Đề cập đến vấn đề Đảng ta tiếp tục sự nghiệp giải phóng con ngời của HồChí Minh, trong công cuộc đổi mới có nhiều công trình khoa học, các bài viết, đáng lu ý là các bài của Nguyễn Trọng
Trang 1mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề con ngời và giải phóng con ngời là vấn đề muôn thủa, một đề tàitởng chừng đã cũ nhng luôn luôn mới, một đối tợng nghiên cứu của nhiềungành khoa học, bởi lẽ thế giới xung quanh con ngời, và bản thân con ngờiluôn vận động, biến đổi Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con ngờingày càng sâu rộng thì những vấn đề con ngời đặt ra cũng ngày càng phức tạp,
đa dạng hơn Con ngời và giải phóng con ngời đã trở thành đối tợng nghiêncứu của nhiều ngành khoa học, đúng nh C.Mác đã dự báo, trong tơng lai mọikhoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất - đó là khoa học về con ngời.Trong giai đoạn hiện nay, con ngời và giải phóng con ngời đang trở thành mộtvấn đề thực tiễn sống động, có ảnh hởng đến các nền tảng của nhân loại Vìvậy, việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề con ngời, giải phóng con ngời là mộttrong những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn tột bậc làlàm sao cho nớc ta đợc hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta
ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành Thực chất đó chính là mongmuốn đi tới giải phóng triệt để ngời Việt Nam Giải phóng con ngời là mộttrong những nội dung quan trọng, là vấn đề cốt lõi chi phối mọi t duy và hành
động của Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đờng cứu nớc cho đến khi về nơi vĩnhhằng Giải phóng triệt để con ngời thực sự là ớc mơ, khát vọng cháy bỏng,
đồng thời là sự nghiệp cao cả và vĩ đại nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nóchứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc Việc tác giả lựa chọn đề tài này đểnghiên cứu với mong muốn làm rõ những cống hiến của Chủ tịch Hồ ChíMinh trong sự nghiệp giải phóng ngời Việt Nam (trên cả hai phơng diện lýluận và thực tiễn), từ đó khẳng định vai trò nền tảng t tởng và kim chỉ nam chomọi hành động của Đảng
Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta đã và đang tiếp tục thực hiện đờng lối đổimới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Để sự nghiệp đó nhanh chóng đi
đến thành công, điều có ý nghĩa quyết định là phải tiếp tục coi con ngời vừa làmục tiêu, vừa là động lực của mọi cuộc cách mạng Giải phóng triệt để conngời là mục tiêu của sự phát triển, tạo ra động lực của sự phát triển, thể hiệnbản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng
Trang 2Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng con ngời Việt Nam làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên
ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu
T tởng về con ngời và giải phóng con ngời là nội dung trọng tâm chi phốitoàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, vì vậy đã đợc đông đảocác nhà hoạt động chính trị, hoạt động văn hoá và hoạt động lý luận quan tâmnghiên cứu
Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng(6/1991), đã có nhiều công trình nghiên cứu t tởng về giải phóng con ngời của
Hồ Chí Minh ở nhiều cấp độ và giác độ khác nhau Các sản phẩm nghiên cứu
t tởng Hồ Chí Minh liên quan đến vấn đề này bao gồm:
- Các đề tài khoa học: Chơng trình khoa học cấp nhà nớc KX02
(1991-1995) gồm có hai đề tài có liên quan đến vấn đề này, đó là: KX02.05: T tởng Hồ
Chí Minh về con ngời và chính sách xã hội đối với con ngời, do PGS.TS Lê Sỹ
Thắng làm chủ nhiệm; KX02.12: T tởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách
mạng giải phóng dân tộc, do PGS.TS Trịnh Nhu làm chủ nhiệm.
Các đề tài trên đây đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bảncủa t tởng Hồ Chí Minh về những vấn đề chiến lợc, sách lợc của cách mạngViệt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủnghĩa Qua việc nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định những đóng góp lớn laocủa Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực quan trọng nh: Mục tiêu con đ-ờng của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội; vị trí,vai trò lãnh đạo của Đảng; về sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân; về chínhsách xã hội đối với con ngời, v.v
- Trong chơng trình KHXH.04 (1996-2000) có một số đề tài đề cập đến
chủ đề này: KHXH.01: T tởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con ngời
mới, do GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm.
Liên quan đến nội dung này có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:
T tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời và vận dụng nó trong điều kiện nớc ta hiện nay, (2003), do TS Phạm Ngọc Anh làm chủ nhiệm.
Về sách, các luận văn, luận án, đáng chú ý là các sản phẩm: Đỗ Huy: T
t-ởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, Nxb KHXH Hà
Nội, 1999; Hoàng Trang - Phạm Ngọc Anh (đồng chủ biên): T tởng nhân văn
Trang 3Hồ Chí Minh với việc giáo dục cán bộ đảng viên hiện nay, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2004; Lê Quang Hoan (2001): T tởng Hồ Chí Minh về con ngời với việc
phát huy nhân tố con ngời trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học
Các sản phẩm khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu làm rõ nhữngvấn đề về quyền con ngời theo t tởng Hồ Chí Minh; cơ sở hình thành và nhữngnội dung cơ bản t tởng của Ngời về văn hoá, về con ngời, xây dựng nền vănhoá mới, con ngời mới; về nhân tố con ngời và vận dụng nó trong sự nghiệp
đổi mới của nớc ta hiện nay
- Liên quan đến vấn đề giải phóng con ngời có một số bài viết đăng trêncác tạp chí, đáng chú ý là các bài của Nguyễn Văn Tài: “T tởng Hồ Chí Minh
về con ngời và phát huy nhân tố con ngời”, Tạp chí Triết học, số 2 (2-2004); Lại Quốc Khánh: “Bản chất nhân đạo của t tởng Hồ Chí Minh về giải phóng con ngời “, Tạp chí Cộng sản, số 14 (tháng 7/2005); Thành Duy: “T tởng Hồ Chí Minh về con ngời và chính sách xã hội đối với con ngời”, Tạp chí Lịch sử
Đảng (12) năm 2005 v.v
Đề cập đến vấn đề Đảng ta tiếp tục sự nghiệp giải phóng con ngời của HồChí Minh, trong công cuộc đổi mới có nhiều công trình khoa học, các bài viết,
đáng lu ý là các bài của Nguyễn Trọng Chuẩn: “Để phát triển con ngời một
cách bền vững”, Tạp chí Triết học (01-2005); Nguyễn Thị Tuyết Mai: “Về chiến lợc con ngời ở nớc ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp
chí Triết học (9), năm 2002; Đỗ Nguyên Phơng: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng
cao sức khoẻ nhân dân trớc những yêu cầu mới”, Tạp chí Cộng sản (11), năm
2005,v.v
Qua các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, các tác giả đã đứngtrên các giác độ khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề con ngời Song, đó mớichỉ là sự đề cập gián tiếp, chứ cha trực tiếp đi sâu nghiên cứu một cách có hệthống t tởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh về giải phóng con ngời; cha kháiquát đợc những cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giảiphóng ngời Việt Nam - sự nghiệp cao cả và vĩ đại nhất của Ngời
Tuy nhiên, kết quả của các công trình nghiên cứu trên đây làm cơ sở đểchúng tôi tiếp tục nghiên cứu sự nghiệp giải phóng con ngời của Chủ tịch Hồ ChíMinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trang 4+ Hệ thống hoá những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh (cả về lý luậnlẫn thực tiễn) trong sự nghiệp giải phóng ngời Việt Nam.
+ Nghiên cứu quá trình Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục sự nghiệp giảiphóng con ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu t duy lý luận của Hồ Chí Minh về con ngời và sự giảiphóng ngời Việt Nam
+ Làm rõ những cống hiến chủ yếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự giảiphóng ngời Việt Nam trong thực tiễn
+ Nghiên cứu quá trình Đảng cộng sản Việt nam tiếp tục sự nghiệp giảiphóng con ngời của Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,các quan điểm của Đảng, Nhà nớc ta về con ngời và giải phóng con ngời
Vận dụng phơng pháp luận nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, các phơng pháp: lịch sử - lôgíc; quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổnghợp, so sánh; khái quát hoá… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài
-5 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong sự nghiệp giải phóng con ngời
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm mục tiêu giải phóng con ngờitrong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nớc ta
6 ý nghĩa của luận văn
Với những kết quả đạt đợc, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong việc nghiên cứu và giảng dạy môn t tởng Hồ Chí Minh ở bậc đại học vàcao đẳng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đ-ợc kết cấu gồm 3 chơng, 6 tiết
Trang 5Chơng 1
Vấn đề con ngời và giảI phóng ngời việt nam
trong t duy lý luận của Hồ Chí Minh
1.1 Vấn đề con ngời Việt Nam trong nhận thức của Hồ Chí Minh
Trong lịch sử t tởng nhân loại, vấn đề con ngời cũng nh bản chất con
ng-ời đã đợc bàn nhiều ở cả phơng Tây và phơng Đông Tuỳ thuộc vào thế giớiquan, lập trờng giai cấp, phơng pháp luận của các nhà t tởng mà có nhữngquan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất con ngời
Chỉ đến khi học thuyết C.Mác ra đời, vấn đề con ngời mới đợc lý giảimột cách thực sự khoa học trên cơ sở thế giới quan, phơng pháp luận duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử
Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một ngời Việt Nam điển hình, một nhà
lý luận mác xít của thế kỷ XX, Ngời đã có nhiều cống hiến lớn lao cho sựnghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng những ngời thuộc địa nóichung và ngời Việt Nam nói riêng Trong di cảo của Hồ Chí Minh, tuy không
có (có thể chúng tôi cha tìm thấy) những bài viết, những chuyên luận bàn sâu,bàn riêng về con ngời, song, có thể khẳng định hầu hết bài viết, bài nói củaNgời đều bàn (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến những vấn đề thuộc về con ngờiViệt Nam Trong số đó, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cơ bản sau:
1.1.1 Sự cùng khổ của ngời Việt Nam dới chế độ thực dân, phong kiến
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là những năm có nhiềuchuyển biến mạnh mẽ trong tiến trình phát triển của xã hội loài ngời
Trên thế giới, chủ nghĩa t bản đang trong quá trình chuyển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền - chủ nghĩa đế quốc, ra sức xâmchiếm các nớc nhỏ yếu làm thuộc địa Theo số liệu điều tra của Hồ Chí Minh:
9 nớc: Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, ý, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan
“với tổng số dân 320.657.000 ngời và với diện tích 11.407.600 km2 bóc lột cácnớc thuộc địa gồm hàng trăm dân tộc với số dân 560.193.000 ngời và với diệntích 55.637.000 km2” [43, tr.277] “Toàn bộ lãnh thổ của các nớc thuộc địarộng gấp 5 lần lãnh thổ của các chính quốc, còn số dân của các chính quốc ch-
a bằng 3/5 số dân của các nớc thuộc địa”[43, tr.277]
Tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầucuộc xâm lợc Việt Nam Khi đó, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đang suy
Trang 6tàn, bên trong thì ra sức đàn áp những ngời dân vô tội, bên ngoài thực hiệnchính sách bảo thủ, khép kín, bế quan, toả cảng, khớc từ mọi đề án cải cáchkinh tế - xã hội Chính thái độ ơn hèn trớc nạn ngoại xâm của quan, quân triềuNguyễn mà đất nớc Việt Nam từng bớc rơi vào tay thực dân Pháp xâm lợc quaviệc ký Hiệp định Hác Măng (l883), Hiệp ớc Patơnốt (1884) đã chính thứccông nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam.
Sau khi hoàn thành sự xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã thực hiệnchính sách cai trị thuộc địa: độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nôdịch về văn hoá Chúng biến nớc ta từ một nớc phong kiến độc lập trở thànhmột nớc thuộc địa nửa phong kiến, làm cho nền kinh tế thuần nông, đời sốngxã hội - giai cấp bị phân hoá sâu sắc Bên cạnh mâu thuẫn cơ bản của xã hộiViệt Nam là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến, đãxuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam vớithực dân Pháp xâm lợc
Là ngời dân của một nớc thuộc địa, Hồ Chí Minh đi nhiều, tiếp xúc vớinhiều tầng lớp xã hội, Ngời hiểu hơn ai hết sự cùng khổ của ngời Việt Nam d-
ới ách thống trị, bóc lột tàn bạo của thực dân, phong kiến trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội
- Sự cùng khổ về mặt chính trị:
Dới chế độ thống trị của thực dân, phong kiến, mọi ngời dân Việt Nam
đều bị tớc bỏ quyền tự do, độc lập - quyền cơ bản của mỗi một quốc gia dântộc và quyền đợc sống, quyền đợc tự do, quyền mu cầu hạnh phúc - quyềnthiêng liêng của mỗi con ngời Đa số ngời dân Việt Nam, nhất là những ngờilao động phải chịu một kiếp đời nô lệ, cuộc sống của họ là những chuỗi thángngày đấu tranh và khổ nhục không ngừng
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, trong nhiều bài nói, bài viết, Hồ ChíMinh đã phân tích nỗi cực khổ của ngời dân bản xứ về nhiều mặt, trong đóbao trùm nhất là nỗi khổ cực khi những giá trị nhân phẩm con ngời bị trà đạpmột cách nghiêm trọng
Theo Hồ Chí Minh, dới con mắt của những kẻ xâm lợc núp dới danh
nghĩa “ khai hoá văn minh”, thực dân Pháp coi ngời Việt Nam bản xứ chỉ là những tên “Annamít”, là bọn “nhà quê” bẩn thỉu, nhân phẩm của họ không
đáng giá một đồng xu Vì vậy, họ không cần đến một thứ công lý nào hết,cách tốt nhất để cai trị thuộc địa là thống trị bằng sức mạnh: ba toong, súng
Trang 7ngắn, súng dài Những thứ đó - theo bọn thực dân - mới là những thứ xứng
đáng với lũ “ròi bọ” - những ngời bản xứ
Hồ Chí Minh chỉ rõ, dới chế độ thực dân, phong kiến, bản chất con ngời
bị đối lập hoàn toàn với tính cách, nhân tính vốn có của họ trong hiện thực đếnmức mâu thuẫn quyết liệt với hiện thực ấy Sự áp bức đối với ngời Việt Nam
về mặt dân tộc và về mặt giai cấp, suy cho cùng là sự áp bức về mặt con ngời HồChí Minh viết: “ Cha có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nớc nào, ngời ta lại viphạm mọi quyền làm ngời một cách độc ác trơ tráo đến thế” [43, tr.383] Ngờidân An Nam bị coi nh súc vật “ bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyềnphục tùng, không đợc kêu ca”[43, tr.7] “Mọi nguời dân từ 18 đến 60 tuổi, đềuphải nhất loạt đóng 5 đồng thuế thân”[43, tr.408] Các quyền tối thiểu của conngời nh: quyền tự do t tởng, tự do đi lại, quyền hội họp, quyền học tập, lao
động … để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài đều bị vi phạm nghiêm trọng. Ngời Pháp thì có công lý của ngời
Pháp, còn đối với ngời An Nam thì chỉ có thứ công lý của vũ lực, “Công lý
đ-ợc tợng trng bằng một ngời đàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầmkiếm”[44, tr.90] Nghịch lý ấy còn thể hiện ở chỗ, khi ngời có màu da trắngthì nghiễm nhiên ngời đó là một nhà khai hoá Mà khi đã là một nhà khai hoáthì ngời ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là ngời văn minh Chonên, chẳng những bọn thống đốc, công sứ - những kẻ nắm giữ quyền lực muốnlàm gì thì làm, mà cả các nhân viên, nhà đoan, cảnh binh và tất cả những ai dù
có một chút quyền hành trong tay đều sử dụng và lạm dụng quyền hành màthả sức làm bậy, vì chúng biết chắc rằng sẽ không một ai bị tội vạ gì hết, thậmchí còn đợc khuyến khích làm càn
- Sự cùng khổ về mặt kinh tế:
Chế độ thực dân, phong kiến duy trì sự tồn tại quan hệ sản xuất bóc lộtvới hai hình thức sở hữu chủ yếu: sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa và sở hữu vềruộng đất địa chủ phong kiến Hai tầng áp bức bóc lột đó đè nặng lên đôi vaingời dân Việt Nam bởi các hình thức bóc lột lao động làm thuê, bởi các thứ
“thuế máu” vô lý khác, làm cho ngời dân Việt Nam vốn nghèo đói càng bần
cùng hơn
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã thủ tiêu hình thứcchiếm hữu công cộng về ruộng đất và thay thế bằng hình thức sở hữu t nhân tbản chủ nghĩa, đồng thời nó cũng tìm mọi cách thủ tiêu quyền chiếm hữu nhỏcủa nông dân để tập trung làm lợi cho quyền chiếm hữu t nhân của đồn điền
Trang 8lớn Bản thân ngời Pháp với t cách là những kẻ đi xâm lợc cũng phải thú nhậnrằng: “Chúng ta tới đây không làm cho ngời An Nam giàu lên chút nào màcòn gây nên khủng hoảng để di hại lâu dài Cạnh tranh của ngời âu đã bópchết một số công nghiệp, thuế má nặng nề làm phá sản một số công nghiệpkhác”[43, tr.426].
Dới chế độ thực dân, phong kiến, ngời dân Việt Nam bị biến thành những
“công cụ biết nói”, thân phận họ chỉ là những ngời lao động làm thuê cho giaicấp địa chủ phong kiến và t sản mại bản, luôn bị bóc lột, đánh đập giã man.Lao động không còn là mục đích tự thân mà thực sự biến thành khổ nhục,thông qua nghĩa vụ, trách nhiệm của ngời nô lệ đối với những kẻ thống trị.Ngời Việt Nam đã từng sinh hoạt, lao động trong những điều kiện tự nhiênthuận lợi, có đức tính cần cù chịu khó trong lao động, họ rất thông minh vàsáng tạo, “ấy thế mà ngời dân An Nam lại sống đời sống nghèo nàn nhất Sựphồn thịnh ấy do bàn tay họ làm nên nhng không phải để cho họ hởng”[43,tr.359] và “dân An Nam không bao giờ đợc thấy những đồng bạc của mìnhtrắng đen ra sao”[43, tr.362]
- Sự cùng khổ về văn hoá - xã hội:
Xâm lợc Việt Nam, thực dân Pháp đã mang đến xứ này thứ văn minh độc
hại đợc bao bọc bởi một lớp sơn mỹ miều “Tự, do, bình đẳng, bác ái”, mà Hồ Chí Minh gọi mỉa mai là “Nền văn minh thợng đẳng” Chính cái văn minh
Tây học này làm cho văn minh Nho học, với nền tảng t tởng Nho giáo đã từngchi phối đời sống xã hội Việt Nam bị lung lay tận gốc rễ Dới ách thống trị
của thực dân, phong kiến, ngời Việt Nam không những không đợc “khai hoá”
bởi những t tởng tiến bộ: tự do, bình đẳng, bác ái của thời kỳ Khai sáng Pháp
mà đại biểu là Vônte, Môngtexkiơ, Rutxô, Huy Gô … để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài., trái lại, họ luôn “ bịdìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khôn nhằm nhồi sọ,
đầu độc hoá, không lấp liếm hết đợc dới một dạng giáo dục bịp bợm”[43,tr.8]
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong nhận thức của kẻ xâm lợc, “Truyền họcvấn cho bọn annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là mộtmặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống lại chúng ta, và mặtkhác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích”[43, tr.7] Vìvậy, ngời An Nam đều bị biến thành đối tợng tiêu thụ, bị đầu độc bởi ruợu cồn,thuốc phiện, “có một nghìn năm trăm ty rợu và thuốc phiện cho một nghìn làng
Trang 9trong khi chỉ có mời trờng học cũng cho bấy nhiêu làng”[43, tr.26] Hồ Chí Minh
đã đa ra số liệu: ở Đông Dơng có dân số 19.000.000 nhng chỉ có 2.965 trờnghọc với 148.000 học sinh [43, tr.314]
Trờng học do thực dân Pháp lập ra không phải để giáo dục cho thanhniên An Nam một học vấn tốt đẹp và chân thực, nhằm mở mang trí tuệ và pháttriển t tởng của họ; trái lại, càng làm cho họ đần độn thêm Thực dân Pháp đãgieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát, vìmột nền giáo dục nh vậy chỉ làm h hỏng mất tính nết của ngời đi học, chỉ dạy
cho họ một lòng “trung thực” giả dối, “chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ
mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu Tổ quốc không phải là Tổ quốc mình
và đang áp bức mình Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻnguồn gốc dòng giống mình”[43, tr.399-400] Nền giáo dục thực dân “đã dạycho ngời bản xứ biết thế nào là bác ái, cái đức quý đó vốn là nền tảng của mọichế độ cộng hoà đợc khắc bằng chữ lớn trên khắp các công trình kỷ niệm vàtrên tất cả các cửa… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài nhà lao”[43, tr.115]
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chế độ thực dân, phong kiến, sự “tha hoá” diễn
ra đồng thời đối với kẻ xâm lợc, thống trị và ngời bị xâm lợc, thống trị Điềunày là hoàn toàn thống nhất với quan điểm của C.Mác và Ph.ăngghen, khi các
ông cho rằng trong chế độ t hữu, cả giai cấp t sản lẫn giai cấp vô sản đều lànhững hình thức tha hoá của con ngời
Dới xã hội phong kiến Việt Nam thuộc Pháp, bọn thực dân, phong kiếncàng ra sức đàn áp, bóc lột ngời bản xứ tàn bạo bao nhiêu thì càng làm chochính nó trở thành kẻ độc ác, vô nhân đạo, phi nhân tính bấy nhiêu Trong bài
Vấn đề bản xứ, (tháng 8 - 1919), Nguyễn ái Quốc viết: “nay cũng nh trớc kia,
kẻ chinh phục và nhân dân bị chinh phục đều sống mặt đối mặt, trong mộtkhông khí nghi kỵ lẫn nhau” [43, tr.7], “Về tâm lý, ở bên kia là thái độ hiềmnghi và khinh miệt; còn ở phía bên này lại là tâm trạng bực dọc và tuyệtvọng”[43, tr.7] Sự “tự tha hoá” của kẻ xâm lợc đợc Hồ Chí Minh chỉ rõ thôngqua những lời tự sự của chính những tác giả ngời Pháp:
Chúng ta thấy ở đây cả một nền văn minh, mọi thứ đều xâydựng từ lâu Nghệ thuật, khoa học, kể cả khoa học quản lý Nhà nớc
đều đã phát triển mạnh mẽ Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học,tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế
kỷ, đã đợc điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.Yêu mến quê h
Trang 10-ơng, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôntrọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền,thơng yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải, ghét xa hoa, không hám tiềntài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.là những đặc
điểm về bản tính của ngời An Nam hình thành từ bao thế hệ [43,tr.425-426]
Vậy mà “Chúng ta đến đây không làm cho ngời An Nam giàu lên chútnào mà còn gây nên khủng hoảng để di hại lâu dài” [43, tr.426-427] “Xã hội cũ
An Nam tổ chức tốt nh thế đã bị chúng ta phá huỷ… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.Khắp nơi, ngời ta vi phạmluật lệ của ngời An Nam, coi thờng phong tục, cớp bóc tài sản; mợn cớ đi chấn áp,nên quân lính “đợc thể” lại tha hồ cớp phá, giết chóc; thú tính xấu xa nhất lạihoành hành; đến cái vẻ công lý cũng không còn [43, tr.426-427]
Từ những điều trình bày ở trên, chúng ta thấy rất rõ, Hồ Chí Minh tiếpcận vấn đề con ngời Việt Nam trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến bằngcách truy tìm nguyên nhân gây nên mọi nỗi khổ, sự cùng cực, thậm chí mấtnhân tính của ngời dân Việt Nam là do sự tồn tại của chế độ t hữu Từ đó, HồChí Minh đã đi đến quan niệm về một cuộc cách mạng triệt để nhất để giảiphóng con ngời là cách mạng vô sản Tuy nhiên, Ngời cũng thấy rõ sự nghiệp
vĩ đại ấy là cả một quá trình rất lâu dài, gian khổ, đầy những bớc thăng trầm.Không có chủ nghĩa nhân đạo tự nó, cũng không có tự do dân chủ tự nó màphải biến thành chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, tức là phải làm cuộc cách mạngvô sản nhằm thủ tiêu chế độ t hữu t nhân về t liệu sản xuất- mầm mống của sựtha hoá con ngời
Thống nhất với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh nhận thức rõ việc xoá bỏ chế độ t hữu ở đây không phải
Mác-là chế độ sở hữu nói chung mà Mác-là chế độ sở hữu t sản và sở hữu phong kiến.Xoá bỏ chế độ sở hữu t sản và sở hữu phong kiến không phải là thủ tiêu nó với
t cách là một giai cấp mà chính là chế độ áp bức, thống trị về chính trị, bóc lột
về kinh tế và nô dịch về văn hoá, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và đi
đến giải phóng triệt để con ngời
1.1.2 Con ngời là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định thành công của
sự nghiệp cách mạng
Đây là một nội dung lớn trong t tởng Hồ Chí Minh về con ngời, có ýnghĩa nh một tiền đề xuất phát, mục đích của t tởng: bắt đầu từ con ngời, vì
Trang 11con ngời, do con ngời - con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cáchmạng, của sự nghiệp giải phóng.
Trớc khi chủ nghĩa Mác ra đời, triết học duy tâm và duy vật nhân bản
đều đánh giá không đúng vị trí, vai trò của con ngời đối với lịch sử
T tởng tôn giáo cho rằng mọi sự thay đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do “mệnh trời”, ý chí đó đợc các cá nhân thực hiện Nhữngnhà duy vật trớc C.Mác tuy không tin vào thợng đế, thần linh, nhng cũngkhông thấy đợc hết vị trí, vai trò của con ngời - quần chúng nhân dân tronglịch sử Con ngời thờng đợc hiểu nh là con ngời - công cụ, con ngời - phơng
tiện Pascal ví con ngời nh “một cây sậy, nhng là một cây sậy biết suy nghĩ”.
Còn L.Phoiơbắc khi đánh giá cao vai trò của con ngời đối với lịch sử cũng chỉhiểu con ngời dùng sức mạnh của bản thân mình, sức mạnh của cơ bắp tác
động vào thế giới vật chất - trong hành vi lao động sản xuất - giành lấy nhữngvật phẩm trong tự nhiên để nuôi sống mình ông hạ thấp vai trò của sức mạnhtinh thần, yếu tố tri thức, đạo đức, tình cảm của con ngời với t cách con ngời -
động lực, con ngời - mục tiêu Do bị chi phối bởi phơng pháp siêu hình màcon ngời đợc xem nh là những “công cụ biết nói”, chỉ là “phơng tiện”, hay
“trò chơi” trong tay các vĩ nhân, chịu sự chi phối của các lực lợng thần bí, siêunhiên Con ngời không bao giờ đợc coi là động lực, là mục tiêu của lịch sử màchỉ đi tìm các động lực, mục tiêu ở các yếu tố bên ngoài con ngời, bên ngoàilịch sử
Triết học Mác khẳng định rõ vai trò vị trí của con ngời đối với sự pháttriển của lịch sử, là động lực của mọi cuộc cách mạng Chính con ngời là chủthể sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần, đến lợt nó, các giá trị vậtchất và tinh thần lại góp phần làm cho con ngời tồn tại và phát triển đúng vớibản chất ngời Hớng tới giải phóng triệt để con ngời là mục tiêu cuối cùng củacách mạng vô sản, bản chất nhân đạo mác xít là giải phóng triệt để con ngời.Thấm nhuần t tởng nhân văn, nhân ái của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩanhân đạo cộng sản, Hồ Chí Minh coi con ngời là vốn quý nhất, thể hiện ở cả
ba cấp độ: cộng đồng dân tộc quốc gia (quần chúng nhân dân nói chung); giaicấp, tầng lớp (công nhân, nông dân, trí thức) và cá nhân Ngời khẳng định:
“Nhân nghĩa là nhân dân Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”[50,
tr.276], “Chúng ta phải quý trọng con ngời, nhất là công nhân, vì công nhân là
Trang 12vốn quý nhất của xã hội” [51, tr.373]; “phải biết quý trọng sức ngời là vốn quýnhất của ta” [52, tr.313].
Coi con ngời là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi ngời phải biếtyêu thơng đồng loại Ngời cách mạng phải có đức “Nhân”, tức là “phải cólòng bác ái - yêu nớc, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình” [47, tr.224] Yêuthơng con ngời theo Hồ Chí Minh, phải là một tình cảm rộng lớn, trớc hếtgiành cho những ngời cùng khổ bị áp bức bóc lột; đó phải là một tình cảm đặcbiệt không giống với tình thơng kiểu tôn giáo; không phải từ trên trông xuống,
từ ngoài nhìn vào mà ở trong lòng mỗi con ngời khổ đau bất hạnh để cảmthông, chia sẻ
ở Hồ Chí Minh, tình yêu thơng con ngời không chung chung trừu tợng
mà thực sự biến thành động cơ, mục đích, thành khát vọng giải phóng dân tộc,giải phóng xã hội, giải phóng con ngời Cả cuộc đời hoạt động cách mạng,
ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh chỉ là đất nớc đợc hoàn toàn độc lập, tự
do, nhân dân ta ai cũng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Khi về nơi vĩnh hằng,
trong Di chúc để lại cho hậu thế, vấn đề đầu tiên Ngời đề cập đến là vấn đề
Coi con ngời là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải biết trân trọngsinh mệnh, phẩm giá con ngời, tin tởng vào khả năng tiến bộ của con ngời;biết khơi dậy khả năng tiềm tàng của họ, thức tỉnh, giáo dục họ tự giác đứnglên đấu tranh tự giải phóng; phải biết nâng đỡ con ngời, làm cho phần tốttrong mỗi con ngời nảy nở nh hoa mùa xuân và phần xấu bị héo mòn đi
Coi con ngời là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng, Nhà nớc, các
tổ chức chính trị xã hội và mỗi cán bộ đảng viên phải kính trọng nhân dân, lấydân làm gốc, thực hiện tốt công tác dân vận và thực hành dân chủ; phải biết
phát huy nhân tố con ngời, coi sự nghiệp “trồng ngời” là một chiến lợc lâu dài của Đảng và của cách mạng Trong bài Dân vận, Hồ Chí Minh viết:
Trang 13Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệpkháng chiến kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đếnchính phủ trung ơng do dân cử ra Đoàn thể từ trung ơng đến xã dodân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực l ợng đều ở nơi dân[47, tr.698].
ở Hồ Chí Minh, con ngời không chỉ là vốn quý mà còn là yếu tố quyết
Thấm nhuần quan điểm của C.Mác về vai trò của quần chúng nhân dân
đối với lịch sử, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, trong mọi thời đại quầnchúng nhân dân luôn giữ vai trò chủ thể quyết định sự vận động phát triển củalịch sử chứ không phải là các vĩ nhân Ngời nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất
đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do ngời làm ra, từ nhỏ đến to, từgần đến xa, đều thế cả” [47, tr.241] “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều
do công nhân và nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nôngdân, xã hội mới sống còn và phát triển”[49, tr203] “Quần chúng còn là ngờisáng tác nữa (các giá trị văn hóa tinh thần)”[51, tr.250]
Hồ Chí Minh đánh giá cao những giá trị những truyền thống tốt đẹp củadân tộc Việt Nam, đặc biệt là truyền thống yêu nớc, đoàn kết, ý chí tự lực tự c-ờng Ngời đã khái quát:
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nớc, đó là một truyền thốngquý báu của ta Từ xa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinhthần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, tolớn, nó lớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũbán nớc và lũ cuớp nớc [48, tr.171]
Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấysức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân khi đợc tập hợp tổ chức và giáodục theo một đờng lối đúng đắn Ngời khẳng định: “Ai làm cách mạng? -
Trang 14Nhân dân! Ai kháng chiến thắng lợi? - Toàn dân” [51, tr.506] “Không có lựclợng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lợngnhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm đợc” [48, tr.292] “Lực lợngtoàn dân là lực lợng vĩ đại hơn hết Không ai chiến thắng đợc lực lợng đó” [46,tr.20].
Vai trò của con ngời còn đợc Hồ Chí Minh xác định rõ trong công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội Ngời khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xãhội trớc hết cần có những con ngời xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội là doquần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên, “đó là công trình tập thể củaquần chúng nhân dân dới sự lãnh đạo của Đảng” [51, tr.291]
1.1.3 Con ngời và bản chất con ngời
1.1.3.1 Khái niệm con ng“ ời trong nhận thức của Hồ Chí Minh ”Trớc đây, khi đa ra quan niệm về con ngời, C.Mác cho rằng, con ngời đ-
ợc hiểu là phơng thức tồn tại đặc thù của con ngời, phơng thức sinh hoạt tộcloại đặc thù của con ngời Bằng việc “sáng tạo ra một cách thực tiễn thế giới
đối tợng”, bằng “việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ”, con ngời trở thành một thựcthể mang tính tộc loại, có ý thức, một thực thể đối xử với tộc loại nh với bảnchất của chính mình, hoặc đối xử với bản thân mình nh với một thực thể cótính chất tộc loại Qua việc phân tích sự khác nhau giữa hoạt động của con ng-
ời với hoạt động của con vật, C.Mác đi đến kết luận: hoạt động sinh sống củacon ngời là hoạt động sinh sống có ý thức, hoạt động theo phơng thức “xâydựng”vật chất theo quy luật của cái đẹp Do con ngời là một thực thể tộc loại,
là một sinh vật có tính loài có ý thức, “đời sống của bản thân con ngời là một
đối tợng đối với con ngời”, nên “hoạt động của con ngời là hoạt động tự do”[37, tr.36]
Trong quan niệm của C.Mác, con ngời - đó là những con ngời riêngbiệt, là những cá nhân hiện thực với hoạt động lao động của họ ông viết:
“Con ngời là một cá nhân đặc thù nào đó và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể xã hội cá thể hiện thực”
[37, tr.171]
Theo C.Mác, con ngời là một mẫu hình lý tởng về sự tồn tại và phát triểncủa chính nó, một mẫu hình mà khi đối chiếu với những hoạt động sinh hoạthiện thực của con ngời sẽ cho thấy những hoạt động ấy có mang tính ngời haykhông mang tính ngời C.Mác nhận xét, trong xã hội t bản chủ nghĩa, ngời lao
Trang 15động chỉ nhận đợc nhận đủ cái cần thiết để họ duy trì sự sống, song khôngphải sống nh một con ngời mà nh một ngời lao động làm thuê và để tạo rakhông phải loại ngời, mà ra giai cấp những ngời nô lệ, những ngời lao độnglàm thuê.
Trong quan niệm của C.Mác, con ngời còn đợc xem xét với t cách là conngời tự nó - con ngời đợc trừu tợng hoá bởi các mối quan hệ, các điều kiện, cáchình thức và phơng tiện hoạt động hiện thực của nó, là “sự tồn tại trừu tợng củacon ngời với tính cách chỉ là con ngời lao động” và do vậy, hàng ngày nó có thể
“bị đẩy từ cái h không đầy đủ của mình vào cái h không tuyệt đối”, vào lĩnh vực
“không tồn tại có tính chất xã hội” của nó” [38, tr.150]
Nh vậy, thuật ngữ “con ngời” đã đợc C.Mác sử dụng với một nội dungphong phú: con ngời là phơng thức tồn tại của con ngời trong thế giới, là mộtcá nhân riêng biệt, là mẫu hình sinh hoạt của con ngời, con ngời với t cách conngời tự nó, là đại biểu điển hình cho nhân loại
Là nhà mác xít chân chính, cách tiếp cận vấn đề con ngời của Hồ Chí Minh có sự thống nhất với cách tiếp cận của C.Mác Trong nhận thức của Hồ
Chí Minh, không có con ngời trừu tợng mà chỉ có con ngời cụ thể Tuỳ theotừng thời kỳ lịch sử gắn với từng thời điểm cách mạng, Hồ Chí Minh dùngnhững thuật ngữ khác nhau để chỉ con ngời
Con ngời trong quan niệm của Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa conngời giai cấp, dân tộc và nhân loại Những năm đầu thế kỷ XX, khi đề cập đếncon ngời, Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến “ngời phơng Đông”, “ngời châu
á”, “ngời châu âu”… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài., mà còn đề cập một cách cụ thể hơn “ngời bản xứ”,
“ngời bản xứ bị áp bức”, “ngời da vàng”, “ngời da đen”, “ngời vô sản thuộc
địa”, “ngời vô sản ở chính quốc”, “ngời cùng khổ” v.v Nh vậy, với Hồ ChíMinh, con ngời bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, thuộc
về một quốc gia nhất định Ngời khẳng định mọi ngời dù khác nhau nh thếnào thì vẫn có điểm chung là sinh ra phải đợc tự do, bình đẳng và mu cầu hạnhphúc
Sau cách mạng tháng Tám 1945, mỗi ngời dân Việt Nam đã thực sự trởthành chủ nhân của đất nớc, bản chất xã hội đã thay đổi, Hồ Chí Minh thờng
sử dụng các thuật ngữ nh: “đồng bào”, “quốc dân”, “nhân dân”,v.v, qua đó đặtcon ngời trong sự gắn bó mật thiết với cộng đồng dân tộc
Trang 16Bên cạnh việc nói đến con ngời dân tộc, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú ý
đến con ngời giai cấp trong quan niệm về con ngời Trong những năm đầu thế
kỷ XX, Hồ Chí Minh thờng dùng các thuật ngữ “ngời bị áp bức”, “ngời bị bóclột”, “tên t sản”, “nhà độc tài” … để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.để chỉ con ngời Trong thời kỳ miền Bắc xâydựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh dùng các thuật ngữ “ngời làm chủ”, “ng-
ời làm chủ tập thể”, “lao động trí óc”, “lao động chân tay”… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài cho phù hợp vớicác quan hệ xã hội mới
Hồ Chí Minh chỉ dùng khái niệm “con ngời” ở hai thời điểm: Trong
Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa (1921), Ngời viết rằng nhân dân thuộc
địa bị tớc đoạt mất các quyền lợi gắn liền với “phẩm giá con ngời” Trong Lời
kêu gọi đăng trên trang nhất, số đầu tiên báo Ngời cùng khổ - cơ quan ngôn
luận của hội Liên hiệp thuộc địa, Hồ Chí Minh viết rằng sứ mệnh của tờ báo là
“giải phóng con ngời” Năm 1968, trong bản bổ sung cho Di chúc, Ngời viết:
“Đầu tiên là công việc đối với con ngời”
Đặc biệt, năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu một quan niệm khá độc đáo vềcon ngời, “Chữ ngời, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩarộng là đồng bào cả nớc Rộng hơn là cả loài ngời” [46, tr.644] Con ngờitrong quan niệm của Hồ Chí Minh vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là nhữngcộng đồng ngời trong xã hội Con ngời vừa là một chỉnh thể đơn nhất mangnhững phẩm chất riêng, vừa là một thực thể xã hội mang những phẩm chất củamột hệ thống các quan hệ xã hội trong sự thống nhất biện chứng giữa cáichung với cái đặc thù, cái riêng Trong cộng đồng con ngời Việt Nam, rõ ràng,quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng Hơn nữa, nét độc đáotrong cộng ngời Việt Nam là quan hệ “đồng bào”, cộng đồng đó có cùngnguồn gốc “con lạc, cháu hồng”, “con Rồng, cháu tiên”
Qua cách định nghĩa chữ “ngời” và cách hiểu về “con ngời” trên đây cho
thấy, quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề con ngời dựa trên cơ sở thế giớiquan mác xít, không duy tâm, thần bí khi xem xét nguồn gốc, bản chất conngời Con ngời không phải là sản phẩm của thần thánh hay bất cứ lực lợngsiêu nhiên nào, mà là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài Không có conngời chung chung trừu tợng mà chỉ có những con ngời sống, hoạt động trongmột xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sửnhất định, nghĩa là những con ngời cùng với xã hội mình khai thác thiênnhiên, sinh hoạt xã hội và phát triển ý thức Con ngời chính là ngời cộng đồng
Trang 17ngời theo nghĩa lô gíc hình thức, đợc phân biệt theo những dấu hiệu xác định
từ vô số các khách thể tồn tại trên trái đất Với cách hiểu này, cho phép gạt bỏmọi khác biệt giữa cá nhân con ngời và mỗi con nguời cụ thể, luôn có điểm t-
ơng đồng với con ngời thuộc mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc
1.1.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất con ngời
Là nhà mác xít chân chính, Hồ Chí Minh nhận thức vấn đề bản chất conngời trên lập trờng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bản chất con ngờitheo quan niệm của Hồ Chí Minh thể hiện qua một số nội dung sau:
Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh con ngời mang bản chất xã hội - lịch sử.
Trớc đây khi bàn về con ngời, C.Mác đã chỉ rõ: “Con ngời không phải làmột sinh vật trừu tơng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con ngời chính là thếgiới con ngời, là nhà nớc, là xã hội” [35, tr.569] Bàn về bản chất con ngời,C.Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổnghoà những quan hệ xã hội” [36, tr.11] ông phê phán L.Phoiơbắc đã coi conngời nh những cá nhân trừu tợng, cô lập, “bản chất con ngời chỉ có thể đợchiểu là “loài”, là tính phổ biến nội tại, câm, gắn bó một cách thuần tuý tựnhiên đông đảo cá nhân lại với nhau” [36, tr.11] Đối với con ngời đứng đầu
nhà nớc mà Hêghen gọi là “con ngời đặc thù”, thì bản chất của nó, nh C.Mác
đã phân tích, cũng “không phải là râu của nó, không phải là máu của nó,không phải là bản chất thể xác trừu tợng của nó, mà là phẩm chất xã hội củanó” [35, tr.337] Nh vậy, bản chất con ngời không phải là trừu tợng mà là cụthể, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗicá nhân riêng biệt, cô lập, mà là tổng hoà của toàn bộ các quan hệ xã hội.Trong thực tế, con ngời là con ngời xã hội, con ngời gắn với xã hội, lànhững cá thể nằm trong các quan hệ xã hội nhất định Nếu tách con ngời khỏicác quan hệ xã hội thì con ngời chỉ còn là một loài sinh vật giống nh mọi loàisinh vật khác; và lúc đó sự gắn bó giữa những cá nhân chỉ mang tính chất bầy
đàn sinh vật chứ không có xã hội của con ngời
Khi nói bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội cũng cónghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều tham gia vào việc hình thành bản chấtcon ngời Các quan hệ xã hội vô cùng phong phú, đa dạng, luôn đan xen, tác
động lẫn nhau, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối, quyết định cácquan hệ xã hội khác Nếu quan hệ sản xuất thể hiện bản chất tầng một của conngời, thì các quan hệ xã hội khác thể hiện bản chất tầng hai của con ngời và
Trang 18lại đợc thể hiện thông qua cái bản chất tầng một, tạo nên những khác biệt giữacon ngời với con ngời Tính chi phối, quyết định của quan hệ sản xuất đối vớicác quan hệ xã hội khác là ở chỗ đó.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh luôn đặtcon ngời và xem xét nó trong các mối quan hệ xã hội nhất định Con ngờimang bản chất xã hội, là thành viên của một cộng đồng xã hội, đó là cộng
động năm cấp độ: gia đình - họ tộc - làng - nớc - nhân loại Con ngời khôngphải là những cá thể biệt lập giống nh Rôbinxơn ngoài hoang đảo Chỉ cótrong quan hệ xã hội, trong hoạt động thực tiễn con ngời mới có hoạt động lao
động, có ngôn ngữ để giao tiếp và t duy, mới thực sự trở thành con ngời để cóthể phân biệt với mọi loài động vật khác
Những quan hệ xã hội mà Hồ Chí Minh quan tâm, trớc hết là những quan
hệ đã gắn bó giữa ngời với ngời tạo thành cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ hẹp
Minh coi là động lực vĩ đại“ ”, thậm chí là “động lực duy nhất” thúc đây sự
phát triển của đất nớc
Hồ Chí Minh đặt con ngời, mỗi cá nhân con ngời trong mối quan hệ bachiều: quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong đó mỗi con ngời làmột thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội nhất định, trong đó con ngời đ-
ợc làm chủ hay bị áp bức, bóc lột; quan hệ với tự nhiên trong đó con ngời là
một bộ phận không thể tách rời, nhng lại luôn “ngời hoá” tự nhiên trong
những cộng đồng xã hội nhất định và bị quy định bởi những chế độ xã hộinhất định Con ngời sống và tồn tại trong lòng xã hội, chịu sự chế ớc của cácquan hệ xã hội Các quan hệ ấy lại không nhất thành bất biến: có loại thay đổinhanh, có loại thay đổi chậm, có loại tồn tại tơng đối lâu dài, có loại bị thaythế bởi cái khác, khi những điều kiện lịch sử cụ thể cho sự tồn tại của nókhông còn Sự vận động liên tục của các quan hệ xã hội quy định bản chất conngời Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì bản chất con ngời cũng thay đổitheo Điều này hoàn toàn phủ nhận các quan điểm duy tâm siêu hình cho rằng,bản chất hay bản tính của con ngời là bất biến
Trang 19Khẳng định con ngời mang bản chất xã hội, song Hồ Chí Minh khôngtuyệt đối hoá mặt “xã hội” của con ngời giống nh quan điểm siêu hình củamột số nhà triết học cùng thời hoặc sau C.Mác, khi đa ra những tiêu chí đểphân biệt con ngời với động vật Chẳng hạn, Phranklin cho rằng con ngời kháccon vật ở chỗ con ngời biết sử dụng công cụ lao động, còn Aristote đã gọi con
ngời là “một động vật có tính xã hội” Hồ Chí Minh quan niệm con ngời
không chỉ là thực thể xã hội mà còn là một thực thể sinh học Điều này làhoàn toàn thống nhất với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác-Lênin
Hồ Chí Minh nhận thức rõ con ngời muốn sống và tồn tại đợc thì cũng
cần phải có ăn, có mặc, “có thực mới vực đợc đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm đợc việc gì cả, “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời.
Đó là nhu cầu tự nhiên của con ngời, nhng những nhu cầu bản năng ấy đã đợc
“ngời hoá” trở thành những hành vi mang tính xã hội Những nhu cầu tự nhiên
ấy của con ngời đợc đáp ứng hay không lại tuỳ thuộc vào chế độ xã hội, vàohình thái kinh tế - xã hội trong đó con ngời đang sinh sống và hoạt động Họcthuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, cùng với con đờngphát triển của nhân loại đã chứng minh rõ điều đó
Thứ hai, theo Hồ Chí Minh con ngời mang bản chất giai cấp
Ban đầu, Hồ Chí Minh cũng nh phần đông ngời Việt Nam đều quan niệmmột cách giản đơn rằng loài ngời đợc phân biệt bởi những màu da khác nhau.Khi đặt chân đến nớc Pháp trên hành trình tìm đờng cứu nớc, Ngời nhận rarằng ở một nớc đợc coi là trung tâm văn minh của châu Âu không phải chỉtoàn những ngời giàu có, mà ở đó cũng có những ngời nghèo khổ nh ViệtNam, “những ngời Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt Song những ngời Pháp thựcdân rất hung ác, vô nhân đạo” [72, tr.23]
Vợt qua ranh giới về màu da - một lý thuyết khá thịnh hành về “đồng văn
đồng chủng” ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhận ra
rằng: đã là ngời dân bị nô lệ, thì dù da là màu gì đi chăng nữa cũng đều là
những ngời “cùng khổ”; đã là kẻ đi bóc lột, thì dù cho da trắng hay da vàng ở
ph-ơng Tây hay phph-ơng Đông đều có chung bản chất giống nhau - bản chất xấu xa,
độc ác Ngời kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có haigiống ngời: giống ngời bóc lột và giống ngời bị bóc lột Mà cũng chỉ có mộtmối tình hữu ai là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [43, tr.266] “Trên quả đất,
Trang 20có hàng muôn triệu ngời Song số ngời ấy có thể chia làm hai hạng: ngờiThiện và ngời ác”[47, tr.643]
Sau khi tiếp cận đợc với học thuyết Mác-Lênin, nhận thức của Hồ ChíMinh về bản chất con ngời dựa trên cơ sở thế giới quan khoa học Đứng vữngtrên lập trờng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Hồ Chí Minh nhận thấy
sự phân biệt giữa ngời với ngời không đơn thuần chỉ là vấn đề chủng tộc, dântộc, mà chủ yếu trên cơ sở nhận thức đúng đắn vấn đề giai cấp, tức là con ngời
đó đứng về phía giai cấp nào: giai cấp bóc lột hay giai cấp bị bóc lột? Giai cấpthống trị hay giai cấp bị trị? Sự phân biệt ấy đợc Hồ Chí Minh gọi là giống ng-
ời bóc lột và giống ngời bị bóc lột Từ nhận thức về màu da, chủng tộc, dântộc rồi đi đến nhận thức về giai cấp là quá trình vận động tuân theo quy luật tduy của Hồ Chí Minh về vấn đề bản chất con ngời
Trong xã hội có giai cấp, tính giai cấp của con ngời đợc thể hiện thôngqua các quan hệ xã hội, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối Quántriệt sâu sắc quan điểm của C.Mác và Ph.ăngghen về bản chất con ngời, HồChí Minh khẳng định quan hệ sản xuất đã phân chia con ngời thành giống ng-
ời bóc lột và giống ngời bị bóc lột, đồng thời lại thấy rõ sự tổng hoà tất cả cácquan hệ xã hội tạo thành bản chất con ngời Hồ Chí Minh không tuyệt đối hoá
hoặc xem nhẹ bất cứ yếu tố nào, vì vậy tránh rơi vào hai xu hớng: một là, coi
bản chất con ngời chỉ còn là bản chất giai cấp, đồng nhất bản chất con ngờivới bản chất giai cấp mà không thấy đợc sự tổng hoá các quan hệ xã hội tạo
nên bản chất con ngời nh C.Mác đã nói; hai là, chỉ thấy bản chất con ngời là
tổng hoà tất cả những quan hệ xã hội nói chung, mà không thấy trong xã hội
có giai cấp, quan hệ sản xuất giữ vai trò chi phối các quan hệ xã hội khác
Từ quan điểm lịch sử cụ thể của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minhthấy rõ sự phân tầng giai cấp ở Việt Nam cha triệt đề, không giống phơng Tây
Trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ gửi Quốc tế cộng sản năm
1924, Ngời đã nêu lên những nhận xét của mình: ở Việt Nam, ngay đến những
kẻ đợc gọi là đại địa chủ “thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những ngờitrùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ”, “đời sống của địa chủ cũng chẳng cógì là xa hoa”; còn t sản ở Việt Nam thì “chỉ là những kẻ thực lợi khá giả”, chứkhông phải là “những tên trọc phú”, “tỷ phú”, t sản có bóc lột lao động làmthuê nhng cũng “vừa phải trong sự tham lam của mình”; có “Hoàng đế trị vìnhng chẳng lo cai trị gì” và không thể so sánh với chúa phong kiến ở châu âu
Trang 21đợc Chính vì vậy, Ngời đã chỉ ra một điều “không thể chối cãi đợc” là “sựxung đột về quyền lợi của họ đợc giảm thiểu” và “cuộc đấu tranh giai cấpkhông diễn ra gay gắt, quyết liệt nh ở phơng Tây” [43, tr.464] Đây là cơ sở xãhội quan trọng để thực hiện chiến lợc đại đoàn kết toàn dân nhằm mục tiêuchung giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời ở ViệtNam
Thứ ba, theo Hồ Chí Minh trong mỗi con ngời luôn có sự thống nhất tồn
tại đan xen giữa hai mặt đối lập: tốt - xấu (thiện - ác)
Quan điểm này của Hồ Chí Minh là sự kế thừa có phê phán t tởng Nhogiáo (Trung Quốc) khi bàn về bản tính con ngời mà đại biểu là Mạnh Tử vàTuân Tử
Theo Mạnh Tử, bản tính con ngời ta vốn thiện, không một ngời nào sinh
ra tự nhiên bất thiện, đã là con ngời thì ai cũng có trong lòng cái mầm thiện
ông chỉ rõ sự khác nhau giữa con ngời và con vật là ở chỗ, trong mỗi con ngời
đều có phần quý trọng và phần bỉ tiện, có phần cao đại và phần thấp hèn.Chính cái phần quý trọng và cao đại mới là tính ngời, mới là cái phân biệt giữangời và thú Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng bản tính con ngời vốn
ác, đó là kết quả của thói hiếu lợi và đố kỵ trong mỗi con ngời khi mới sinh ra
Để sửa tính ác thành tính thiện, ông chủ trơng cần có sự giáo hoá, dùng lễnghĩa và lễ nhạc Điểm giống nhau giữa Mạnh Tử và Tuân Tử là ở chỗ đãtuyệt đối hoá tính “thiện” hay tính “ác” trong mỗi con ngời mà không thấy đ-
ợc sự chuyển hoá giữa chúng khi các quan hệ xã hội thay đổi
Sử dụng những thuật ngữ của văn hoá phơng Đông nhng dựa trên cơ sởthế giới quan khoa học và phép biện chứng duy vật, Hồ Chí Minh khẳng định
bản chất con ngời có cả thiện và ác, hai mặt đó luôn tồn tại đan xen trong mỗi con ngời Không thể có sự phân biệt rạch ròi giữa ngời này “thiện”, ngời kia
“ác”, có chăng chỉ là tơng đối do trạng thái biểu hiện nhiều hay ít của tính
“thiện” và tính ác“ ” trong mỗi con ngời Tốt hay xấu không phải là bản tínhvốn có, con ngời ta sinh ra không phải tự nhiên thành ngời tốt hay ngời xấu
Sự khác nhau đó bị chi phối phần lớn bởi điều kiện hoàn cảnh xã hội và sự
t-ơng tác giữa con ngời với môi trờng xã hội, phần nhiều do giáo dục mà nên.Quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh về bản chất con ngời hoàn toàn xalạ với những quan điểm duy tâm siêu hình cho rằng, bản chất của con ngời làbất biến đổi với những loại ngời khác nhau: quân tử hay tiểu nhân, thợng trí
Trang 22hay hạ ngu, sinh ra để trị ngời hay để ngời trị Về điều này, C.Mác đã từngkhẳng định: Toàn bộ lịch sử chỉ là sự biến đổi liên tục của bản tính con ngời;nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ là tìm hiểu bản chất con ngời nóichung, mà còn phải thấy bản chất đó thay đổi nh thế nào trong mỗi thời đạilịch sử nhất định Chính điều này đã giải thích tại sao không ít ngời thuộc cácgiai cấp bóc lột lại có thể từ bỏ giai cấp xuất thân của mình để đi với giai cấp
bị bóc lột, tham gia đấu tranh để giải phóng các giai cấp bị bóc lột, thậm chítrở thành lãnh tụ của giai cấp vô sản nh trờng hợp của C.Mác, Ph.ăngghen,V.Lênin và bao nhiêu lãnh tụ cộng sản khác Cũng chính từ điều này màchúng ta hiểu đợc tại sao C.Mác, Ph.ăngghen, V.Lênin, Hồ Chí Minh lại đặcbiệt coi trọng vấn đề cải tạo con ngời cũ, xây dựng con ngời mới; xây dựngchế độ mới, đời sống mới cho con ngời, vì con ngời
1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự giải phóng ngời Việt Nam
1.2.1 Về con ngời đợc giải phóng
Trong t tởng giải phóng con ngời, Hồ Chí Minh đề cập đến con ngời đợcgiải phóng trên cả hai bình diện: con ngời xét trên bình diện cộng đồng và conngời với t cách là cá nhân
Thứ nhất, giải phóng con ngời trên bình diện cộng đồng
Mỗi con ngời không thể sống riêng lẻ mà phải sống với xã hội, sốngtrong lòng quốc gia dân tộc Vì vậy, quyền của mỗi con ngời phụ thuộc vàoquyền tối cao của dân tộc đó là độc lập tự do Từ thực tiễn khách quan của cácdân tộc bị nô dịch, từ chủ nghĩa dân tộc truyền thống của cha ông ta và tiếpthu sáng tạo t tởng nhân quyền và dân quyền của các cuộc cách mạng điểnhình trên thế giới, Hồ Chí Minh phát triển thành quyền của dân tộc: “tất cả cácdân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,quyền sung sớng và quyền tự do” [47, tr.1]
Nh vậy, con ngời đợc giải phóng trên bình diện cộng đồng theo Hồ ChíMinh là toàn thể dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôngiáo, giới tính, lứa tuổi… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại lễ Quốc
khánh nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã mở
đầu bằng những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nớcMỹ: “Tất cả mọi ngời đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ nhữngquyền không ai có thể xâm phạm đợc; trong những quyền ấy, có quyền đợc
Trang 23sống, quyền tự do và quyền mu cầu hạnh phúc” [47, tr.1], đó là các quyềnthiêng liêng nhất của mỗi con ngời Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền,vì vậy, nhân dân Việt Nam “có quyền hởng tự do và độc lập” nh những dân tộckhác.
Độc lập tự do theo Hồ Chí Minh là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạmcủa các dân tộc dù dân tộc đó là “thợng đẳng” hay “hạ đẳng”; “văn minh” hay
“lạc hậu” Độc lập, tự do phải thực sự hoàn toàn và đợc biểu hiện trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội Các quyền dân tộc, quyền con ngời phải đợc
thực hiện trên thực tế, chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu giống nh “cái
bánh vẽ” mà chủ nghĩa đế quốc nêu ra Độc lập phải gắn liền với tự do, nớc
t tởng cốt lõi của Hồ Chí Minh hàm chứa nội dung tổng hoà biện chứng, độc
đáo và mang đậm bản sắc dân tộc về ba cuộc cách mạng của thời đại: giảiphóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời
Độc lập tự do cho dân tộc là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh, chiphối mọi t duy và hành động của Ngời Suốt cuộc đời cách mạng của mình,
Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là đất nớc đợc hoàn toàn độc lập,dân tộc đợc hoàn toàn tự do, đồng bào sung sớng hạnh phúc Đó là mục tiêu
và động lực của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam trong tiến trình cách
mạng, kháng chiến và dựng xây đất nớc đàng hoàng hơn, to đẹp hơn“ ” làmcho nớc Việt Nam trở thành một quốc gia dân giàu, nớc mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ và văn minh
Cùng với việc giải phóng con ngời trên bình diện cộng đồng quốc gia dântộc, Hồ Chí Minh còn đề cập đến giải phóng con ngời với t cách là một giaicấp, tầng lớp xã hội cụ thể, trong đó Ngời đề cập nhiều nhất đến giải phóngnông dân và ngời phụ nữ - những giai cấp, tầng lớp chịu nhiều nỗi khổ cựcnhất của xã hội Việt Nam dới chế độ thực dân, phong kiến
Trang 24Sinh ra và lớn lên từ một nớc thuộc địa của thực dân Pháp, nơi mà nôngdân chiếm đa số (hơn 90% số dân), Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết nỗi nhụclầm than, nỗi đau nô lệ của ngời nông dân bị mất nớc Sau này, khi đợc chứngkiến nỗi khổ nhục của ngời nông dân các nớc thuộc địa trên hành trình tìm đ-ờng cứu nớc, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: ở đâu ngời nông dân cũng bị áp bức
và bóc lột tàn bạo bởi bốn thế lực là: Nhà nớc bảo hộ, bọn thực dân, nhà thờ vànhững tên lái buôn Nghiên cứu tình cảnh nông dân Đông Dơng thuộc Pháp,Ngời thấy rõ tội ác dã man của chế độ thực dân ở thuộc địa, đó là tình trạng c-
ớp ruộng đất một cách phổ biến và trắng trợn, chính sách thuế khoá nặng nềbóc lột tận xơng tuỷ ngời lao động ở Đông Dơng, nông dân bao giờ cũng là
đối tợng bóc lột chủ yếu để nuôi sống “nớc mẹ” Pháp, phục vụ cho cuộc sống
phè phỡn của kẻ xâm lợc Vì vậy, giải phóng ngời nông dân là khát vọng lớnlao của Hồ Chí Minh
Không chỉ tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh còn chỉ racho quần chúng nguyên nhân của mọi sự khổ đau và con đờng đúng đắn nhấttrong cuộc đấu tranh tự giải phóng Ngời từng bớc đề cập một cách có hệthống vị trí, vai trò của nông dân là lực lợng rất to lớn của dân tộc, có chí khírất anh dũng, có truyền thống cách mạng, tin tởng ở sự lãnh đạo của Đảng;
đồng thời, chỉ ra những hạn chế của phong trào nông dân khi cha đợc tổ chứclại và cha có lực lợng tiên phong lãnh đạo Giải phóng dân tộc thực chất là giaiphóng nông dân
Trong t tởng về giải phóng con ngời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đếngiải phóng phụ nữ Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Ngờiluôn quan tâm đến vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội, “phụ nữ là phân nửacủa xã hội Nếu xã hội không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửaloài ngời” [51, tr.523] Khi khẳng định phụ nữ là một nửa của xã hội, Hồ ChíMinh không chỉ nhìn nhận một cách đơn thuần về số lợng, tỷ lệ của giới nữtrên tổng số dân, Ngời còn nói đến vị trí của giới nữ với t cách là một bộ phận
không thể tách rời trong một thể thống nhất với “nửa bên kia” để cấu thành
nên nhân loại Nói về vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, Hồ ChíMinh khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mớithành công”, “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng nh già, rasức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [48, tr.432]
Trang 25Tuy nhiên, sống dới chế độ thực dân phong kiến, phụ nữ là tầng lớp bị ápbức nặng nề về tinh thần lẫn thể xác, “ách áp bức kinh tế đã nô dịch con ngời.Cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành đồ vật tuỳ thuộc vào quyền sử dụng
của nam giới” [43, tr.268], “Dới chế độ thực dân phong kiến, nhân dân ta bị áp
bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề” [53, tr.256] Vì vậy,nếu giải phóng xã hội mà cha giải phóng phụ nữ thì sự nghiệp giải phóng conngời cha triệt để; trình độ giải phóng phụ nữ là thớc đo cho sự phát triển của
lịch sử loài ngời Trong Đờng Kách mệnh (1927), Nguyễn ái Quốc đã dẫn lời
của C.Mác, xem chất lợng cuộc sống của phụ nữ là tấm gơng phản chiếu trình
độ văn minh của nhân loại: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xãhội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi Xem t tởng và việclàm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” [44, tr.288]
Giải phóng phụ nữ theo Hồ Chí Minh cũng là một cuộc cách mạng gắnliền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời; là cuộccách mạng nhằm xoá bỏ mọi định kiến hẹp hòi và những tàn d của xã hội cũ
để lại Đó là một cuộc cách mạng không kém phần khó khăn, đòi hỏi phải đợctiến hành một cách triệt để Giải phóng phụ nữ là một trong những nhiệm vụtrọng tâm của Đảng, Nhà nớc và của toàn xã hội “phải cách mạng từng ngời,từng gia đình, đến toàn dân” [48, tr.433]; đồng thời, đó cũng là cuộc cáchmạng của chính bản thân ngời phụ nữ
Thứ hai, giải phóng con ngời trên bình diện cá nhân.
Khái niệm “cá nhân” dùng để chỉ con ngời cụ thể sống trong một xã hội
nhất định, với t cách là một cá thể, một thành viên của xã hội ấy, do những
đặc điểm riêng của mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành Những cá nhân này sống
và hoạt động trong những nhóm, cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do
điều kiện lịch sử cụ thể quy định Bất cứ xã hội nào cũng đợc cấu thành khôngphải bởi những con ngời trừu tợng mà bởi những con ngời cụ thể, những cánhân sống Mỗi cá nhân là một cái đơn nhất mang những đặc điểm riêng phânbiệt với các cá nhân khác không chỉ về mặt sinh học mà chủ yếu về mặt nhữngquan hệ xã hội, những quan hệ này vô cùng phức tạp, rất cụ thể và có tính lịch
sử Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những “quan hệ xã hội” của riêng mìnhkhông hoàn toàn giống quan hệ xã hội của các cá nhân khác, có kinh nghiệmriêng, có nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng riêng Mỗi ngời đều có tính cách riêng,
sở trờng riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình
Trang 26Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mỗi ngời dân Việt Nam dù bất
kỳ ở giai cấp, tầng lớp xã hội nào đều ít nhiều phải gánh chịu mọi hậu quảnặng nề của sự tha hoá Kết quả hoạt động của con ngời ngày càng bị biếnthành một lực lợng thoát ra khỏi con ngời, xa lạ với con ngời, thống trị lại conngời Trong điều kiện đó, tự do của ngời lao động chỉ mang tính hình thức, cánhân con ngời không thể có sự phát triển hài hoà và toàn diện, ngời lao độngkhông thể khẳng định mình với t cách cá nhân
Mục tiêu giải phóng con ngời của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở giảiphóng con ngời trên bình diện cộng đồng, mà phải tiến tới giải phóng mỗi cánhân trong cộng đồng ấy, có nh vậy công cuộc giải phóng con ngời mới thực
sự triệt để
Theo Hồ Chí Minh, mỗi con ngời với tính cách là những cá thể riêng biệt
đều có quyền bình đẳng, quyền đợc sống, quyền tự do và quyền mu cầu hạnhphúc, đó là những quyền thiêng liêng nhất của mỗi con ngời Vì vậy, giảiphóng cá nhân mỗi con ngời trớc hết là phải xoá bỏ sự bất bình đẳng trongquan hệ giữa con ngời với con ngời Dới chế độ dân chủ cộng hoà, mọi ngờidân đều có quyền và nghĩa vụ nh nhau, đều “có quyền tự do t tởng, tự do tổchức, tự do tín ngỡng,v.v có quyền ứng cử và bầu cử Đàn bà có mọi quyềnlợi nh đàn ông”, vì vậy “mọi ngời cần hăng hái làm tròn nghĩa vụ của mìnhtrong mọi công việc kháng chiến, cứu nớc, xây dựng nớc nhà" [49, tr.219].Giải phóng con ngời trên bình diện cá nhân không chỉ dừng lại ở việc xoá
bỏ ách áp bức hiện thực của đời sống xã hội đối với con ngời, mà còn phải làmcho con ngời từng bớc thoát khỏi sự chế ngự của tự nhiên và hạn chế trongnhận thức, hành vi của chính bản thân mỗi con ngời Ph.ăngghen từng khẳng
định: Tự do là sự nhận thức đợc cái tất yếu Tự do của mỗi ngời là điều kiệnbảo đảm tự do cho tất cả mọi ngời Để con ngời từ vơng quốc của tất yếu sangvơng quốc của tự do, theo Hồ Chí Minh, mỗi ngời đều phải hiểu biết về quyềnlợi và nghĩa vụ của mình, phải ra sức học tập nâng cao trình độ hiểu biết về thế
giới tự nhiên và xã hội, phải “cải tạo” chính bản thân mình
1.2.2 Giải phóng con ngời thống nhất với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp
C.Mác và Ph.ăngghen là những ngời đầu tiên giải quyết vấn đề giai cấp
và dân tộc một cách đúng đắn trên cơ sở thế giới quan và phơng pháp luận duyvật biện chứng Theo các ông, ở bất cứ thời đại nào vấn đề dân tộc cũng phải
đợc nhận thức và giải quyết trên lập trờng của một giai cấp nhất định Chỉ
Trang 27đứng trên lập trờng của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết
đúng đắn vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.ăngghen đã đề cập
đến mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc Các ông viết: Cuộc đấu tranh củagiai cấp vô sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp t sản ở giai đoạn đầu của
nó là mang tính chất dân tộc, vì “phong trào vô sản là phong trào độc lập củakhối đại đa số, mu lợi ích cho khối đại đa số” [37, tr.611] Từ đó, các ôngkhẳng định: “Giai cấp vô sản mỗi nớc trớc hết phải giành lấy chính quyền,phải tự vơn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuykhông hoàn toàn theo cái nghĩa nh giai cấp t sản hiểu” [37, tr.623-624]
Theo C.Mác và Ph.ăngghen, trong thời đại ngày nay chỉ có giai cấp vôsản mới thống nhất đợc lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích của nhân dân lao
động và của cả dân tộc Xoá bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp là điềukiện để xoá bỏ ách áp bức dân tộc Chỉ có giai cấp vô sản với bản chất cáchmạng và sứ mệnh lịch sử của mình mới có thể thực hiện đợc điều này; chỉ cócuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện đợc
sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng conngời
Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử, C.Mác và Ph.ăngghen cha có điềukiện đi sâu nghiên cứu vấn đề giải phóng dân tộc, đúng nh V.Lênin từng nhậnxét: đối với C.Mác, so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là vấn
đề thứ yếu thôi
Trong điều kiện chủ nghĩa t bản phát triển đến giai đoạn độc quyền, sựxâm lợc của chủ nghĩa đế quốc đã làm xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa,V.Lênin mới có cơ sở thực tiễn để luận giải về mối quan hệ mật thiết giữa vấn
đề giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Theo V.Lênin, giải phóng dântộc thuộc địa là một bộ phận của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chốnggiai cấp t sản Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đặc biệt là khi giai cấp vô sản nắm
đợc chính quyền, nếu không nắm lấy ngọn cờ dân tộc thì nhất định có hại cho
sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản V.Lênin còn cho rằng, lực lợng của giaicấp vô sản và cách mạng vô sản sẽ tăng lên gấp bội, sẽ trở thành vô địch nếu
nó kết hợp chặt chẽ với cách mạng giải phóng dân tộc Chỉ có ủng hộ hết mìnhphong trào giải phóng dân tộc thì giai cấp vô sản ở các nớc t bản mới thực sựlàm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình Ngợc lại, cách mạng giải phóng dân tộcchỉ có thể đi đến thành công nếu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, hợp
Trang 28thành một dòng với cách mạng vô sản và kết hợp làm một cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc với giải phóng giai cấp tiến tới giải phóng con ngời.
Là nhà mác xít chân chính, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sángtạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhận thức và giải quyết mối quan
hệ giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời
Lôgíc phát triển trong t duy Hồ Chí Minh là đi từ giải phóng dân tộc giải phóng giai cấp - giải phóng con ngời Trên cơ sở phân tích thái độ chínhtrị - xã hội của các giai cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ
-XX, Ngời nhận thấy rõ mâu thuẫn giữa một bên là toàn thể dân tộc Việt Namvới một bên là thực dân Pháp và tay sai là mâu thuẫn cơ bản, đồng thời là mâuthuẫn chủ yếu, giải quyết đợc mâu thuẫn này sẽ tạo động lực thúc đẩy xã hộiphát triển theo hớng tiến bộ Do đó, sự nghiệp giải phóng con ngời Việt Namphải đợc bắt đầu trớc hết từ giải phóng dân tộc Cách mạng giải phóng dân tộcthắng lợi mới tạo điều kiện, tiền đề để thực hiện giải phóng giai cấp và giảiphóng xã hội Quan điểm này đã thực sự trở thành đờng hớng chiến lợc cáchmạng của Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới ra đời
Trong Cơng lĩnh chính trị đầu tiên thông qua Hội nghị thành lập Đảng(2/1930), Nguyễn ái Quốc “chủ trơng làm t sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [45, tr.1] Trở về nớc đầu năm 1941trong bối cảnh cao trào cách mạng đang dâng cao, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tronglúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, nớc mất thì nhà tan,dân tộc không đợc độc lập thì các giai cấp, tầng lớp xã hội cũng chẳng đợc tự
do, quyền lợi của giai cấp phải phục tùng quyền lợi tối cao của dân tộc Vìvậy, mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, Hồ Chí Minh đều khẳng định: “Tổ quốc trênhết, dân tộc trên hết”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Những khẩu hiệu
đó đã trở thành một chân lý bất hủ Ngời nêu ra 3 mục tiêu phấn đấu của toàn
Đảng, toàn dân là: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh đã đợc thực tiễn cách mạng ViệtNam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, nó vẫn còn nguyên giá trị cho đếnngày hôm nay
Đề cao vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, song Hồ Chí Minh khôngrơi vào “chủ nghĩa dân tộc” vị kỷ, hẹp hòi mà có những lúc Ngời từng bị Quốc
tế cộng sản quy kết Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
Hồ Chí Minh thấy rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải đợc nhận thức và giải
Trang 29quyết trên lập trờng giai cấp vô sản Cách mạng giải phóng dân tộc muốnthắng lợi phải đi theo con đờng cách mạng vô sản; giải phóng dân tộc phải đặttrong mối quan hệ mật thiết với giải phóng giai cấp, hớng tới mục tiêu cuốicùng là giải phóng con ngời Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ ChíMinh đã khẳng định: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng đ-
ợc dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩacộng sản và của cách mạng thế giới” [43, tr.416]
Theo Hồ Chí Minh, xoá bỏ ách áp bức dân tộc mà không xoá bỏ ách ápbức giai cấp thì nhân dân lao động - động lực chủ yếu của cách mạng - vẫncha đợc giải phóng Xã hội luôn tồn tại các giai cấp, tầng lớp có lợi ích thốngnhất và khác nhau, trong đó mỗi cá nhân bao giờ cũng thuộc về một giai cấp,tầng lớp xã hội nhất định, không có con ngời siêu giai cấp, phi giai cấp Lịch
sử đã chứng minh rằng: không phải cứ dân tộc độc lập là nhân dân đợc hởng
tự do, hạnh phúc, hay nói cách khác, sự nghiệp giải phóng con ngời thể chakết thúc sau khi đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫu rằng sự giảiphóng đó là vô cùng cơ bản đối với những ngời dân nô lệ mất nớc nhng vẫn rấthạn hẹp so với quyền và nhu cầu giải phóng mỗi cá nhân trong xã hội Mức độgiải phóng con ngời tuỳ thuộc rất nhiều vào chế độ xã hội đó tiến bộ hay phảntiến bộ, phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền có thực sự là đại diện cho lợi ích
của đại đa số dân chúng hay không Nếu không, đó chỉ đơn thuần là sự “đổi
ngôi” giữa các giai cấp áp bức bóc lột Hơn nữa, căn nguyên sâu xa của áp bức
dân tộc, áp bức con ngời và sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, giữa con ngờivới nhau là do áp bức giai cấp sinh ra Thực chất của áp bức dân tộc suy đến
cùng là do áp bức giai cấp Về vấn đề này, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản, C.Mác từng khẳng định: “Hãy xoá bỏ nạn ngời bóc lột ngời, thì nạn dân tộc
này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”, “Khi mà sự đối kháng giữa các giaicấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa, thì đồng thời quan hệ thù địch giữa cácdân tộc cũng mất theo” [37, tr.624]
Vì vậy, giải phóng giai cấp là một trong những nhiệm vụ quan trọngnhằm hớng tới mục tiêu giải phóng con ngời Nói cách khác, chỉ có thể giảiphóng triệt để con ngời khi nào thực hiện đợc giải phóng giai cấp, xoá bỏ tìnhtrạng ngời bóc lột ngời; chỉ khi nào xoá bỏ đợc chế độ t hữu t nhân về t liệusản xuất, thiết lập chế độ công hữu về t liệu sản xuất mới xoá bỏ đợc tận gốc
Trang 30tình trạng áp bức, bóc lột; chỉ khi nào thiết lập đợc một nhà nớc thực sự là củadân, do dân, vì dân thì khi ấy mới thực sự mang lại hạnh phúc cho con ngời
Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con ngời trong thực tiễn ở Việt Nam
Đó là cuộc cách mạng không ngừng, trong đó cuộc cách mạng trớc là tiền đềcho cuộc cách mạng sau; cuộc cách mạng sau là một bớc phát triển cao hơn sovới cuộc cách mạng trớc và giữa các cuộc cách mạng đó không hề có bức tờngngăn cách; mỗi cuộc cách mạng là mắt khâu của sự nghiệp cao cả nhất là chocon ngời, vì con ngời Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn con đờng phát triểncủa cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội;cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủnghĩa Độc lập dân tộc tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nớc theo con đờngxã hội chủ nghĩa, đến lợt nó, sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội lại góp phầncủng cố thành quả của độc lập dân tộc Hồ Chí Minh thờng nhắc nhở cán bộ
đảng viên rằng: "yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xãhội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một ấm nothêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm” [51, tr.173]
Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, ba cuộc giải phóng: giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời có mối quan hệ biện chứng tác
động lẫn nhau Cách mạng giải phóng dân tộc đã bao hàm trong đó nội dunggiải phóng giai cấp và giải phóng con ngời Giải phóng dân tộc thắng lợi là cơ
sở quan trọng để thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời;trái lại, sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời càng triệt để baonhiêu thì độc lập dân tộc càng bền vững bấy nhiêu
Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giảiphóng con ngời là t tởng nhất quán, xuyên suốt toàn bộ cuộc đời hoạt độngcách mạng của Hồ Chí Minh Là ngời cộng sản của một nớc thuộc địa, Hồ ChíMinh không chỉ đại diện cho quyền lợi của giai cấp vô sản Việt Nam, mà còn
đại diện cho toàn dân tộc Trong nhận thức của Ngời, dân tộc và giai cấp lànhững nhân tố hợp thành lực lợng cách mạng vô sản ở nớc thuộc địa nửaphong kiến Điểm khác nhau giữa Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí hoạt độngcùng thời, kể cả một số đồng chí trong Quốc tế cống sản và trong Trung ơng
Đảng ta trớc đây, cũng nh những năm sau khi nớc nhà thống nhất không chỉ ởchỗ, kết hợp hay tách rời yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp, mà còn ở chỗ xác
Trang 31định vị trị của mỗi yếu tố trong mối quan hệ giữa hai yếu tố đó Hồ Chí Minh
đánh giá đúng và đầy đủ ảnh hởng tích cực của yếu tố dân tộc trong suốt quátrình cách mạng Việt Nam, cả giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ cũng nhtrong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa
Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon ngời trong t tởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ, con ngời vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng Giải phóng dân tộc mới làchặng đờng đầu tiên của công cuộc giải phóng, dân tộc độc lập phải gắn liềnvới dân sinh hạnh phúc Ngời thờng nhắc nhở toàn Đảng rằng: Hễ còn một ng-
ời Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thơng, cho đó là vìmình cha làm tròn nhiệm vụ Cho nên Đảng phải chăm lo xây dựng, phát kinh
tế - xã hội của đất nớc, đồng thời quan tâm đến những việc nhỏ nh: tơng, cà,mắm, muối - bảo đảm nhu cầu cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân
1.2.3 Những điều kiện chủ yếu bảo đảm thắng lợi sự nghiệp giải phóng ngời Việt Nam
1.2.3.1 Sự nghiệp giải phóng ngời Việt Nam muốn thắng lợi phải do
Đảng cộng sản lãnh đạo
C.Mác và Ph.ăngghen - những nhà khai sáng của chủ nghĩa xã hội khoahọc, trong khi phân tích kết cấu kinh tế của chủ nghĩa t bản đã chỉ rõ sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân là “đào mồ chôn chủ nghĩa t bản” xoá bỏ xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đợc quy
định do địa vị lịch sử - xã hội của nó Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,
C.Mác và Ph.ănghen đã khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đốilập với giai cấp t sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng.Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của
đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đạicông nghiệp” [37, tr.610] Để thực hiện đợc sứ mệnh lịch sử của mình, đòi hỏigiai cấp công nhân phải tổ chức ra đợc một chính đảng để lãnh đạo, chỉ có nhvậy mới có thể giành đợc thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sảnkhỏi ách bóc lột của giai cấp t sản
Kế thừa những giá trị t tởng của C.Mác và Ph.ăngghen, trong điều kiệnchủ nghĩa t bản ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, V.Lênin tiếp tục khẳng định sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân, “Chỉ có giai cấp vô sản công nghiệp ởthành thị, do Đảng cộng sản lãnh đạo mới có thể giải phóng quần chúng lao động
Trang 32ở nông thôn thoát khỏi ách t bản và chế độ chiếm hữu lớn của địa chủ, thoát khỏi
sự phá sản và chiến tranh và đế quốc chủ nghĩa” [31, tr.184-185] Tuy nhiên,theo V.Lênin, giai cấp công nhân không thể hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử đãgiao cho nếu cha tổ chức ra đợc một chính đảng cách mạng của giai cấp vôsản
Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời xuấtphát từ thực tiễn thất bại của phong trào yêu nớc Việt Nam những năm cuốithế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh ngay từ rất sớm đã nhận thức rõ vaitrò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Ngời khẳng định: Trong thời đạingày nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch
sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minh vớigiai cấp nông dân
Đứng vững trên lập trờng giai cấp, Hồ Chí Minh nhận thấy ở Việt Namgiai cấp nông dân là giai cấp chiếm đa số (trên 90 % dân số cả nớc); là giaicấp bị bóc lột nặng nề dới hai tầng áp bức của đế quốc và phong kiến, họ vừa
nh những ngời vô sản, vừa nh những ngời mất nớc Là ngời An Nam, họ bị áp
bức; là ngời nông dân, họ bị tớc đoạt dẫn đến cảnh bần cùng nên họ là “động
lực” của cách mạng Song, chỉ với lực lợng của riêng mình, giai cấp nông dân
không bao giờ có thể xoá bỏ đợc gánh nặng đang đè nén họ, sống tản máttrong các làng mạc, nông dân có thể nổi dậy đấu tranh, nhng một mình họ thìkhông thể giành và giữ đợc bộ máy chính quyền Mặt khác, giai cấp nông dân
đại diện cho nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, không có hệ t tởng độc lập… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.Vì vậy, sức mạnh của giai cấp nông nhân chỉ có thể phát huy trong sự liênminh chặt chẽ với giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhântrong sự nghiệp giải phóng mình, giải phóng xã hội
Đối với giai cấp tiểu t sản, bao gồm: trí thức, các nhà công nghệ và thơngnghiệp nhỏ, thủ công nghệ, những ngời làm nghề tự do khác nh thầy thuốc,luật s, công chức,v.v có những nhợc điểm: tự t tự lợi, rời rạc, kém kiênquyết… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.Tuy nhiên, sống trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp tiểu t
sản ít nhiều đều bị bóc lột và có tinh thần yêu nớc nên họ là “bầu bạn” của
công nông Nhiệm vụ của giai cấp công nhân cần phải tuyên truyền, tổ chức,giúp họ phát huy u điểm, sửa chữa nhợc điểm; cần phải khôn khéo lãnh đạo
họ, làm cho họ quyết tâm phụng sự nhân dân, cải tạo t tơng, cùng với côngnông kết thành một khối trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng
Trang 33Đối với giai cấp t sản dân tộc, là giai cấp luôn có tính hai mặt: môt mặt,
họ bị đế quốc và phong kiến chèn ép nên có tinh thần chống đế quốc; mặtkhác, là giai cấp bóc lột nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu tranh,
đây là giai cấp vừa muốn cách mạng, vừa muốn thoả hiệp
Nh vậy, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo
sự nghiệp đấu tranh cách mạng Muốn thực hiện đợc sứ mệnh ấy giai cấp côngnhân phải sáng lập ra chính đảng của mình để lãnh đạo mới có thể giành đợc
thắng lợi hoàn toàn Trong Đờng Kách mệnh (1927), Nguyễn ái Quốc chỉ rõ:
cách mệnh muốn thành công “ Trớc hết phải có đảng cách mệnh, để trong thìvận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vôsản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng nh ngờicầm lái có vững thuyền mới chạy” [44, tr.267-268]
Sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết địnhthành công của sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh đợc rút ra từ việc khảosát thực tiễn và nghiên cứu lý luận
Trớc khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiềuphong trào yêu nớc, nhiều tổ chức chính trị đấu tranh chống thực dân Pháp:Văn Thân, Cần Vơng, Nghĩa quân Yên Thế, Đông Du, Đông Kinh NghĩaThục, Việt Nam Quang phục hội, Tâm tâm xã, Việt Nam quốc dân Đảng… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.Các phong trào, các tổ chức ấy đã để lại nhiều trang sử vẻ vang, nhiều tấm g-
ơng oanh liệt thôi thúc tinh thần đấu tranh của nhân dân ta Tuy nhiên, do bịchi phối bởi ý thức hệ phong kiến hay tiểu t sản nên đã không thấy đợc tínhchất của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa nửa phong kiến và đâu là mâuthuẫn chủ yếu, cơ bản, cũng nh không xác định đợc rõ thái độ chính trị xã hộicủa từng giai cấp, tầng lớp trong xã hội, về mối quan hệ của cách mạng ViệtNam với cách mạng thế giới… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.Do đó đã không đề ra đợc đờng lối và phơngpháp cách mạng đúng đắn, khiến cho cách mạng bị bế tắc nh đi trong đêm tối
mà không tìm thấy đờng ra
Hồ Chí Minh cũng nh nhiều nhà yêu nớc khác, thấy rõ sức mạnh vô địchcủa truyền thống yêu nớc Việt Nam trong đấu tranh dựng nớc, giữ nớc Nhng
điều đặc biệt của Hồ Chí Minh là ở chỗ, vợt lên trên những hạn chế của cácnhà yêu nớc tiền bối và đơng thời, Ngời thấy rõ trong hoàn cảnh mới, sứcmạnh đó sẽ tăng lên gấp bội nếu nh quần chúng nhân dân đợc giác ngộ, tậphợp, tổ chức và lãnh đạo theo một đờng lối đúng đắn bởi giai cấp công nhân
Trang 34mà bộ tham mu là Đảng cộng sản Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời là quá trình khó khăn, gian khổ, lâudài đòi hỏi phải có tổ chức thực sự cách mạng để lãnh đạo theo một đờng lối
đúng đắn mới nhanh chóng đi đến thắng lợi
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng mức độ giải phóng con ngời hoàntoàn phụ thuộc vào chế độ xã hội mà ở đó giai cấp cầm quyền có đại diện cholợi ích của số đông những ngời lao động hay không
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quyền lực nằm trong tay tầng lớp chủ
nô, quan hệ giữa con ngời với con ngời là quan hệ “chó sói” Ngời nô lệ chỉ
là những “công cụ biết nói” của chủ nô Trong xã hội phong kiến, quyềnlực tập trung trong tay Vua, Chúa phong kiến, ngời lao động chỉ là những
“thần dân”, “con dân”, “tối tăm về trí tuệ” Trong xã hội t bản chủ nghĩa,
quyền lực tập trung trong tay giai cấp t sản, chế độ bóc lột lao động làmthuê đã xé toang tấm màn tình cảm phủ lên những quan hệ tốt đẹp giữa conngời với con ngời, biến những quan hệ ấy thành chỉ là những quan hệ tiềnnong đơn thuần
Khảo sát các kiểu Nhà nớc khác nhau, Hồ Chí Minh ngay từ những năm
20 của thế kỷ XX đã khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộngsản mới giải phóng đợc các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ Sự nghiệp đấutranh nhằm xoá bỏ chủ nghĩa t bản, xây dựng xã hội mới là sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp công nhân với bộ tham mu chiến đấu có tổ chức của nó là ĐảngCộng sản
Theo Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam là chính đảng của giai cấpcông nhân Việt Nam, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, có khả năngtập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân đấu tranh cách mạng Đảng là đội tiênphong dũng cảm, bộ tham mu sáng suốt, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc vànhân dân; đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của toàn dân tộc, ngoài lợi ích đó ra Đảng ta không có lợi ích nào
nào khác Mục tiêu cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam là độc lập chodân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi ngời dân, xây dựng đất nớc giàumạnh đi lên chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện đợc sự nghiệp đấu tranh giải phóng giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp tiến tới giải phóng con ngời, theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộngsản Việt Nam phải đề ra đợc đờng lối đúng đắn vì con ngời, cho con ngời,
Trang 35đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con ngời là nhiệm vụ trung tâm của Đảng vàcác tổ chức chính trị - xã hội Để cho dân đói, dân rét, dân ốm là Đảng vàChính phủ có lỗi Đảng phải quan tâm chăm lo đến đời sống của ngời dân từ
những cái nhỏ nh “tơng, cà, mắm, muối” cho đến những cái lớn hơn nh các
quyền của con ngời Phải coi con ngời vừa là mục tiêu, vừa là động lực củacách mạng Phải thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với dân, nếu không có dân,
Đảng không có đủ lực lợng, trái lại, nếu thiếu Đảng, dân không có ngời dẫn ờng Đảng vừa là ngời lãnh đạo, vừa là ngời đầy tớ của nhân dân Đảng không
đ-ở trên dân, ngoài dân, mà đ-ở trong dân Không phải chỉ có Nớc mới lấy dânlàm gốc, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc Chính cái gốc này đem lạinguồn sinh lực vô tận cho Đảng
1.2.3.2 Giải phóng con ngời là sự nghiệp của chính bản thân con ngời
Trớc đây khi đề cập đến con đờng nhằm thực hiện lý tởng giải phóng
quần chúng lao động bị áp bức, xóa bỏ tình trạng ngời bóc lột ngời, đa “con
ngời từ vơng quốc của tất yếu sang vơng quốc của tự do”, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác-Lênin đều cho rằng đó là con đờng đấu tranh tự giảiphóng Giải phóng con ngời là t tởng trung tâm, là điểm xuất phát trong cách
đặt vấn đề xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, trong đó sự phát tự docủa mỗi ngời là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi ngời Các ông chorằng, bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ, nó trả thế giới con ngời,những quan hệ của con ngời về với bản thân con ngời; chỉ khi nào con ngời cánhân hiện thực hấp thu ngời công dân trừu tợng của nhà nớc vào bản thân nó
và với t cách là con ngời cá nhân trong cuộc sống kinh nghiệm chủ nghĩa củamình, trong lao động cá nhân của mình, trở thành một sinh vật loài; chỉ khinào con ngời nhận thức đợc “những lực lợng của bản thân” thành những lực l-ợng xã hội, và vì vậy sẽ không còn tách lực lợng chính trị ra khỏi bản thânmình - chỉ khi ấy giải phong con ngời mới đợc hoàn thiện” [35, tr.577-578]
Từ quan niệm trên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, trongkhi bàn về vấn đề sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã đi đến khẳng
định: sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân chỉ có thể giành thắng lợi khi
nào chuyển đợc từ giai cấp “tự nó” trở thành giai cấp “vì nó”; chỉ khi nào nhận
thức đợc sự nghiệp giải phóng giai mình phải do sự nỗ lực của bản thân giaicấp mình
Trang 36Đứng vững trên lập trờng của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ những năm đầuthế kỷ XX, Hồ Chí Minh sớm nhận thức sự nghiệp giải phóng con ngời là một
quá trình đấu tranh tự giải phóng Trong Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc
địa, Nguyễn ái Quốc viết: “Hỡi anh em các dân tộc thuộc địa! Anh em phải
làm thế nào để đợc giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôixin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện đ-
ợc bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” [44, tr.127-128] Sau này, khi về nớclãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, Hồ Chí Minh kêu gọi đồngbào toàn quốc hãy đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta Trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải đem sức dân, tài dân màlàm lợi cho dân
Quan điểm tự giải phóng con ngời của Hồ Chí Minh có cơ sở xuất phát từniềm tin vào sức mạnh và phẩm giá con ngời Mặt khác, là động vật có tính xãhội, con ngời luôn mong muốn đợc giải thoát khỏi sự giàng buộc của thế giới
tự nhiên - xã hội, của chính bản thân con ngời để giành lấy tự do, hạnh phúc,từng bớc vơn tới cái chân - thiện - mỹ
Để có thể biến thành quá trình tự giải phóng, Hồ Chí Minh chỉ rõ, mỗicon ngời phải tự ý thức đợc về nguyên nhân gây nên sự khổ đau cho con ngời;
rằng mọi khổ đau không phải là “do trời” hay “số mệnh” định đoạt, mà là ách
áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến mang lại Tìm nguyên nhân và giảiphóng con ngời thoát khỏi sự khổ đau không phải ở đâu đó bên ngoài thế giới,bên ngoài con ngời mà ở chính xã hội hiện thực, trong đó con ngời đang sinhsống và hoạt động Mỗi con ngời phải nhận thức đợc bổn phận và trách nhiệmcủa mình, từ đó đoàn kết đấu tranh vì mục tiêu chung của toàn dân tộc
Kết luận chơng 1
Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, vấn đề con ngời và sự nghiệp giảiphóng con ngời có mối quan hệ biện chứng Đứng vững trên lập trờng của chủnghĩa Mác-Lênin khi tiếp cận vấn đề con ngời, Hồ Chí Minh nhận thức rõ sựcùng khổ của ngời dân Việt Nam dới chế độ thực dân, phong kiến trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội; Con ngời là vốn quý nhất, yếu tố quyết địnhthành công của sự nghiệp cách mạng Ngời quan niệm: con ngời mang bảnchất xã hội - lịch sử, không có con ngời trừu tợng mà chỉ có những con ngời
cụ thể sống trong một chế độ xã hội nhất định; con ngời mang bản chất giai
Trang 37cấp; trong mỗi con ngời luôn tồn tại đan xen giữa hai mặt: tốt xấu (thiện
-ác)
Từ nhận thức đúng đắn về con ngời và bản chất con ngời, đã hình thànhtrong t duy Hồ Chí Minh về sự giải phóng ngời Việt Nam Đối tợng giảiphóng trên các bình diện: cộng đồng dân tộc, giai cấp và mỗi cá nhân con ng-
ời Giải phóng con ngời thống nhất với giải phóng dân tộc và giải phóng giaicấp Sự nghiệp giải phóng con ngời là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ,muốn thắng lợi đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản; đó là
sự nghiệp của chính bản thân con ngời
Vấn đề con ngời và giải phóng con ngời không chỉ dừng lại ở trong nhậnthức, t tởng của Hồ Chí Minh mà thực sự biến thành động cơ, mục đích chonhững hành động cách mạng của Ngời
Trang 38Chơng 2
Sự nghiệp giảI phóng ngời việt nam Của Hồ Chí Minh trong thực tiễn - những cống hiến chủ yếu
2.1 Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng ngời Việt Nam khỏi
ách áp bức nô dịch, thực hiện quyền con ngời
2.1.1 Giải phóng ngời Việt Nam về chính trị
Giải phóng con ngời về mặt chính trị là làm cho con ngời thoát khỏi địa
vị nô lệ, trả lại vị thế tự do cho con ngời trong chính trị (nắm lấy quyền lực nhànớc thông qua đại diện của mình) và xã hội (thông qua thể chế nhà nớc)
Giải phóng con ngời về chính trị là sự giải phóng con ngời khỏi sự khépkín về đẳng cấp, về địa vị, về vị trí của con ngời trong xã hội; là sự thừa nhậnbản chất phổ biến của con ngời, thừa nhận bản tính loài của con ngời trái vớitất cả những sự khác biệt hiện thực của con ngời
Cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng con ngời
về mặt chính trị thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh tìm đờng và dẫn dắt nhân dân Việt Nam đấu
tranh giành lại quyền tự do độc lập
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lợc Việt Nam, phong trào yêu
n-ớc chống thực dân Pháp đã diễn ra liên tục, sôi nổi khắp ba miền Bắc- Nam Giành lại độc lập, tự do là mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh, mọi cuộcbạo động, khởi nghĩa, nhng phơng pháp thực hiện mục tiêu đó lại không giốngnhau: bạo động hay bất bạo động; cải lơng hay đấu tranh trực diện; cô lập vớibên ngoài hay dựa vào đế quốc khác để chống lại thực dân Pháp
Trung-Phan Bội Châu và Trung-Phan Châu Trinh là hai nhà yêu nớc tiêu biểu, các ôngkhông chỉ mong muốn giải phóng dân tộc mà còn đề cập đến vấn đề giảiphóng xã hội và giải phóng con ngời, nh vấn đề về dân trí, dân khí, dân sinh,dân quyền, v.v , Song, do hạn chế của lịch sử và bản thân mà hoài bão của các
ông về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngời đã khôngthực hiện đợc
Động lực thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra nớc ngoài tìm đờng cứu nớc làkhát vọng độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân Việc ra nớc ngoài củaNguyễn Tất Thành (6-1911) không phải là một hành động ngẫu nhiên, tự phát;
không phải vì mình hay cho mình mà bắt nguồn từ lòng yêu nớc, thơng dân,
Trang 39thơng đồng bào đang bị áp bức nô dịch dới ách thống trị của thực dân, phongkiến.
Khác với các bậc cách mạng tiền bối, Nguyễn Tất Thành quyết định sang
phơng Tây, đến chính nớc Pháp - nơi có khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác
ái”-để tìm cách giải quyết nghịch lý “lý tởng thì tốt đẹp mà hiện thực lại xấu xa”.
Gần 10 năm bôn ba hầu hết các châu lục, làm nhiều nghề để sống và thực hiệnhoài bão của mình, Nguyễn Tất Thành đợc chứng kiến thực trạng xã hộinhững nơi mà Anh đã đi qua, ở đâu cũng có kẻ giàu, ngời nghèo; kẻ áp bức vàngời bị áp bức Thực tế ấy đã tác động sâu sắc đến tình cảm, củng cố niềm tin
và ý thức chính trị của Nguyễn Tất Thành quyết tâm giải phóng dân tộc làm
điều kiện tiên quyết cho đấu tranh vì tự do, hạnh phúc con ngời
Trên hành trình tìm đờng cứu nớc, Nguyễn ái Quốc đến với chủ nghĩaLênin và Cách mạng tháng Mời Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp(12-1920), Ngời tán thành bỏ phiếu thành lập Quốc tế cộng sản do V.Lêninsáng lập Sự kiện này đánh dấu bớc ngoặt về chất trong cuộc đời, sự nghiệpcách mạng của Nguyễn ái Quốc, từ ngời Việt Nam yêu nớc trở thành chiến sỹxuất sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Kể từ đây con đờngcứu nớc giải phóng dân tộc đợc Ngời lựa chọn là con đờng cách mạng vô sản -cuộc cách mạng triệt để nhất vì mục tiêu giải phóng con ngời
Nhận thức rõ sự nghiệp đấu tranh giành quyền tự do cho con ngời là mộtquá trình khó khăn gian khổ, muốn giành đợc thắng lợi phải có Đảng cộng sảnlãnh đạo, vì vậy, sau khi tìm thấy con đờng cứu nớc, Nguyễn ái Quốc tích cựcchuẩn bị về chính trị, t tởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng cộng sản ViệtNam Đó là quá trình chuẩn bị công phu của Nguyễn ái Quốc và các chiến sỹcách mạng
Đầu năm 1930, Nguyễn ái Quốc từ Xiêm (Thái Lan) trở lại Quảng Châu(Trung Quốc) trực tiếp tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt
Nam, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và soạn thảo các văn kiện: Chánh
c-ơng vắn tắt; Sách lợc vắn tắt; Chc-ơng trình tóm tắt; Điều lệ vắn tắt, đợc coi là
Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Các nhiệm vụ cách mạng đợc vạch ratrong Cơng lĩnh bao gồm cả nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc vàchống phong kiến, mở đờng phát triển đất nớc tiến lên xã hội cộng sản, trong
đó nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do chotoàn thể đồng bào
Trang 40Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng - Cơng lĩnh Hồ Chí Minh là một cơng lĩnhcách mạng đúng đắn, sáng tạo, nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính dân tộc Độclập tự do là t tởng cốt lõi, là viên ngọc quý đợc khảm trong cơng lĩnh cáchmạng Hồ Chí Minh.
Giải phóng con ngời thống nhất với giải phóng dân tộc và giải phóng giaicấp, ba cuộc cách mạng đó có mối quan hệ tác động lẫn nhau Tuy nhiên, xuấtphát từ thực tiễn Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, giải phóng dân tộc làyêu cầu cấp bách đặt ra, là cuộc cách mạng đầu tiên của tiến trình đi đến giảiphóng triệt để con ngời Nắm bắt đợc đòi hỏi khách quan đó, khi trở về nớctrực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28-1-1941), tại Hội nghị Trung ơnglần thứ 8 (tháng 5-1941), Nguyễn ái Quốc chủ trơng giơng cao ngọn cờ giảiphóng dân tộc, tập trung mũi nhọn đấu tranh chống đế quốc, Ngời chỉ rõ:
“Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải
đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nớcsôi lửa nóng” [45, tr.198]
Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng
minh, gọi tắt là Mặt trận Việt minh, nhằm tập hợp rộng rãi mọi lực lợng yêu
n-ớc, không phân biệt công nhân, nông dân, tiểu t sản, t sản bản xứ, địa chủ yêunớc, đoàn kết cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là giành độc lập dân tộc
Bản Chơng trình Việt minh do Ngời khởi thảo nhằm thực hiện mục tiêu cao
nhất là giải phóng triệt để con ngời trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Về
chính trị, bản Chơng trình Việt minh ghi rõ: “hễ ai là ngời Việt Nam… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài đều cóquyền tuyển cử và ứng cử, trừ bọn Việt gian phản quốc” [45, tr.583]; mọi ngờidân Việt Nam đều có quyền tự do dân chủ: quyền “tự do ngôn luận, tự do xuấtbản, tự do tổ chức, tự do tín ngỡng, tự do đi lại trong nớc, tự do xuất dơng Bỏchế độ bắt phu và các chế độ áp bức do đế quốc đặt ra” [45, tr.583]
Hồ Chí Minh viết nhiều bài báo để tuyên truyền, vận động các giai cấp,tâng lớp xã hội tập hợp lại trong các tổ chức thành viên của mặt trận lấy “cứuquốc”làm đầu nh: “Công nhân Cứu quốc hội”; “Nông dân Cứu quốc hội”;
“Phụ nữ Cứu quốc hội”; “Thanh niên Cứu quốc hội”… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài do Mặt trận Việt minhlãnh đạo Ngời có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức, đồng tâm hiệp lực triệungời nh một đấu tranh giành tự do độc lập cho dân tộc Từ những tổ chức thí
điểm Việt Minh đầu tiên ở Hà Quảng (Cao Bằng), Mặt trận Việt Minh đã pháttriển khắp toàn quốc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nớc trong các tầng lớpthanh niên, học sinh, các nhân sĩ trí thức… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.tham gia vào sự nghiệp đấu tranh