HĐH đã góp phần làm nên giá trị “vôtận, khai thác không bao giờ cạn” của NLCN so với các nguồn lực khác
Trên đây là một số vấn đề lý luận chung về NLCN và đào tạo nguồn lựccon ngời trong quá trình CNH, HĐH hiện nay của nớc ta Là một đại học vùngthuộc miền núi phía Bắc nớc ta, Đại học Thái Nguyên giữ một vị trí quan trọngtrong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lợng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH
Trang 31đất nớc Qua thực tế những năm qua cho thấy, việc đào tạo ở Đại học TháiNguyên đã tạo ra đợc một đội ngũ lao động có phẩm chất và năng lực caophục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh trung
du, miền núi phía Bắc và đồng bằng Bắc bộ từ Nghệ An trở ra Điều này đãkhẳng định vị thế quan trọng của Đại học Thái Nguyên đối với sự phát triểncủa đất nớc Song, thực tế cũng cho thấy rằng vẫn còn nhiều những yếu kém
đang tiềm ẩn bên trong việc đào tạo NLCN ở Đại học Thái Nguyên đòi hỏi cầnphải giải quyết để phát huy hơn nữa thế mạnh của Đại học Thái Nguyên Đâycũng là những nội dung chính mà tác giả muốn đề cập tới trong những phầntiếp theo của luận văn
Trang 32chơng 2 đào tạo nguồn lực con ngời
ở đại học Thái Nguyên hiện nay - thực trạng
và những vấn đề đặt ra
2.1 Một số đặc điểm của Đại học Thái Nguyên tác động đến việc
đào tạo nguồn lực con ngời
2.1.1 Tổng quan về Đại học Thái Nguyên
Đại học Thái Nguyên đợc thành lập theo Nghị định 31/CP ngày 4/4/1994của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các trờng đại học trên địa bàntỉnh Thái Nguyên
Khi mới thành lập, ĐHTN có 4 trờng đại học (Đại học S phạm, Đại họcNông Lâm, Đại học Y khoa, Đại học Kỹ thuật Công nghiệp) và một trờngCông nhân Kỹ thuật với hơn 1.500 cán bộ viên chức (trong đó có hơn 900 cán
bộ giảng dạy) Hiện nay ĐHTN đã có sự mở rộng với bộ máy tổ chức baogồm: Ban Giám đốc cùng với 15 ban chức năng và đơn vị phục vụ, 5 trờng đạihọc (ngoài 4 trờng đại học đã kể trên thì năm 2005 thành lập thêm trờng Đạihọc Kinh tế và Quản trị Kinh doanh), 1 trờng cao đẳng (Cao đẳng Kinh tế Kỹthuật), 2 khoa trực thuộc (Khoa Khoa học Tự nhiên và Khoa Công nghệ Thôngtin), một Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Ngoài ra còn có các trung tâmnghiên cứu khoa học, thực nghiệm, xởng trờng, trờng phổ thông trung họcthực hành đặt tại các trờng thành viên
Theo đó thì đội ngũ cán bộ viên chức và hợp đồng lao động ở ĐHTNcũng đợc tăng cờng Hiện tại tổng số cán bộ viên chức và hợp đồng lao độngcủa toàn ĐHTN là 2.418 ngời trong đó có 1.643 cán bộ, viên chức thuộc biênchế đợc giao Số cán bộ giảng dạy là 1.104 ngời trong đó có 433 cán bộ giảngdạy theo chế độ hợp đồng lao động Song, phần đông số cán bộ giảng dạy mớichỉ có trình độ đại học Cho đến nay số cán bộ giảng dạy có học vị tiến sỹ vàchức danh giáo s, phó giáo s của toàn đại học là rất thấp Theo thống kê năm
2005 thì toàn Đại học chỉ có 14,76% giảng viên có học vị tiến sỹ, 3,08% giảngviên có chức danh giáo s, phó giáo s Nếu so sánh với một số trờng đại họcvùng và trọng điểm khác trong nớc thì thấy tỷ lệ tiến sỹ, giáo s, phó giáo s của
ĐHTN thấp hơn rất nhiều (thấp hơn khoảng từ 2,89% đến 47,52% so với 11 ờng đại học khác), chỉ cao hơn Đại học Đà Nẵng và Đại học Cần Thơ
Trang 33tr-Bảng 1: Tỷ lệ TS và GS, PGS so với tổng số cán bộ giảng dạy của 14 trờng Đại học trọng điểm ở Việt Nam (số liệu tháng 12 năm 2005)
Tổng số giảng viên
TSKH, TS GS, PGS
Số ợng Tỷ lệ(%) Số lợng Tỷ lệ(%)
l-1 Đại học Quốc gia Hà Nội 1.548 862 55,86 344 22,22
2 Trờng ĐH S phạm Hà Nội 853 505 59,20 228 26,73
3 Trờng ĐH Bách khoa Hà Nội 1.500 690 46,00 265 17,67
4 Trờng ĐH Nông nghiệp I Hà Nội 549 163 29,69 62 11,29
5 Trờng ĐH Y khoa Hà Nội 511 146 28,57 97 18,98
6 Trờng ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội 881 302 34,27 95 10,78
7 Đại học Quốc gia TPHCM 1.900 539 28,37 170 8,95
(Nguồn: Đại học Thái Nguyên)
Mặc dù vậy, trong những năm qua, ĐHTN đã có những đóng góp tíchcực cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng, minh chứng cho
điều này đợc thể hiện ở chỗ, từ năm 1995 đến nay, ĐHTN đã mở thêm 42ngành đào tạo bậc đại học, 21 chuyên ngành bậc thạc sỹ, 3 chuyên ngành bậctiến sỹ Với quan điểm đa dạng hóa hình thức đào tạo, góp phần mở rộng quymô đào tạo đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực và nhu cầu học tập của
đồng bào các dân tộc trong vùng cũng nh đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nớctrong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Hiện tại, ĐHTN đang đào tạo 67ngành học bậc đại học thuộc hầu hết các lĩnh vực khoa học công nghệ nh: giáodục, nông lâm, y dợc, công nghệ thông tin… Chính trong quá trình con ng Trong đó trờng Đại học S phạm
đào tạo 18 chuyên ngành và là đơn vị có nhiều ngành đào tạo nhất, sau đó đếntrờng Đại học Nông Lâm đào tạo 15 chuyên ngành, trờng Đại học Kỹ thuậtCông nghiệp đào tạo 13 chuyên ngành, khoa Công nghệ Thông tin đào tạo 7chuyên ngành, khoa Khoa học Tự nhiên là 6 chuyên ngành, trờng Đại họcKinh tế và Quản trị Kinh doanh là 5 chuyên ngành, còn trờng Đại học Y khoa
là đơn vị đào tạo ít chuyên ngành nhất chỉ có 3 chuyên ngành
Số liệu trên nói lên tính chất đa ngành, đa lĩnh vực của ĐHTN - đáp ứngyêu cầu phát triển của giáo dục đại học trong thế kỷ 21 Tuy nhiên, khi xemxét kỹ từng ngành ở các trờng thì thấy nổi lên một thực trạng là dờng nh còn
có sự trùng lặp về một số ngành giữa các trờng với nhau Chẳng hạn, ngành
Trang 34Điện tử Viễn thông có ở cả khoa Công nghệ Thông tin và cũng có ở trờng Đạihọc Kỹ thuật Công nghiệp, hay ngành Khoa học Môi trờng vừa có ở khoaKhoa học Tự nhiên, vừa có ở trờng Đại học Nông Lâm ở trờng Đại học Kỹthuật Công nghiệp, khoa Khoa học Tự nhiên, trờng Đại học Nông Lâm có cácngành về cơ bản là giống nhau nh ngành Kỹ thuật Môi trờng, Công nghệ Sinhhọc, Công nghệ Sinh học Nông nghiệp Chính thực trạng này, một mặt gâykhó khăn cho các thí sinh khi lựa chọn, đề đạt nguyện vọng dự tuyển vào
ĐHTN và mặt khác nó còn gây khó khăn cho chính bản thân ĐHTN khi muốntập trung đầu t về cơ sở vật chất và đội ngũ cho các trờng thành viên Để khắcphục khó khăn này ĐHTN cần phải thực hiện bớc rà soát lại hệ thống cácngành đang đào tạo, hơn nữa cần thiết phải có sự bổ sung, cập nhật, điều chỉnhchính xác về tên gọi, nội dung chơng trình theo danh mục ngành và chơngtrình đào tạo đã đợc Nhà nớc ban hành Đồng thời cũng cần thiết phải điềuchỉnh, phân công lại các chuyên ngành trùng lặp giữa các trờng theo chứcnăng, nhiệm vụ và đặc thù của từng trờng, tránh sự chồng chéo các chuyênngành đào tạo giữa các trờng với nhau
Ngoài các chuyên ngành đang đào tạo ở bậc đại học, hiện tại ở ĐHTNcòn đào tạo 29 chuyên ngành bậc thạc sỹ Con số này vợt mức quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho ĐHTN 8 chuyên ngành (sau khi thành lập,
Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho ĐHTN đào tạo 21 chuyên ngành thạc sỹ).Tuy nhiên con số này vẫn ở còn mức khiêm tốn so với một số trờng đại họcvùng khác, chẳng hạn, Đại học Huế hiện nay đang đào tạo 54 chuyên ngànhthạc sỹ Mặc dù vậy, đây mới chỉ là sự thể hiện về mặt số lợng Về mặt chất l-ợng thì nổi lên một thực tế là ở một số chuyên ngành đào tạo thạc sỹ còn thiếunhiều giảng viên giảng dạy đúng chuyên ngành Do đó, mà trong quá trình đàotạo phải đi thuê giảng viên ở các cơ sở bên ngoài, điều này phần nào làm hạnchế chất lợng đào tạo Do vậy, ĐHTN muốn mở thêm các chuyên ngành mới
để đào tạo thạc sỹ thì trớc mắt cần phải chuẩn bị tốt đội ngũ giảng viên có đủtrình độ, năng lực giảng dạy tơng đơng
Bảng 2: Số chuyên ngành cao học hiện đang đào tạo ở ĐHTN
TT Chuyên ngành Năm bắt đầuđào tạo chuyên ngànhSố giảng viên Đơn vị thành viênphụ trách đào tạo
1 Khoa học máy tính 2002 10 Khoa Công nghệ Thông tin
2 Tự động hoá 1997 7 Trờng Đại học Kỹ thuật
Công nghiệp
3 Công nghệ chế tạo máy 1997 14
Trang 3512 Kinh tế Nông nghiệp 2002 Trờng ĐHKT và QTKD
13 Giáo dục học 2001 03 Trờng Đại học S phạm
14 Quản lý giáo dục 2006 03
(Nguồn: Đại học Thái Nguyên)
Hiện tại, ĐHTN cũng đang đào tạo các chuyên ngành bậc tiến sỹ, baogồm 5 chuyên ngành thuộc các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi động vật, lý luận
và lịch sử giáo dục, công nghệ chế tạo máy, vệ sinh học xã hội và tổ chức y tế
So với các trờng đại học khác trên cả nớc thì quy mô đào tạo tiến sỹ ở ĐHTNquá nhỏ, điều này làm hạn chế chủ trơng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học
có trình độ cao không chỉ cho bản thân ĐHTN mà còn cho các tỉnh trung du,miền núi phía Bắc nói riêng và cho cả nớc nói chung
Đối với bậc đào tạo cao đẳng, trung học và đào tạo nghề, ĐHTN hiệncũng đang đào tạo một số lợng lớn Hiện có 27 chuyên ngành gồm nhiều lĩnhvực khác nhau nh y dợc, nông lâm, công nghiệp, kinh tế - kỹ thuật với tổng sốhọc sinh lên tới hàng ngàn em Điều đó, cho thấy ngoài việc đào tạo nguồn lựclao động có kiến thức hệ hàn lâm, ĐHTN còn chú trọng tới việc đào tạo ngờilao động có tay nghề cao đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH ở từng khu vực, từngvùng miền và trên cả nớc
Trang 36Dự kiến trong giai đoạn 2006 - 2010, ĐHTN sẽ mở mới và tuyển sinhthêm 33 chuyên ngành đào tạo đại học, 15 chuyên ngành bậc cao học, 14chuyên ngành tiến sỹ, 5 chuyên ngành bác sỹ chuyên khoa cấp I, 4 chuyênngành bác sỹ chuyên khoa cấp II, 3 chuyên ngành bác sỹ nội trú và hàng chụcngành nghề thuộc các bậc cao đẳng, trung học và dạy nghề.
Các hệ đào tạo ở ĐHTN hiện nay cũng rất đa dạng, ngoài hệ đào tạochính quy ra thì còn có các hệ đào tạo khác nh hệ đào tạo vừa học vừa làm, cửtuyển, chuyên tu, văn bằng hai và liên kết đào tạo Quy mô đào tạo của
ĐHTN tính đến thời điểm năm 2006 là 47.024 HSSV, trong đó:
Nghiên cứu sinh là: 50 ngời
Học viên cao học là: 740 ngời
Bác sỹ chuyên khoa cấp I là: 280 ngời
HSSV chính quy là: 23.597 ngời
HSSV các hệ khác là: 22.357 ngời
ĐHTN chỉ tuyển thí sinh có hộ khẩu thờng trú tại khu vực 1, khu vực 2,khu vực 2 - nông thôn (riêng ở trờng Đại học Y khoa có quy định rõ việc tuyểnthí sinh ở những tỉnh nào) thuộc các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra, không tuyển thísinh có hộ khẩu thờng trú ở khu vực 3 Tại đây có khoảng 25% HSSV là con
em các dân tộc thiểu số và 62%o HSSV trớc khi thi vào các trờng ở ĐHTN đểhọc tập có hộ khẩu thờng trú tại các khu vực u tiên tuyển sinh Cũng vì lý do
đó mà điều kiện kinh tế và trình độ học vấn của HSSV nhìn chung là thấp vàkhó khăn Số HSSV khá, giỏi trong toàn đại học chỉ chiếm xấp xỉ 18% (đối vớiHSSV hệ chính quy tập trung)
Trong những năm gần đây, số học sinh đăng ký dự thi vào ĐHTN rất
đông, mỗi năm trung bình có khoảng 70 đến 75 vạn học sinh song chỉ tiêu đợctuyển chọn chỉ khoảng 10% Ví dụ, năm 2006 số học sinh đăng ký dự thi vào
hệ chính quy là 70.865 em nhng chỉ tiêu tuyển chọn chỉ có 6.320 em Nh vậy,
ĐHTN mới đáp ứng đợc khoảng 10% nhu cầu đào tạo NLCN có trình độ đạihọc của khu vực Trong tơng lai, ĐHTN cần phải có những biện pháp để mởrộng đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân D-
ới đây là sơ lợc lich sử hình thành và phát triển của một số trờng thành viênthuộc ĐHTN
* Trờng Đại học S phạm
Trang 37Trờng Đại học S phạm - ĐHTN trớc đây gọi là trờng Đại học S phạm ViệtBắc, đợc thành lập ngày 18/7/1966 Khi mới thành lập trờng đóng tại địa bànxã Phú Lạc, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Từ năm 1970 đến nay trờngchuyển về phờng Quang Trung, Thành phố Thái Nguyên Nhiệm vụ chính củatrờng là đào tạo giáo viên có trình độ cử nhân s phạm cho các tỉnh thuộc khuvực 1, khu vực 2, khu vực 2 - nông thôn từ Hà Tĩnh trở ra
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và trởng thành cùng với hơn 10 năm làthành viên của ĐHTN, trờng đã có những đóng góp to lớn, cung cấp cho đất n-
ớc nhiều cán bộ có trình độ đại học và trên đại học Hiện nay tr ờng có 14khoa: Toán học, Vật lý, Hoá học, Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, Văn học, Lịch
sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Tâm lý - Giáo duc, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Thểchất, Đào tạo Giáo viên Trung học cơ sở, Mầm non, Giáo dục lý luận và chínhtrị Mác - Lênin cùng với 18 chuyên ngành đào tạo bậc đại học, 18 chuyênngành đào tạo sau đại học trong đó có 17 chuyên ngành thạc sỹ, 1 chuyênngành tiến sỹ Ngoài ra trờng còn có 2 trung tâm là trung tâm tin học miền núi
và trung tâm ngoại ngữ, 1 trờng phổ thông trung học bán công thực hành Dựkiến đến năm 2010 trờng sẽ mở mới và tuyển sinh thêm 6 chuyên ngành bậc
đại học, 4 chuyên ngành bậc thạc sỹ, 7 chuyên ngành bậc tiến sỹ
Số lợng cán bộ công chức hiện nay của trờng là 670 ngời trong đó có 505cán bộ giảng dạy Số giáo s - tiến sỹ là 50 ngời (tỷ lệ là 9,90%), 216 thạc sỹ(tỷ lệ là 42,77%), 239 cử nhân đại học (tỷ lệ là 47,32%) Hàng năm số lợng thísinh dự thi vào trờng rất đông, tỷ lệ chọi khá cao Quy mô hiện nay của trờng
là 12.000 sinh viên/năm thuộc tất cả các bậc học và các loại hình đào tạo.Song song với quá trình giảng dạy, cán bộ công chức của trờng thờng xuyêntham gia nghiên cứu khoa học ở tất cả các cấp và đã đạt đợc nhiều thành tựuquan trọng, nhiều đề tài nghiên cứu đã đợc đánh giá vào loại xuất sắc Trongquá trình đào tạo, trờng cũng luôn mở rộng quan hệ, hợp tác đào tạo và nghiêncứu khoa học với nhiều tổ chức trên thế giới nh Học viện S phạm Quảng Tây -Trung Quốc, Đại học Kasetsait, Đại học Chulalongkorn - Thái Lan, Đại họcRyukyu - Nhật Bản, Đại học Troyes - Cộng hoà Pháp và viện Anh ngữ Bởivậy, hàng năm các chuyên gia của các nớc Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc
đã đến trờng dạy các khoá học khác nhau Cùng với quá trình đó, hiện nay cómột số cán bộ của trờng đang học tập, nghiên cứu bậc thạc sỹ, tiến sỹ ở các n-
ớc trên Số cán bộ này khi về nớc sẽ là một nguồn nhân lực cao cấp thực hiện
Trang 38chuyển giao khoa học công nghệ cho cán bộ trong trờng, trên cơ sở đó thúc
đẩy nhà trờng hoạt động có hiệu quả, đóng góp tích cực cho công cuôc xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
* Trờng Đại học Y khoa
Có thể nói trờng Đại học Y khoa - ĐHTN là một trong những trung tâm yhọc lớn nhất của khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, đợc thành lập ngày23/7/1968 trên cơ sở trờng Y sỹ Việt Bắc Đến nay, trờng đã có 28 bộ môncùng 4 trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ là: Trung tâmTiền Lâm sàng và Chẩn đoán Y khoa Kỹ thuật cao, Trung tâm Nghiên cứu vàứng dụng Dợc liệu miền núi, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Y học Gia đình,Trung tâm Nghiên cứu Môi trờng Bệnh tật và Sức khoẻ Khi mới thành lập tr-ờng có nhiệm vụ là đào tạo chuyên ngành bác sỹ đa khoa (học 6 năm) cho một
số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Sau 10 năm hoạt động trong ĐHTN, ờng đã phát triển thêm nhiều loại hình đào tạo Tháng 9/2003 đợc phép của Bộ
tr-Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo trờng mở thêm 2 mã ngành mới và đã tuyển sinh
là Dợc sỹ Đại học, Cử nhân Điều dỡng (học hệ 4 năm), đồng thời trờng cũng
đã đào tạo bậc thạc sỹ với 3 chuyên ngành là Y học dự phòng, Nội khoa,Ngoại khoa cùng với 12 chuyên ngành bác sỹ chuyên khoa cấp I là Y tế côngcộng, Nội khoa, Ngoại khoa, Nhi khoa, Sản phụ khoa, Tai - Mũi - Họng, Mắt,Tâm thần, Gây mê hồi sức, Y học gia đình, Thần kinh, Xét nghiệm Ngoài ra,hiện tại trờng cũng đang đào tạo 4 chuyên ngành bậc trung học là Kỹ thuậtviên Xét nghiệm đa khoa, Dợc, Điều dỡng và Điều dỡng gây mê hồi sức.Trong lộ trình từ nay đến năm 2010 trờng sẽ mở mới 8 chuyên ngành thuộccác bậc đại học, thạc sỹ và tiến sỹ
Số giảng viên của trờng tính đến thời điểm năm 2006 là 179 ngời, trong
đó số giáo s, phó giáo s, tiến sỹ là 16 ngời, chiếm 8,12%, thạc sỹ là 106 ngờichiếm 53,81%, bác sỹ chuyên khoa II là 10 ngời, đạt 5,07%, bác sỹ chuyênkhoa I là 17 ngời, đạt 8,62%, trình độ đại học là 48 ngời, chiếm 24,36% Từkhi thành lập đến nay trờng đã đào tạo đợc hơn 10.000 bác sỹ, số bác sỹ nàyhiện nay đang công tác và làm việc ở nhiều bệnh viện khác nhau trên cả nớcnhng chủ yếu vẫn là các tỉnh miền núi phía Bắc Theo đánh giá và nhận xétcủa nhiều đơn vị có các bác sỹ đợc đào tạo ở trờng Đại học Y khoa - ĐHTNcho thấy họ đều là những ngời có tay nghề cao, trình độ chuyên môn vữngvàng, có đạo đức, có lơng tâm nghề nghiệp đã cùng các đơn vị cứu sống hàng
Trang 39trăm ngời khỏi các căn bệnh hiểm nghèo Có đợc kết quả này là nhờ vào quátrình giáo dục lý thuyết kết hợp với hớng dẫn thực hành, thực tiễn cho sinhviên của cán bộ giảng viên ngay trong khi họ còn ngồi trên ghế nhà trờng.Cũng nh ở trờng Đại học S phạm, trong những năm qua trờng Đại học Ykhoa cũng đã liên kết, quan hệ với nhiều trờng đại học và các tổ chức phiChính phủ của các nớc châu á, Đông Nam á và Hoa Kỳ nh Đại học Y khoaCôn Minh của Trung Quốc Trờng có quan hệ với Hà Lan thông qua dự án đàotạo hớng cộng đồng, với Thuỵ Điển qua dự án đào tạo dựa trên cộng đồng giúpnhà trờng làm quen và cải cách đào tạo sát với xu hớng phát triển đào tạo hiện
đại Trờng cũng có quan hệ với các tổ chức quốc tế khác nh Help Age, FamilyDoctors, Heart to Heart Counterpart International Các tổ chức này đã giúpnhà trờng tiếp cận với những dịch vụ y tế tiên tiến trên thế giới, từ đó tạo điềukiện cho việc thúc đẩy quá trình CNH, HĐH trong lĩnh vực y học Chính vìvậy mà cho đến nay nhiều công trình nghiên cứu khoa học các cấp mà trờngthực hiện đã đạt đợc kết quả tốt và đợc ứng dụng trong thực tiễn nh: Côngtrình “Sử dụng máy tháo lồng trong điều trị bệnh lồng ruột ở trẻ em”, côngtrình “Đào tạo cán bộ y tế thôn bản”, công trình “Điều trị u phì đại tuyến tiềnliệt bằng mổ cắt nội soi” Nhiều đề tài khác cũng đang đợc tiến hành và hứahẹn nhiều thành công mới
6 năm mở thêm ngành kinh tế nông nghiệp, năm 1988 có thêm ngành lâmnghiệp Trong thời kỳ đất nớc đổi mới và mở cửa, hàng năm trờng tuyển trên2.000 sinh viên vào hệ chính quy và tại chức cho các chuyên ngành: trồng trọt,quản lý đất đai, chăn nuôi thú y, kinh tế nông nghiệp, quản trị kinh doanh, kếtoán doanh nghiệp, lâm sinh, nông lâm tổng hợp, khuyến nông, s phạm kỹthuật nông nghiệp, khoa học môi trờng
Sau nhiều năm nỗ lực phấn đấu, trờng đã lớn mạnh về mọi mặt Hiện tạitổng số cán bộ giảng dạy của trờng là 271 ngời trong đó tỷ lệ có học vị giáo s,
Trang 40phó giáo s, tiến sỹ là 23,99% (65 ngời), thạc sỹ là 52,77% (143 ngời), đại học
là 23,25% (63 ngời) Toàn trờng hiện có 8.459 HSSV bao gồm 4.251 sinh viên
hệ chính quy, 4.010 sinh viên hệ tại chức, 198 học viên cao học và nghiên cứusinh
Thực hiện chiến lợc 10 năm xây dựng, phát triển toàn diện (2001 - 2010),ngay từ đầu trờng đã chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao để nângcao chất lợng đào tạo Con số 85% giảng viên có trình độ trên đại học là con
số đáng nể phục trong tơng quan so sánh với các trờng thành viên khác thuộc
hệ thống ĐHTN Dự kiến dến năm 2010, trờng sẽ nâng tỷ lệ giảng viên cótrình độ tiến sỹ, giáo s, phó giáo s lên 85% Trờng cũng đã chuẩn hoá đội ngũgiảng viên trên 3 lĩnh vực tin học, ngoại ngữ và cập nhật thông tin Đến nay100% số giảng viên trong trờng đã sử dụng thành thạo máy vi tính phục vụchuyên môn
Trờng đại học Nông Lâm là một trong những trờng đã chú trọng kết hợpviệc giảng dạy, học tập với sản xuất bằng các chơng trình hợp tác chuyển giaokhoa học - công nghệ đợc ký kết giữa trờng với các tỉnh Trờng cũng đã đợc
Bộ Giáo dục và đào tạo khen thởng, đánh giá là một trong số các trờng trên cảnớc thực hiện có kết quả công tác quan hệ quốc tế Từ năm 2001 đến nay trờng
đã nhận đợc xấp xỉ 3 triệu USD tài trợ của các nớc trên thế giới Đồng thời,nhờ hợp tác quốc tế mà trong những năm qua, trờng đã cử đợc 129 lợt cán bộ,giảng viên đi tham quan, học tập ở nớc ngoài
Hơn 30 năm xây dựng và trởng thành, trờng Đại học Nông Lâm đã trởthành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệNông - Lâm nghiệp chất lợng cao của các tỉnh trung du và miền núi phía bắc,góp phần tích cực trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở nớc
ta Bằng chứng là cho tới nay trờng đã cung cấp cho đất nớc 7.800 kỹ s nông lâm nghiệp và cử nhân quản lý kinh tế nông nghiệp, trên 200 cán bộ có trình
-độ thạc sỹ, hàng nghìn cán bộ trung cấp Nông - Lâm nghiệp trên các địa
ph-ơng Con số này sẽ đợc tiếp tục nâng lên trong những năm tới nhờ hệ thốnggiáo dục đa ngành của trờng
* Trờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp