Đối với môn Lịch sử - một môn khoa học nghiên cứu về “các sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong xã hội loài người và các quy luật phát sinh, phát triển của nó” có thể định nghĩa “thực
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4 Điểm mới và đóng góp của đề tài
2
PHẦN II: NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm
3
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tiết “Thực hành” cho học sinh
1.3 Một số yêu cầu đặt ra khi tổ chức tiết học “Thực hành” lịch sử cho
II Một số giải pháp hiệu quả để tổ chức dạy học tiết “Thực hành” Lịch
sử 10 ở trường THPT
1 Đặc điểm của bộ môn Lịch sử 10 cấp THPT
9
2 Mục tiêu, yêu cầu cần đạt của tiết “Thực hành” Lịch sử 10 cấp THPT
3 Một số giải pháp hiệu quả để tổ chức tiết học “Thực hành” cho học
sinh trong dạy học Lịch sử chương trình lớp 10 hiện nay
3.1 Tổ chức cho học sinh lập niên biểu, vẽ sơ đồ tư duy, xây dựng tập
san và tạo Poster quảng bá lịch sử
3.1.1 Tổ chức cho HS lập niên biểu lịch sử
10
3.1.3 Tổ chức cho HS xây dựng Tập san lịch sử 15
3.1.4 Tổ chức cho học sinh tạo Poster quảng bá lịch sử 17
3.2 Tổ chức cho học sinh sưu tầm và xử lý nguồn sử liệu 19
3.3 Tổ chức hội thi, cuộc thi cho HS trong giờ học thực hành 20
3.4 Tổ chức cho học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống
3.4.1 Hoạt động đóng vai
3.4.1.1 Tổ chức cho HS đóng vai nhân vật lịch sử hoặc tình huống lịch
sử (sân khấu hoá)
21
Trang 33.4.1.2 Tổ chức cho HS đóng vai là hướng dẫn viên du lịch, nhà nghiên
4 Thực nghiệm sư phạm
4.1 Mục đích thực nghiệm
4.2 Đối tượng thực nghiệm
4.3 Phương pháp thực nghiệm
31
4.4 Kết quả thực nghiệm
III Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất
1 Mục đích khảo sát
32
2 Nội dung và phương pháp khảo sát
2.1 Nội dung khảo sát
2.1.1 Sự cấp thiết của các giải pháp đề xuất
2.1.2 Tính khả thi của các giải pháp đề xuất
2.2 Phương pháp khảo sát và thang đánh giá
33
3 Đối tượng khảo sát
4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã
đề xuất
4.1 Sự cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất
4.2 Tính khả thi của các giải pháp đề xuất
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN
Trang 5Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử (2018) đặc biệt coi trọng nội dung “Thực hành lịch sử”, kết nối lịch sử với thực tiễn cuộc sống Chương trình coi thực hành là một nội dung quan trọng và là công cụ thiết thực, hiệu quả để phát triển năng lực, phẩm chất học sinh Vì vậy, mỗi giáo viên cần phải rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản, đặc biệt là kĩ năng thực hành, góp phần đào tạo những con người lao động mới vừa nắm vững lí thuyết vừa có khả năng vận dụng linh hoạt những điều đã học vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống Xuất phát từ mục đích đó, trong chương trình giáo dục phổ thông mới này, thực hành lịch sử đã được chú trọng hơn trước Giờ đây thực hành lịch sử không chỉ được lồng ghép trong quá trình dạy học
mà còn được bố trí thành những tiết học riêng biệt góp phần phát triển năng lực và phẩm chất của người học
Tuy nhiên, thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông trước đây, nhận thức và thực tiễn việc rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS bên cạnh mặt tích cực vẫn còn tồn tại một số những quan niệm chưa đúng Nhiều GV vẫn cho rằng học lịch sử chỉ
là ghi nhớ sự kiện, vì thế học lịch sử không cần có thực hành Hoặc, nhiều GV chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của các hoạt động thực hành trong môn lịch sử, chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức phổ thông mà quên đi hoặc xem nhẹ các bài tập thực hành Điều đó đã ảnh hưởng không tốt, góp phần làm chất lượng dạy học bộ môn bị giảm sút Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, thực hành lịch sử trở thành tiết học bắt buộc, đòi hỏi giáo viên phải xây dựng và tổ chức giảng dạy tiết thực hành nghiêm túc có hiệu quả Đây là một nội dung mới, tiết học mới nên gây không ít bỡ ngỡ cho nhiều giáo viên Bởi vậy, vẫn còn tình trạng giáo viên đang rất lúng túng với việc xây dựng và tổ chức dạy học tiết thực hành trong chương trình lịch sử lớp
10 hiện nay
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tổ chức dạy học tiết “Thực hành” trong chương trình lịch sử lớp 10 nhằm phát triển năng lực
Trang 6và phẩm chất học sinh ở trường THPT” (Bộ sách kết nối tri thức và cuộc sống)
để nghiên cứu, với mong muốn góp phần khẳng định vị thế và khả năng của bộ môn lịch sử trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển toàn diện năng lực học sinh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: mong muốn đóng góp một vài kinh nghiệm của mình cùng với các đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử ở trường
trung học phổ thông
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu lý luận về kĩ năng thực hành trong dạy học Lịch sử
+ Đưa ra giải pháp hiệu quả để tổ chức tiết học thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử chương trình lớp 10 hiện nay
+ Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc trải nghiệm thực tế giảng dạy của bản thân nhằm nâng cao chất lượng bộ môn
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các giải pháp từ đó rút ra kết luận khoa học về việc tổ chức tiết học thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài được thực nghiệm đối với học sinh lớp 10 ở một
số trường trên địa bàn Huyện nơi chúng tôi công tác
- Phạm vi nghiên cứu: tổ chức giờ học thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
4 Điểm mới và đóng góp của đề tài
- Khẳng định được vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động thực hành lịch sử cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT
- Phản ánh được thực trạng đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông
- Đề xuất một số giải pháp để thiết kế, xây dựng và tổ chức giờ học thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử hiện nay
Trang 7PHẦN II: NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm
* Thực hành lịch sử
Theo Từ điển tiếng Việt, thực hành là “làm để áp dụng lí thuyết vào thực tế”
Đối với môn Lịch sử - một môn khoa học nghiên cứu về “các sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong xã hội loài người và các quy luật phát sinh, phát triển của nó” có thể định nghĩa “thực hành lịch sử” là việc dựa trên cơ sở những kiến thức và phương pháp học tập bộ môn được lĩnh hội, HS có khả năng vận dụng chúng để giải quyết các nhiệm vụ học tập hoặc những vấn đề của thực tiễn cuộc sống đặt ra, nói cách khác là “gắn tri thức lịch sử với thực tiễn cuộc sống”
Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong Chương trình GDPT môn Lịch sử năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ban hành ngày 25/12/2018 Cụ thể:
- Quan điểm xây dựng chương trình : coi trọng nội dung thực hành lịch sử, kết
nối lịch sử với thực tiễn cuộc sống Cụ thể:
+ Coi thực hành là một nội dung quan trọng và là công cụ thiết thực, hiệu quả
để phát triển năng lực HS;
+ Tăng cường thời lượng thực hành; đa dạng hoá các loại hình thực hành thông qua các hình thức tổ chức giáo dục như hoạt động nhóm, cá nhân tự học; học ở trên lớp, bảo tàng, thực địa; học qua dự án, di sản; ;
+ Bảo đảm phù hợp với thực tiễn và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và của các địa phương
- Yêu cầu cần đạt : Về vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Rút ra được bài học
lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó, có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có
ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời
- Định hướng phương pháp giáo dục : Chương trình môn Lịch sử được xây
dựng theo định hướng phát triển năng lực, vì vậy phương pháp dạy học chủ đạo là tích cực hoá hoạt động của người học Phương pháp dạy học tích cực chú trọng tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động học tập gắn với những tình huống của cuộc sống; gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn; tăng cường tự học, làm việc trong nhóm nhằm phát triển các phẩm chất chủ yếu, các năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo) và năng lực lịch sử cho học sinh, đáp ứng mục tiêu của Chương trình GDPT
* Năng lực
Trang 8- Theo nghĩa hẹp: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn
có để thực hiện một hoạt động nào đó
- Theo nghĩa rộng: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể “năng lực là thuộc tính cá nhân
được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và ác thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu năng lực luôn gắn với khả năng thực hiện, nghĩa là các cá nhân trên cơ sở những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc có sẵn, phải biết vận chúng một cách linh hoạt để giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra
* Phẩm chất:
Theo Từ điển tiếng Việt:
- Theo nghĩa hẹp: Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật
- Theo nghĩa rộng: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống;
Như vậy, phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là nền tảng tạo nên nhân cách của con người Dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực là sự tích lũy dần các biểu hiện, yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần hình thành, phát triển nhân cách
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tiết “Thực hành” cho học sinh trong dạy học Lịch sử
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của việc tăng cường tổ chức hoạt động thực hành cho HS trong dạy học lịch sử nói riêng và dạy học các môn khoa học nói chung chính là việc giúp các em hình thành kĩ năng thực hành môn học Thực hành lịch sử được coi là một hoạt động trí tuệ giúp học sinh phát triển các kĩ năng tư duy nói chung, tư duy lịch sử nói riêng Đặc biệt qua các nội dung thực hành, học sinh sẽ phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cả trong suy nghĩ
và hành động, qua đó các kĩ năng, kĩ xảo được rèn luyện và ngày càng thuần phục hơn Qua hoạt động thực tiễn, tính chân lý của những kiến thức đã lĩnh hội được khẳng định, góp phần hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn Như vậy, thực hành lịch sử là một nhu cầu tất yếu của học tập, là hoạt động quan trọng không thể thiếu được đối với học sinh trong dạy học lịch sử
Thực hành lịch sử góp phần giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh và rèn luyện khả năng sáng tạo, tính năng động, thích ứng trong điều kiện mới, phù hợp với xu
Trang 9thế phát triển của lịch sử ngày nay Vì vậy, việc tổ chức các tiết “Thực hành” lịch sử
có ý ngĩa to lớn đối với cả giáo viên và học sinh
Đối với giáo viên: thông qua việc tổ chức các tiết thực hành lịch sử cho học
sinh, giáo viên hoàn thiện các kiến thức về mặt chuyên môn và kĩ năng nghiệp vụ của mình Đồng thời thông qua các tiết thực hành giúp giáo viên nắm bắt được khả năng tiếp nhận kiến thức và trình độ tư duy của học sinh từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp, đảm bảo được mục tiêu giáo dục
Đối với học sinh: Thực hành lịch sử có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục
tiêu giáo dục và góp phần đào tạo thế hệ trẻ có tri thức, năng động, tự chủ và linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn Với vai trò như vậy, việc tổ chức dạy học các tiết “Thực hành” cho học sinh có ý nghĩa to lớn trong học tập lịch sử ở trường phổ thông Cụ thể:
Về năng lực: Thực hành lịch sử giúp học sinh tự tìm tòi, củng cố, mở rộng và
khắc sâu kiến thức cơ bản của môn học, làm phong phú hơn vốn hiểu biết của bản thân Thực hành lịch sử góp phần phát triển các năng lực lịch sử cho học sinh Thông qua tiết học “Thực hành” học sinh được tham gia vào các hoạt động học tập như thu thập tư liệu lịch sử và xử lý thông tin về các sự kiện, hiện tượng lịch sử; có khả năng tái hiện quá khứ lịch sử; biết xác định mối liên hệ của các sự kiện, hiện tượng lịch sử; biết đánh giá, giải thích các sự kiện hiện tượng theo quan điểm lịch sử và biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết thực tiễn
Về phẩm chất: Thực hành lịch sử góp phần vào việc bồi dưỡng những phẩm
chất tốt đẹp cho học sinh, đó là sự trung thực, chủ động, tích cực, sáng tạo và trách nhiệm trong học tập; biết trân trọng thành quả lao động, biết vượt qua khó khăn vươn lên và tự tin vào khả năng của bản thân
Như vậy, thực hành lịch sử là một hình thức đa dạng hóa các hoạt động nhận thức, tạo sự hứng thú say mê học tập cho học sinh Thông qua các tiết “Thực hành” lịch sử giúp học sinh củng cố, mở rộng và đào sâu kiến thức cơ bản, nâng tầm hiểu biết lên một mức độ cao hơn
1.3 Một số yêu cầu đặt ra khi tổ chức tiết học “Thực hành” lịch sử cho học sinh
Có thể nói thực hành lịch sử mang tính đặc trưng bộ môn rõ rệt Các hành động, hoạt động trong học tập lịch sử đều bắt đầu từ trí tưởng tượng nhằm tái diễn lại bức tranh quá khứ Đây chính là ưu thế của bộ môn đối với việc phát triển khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh Cho nên tổ chức tiết “Thực hành” trong học tập lịch sử
là việc làm cần thiết và có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng bộ môn
Để tiết học “Thực hành” đạt hiệu quả, khi tổ chức hoạt động thực hành, giáo viên cần lưu ý những điểm sau:
- Xác định rõ mục tiêu tiết thực hành
- Xác định rõ nội dung cần thực hành trong chủ đề
Trang 10- Xác định hình thức tổ chức dạy học
- Xác định phương pháp, kĩ thuật sử dụng trong dạy học tiết thực hành
- Nhiệm vụ chuyển giao cho học sinh phải rõ ràng, phải có định hướng cách làm và sản phẩm
2 Cơ sở thực tiễn
Như đã phân tích ở trên, Thực hành lịch sử là một nội dung mới được quy định trong chương trình GDPT môn Lịch sử năm 2018, Hơn nữa, nội dung này mới chỉ được gợi ý bằng một số hình thức trong chương trình GDPT 2018 môn Lịch sử, chứ chưa có văn bản hướng dẫn một cách cụ thể Vì vậy, trong quá trình triển khai hoạt động giáo dục theo chương trình mới, giáo viên có thể gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức hoạt động thực hành lịch sử cho HS
Thực tế dạy học lịch sử cho thấy, yếu tố “thực hành lịch sử” đã và đang được giáo viên vận dụng vào quá trình dạy học lịch sử theo chương trình hiện hành, với việc tổ chức cho HS tham gia vào các hoạt động vận dụng những kiến thức, kĩ năng
đã học để giải quyết các tính huống phát sinh trong học tập và thực tiễn cuộc sống, thông qua khái niệm “hoạt động trải nghiệm” Hoạt động trải nghiệm đã và đang được vận dụng linh hoạt trong quá trình dạy học môn Lịch sử ở trường THPT với hình thức phong phú, cả trong giờ học nội khóa trên lớp, ngoài lớp và hoạt động ngoại khóa
Trong chương trình GDPT 2018, nội dung thực hành lịch sử về bản chất là tổng hợp của các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS trong dạy học lịch sử tại trường phổ thông Vì vậy, “thực hành lịch sử” trở thành phạm trù duy nhất, bao trùm các hình thức trải nghiệm trong bài học nội khóa cũng như trải nghiệm ngoại khóa, với những mục đích, tính chất, chức năng,… giống như các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm lịch sử
Khác biệt nằm ở chỗ, nếu như hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở chương trình hiện hành là nội dung được khuyến khích tổ chức trong dạy học lịch sử, không phải nội dung bắt buộc khi mục tiêu trọng tâm là dạy học tiếp cận nội dung thì thực hành lịch sử là nội dung bắt buộc trong chương trình GDPT tổng thể năm 2018 với định hướng phát triển năng lực người học; được quy định cụ thể, chi tiết về thời lượng (20% của tổng 52 tiết/ năm học, mỗi chủ đề có từ 1-2 tiết thực hành lịch sử) Hình thức của hoạt động thực hành lịch sử cũng được gợi ý cụ thể, để các giáo viên có được sự hình dung rõ nét và vận dụng linh hoạt vào quá trình dạy học bộ môn: Tiến hành các hoạt động giáo dục lịch sử gắn với thực địa, tham quan di tích lịch sử, văn hoá; tham quan các bảo tàng, xem phim tài liệu lịch sử; tổ chức các câu lạc bộ “Em yêu lịch sử”, “Nhà sử học trẻ tuổi”; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử, các trò chơi lịch sử,
Trong quá trình dạy học ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng của việc tổ chức dạy tiết “Thực hành” môn Lịch sử tại các trường THPT trên
địa bàn
Trang 112.1 Đối với giáo viên
Thông qua phiếu điều tra, chúng tôi đã điều tra 8 giáo viên môn Lịch sử ở một
số trường THPT trên địa bàn huyện và thu được kết quả như sau:
Thầy/cô quan niệm như
thế nào về vai trò của
tiết thực hành trong dạy
học lịch sử?
Kết nối kiến thức với thực tiễn 25,0 Rèn luyện các kĩ năng cho học sinh 62,5 Định hình phương pháp, cách thức học
tập cho học sinh
12,5 Củng cố kiến thức cơ bản của bài học 0
Ở trường, Thầy/cô
thường tổ chức dạy tiết
“Thực hành” lịch sử như
thế nào?
Cho học sinh tìm hiểu, trả lời câu hỏi
Sưu tầm tài liệu ngoài sách giáo khoa và
Hướng dẫn học sinh vẽ biểu đồ, sơ đồ và
Trải nghiệm thực tiễn
62,5
Thầy cô thường gặp khó
khăn gì khi giao nhiệm vụ
Qua kết quả tổng hợp trên cho thấy phương pháp thực hành đã được áp dụng
ở trường phổ thông Hầu hết giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết phải đưa hoạt động thực hành vào bộ môn dạy học lịch sử và tầm quan trọng của hoạt động thực hành là rèn luyện các kĩ năng cho học sinh Tuy nhiên, trong thực tế, một số giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thực hành
là rèn luyện các kĩ năng cho học sinh Điều này sẽ ảnh hưởng đến cách lựa chọn các phương pháp thực hành cho học sinh Một số giáo viên khi tổ chức dạy tiết thực hành chỉ tập trung hướng dẫn học sinh vẽ biểu đồ, sơ đồ và lập niên biểu mà
Trang 12không quan tâm đến các phương pháp khác vì vậy việc rèn luyện các kĩ năng thực hành cho học sinh chưa thực sự mang tính toàn diện
Những khó khăn giáo viên thường gặp khi giao nhiệm vụ thực hành cho học sinh, nhiều GV có đồng quan điểm là đều lúng túng khi chọn nội dung thực hành cho HS Chúng tôi cho rằng nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu là do giáo viên chưa nhận thức đầy đủ bản chất, nội dung của các hoạt động thực hành và việc rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh
2.2 Đối với học sinh
Chúng tôi đã điều tra 66 học sinh về thực trạng học tiết “Thực hành” lịch sử
và thu được kết quả như sau:
lịch sử, Thầy/cô thường tổ
chức dạy học như thế nào?
Đọc sách giáo khoa và trả lời câu hỏi 25,8
Vẽ biểu đồ, sơ đồ, lập niên biểu 42,4 Vận dụng kiến thức trải nghiệm thực
Cảm nhận của em khi học
tiết “Thực hành” lịch sử?
Các nhiệm vụ thực hành quá nhàm chán 3,0 Nội dung thực hành chỉ mang tính hình
thức, làm cho xong tiết học 4,5 Tăng cường khả năng tương tác giữa
Kết nối kiến thức với thực tiễn 45,5
Em cảm thấy như thế nào
nếu giờ học “Thực hành”
lịch sử giáo viên tổ chức
linh hoạt các hoạt động
Qua khảo sát điều tra cho thấy nhiều học sinh thích và rất thích học môn Lịch sử Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận học sinh không thích hoặc cảm thấy bình thường khi học môn Lịch sử Điều đó chứng tỏ các hoạt động học tập của giáo viên chưa gây được hứng thú người học Vậy làm thế nào để các em cảm thấy giờ học hấp dẫn hơn, gần gũi hơn để các em được hoạt động, tham gia vào giờ học nhiều hơn? Tổ chức tốt các hoạt động thực hành trong giờ học lịch sử là cách hiệu quả nhất
để đạt được mục tiêu này Tuy nhiên, từ kết quả khảo sát cũng cho thấy một bộ phận học sinh vẫn còn nhận thức chưa đúng về các hoạt động thực hành
Trang 13Từ kết quả điều tra, khảo sát đối với giáo viên và học sinh cho thấy nội dung thực hành trong dạy học lịch sử đã được áp dụng ở trường phổ thông, giáo và học sinh đã quan tâm tới các hoạt động thực hành nhằm củng cố kiến thức qua bài học
và rèn luyện các kĩ năng học tập cần thiết Hầu hết giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thực hành trong dạy học lịch sử và đã chú trọng rèn luyện các kĩ năng thực hành cho học sinh Đối với học sinh, các em đều thích tham gia hoạt động thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên Tuy nhiên, việc rèn luyện các
kĩ năng thực hành cho học sinh chưa mang tính toàn diện, có tới 25,8% học sinh cho rằng tiết thực hành giáo viên chủ yếu cho học sinh tự đọc sách giáo khoa rồi trả lời các câu hỏi Điều này chứng tỏ một bộ phận giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của tiết thực hành lịch sử là rèn luyện các kĩ năng thực hành cho học sinh Vì vậy, không phát huy được tính tích cực học tập, không tạo điều kiện cho người học
có cơ hội vận dụng và thực hành những kĩ năng mới, tạo nên sự nhàm chán và hiệu quả bài học không cao
Từ cơ sở lý luận, thực tiễn nêu trên chúng tôi hy vọng với sự nhận thức đúng đắn về thực hành và những biện pháp đưa ra trong đề tài sẽ có giá trị thực tiễn góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế trong dạy học thực hành lịch sử ở trường phổ thông
II Một số giải pháp hiệu quả để tổ chức dạy học tiết “Thực hành” Lịch sử 10 ở trường THPT
1 Đặc điểm của bộ môn Lịch sử 10 cấp THPT
Chương trình GDPT năm 2018 môn lịch sử lớp 10 bao gồm 7 chủ đề, được xây dựng theo hướng tiếp cận đồng tâm (vòng xoáy trôn ốc) kết hợp với đường thẳng Theo đó các nội dung lịch sử lớp 10 bao gồm cả nội dung lịch sử thế giới, lịch sử Đông Nam Á và lịch sử Việt Nam Phần lịch sử văn minh thế giới và lịch sử văn minh Đông Nam Á thuộc phân kì lịch sử cổ – trung đại Phần các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới thuộc phân kì lịch sử cận – hiện đại Phần lịch sử Việt Nam trải dài từ phân kì lịch sử Việt Nam cổ - trung đại đến cận - hiện đại So với chương trình GDPT 2006, chương trình lịch sử GDPT 2018, lần đầu tiên học sinh được tiếp cận với cuốn sách giáo khoa viết theo chủ đề, mỗi chủ đề là một vấn
đề cơ bản của lịch sử thế giới, lịch sử khu vực Đông Nam Á và lịch sử Việt Nam, nhằm nâng cao và mở rộng kiến thức thông sử mà học sinh đã được học ở cấp trung học cơ sở Mỗi chủ đề lại được phân thành các bài học để giải quyết một hoặc hai khía cạnh nội dung của chủ đề Đặc biệt trong phần Lịch sử Việt Nam, các chủ đề
có tính “mới”, tính liên hệ thực tiễn rất cao, cung cấp cho học sinh những góc nhìn toàn diện mà cũng đầy mới mẻ về lịch sử dân tộc, chẳng hạn như chủ đề “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Bên cạnh đó, các nội dung học tập còn hướng đến mục tiêu hướng nghiệp khá rõ nét khi tạo cơ hội cho học sinh tìm hiểu về các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới
Như vậy, có thể thấy các chủ đề trong chương trình lịch sử lớp 10 đáp ứng tình thần đổi mới được thống nhất trong chương trình giáo dục tổng thể và chương trình
Trang 14GDPT môn Lịch sử năm 2018, đặc biệt trong việc vận dụng tri thức lịch sử vào thực tiễn cuộc sống, cho HS những góc nhìn toàn diện và mới mẻ hơn Tuy vậy, dung lượng kiến thức của các chủ đề, chuyên đề lịch sử này là rất lớn, trên nhiều lĩnh vực, đòi hỏi giáo viên cần phải có phổ kiến thức rộng, kĩ năng xây dựng kế hoạch dạy học cũng như kĩ năng quản lí lớp học tốt để giúp HS thực hiện được những yêu cầu cần đạt của chương trình
Đối với nội dung thực hành lịch sử, vì mỗi chủ đề trong chương trình lịch sử lớp 10 có những nội dung và tính chất khác nhau nên hoạt động thực hành lịch sử cần được xác định và tổ chức với những hình thức khác nhau, phù hợp với nội dung
và yêu cầu cần đạt của từng chủ đề đó
2 Mục tiêu, yêu cầu cần đạt của tiết “Thực hành” Lịch sử 10 cấp THPT
Thực hành lịch sử giúp học sinh phát triển năng lực lịch sử, góp phần giáo dục tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, các phẩm chất, năng lực của người công dân Việt Nam, công dân toàn cầu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Thực hành lịch sử góp phần hình thành những phẩm chất chủ yếu như yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Thông qua các tiết thực hành lịch sử góp phần củng cố kiến thức đã học; rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh; định hình các phương pháp, cách thức học tập cho học sinh; đa dạng hóa các phương pháp tiếp cận học tập lịch sử; tăng cường khả năng tương tác giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên; kết nối kiến thức với thực tiễn
3 Một số giải pháp hiệu quả để tổ chức tiết học “Thực hành” cho học sinh trong dạy học Lịch sử chương trình lớp 10 hiện nay
3.1 Tổ chức cho học sinh lập niên biểu, vẽ sơ đồ tư duy, xây dựng tập san và tạo Poster quảng bá lịch sử
3.1.1 Tổ chức cho HS lập niên biểu lịch sử
Lập niên biểu là một hình thức hệ thống hóa những sự kiện quan trọng trong một biến cố hay một quá trình cách mạng theo trình tự thời gian, đồng thời rút ra những nét bản chất, sự khác biệt và mối quan hệ giữa các sự kiện này với nhau Khi lập niên biểu, người ta thường kẻ các cột ngang và các cột dọc
Số lượng các cột và cách ghi phụ thuộc vào nội dung các vấn đề lịch sử hoặc mục đích trình bày của tác giả Các sự kiện, nội dung đưa vào niên biểu thường được lựa chọn kỹ càng và là các sự kiện cơ bản, nổi bật tính đặc trưng thích hợp với nội dung, yêu cầu bài học
Có hai loại niên biểu thường được sử dụng trong DHLS Đó là niên biểu tổng hợp và niên biểu chuyên đề
“Niên biểu tổng hợp là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong
một thời gian dài Loại niên biểu này không những giúp học sinh ghi nhớ
Trang 15những sự kiện chính mà còn nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan
hệ của các sự kiện quan trọng” Niên biểu tổng hợp thường được dùng trong các bài
sơ kết, tổng kết để hệ thống hóa kiến thức Đặc biệt trong các bài thực hành ở chương trình giáo dục phổ thông mới, niên biểu tổng hợp được sử dụng giúp học sinh biết liệt kê các sự kiện lịch sử, từ đó nắm rõ các sự kiện lịch sử quan trọng
Chẳng hạn như khi thực hành Chủ đề 4 “Các cuộc cách mạng công nghiệp
trong lịch sử”, Giáo viên hướng dẫn HS lập niên biểu về các thành tựu của cách
mạng Công nghiệp trong thời cận đại Để làm được điều đó GV chia lớp thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Lập bảng thống kê về những thành tựu cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
Nhóm 2: Lập bảng thống kê về những thành tựu cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2
HS có thể làm việc cá nhân hoặc theo nhóm Qua việc lập niên biểu, sẽ giúp
HS hệ thống hoá lại các thành tựu tiêu biểu của các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử Từ đó khả năng khái quát các sự kiện lịch sử, tinh thần làm việc theo nhóm của HS sẽ được phát huy cao độ
Ví dụ 1: Những thành tựu tiêu biểu của CMCN lần 1
Sắt được sản xuất nhiều và đơn giản hơn, dùng để sản xuất máy móc và đồ dùng sinh hoạt
Ví dụ 2: Những thành tựu tiêu biểu của CMCN lần 2
Trang 16Lĩnh vực Thành tựu tiêu biểu Tác dụng
Điện
năng
Phát minh về điện của: M
Pha-ra-đây, Tô-mât Ê-đi-sơn,
Ni-cô-la Tét-la…
- Là cơ sở cho sự ra đời và phát triển của động cơ điện, điện thoại,
vô tuyến điện…
- Thúc đẩy việc ứng dụng nguồn năng lượng điện vào cuộc sống
khác nhau như niên biểu tổng hợp “Ý nghĩa, tác động của CMCN lần 1,2 đối với
kinh tế, chính trị - xã hội và văn hoá”
Kinh tế - Cơ giới hoá, điện khí hoá sản xuất
- Máy móc thay thế sức lao động con người
- Thay đổi cách thức lao động của con người
- Nâng cao năng suất lao động
- Thay đổi cơ cấu kinh tế
- Nông nghiệp chuyển sang chuyên canh, thâm canh Chính trị - xã hội - Sự ra đời của nhiều đô thị qui mô lớn
- Hình thành hai giai cấp tư sản và vô sản
- Giai cấp công nhân lao động bị bóc lột thậm tệ
- Cuộc đấu tranh của vô sản chống lại tư sản
- Sự xâm chiếm và tranh giành thuộc địa Văn hóa - Thúc đẩy sự giao lưu, kết nối văn hoá toàn cầu
- Đời sống văn hoá đa dạng, phong phú, hiện đại
- Sự hình thành lối sống, tác phong công nghiệp
Nhìn vào các bảng niên biểu, HS sẽ thấy được những vấn đề nổi bật của các cuộc cách mạng công nghiệp trong thời cận đại Có bảng niên biểu giúp HS nhớ được những sự kiện cơ bản, những thành tựu chính của cuộc cách mạng công nghiệp lần 1 và lần 2 Có bảng niên biểu lại giúp HS nắm được ý nghĩa, tác động của sự kiện đó Tất cả đều tạo điều kiện để HS dễ nhớ và dễ hiểu về cách mạng công nghiệp thời cận đại
Trang 17Một dạng nữa của lập niên biểu là lập bảng so sánh để đối chiếu các sự kiện lịch sử nhằm thấy được những nét chủ yếu của các sự kiện, rồi rút ra kết luận Hoặc lập bảng so sánh để củng cố kiến thức cơ bản qua các bài học
Ví dụ, khi thực hiện tiết thực hành sau Chủ đề 1, 2 “Lịch sử và sử học”, “Vai trò của sử học” SGK 10 KNTT, GV hướng dẫn HS lập bảng so sánh về Hiện thực lịch sử
và Lịch sử được con người nhận thức Qua bảng so sánh, HS hiểu được điểm giống
và khác nhau của Hiện thực lịch sử và Lịch sử được con người nhận thức
Hiện thực lịch sử Nhận thức lịch sử
Giống - Đều cho biết về những gì đã diễn ra trong quá khứ
Khác - Hiện thực lịch sử chỉ có một
- Không thể thay đổi theo thời gian
- Tồn tại khách quan, độc lập, ngoài ý muốn của con người
- Hiện thực lịch sử có trước nhận thức lịch sử
- Nhận thức lịch sử rất đa dạng, phong phú (cùng một hiện thực lịch sử nhưng có thể có nhiều nhận thức khác nhau)
- Có thể thay đổi theo thời gian
- Mang tính chủ quan và phụ thuộc vào hiện thực lịch sử
- Nhận thức lịch sử xuất hiện sau hiện thực lịch sử
Như vậy, niên biểu là một bản tổng kết đầy đủ những kiến thức cơ bản nhất của nội dung mà nó thể hiện Nó cho HS một cái nhìn khái quát, giúp các
em dễ phát hiện mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau Do vậy, nó khắc phục được tâm lý ngại học khi HS nhìn thấy một lượng kiến thức quá dài, nhiều dòng, nhiều trang Có thể thấy rõ rằng, các loại niên biểu thường được dùng rất có hiệu quả trong các giờ học thực hành góp phần ôn tập hay tổng kết để củng cố kiến thức
3.1.2.Tổ chức cho HS vẽ sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề Đây là một hình thức ghi chép
có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, ý tưởng được liên kết, do vậy bao quát được phạm vi sâu rộng
Các bước để thực hiện vẽ Sơ đồ tư duy:
Bước 1 - Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm
Bước 2 - Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên
Bước 3 - Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó
Bước 4 - Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
Trang 18Khi thực hiện vẽ sơ đồ tư duy cần có các dụng cụ như: Bảng lớn, hoặc giấy khổ lớn, phấn và bút càng nhiều màu càng tốt, HS cũng có thể sử dụng các phần mềm để
vẽ sơ đồ tư duy Để thực hiện được kĩ thuật này GV chia lớp thành các nhóm, giao chủ đề cho nhóm, mỗi thành viên lần lượt kết nối ý tưởng trung tâm đến ý tưởng của
cá nhân, mô tả ý tưởng thông qua hình ảnh, biểu tượng hoặc một vài ký tự ngắn gọn
Có nhiều cách tổ chức thông tin theo sơ đồ: Sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ đồ chuỗi v.v… Giáo viên cần để học sinh tự lựa chọn sơ đồ mà các em thích, có như vậy mới phát huy hết sở trường, năng khiếu và tư duy của các em
Ví dụ: Khi thực hiện tiết 42 - Thực hành sau Bài 12 “Văn minh Đại Việt”, GV
tổ chức cho HS vẽ sơ đồ tuy duy về các thành tựu của Văn minh Đại Việt Giáo viên chia lớp thành hai nhóm:
Nhóm 1: Vẽ sơ đồ tư duy về thành tựu Văn minh Đại Việt trên các lĩnh vực Chính trị, kinh tế, giáo dục và khoa cử
Nhóm 2: Vẽ sơ đồ tư duy về thành tựu Văn minh Đại Việt trên các lĩnh vực Chữ viết, văn học, tư tưởng tôn giáo và nghệ thuật
HS làm việc cá nhân, vẽ sơ đồ tư duy vào vở Giáo viên cử đại diện (mỗi nhóm
1 HS) lên bảng thực hiện hoàn thiện sơ đồ tư duy về thành tựu Văn minh Đại Việt
Sơ đồ tư duy về thành tựu Văn minh Đại Việt
3.1.3 Tổ chức cho HS xây dựng Tập san lịch sử
Trang 19Tập san Lịch sử là tạp chí, ấn phẩm được thiết kế từ nhiều bài viết, hình ảnh minh họa sinh động khác nhau nhằm mục đích tổng hợp, tuyên truyền thông tin về một chủ đề, nội dung, một vấn đề hay sự kiện lịch sử được đề cập đến Xây dựng Tập san trong học tập lịch sử ở các tiết thực hành được xem như một hình thức trải nghiệm góp phần phát triển năng lực người học, đồng thời là một hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
Bài tập xây dựng Tập san yêu cầu học sinh cần phát huy nhiều năng lực để thực hiện nhằm tìm hiểu và tuyên truyền về một vấn đề lịch sử Quyển Tập san không chỉ giúp học sinh có thêm những hiểu biết về kiến thức chủ đề mình thực hiện mà còn
là sản phẩm của tinh thần tập thể, thể hiện sự sáng tạo, khéo léo; là dịp để các em rèn các kĩ năng cần thiết như: kĩ năng thu thập, kĩ năng tổng hợp, kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng hội họa, Khi áp dụng phương pháp này vào dạy học thực hành lịch sử, GV nên chia HS theo tổ, lớp hoặc theo nhóm lớp để thưc hiện
Để xây dựng được một Tập san đẹp và ý nghĩa, học sinh cần phải xác định bố cục của một Tập san, từ đó định hướng nội dung và thiết kế sao cho phù hợp, đẹp mắt Thông thường, Tập san sẽ có bố cục gồm các phần sau:
- Bìa và tiêu đề Tập san: Để làm nổi bật nội dung và tăng sự chú ý của người
xem, trang bìa của Tập san cần được trình bày khoa học, logic, thiết kế đẹp, gần với chủ đề chính Màu sắc thiết kế hài hòa, tiêu đề Tập san cần ngắn gọn song phải hấp dẫn, lôi cuốn người xem
- Lời giới thiệu, lời tựa Tập san: Dùng lời văn hay, có sức thuyết phục, sáng
tạo, độc đáo, tạo ấn tượng ban đầu để dẫn người đọc vào phần nội dung chính của Tập san
- Nội dung chính: Đây là phần quan trọng nhất của Tập san Bằng các bài viết,
hình ảnh, bài thơ, ca khúc, câu truyện hay câu đố…liên quan đến chủ đề yêu cầu,
HS thể hiện nội dung của Tập san Nội dung Tập san cần được bố cục, trình bày khoa học, logic nhưng phải có những nét riêng, mới lạ, thu hút và thể hiện được chủ
đề chính
- Lời cảm ơn, lời kết: đây là phần cuối cùng, tạo nên bố cục hoàn chỉnh cho Tập
san HS cần khái quát lại chủ đề chính của tập san, viết lời cảm ơn tới người xem, người đọc và nêu lên mong muốn nhận được nhứng ý kiến phản hồi, những góp ý từ độc giả
Như vậy trong dạy học lịch sử, đặc biệt trong các giờ học thực hành, Tập san
là một trong những sản phẩm quan trọng cung cấp thông tin cho độc giả Ngoài nội dung đặc sắc thì hình thức của tập san cũng cần bắt mắt, ấn tượng Các bước để thiết
kế một tập san là:
Bước 1: Sau khi tiếp nhận yêu cầu nội dung chủ đề Tập san từ GV, HS lên ý
tưởng Tập san: cần lên ý tưởng, nội dung chính cho tập san để lựa chọn nội dung và hình thức trình bày, trang trí tập san đẹp, phù hợp Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, các chủ đề có thể đa dạng khác nhau, phụ thuộc thời gian, sự kiện, nội dung chủ đề mà
GV yêu cầu để xác định ý tưởng
Trang 20Bước 2: Phân công công việc: Sau khi lên ý tưởng, các nhóm dựa vào năng lực
của từng thành viên để phân công công việc cụ thể như phụ trách nội dung, viết (đánh máy), hình ảnh, thiết kế Các thành viên cần chia sẻ, trao đổi, góp ý cho nhau trong quá trình thực hiện để phối hợp, thống nhất nội dung và hình thức thể hiện
Bước 3: Xác định số lượng trang (tờ) của Tập san: Cần phân bổ số trang
phù hợp với nội dung Những nội dung chính cần được trình bày chi tiết, cụ thể, số trang nhiều hơn so với nội dung phụ Tập san không nên quá dày nhưng cần phải đầy đủ nội dung yêu cầu, bố cục rõ ràng và được trang trí đẹp, hấp dẫn người đọc, người xem
Bước 4: Thiết kế Tập san: Những hình ảnh quen thuộc được cách điệu, làm mới
phù hợp bằng những chất liệu, hình thức khác nhau tạo nên sự mới lạ nhưng đầy ý nghĩa luôn được đánh giá cao, dễ dàng thu hút độc giả Những bài viết có nội dung hay đi cùng những hình ảnh trang trí độc đáo, ý tưởng sáng tạo, mang tính tượng trưng cao sẽ tạo nên sự ấn tượng của một Tập san
Ví dụ 1: Sau khi học xong Chủ đề “Lịch sử và sử học” và Chủ đề “Vai trò của sử học” với nội dung sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản, sử
học với sự phát triển du lịch, để chuẩn bị cho giờ học thực hành được diễn ra sau đó,
GV yêu cầu HS xây dựng Tập san về các di sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An và tiềm năng du lịch của tỉnh nhà Tập san thực hiện trên khổ giấy A4, đóng thành quyển và
trang trí đẹp Với yêu cầu này, HS sẽ có cơ hội thể hiện tài năng, sự sáng tạo của
mình, qua đó góp phần rèn luyện phát triển năng lực của các em
Tập san Lich sử
Ví dụ 2: Sau khi học xong chủ đề “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, để tổ
chức tiết thực hành sau chủ đề này, GV chia lớp thành 5 nhóm, tương đương 5 ngữ
Trang 21hệ (Nhóm Nam Á, Nhóm Thái – Ka-đai, nhóm Mông Dao, Nhóm Nam Đảo, Nhóm Hán – Tạng) Mỗi nhóm sẽ xây dựng 1 Tập san về đời sống vật chất tinh thần của một số dân tộc trong Nhóm ngữ hệ mình mang tên Các bài viết được thực hiện trên khổ giấy A4 (khuyến khích viết tay), vẽ, sưu tầm tranh ảnh, tư liệu, xây dựng thành quyển Tập san đẹp, đảm bảo nội dung và hấp dẫn người xem Với yêu cầu này, HS
sẽ phát huy được tinh thần chủ động làm việc, tự tìm hiểu, tự nghiên cứu về một số dân tộc trên đất nước Việt Nam Đồng thời HS sẽ có cơ hội thể hiện tài năng, sự sáng tạo của mình, qua đó góp phần rèn luyện phát triển năng lực của các em
3.1.4 Tổ chức cho học sinh tạo Poster quảng bá lịch sử
Poster là một tác phẩm nghệ thuật được thiết kế mang tính thẩm mĩ cao nhằm truyền đạt đến người xem các thông tin về một sản phẩm, sự kiện hay một vấn đề thông qua các câu chữ (từ ngữ) hoặc thông qua những hình ảnh đồ họa (các biểu tượng hoặc bức ảnh, hình vẽ) Poster thường được dán hay cố định trên tường, bảng, khung có dạng hình chữ nhật (hoặc gần vuông) Bằng việc tập trung vào hình ảnh lớn và một thông điệp ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, kết hợp giữa văn bản, hình ảnh, màu sắc và bố cục phù hợp để gây sự thu hút, lôi cuốn, ấn tượng của người xem Thông thường, Poster được đặt ở những nơi đông người qua lại và dễ nhìn thấy để thu hút sự chú ý của mọi người
Tạo Poster quảng bá lịch sử là sự đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học, chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú
ý đến hình thức ngoại khóa, trải nghiệm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học lịch sử Thông qua việc làm Poster học sinh được rèn luyện khả năng tìm tòi, nghiên cứu, chọn lọc thông tin, trình bày, thể hiện sự sáng tạo, vận dụng kiến thức lịch sử trong cuộc sống Kiến thức lịch sử là những câu chữ trên các trang giấy đã được các em học sinh thể hiện qua Poster sinh động góp phần làm cho những câu chuyện lịch sử trở nên thú vị và hấp dẫn hơn
Việc thiết kế Poster đòi hỏi phải thể hiện được tư duy, ý tưởng sáng tạo của
người thiết kế nhưng vẫn phải đảm bảo các giá trị thông tin và hiệu quả truyền đạt
Một Poster được xem là thành công và hiệu quả phải hội đủ các yếu tố sau đây:
- Thiết kế hấp dẫn thị giác, tập trung được sự chú ý, thu hút mọi ánh nhìn của người xem với những hình ảnh, màu sắc đẹp, hài hòa
- Bằng cách thể hiện thông tin một cách ngắn gọn, súc tích, ấn tượng, dễ nhớ, lôi cuốn người xem đọc hết tất cả các thông tin xuất hiện trên Poster
- Thông tin trên Poster phải đầy đủ, mạch lạc để người xem có thể hiểu ngay nội dung trong tấm Poster Từ đó, người xem mong muốn tìm hiểu, tìm mua, trải nghiệm sản phẩm và chia sẻ thông tin cho những người khác
Sử dụng phương pháp này, GV cần giao các nhiệm vụ học tập để học sinh chuẩn bị trước ở nhà, sau đó trình bày trên lớp Học sinh sẽ là chủ thể, trung tâm của tiết học Sau khi HS trình bày ý tưởng, nội dung Poster, chia sẻ thông điệp, GV mời các thành viên trong lớp đặt câu hỏi, nhận xét, đánh giá về sản phẩm
Trang 22Ví dụ 1: Khi dạy thực hành Chủ đề “Vai trò của sử học”, GV chia lớp thành 2
nhóm, giao nhiệm vụ như sau: Sau khi tìm hiểu các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An, em hãy thiết kế Poster quảng bá di tích lịch sử - văn hóa Đền Cuông với
tiêu đề “Tìm về cội nguồn” Yêu cầu:
- Nội dung:
+ Giới thiệu di tích Đền Cuông (Địa điểm, lịch sử di tích…)
+ Nêu những nét đặc sắc, nổi bật của di tích
+ Vai trò, giá trị của di tích
+ Thông điệp cần gửi đến người xem
- Hình thức:
+ Sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế Poster: yêu cầu đúng kích thước, màu sắc hài hòa, ý tưởng sáng tạo, ấn tượng, đảm bảo nội dung và thông điệp cần gửi tới người xem
+ Thiết kế thủ công: HS sưu tầm tranh ảnh, tư liệu…thể hiện trên giấy A0 (dán hoặc vẽ, viết), yêu cầu cần có bố cục hợp lí, đẹp mắt, logic và sáng tạo, đảm bảo đúng nội dung chủ đề cần hướng tới của Poster
Với việc thực hiện nhiệm vụ học tập như vậy, HS sẽ được phát huy những năng lực của bản thân Đồng thời tạo ra một giờ học thực hành đầy thú vị và bổ ích
Poster quảng bá di tích Lịch sử - văn hóa Đền Cuông
Ví dụ 2: Hay khi dạy thực hành Chủ đề “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, GV
chia lớp thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm (trước tiết thực hành 2 tuần): em hãy thiết kế Poster cổ động ngày hội đại đoàn kết dân tộc ở địa phương em
Trang 23- Nội dung: Thể hiện truyên thống ngày hội đại đoàn kết của dân tộc, truyền thống đó được phát huy qua các thời kì lịch sử, tinh thần đoàn kết dân tộc đã mang đến sức mạnh, đưa đến các giá trị, sự thành công to lớn cho đất nước…Từ đó đưa ra thông điệp cổ động, kêu gọi mọi người dân hãy nâng cao hơn nữa tinh thần đoàn kết
và đưa ra các biện pháp để phát huy và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
- Hình thức:
+ Sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế Poster: yêu cầu đúng kích thước, màu sắc hài hòa, ý tưởng sáng tạo, ấn tượng, đảm bảo nội dung và thông điệp cần gửi tới người xem
+ Thiết kế thủ công: HS sưu tầm tranh ảnh, tư liệu…thể hiện trên giấy A0 (dán hoặc vẽ, viết), yêu cầu cần có bố cục hợp lí, đẹp mắt, logic và sáng tạo, đảm bảo đúng nội dung chủ đề cần hướng tới của Poster
3.2 Tổ chức cho học sinh sưu tầm và xử lý nguồn sử liệu
Khoa học lịch sử khác với các ngành khoa học khác ở chỗ nền tảng khoa học của nó được xây dựng, kiến lập trên cơ sở các sự kiện lịch sử, mà các sự kiện đó chỉ còn lại trong tư liệu lịch sử Do đó, trong qúa trình nghiên cứu, các nhà khoa học lịch sử phải dựa trên các tư liệu mới có thể khôi phục lại được quá khứ Cơ sở quan trọng và đáng tin cậy nhất đó chính là tư liệu gốc
Dạy học lịch sử là quá trình nhận thức của học sinh đối với kiến thức lịch sử đã được khoa học lịch sử đúc kết Việc tổ chức cho học sinh được “khám phá” tri thức lịch sử theo con đường mà khoa học lịch sử đã đi, tức là tổ chức cho học sinh nghiên cứu các nguồn tư liệu gốc để đọc hiểu, giải mã thông tin, giải thích lịch sử là điều cần thiết
Sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng, góp phần khắc phục được hiện tượng “hiện đại hóa lịch sử”, tránh việc xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử Những hình ảnh sống động, những biểu tượng chân thực về các sự kiện hiện tượng, nhân vật lịch sử trong các tư liệu lịch sử gốc sẽ có tác dụng khơi dậy ở học sinh những xúc cảm chân thật, là cơ sở để giáo dục thái độ, tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho các em Bên cạnh đó còn góp phần phát triển năng lực nhận thức của học sinh như: óc quan sát, trí tưởng tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử Rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn như kĩ năng đọc sách, sưu tầm tư liệu, tự học…
Ví dụ, khi thực hành Chủ đề “Văn minh Đại Việt”, giáo viên dựa vào tư liệu lịch sử là câu nói của Thân Nhân Trung:“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên
khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết” và
yêu cầu HS trình bày suy nghĩ của em về câu nói trên? Như vậy bài tập dưới dạng
tổng hợp này không những giúp học sinh củng cố kiến thức đã học mà còn rèn luyện học sinh kĩ năng lập luận, diễn đạt vấn đề
Trang 243.3 Tổ chức hội thi, cuộc thi cho HS trong giờ học thực hành
Khái niệm: Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động
hấp dẫn, lôi cuốn HS và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho HS là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt động thực hành nói chung và thực hành lịch sử nói riêng cho HS
Mục đích: Tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn HS tham gia một cách chủ
động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho HS; thu hút tài năng và sự sáng tạo của HS; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của HS, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức
Đặc điểm: Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi HS thanh lịch, có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó
Hội thi có khả năng thu hút sự tham gia của tất cả HS trong nhà trường, từ cá nhân đến nhóm hay tập thể với các quy mô tổ chức khác nhau như quy mô lớp, quy
mô khối lớp hoặc quy mô toàn trường Hội thi cũng có thể huy động sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng như các nghệ nhân, những người làm công tác xã hội hay các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên phường/xã, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh hay cán bộ, nhân viên các cơ quan như y tế, công an, bộ đội,
Nội dung của hội thi rất phong phú, hầu hết các nội dung giáo dục đều có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là cần phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn
Khi tổ chức hội thi/cuộc thi nên kết hợp với các hình thức tổ chức khác (như văn nghệ, trò chơi, vẽ tranh, ) để cuộc thi/hội thi phong phú, đa dạng, thu hút được nhiều HS tham gia hơn
Ví dụ: Khi thực hành Chủ đề 6 “Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam”, GV tổ chức cuộc thi tìm hiểu lịch sử “Hành trình về với cội nguồn” GV chia
lớp thành 3 đội thi đấu (Văn Lang – Âu Lạc, Chăm Pa, Phù Nam), mỗi đội 5 người Sau các vòng thi tương ứng với các hoạt động, đội nào đạt nhiều điểm hơn sẽ giành chiến thắng Ở vòng thi số 1, HS tham gia cuộc thi “Rung chuông vàng” với chủ đề
“Trở về nguồn” Ở vòng thi số 2, HS tham gia trò chơi tiếp sức “Khám phá bí ẩn”
Vòng thi số 3 mang tên “Quảng bá di sản” Ở vòng thi này HS đóng vai hướng dẫn
viên du lịch kết hợp với Poster đã chuẩn bị sẵn để giới thiệu và quảng bá trước lớp
về di sản văn hóa và truyền tải thông điệp “Tìm về cuội nguồn” Cuộc thi kết thúc
Trang 25với vòng thi – Thử tài hùng biện “Học sinh với văn hoá quê mình” Đội thắng cuộc
sẽ là đội giành được nhiều điểm nhất sau 4 vòng thi Thông qua cuộc thi HS có dịp tìm hiểu, khám phá và quảng bá những di sản văn hoá của quê hương Từ đó có trách nhiệm gìn giữ phát huy những giá trị di sản của quê hương đất nước Cuộc thi cũng góp phần phát triển những năng lực phẩm chất của người học
Cuộc thi “Hành trình về với cội nguồn”
3.4 Tổ chức cho học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
to lớn trong việc tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh, giáo dục kĩ năng sống và hướng nghiệp cho các em Đặc biệt, có thể nhận thấy phương pháp đóng vai rất phù hợp và hiệu quả khi áp dụng vào dạy học các tiết thực hành lịch sử Trong hoạt động đóng vai, việc xây dựng kịch bản và tập diễn do HS được tiến hành trước khi đến lớp, tức là phải có sự chuẩn bị trước GV có vai trò là người chỉ dẫn, sửa kịch bản, tổng duyệt trước khi HS “diễn” trước tập thể lớp Do đó, thời gian diễn xuất được phân bổ trước, không làm ảnh hưởng đến tổng thể tiến trình bài học Bằng việc nhập vai vào các nhân vật, người học sẽ chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức và được hoạt động trực tiếp trong suốt hoạt động đóng vai Đặc biệt, phương pháp đóng vai không chỉ giúp HS khắc sâu kiến thức mà còn có cơ hội trải nghiệm không khí lịch sử, được hòa mình vào quá khứ và hình thành những kĩ năng
Trang 26quan trọng (giao tiếp, thuyết trình ) Vì vậy, chúng tôi đề xuất vận dụng phương pháp đóng vai để tổ chức cho HS trải nghiệm trong DHLS
Tuy nhiên, phương pháp đóng vai không khuyến khích ở các khâu lên lớp, tất
cả nội dung bài học, GV chỉ nên chọn nội dung phù hợp để đóng vai tránh nhàm chán Trong quá trình lên lớp cần kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khác để tăng hiệu quả nội dung hoạt động dạy học Tình huống đóng vai phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và hoàn cảnh lớp học, số lượng vai diễn khoảng
từ 2 - 4 người, không nên quá nhiều Tình huống không nên quá dài, cần khích lệ những HS nhút nhát cùng tham gia Để tổ chức HS tham gia đóng vai trong DHLS,
GV cần thực hiện theo quy trình như sau:
Bước 1 Chuyển giao và nhận nhiệm vụ đóng vai
GV xác định mục tiêu và lập kế hoạch đóng vai, nội dung lịch sử dự định đóng vai (đóng vai nhân vật hoặc đóng vai tình huống) Tiếp đó, GV phân công nhiệm vụ
cụ thể cho HS, thống nhất với học sinh cách thức thể hiện vai diễn Học sinh nhận nhiệm vụ
Bước 2 Tổ chức học sinh đóng vai
- Trước tiên, HS phải thu thập nguồn học liệu để giải quyết nhiệm vụ đóng vai
- Học sinh có thể chia sẻ với nhau các kết quả, những quan sát, những cảm nhận trong phần nhiệm vụ đã thực hiện của mình
- Muốn nhập vai tốt, HS phải chuẩn bị rất kĩ Mỗi lần “nhập vai” là một lần HS
có cơ hội tìm hiểu kĩ nhân vật lịch sử nào đó Sau đó, GV tổ chức để HS thể hiện vai diễn trước lớp
Bước 3 Tổ chức HS trao đổi, thảo luận sau khi đóng vai
Sau mỗi vai diễn (hoặc tình huống), GV tổ chức HS thảo luận, phân tích những kết quả, những cảm nhận sau vai diễn
Bước 4 Nhận xét, đánh giá và chốt kiến thức
GV tổ chức cho HS rút ra kết luận về những kết quả thực hiện
Như vậy, phương pháp đóng vai giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung lịch sử đang học, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho người học, có tác dụng to lớn trong việc tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh, giáo dục kĩ năng sống và hướng nghiệp cho các em…
Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học lịch sử, có hai hình thức là đóng vai nhân vật và đóng vai tình huống
* Thứ nhất là đóng vai nhân vật lịch sử: Hình thức này tức là HS thể hiện tính
cách, con người, hành động của nhân vật lịch sử cụ thể Một thuận lợi của đóng vai
nhân vật là người học được cung cấp thông tin về nhân vật sẽ đóng Các em có thể tìm
hiểu về nhân vật thông qua sách, báo, tạp chí, sách lịch sử hay phim ảnh Đặc biệt với các danh nhân, danh tướng thì HS càng dễ dàng tìm nguồn tham khảo hơn, nhất là qua
Trang 27phim ảnh vì những nhân vật này thường được dựng thành phim Bên cạnh đó còn một nguồn tham khảo rất giá trị đó là các tượng đài Ví dụ như tượng đài Ngô Quyền, Lý Công Uẩn, Quang Trung - Nguyễn Huệ
Ví dụ khi dạy bài thực hành về Chủ đề “Một số nền văn minh cổ trên đất nước
Việt Nam”, GV cho HS đóng vai một cư dân sống ở thời đại Văn Lang – Âu Lạc hoặc
Chăm - Pa, Phù Nam để mô tả lại cuộc sống, đời sống vật chất, tinh thần… Để làm được điều đó, trước thời gian diễn ra tiết thực hành 1 – 2 tuần, GV chia lớp thành 3
nhóm và yêu cầu: Bằng tài năng diễn xuất của mình, các em hãy hóa thân thành những
người dân thời kì văn minh cổ trên đất nước Việt Nam, giúp mọi người hiểu biết và ấn tượng hơn về văn minh thời kì này
Nhóm 1: Đóng vai là người dân thời kì Văn Lang – Âu Lac
Nhóm 2: Đóng vai là người dân thời kì Chăm Pa
Nhóm 3: Đóng vai là người dân thời kì Văn Lang – Âu Lac
HS các nhóm tiếp nhận nhiệm vụ, tổ chức thảo luận, lên kịch bản, tập đóng vai, thiết kế trang phục và biểu diễn tại tiết thực hành Sau khi HS thể hiện tài năng của mình, GV cho các nhóm nhận xét, đánh giá lẫn nhau
Bằng việc tham gia hoạt động đóng vai như vậy sẽ góp phần làm cho tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn người học Những HS tham gia đóng vai sẽ được phát huy tài năng trí tuệ của mình, góp phần phát triển năng lực phẩm chất của các em
*Thứ hai là đóng vai tình huống: Đây là hình thức đóng vai mà HS được đặt
trong những tình huống nhất định Nếu như trong đóng vai thể hiện hình tượng nhân vật, học sinh đã được giáo viên cung cấp thông tin về nhân vật hoặc có thể tìm hiểu về
nhân vật từ nhiều nguồn tham khảo khác nhau thì đóng vai tình huống người học phải
tự hình dung về nhân vật sẽ đóng thông qua các dữ liệu của tình huống Dựa trên những thông tin, dữ liệu cho sẵn, các em hóa thân vào một nhân vật trong cuộc sống hiện tại, nói về quá khứ để tìm hiểu, giới thiệu về quá khứ lịch sử
Qua việc đặt bản thân mình vào nhân vật để đóng vai sẽ kích thích học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề Học sinh thông qua vai diễn tự tưởng tượng, các em thể hiện được nhận thức, thái độ của mình trong các tình huống cụ thể và các em sẽ có cách ứng xử sao cho phù hợp với tình huống đó Đồng thời học sinh được bộc lộ khả năng thực hành và qua đó cũng thúc đẩy sự thay đổi nhận thức, hành vi thái độ theo hướng tích cực
Ví dụ: Khi dạy học tiết thực hành Chủ đề “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam”,
GV tổ chức HS đóng vai là những nhà thiết kế thời trang, những người mẫu trình diễn trang phục của các dân tộc Việt Nam, sân khấu là lớp học Cụ thể như sau:
GV chia lớp thành 4 nhóm (tương đương 4 tổ), mỗi nhóm thiết kế và trình diễn
2 bộ trang phục và dùng ngôn ngữ của dân tộc đó để gửi lời chào hoặc cảm ơn tới người xem (yêu cầu HS phải đăng kí trước trang phục dân tộc mà mình định thiết kế)
HS tiếp nhận nhiệm vụ, tổ chức thảo luận, thiết kế trang phục, tìm hiểu ngôn ngữ dân tộc, chọn người trình diễn
Trang 28Buổi trình diễn được tổ chức thực hiện trong tiết thực hành trên lớp, lớp cử ban giám khảo (GV và 4 HS), ban thư kí (2HS), người dẫn chương trình
Sau khi buổi trình diễn kết thúc, ban thư kí tổng hợp, ban giám khảo nhận xét, đánh giá
Trong chủ đề này, GV cũng có thể tổ chức cho HS thực hiện phương pháp đóng
vai bằng cách cho HS chuyển thể câu truyện “Bó đũa” thành một vở kịch GV chuyển
giao nhiệm vụ: Từ nội dung câu truyện “Bõ đũa” hãy chuyển thể thành một vở kịch nói về tinh thần và sức mạnh của sự đoàn kết nhằm làm rõ nội dung chủ đề bài học
“Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Thời gian vở kịch tối đa 15 phút, địa điểm thực
hiện tại lớp học HS tiếp nhận nhiệm vụ, tổ chức họp bàn, lên kế hoạch, viết kịch bản, tập đóng vai Tại tiết học thực hành trên lớp HS nhập vai và diễn kịch Sau khi
vở kịch kết thúc, GV cho HS nhận xét, đánh giá, yêu cầu HS nêu cảm nhận và những nội dung mà em hiểu được sau khi xem vở kịch, từ đó em rút ra được bài học gì? Cuối cùng GV nhận xét, chốt kiến thức
Với hình thức sân khấu hóa này thay vì tiếp thu kiến thức theo lối truyền thống thì HS được trải nghiệm thực tế thông qua quá trình nỗ lực nhập vai, các em được hóa thân vào nhân vật trong các câu truyện cổ tích, biết rung động và tự cảm nhận
về nhân vật, về tác phẩm Qua đó chủ động chiếm lĩnh kiến thức, liên hệ thực tiễn cuộc sống để từ đó rút ra bài học, đồng thời rèn luyện sự tự tin, kĩ năng làm việc nhóm, khả năng sáng tạo
Như vậy, vận dụng phương pháp đóng vai giúp HS được tổng hợp các giác quan
để tăng khả năng lưu giữ những kiến thức lịch sử, tối đa hóa được khả năng sáng tạo, tính năng động, thích ứng của các em Đồng thời, HS được bộc lộ khả năng tự nhận thức, khả năng giao tiếp, tự giải quyết vấn đề, được rèn luyện khả năng thực hành và qua đó cũng thúc đẩy sự thay đổi nhận thức, hành vi thái độ của HS theo hướng tích cực
3.4.1.2 Tổ chức cho HS đóng vai là hướng dẫn viên du lịch, nhà nghiên cứu lịch sử
*Tổ chức cho HS đóng vai là hướng dẫn viên du lịch
Hướng dẫn viên du lịch là công việc thuộc nhóm ngành về du lịch Bao gồm những người hoạt động trong ngành dịch vụ du lịch Thông qua nghiệp vụ của người hướng dẫn viên để mang đến các trải nghiệm du lịch bổ ích, hài lòng cho khách hàng Hướng dẫn viên du lịch sẽ sử dụng ngôn ngữ đã lựa chọn để trình bày, giới thiệu và giải thích những thông tin chính xác nhất về những địa điểm, những điển tích, điển
cố, di sản văn hóa và thiên nhiên của một vùng, một khu vực liên quan đến mục đích
du lịch của du khách Để thực hiện được công việc này, họ phải có được chuyên môn
vững vàng Bên cạnh đó là phải phát triển các kỹ năng mềm để truyền tải lời nói, cảm xúc, thông điệp đến khách hàng Thông qua phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ,
Trang 29bên cạnh biểu đạt cảm xúc và hành động Cung cấp chủ yếu các thông tin cần thiết
giúp đạt được mục đích tiếp nhận thông tin và thực hiện hoạt động của du khách
Tổ chức cho HS đóng vai hướng dẫn viên du lịch là để các em được hoá thân thành những hướng dẫn viên chuyên nghiệp, dùng ngôn ngữ, hành động và biểu đạt cảm xúc để giới thiệu cho thầy cô và các bạn trong lớp về một di tích lịch sử, một di sản thiên nhiên hoặc một di sản văn hoá Với phương pháp học tập này, người học không cần trực tiếp đến các điểm du lịch nổi tiếng vẫn có thể biết được giá trị thẩm
mĩ, giá trị văn hoá, lịch sử của các địa điểm du lịch đó
Để phương pháp này đạt hiệu quả, lôi cuốn người xem thì GV nên giao nhiệm
vụ cho HS trước 1 tuần Học sinh sẽ sưu tầm tranh ảnh liên quan, tìm hiểu các giá trị của di sản và các di tích lịch sử văn hoá đó để giới thiệu đến người xem Với việc làm này HS có thể quảng bá, giới thiệu đến mọi người những địa điểm du lịch hấp
dẫn của địa phương mình
Ví dụ: Khi dạy thực hành chủ đề 1 “Lịch sử và sử học” và chủ đề 2 “Vai trò
của sử học”, GV giao nhiệm vụ cho HS: Hãy đóng vai là hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu tới mọi người di tích lịch sử Đền Cuông ở Diễn Châu, Nghệ An GV định hướng
nội dung để HS tìm hiểu: di tích nằm ở đâu? Nêu nét nổi bật, đặc sắc, những câu chuyện, truyền thuyết, những bí ẩn, giá trị, ý nghĩa của di tích? Thời gian chuẩn bị của HS là 1 tuần trước khi tổ chức dạy học tiết thực hành HS tiếp nhận nhiệm vụ, thông qua các tư liệu và trải nghiệm thực tế tại ngôi đền để hóa thân thành hướng dẫn viên du lịch giới thiệu, quảng bá về di tích giúp mọi người có những hiểu biết về ngôi đền và kích thích
sự tìm tòi khám phá, mong muốn trở về di tích trải nghiệm Sau khi HS thực hiện nhiệm
vụ của mình trên lớp, GV yêu cầu HS phát biểu cảm nhận của mình về vai diễn, từ đó rút ra nhận xét, đánh giá, tổng hợp kiến thức
Ví dụ 2: Khi tổ chức tiết thực hành chủ đề 6 “Một số nền văn minh cổ trên đất
nước Việt Nam” trong vòng thi “Quảng bá di sản” HS các đội chơi thiết kế sản phẩm
là các Poster quảng bá di sản mang thông điệp “Tìm về cội nguồn” Lần lượt các đội chơi cử người đóng vai hướng dẫn viên du lịch kết hợp với poster đã chuẩn bị để giới thiệu và quảng bá trước lớp về di sản văn hóa và truyền tải thông điệp của sản phẩm đó trong thời gian 3 phút Với hình thức này HS được hoạt động, phát triển tư duy sáng tạo và năng khiếu nghệ thuật gắn với truyền tải thông điệp bảo vệ và phát huy những di sản của nền văn minh cổ trên quê hương mình