1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo cho học sinh qua dạy học bài 2 vẻ đẹp của thơ ca đọc hiểu văn bản mùa xuân chín, hàn mặc tử trong chƣơng trình ngữ văn 10

83 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo cho học sinh qua dạy học bài 2 Vẻ đẹp của thơ ca đọc hiểu văn bản Mùa xuân chín, Hàn Mặc Tử trong chương trình Ngữ văn 10
Tác giả Ngô Thị Kim Thu, Nguyễn Thị Ngọc
Trường học Trường THPT Thanh Chương
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (4)
  • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (5)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (5)
  • 1. Cơ sở lí luận (6)
    • 1.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực (6)
    • 1.2. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực (7)
    • 1.3. Những năng lực cần đạt trong dạy học môn Ngữ văn theo chương trình 2018 (18)
    • 1.4. Năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo (19)
  • 2. Cơ sở thực tiễn (20)
    • 2.1. Thực trạng dạy (21)
    • 2.2. Thực trạng học (21)
  • 3. Giải pháp thực hiện (22)
    • 3.1. Phương pháp dạy học dự án kết hợp với kĩ thuật động não (22)
    • 3.2. Phương pháp dạy học hợp tác (26)
    • 3.3. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (29)
    • 3.4. Phương pháp tổ chức trò chơi (31)
    • 3.5. Phương pháp trực quan (33)
  • 4. Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất (33)
    • 4.1. Mục đích khảo sát (33)
    • 4.2. Nội dung và phương pháp khảo sát (33)
    • 4.3. Đối tượng khảo sát (34)
    • 4.4. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 33 5. Kế hoạch bài dạy minh họa (34)
  • KẾT LUẬN (54)
    • 1. Quá trình nghiên cứu (54)
    • 2. Kết quả nghiên cứu (54)
    • 4. Kiến nghị đề xuất (56)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (57)
  • PHỤ LỤC (58)

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng kết hợp các phương pháp từ hai nhóm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, bao gồm: phân tích, so sánh và tổng hợp; điều tra, khảo sát; quan sát; thống kê; và thực nghiệm sư phạm.

Cơ sở lí luận

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Đổi mới phương pháp giáo dục là một vấn đề quan trọng ở Việt Nam trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Chương trình giáo dục đang chuyển từ dạy học theo nội dung sang dạy học theo năng lực Khái niệm năng lực (Competency) có nguồn gốc từ tiếng La tinh.

Năng lực được hiểu là thuộc tính cá nhân hình thành và phát triển từ tố chất, quá trình học tập và rèn luyện Nó cho phép con người huy động kinh nghiệm, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin và ý chí để đạt kết quả trong các hoạt động cụ thể.

Dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình giáo dục tập trung vào việc tối đa hóa phẩm chất và năng lực của người học thông qua các hoạt động học tập độc lập, tích cực và sáng tạo Trong mô hình này, học sinh có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình, tức là nắm vững và làm chủ kiến thức, kỹ năng Họ cần huy động mọi nguồn lực như kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin và ý chí trong một môn học hoặc bối cảnh cụ thể, theo tốc độ học tập riêng của mình.

Chương trình giáo dục phổ thông mới tập trung vào việc hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi cho học sinh, bao gồm cả năng lực chung và năng lực đặc thù.

Hiện nay, xu hướng hiện đại trong phương pháp và kỹ thuật dạy học đang tập trung vào việc phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh Các phương pháp và kỹ thuật dạy học mới, tiên tiến được lựa chọn và áp dụng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực Xu hướng này bao gồm nhiều chiều hướng khác nhau, phản ánh sự đổi mới trong giáo dục.

Chiều hướng thứ nhất tập trung vào việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại nhằm rèn luyện kỹ năng tự học và nghiên cứu khoa học cho học sinh Điều này bao gồm việc bồi dưỡng hứng thú và đam mê học tập thông qua các phương pháp như dạy học bằng sơ đồ tư duy và dạy học dựa trên dự án.

Chiều hướng thứ hai tập trung vào việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, nhằm phát huy tính độc lập trong nhận thức và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh Các phương pháp như dạy học khám phá, dạy học giải quyết vấn đề và phương pháp trò chơi được khuyến khích sử dụng để tạo ra môi trường học tập hiệu quả.

Chiều hướng thứ ba tập trung vào việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp giáo dục, nhằm hình thành và phát triển kỹ năng thực hành cũng như khả năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống thực Các phương pháp như thực hành và thực nghiệm sẽ được ưu tiên sử dụng để nâng cao hiệu quả học tập.

Thứ tư, giáo viên cần lựa chọn và áp dụng các phương pháp dạy học (PPDH) và kỹ thuật dạy học (KTDH) kết hợp với các phương tiện dạy học hiện đại Xu hướng này thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa PPDH, KTDH và các công cụ giảng dạy Việc khai thác hiệu quả các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học.

Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.2 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực

*Dạy học dựa trên dự án

Dạy học dựa trên dự án là phương pháp tổ chức giáo dục, trong đó học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập phức tạp, kết hợp lý thuyết và thực hành, nhằm tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu và trình bày.

Dạy học dự án có những đặc điểm sau:

Dự án cần được định hướng thực tiễn, xuất phát từ các tình huống xã hội, nghề nghiệp và đời sống Nhiệm vụ của dự án phải phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học.

Dạy học dự án vào thứ hai giúp định hướng và kích thích hứng thú của người học Học viên có cơ hội lựa chọn đề tài và nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích cá nhân Hơn nữa, việc duy trì và phát triển hứng thú của người học trong suốt quá trình thực hiện dự án là rất quan trọng.

Dạy học dự án vào thứ ba mang tính phức hợp và liên môn, kết hợp tri thức từ nhiều lĩnh vực và môn học khác nhau để giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề phức tạp.

Dạy học dự án vào thứ tư mang tính định hướng hành động, kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn.

Thông qua 7 thực tiễn và thực hành, người học có thể kiểm tra, củng cố và mở rộng hiểu biết lý thuyết, đồng thời rèn luyện kỹ năng hành động và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.

Dạy học dự án vào thứ năm khuyến khích tính tự lực của người học, yêu cầu họ tham gia tích cực và tự lực trong quá trình học Điều này đòi hỏi học sinh phải có trách nhiệm và sự sáng tạo Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ học sinh.

Dạy học dự án yêu cầu sự cộng tác chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm, với việc phân công công việc rõ ràng Quá trình này không chỉ rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm mà còn khuyến khích tính sẵn sàng hợp tác Đặc biệt, dạy học dự án còn định hướng vào việc tạo ra sản phẩm, với nhiều dự án không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn sản xuất ra những sản phẩm vật chất từ hoạt động thực tiễn.

Dạy học dự án cần được tiến hành theo 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án

Giai đoạn này gồm những bước sau:

Bước 1: Đề xuất ý tưởng và chọn đề tài dự án

Bước 2: Chia nhóm và nhận nhiệm vụ dự án: GV chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm HS

Bước 3: Lập kế hoạch thực hiện dự án

Giai đoạn 2: Thực hiện dự án

Trong giai đoạn này, học sinh (HS) sẽ thực hiện nhiệm vụ được giao với sự hỗ trợ của giáo viên (GV), bao gồm việc đề xuất phương án giải quyết, kiểm tra, nghiên cứu tài liệu và hợp tác với các thành viên trong nhóm Giáo viên cần tôn trọng kế hoạch đã được các nhóm xây dựng và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện dự án.

HS trao đổi, thu thập tài liệu, tìm kiếm thông tin, khuyến khích HS tạo ra một sản phẩm học tập có chất lượng

Giai đoạn 3: Báo cáo và đánh giá dự án

HS thu thập kết quả và công bố sản phẩm trước lớp, sau đó GV và HS tiến hành đánh giá HS có cơ hội tự nhận xét quá trình thực hiện dự án, tự đánh giá sản phẩm nhóm mình và đánh giá nhóm khác GV sẽ đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện dự án của HS, đánh giá sản phẩm và rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo.

Dạy học hợp tác là phương pháp tổ chức giáo dục, trong đó học sinh làm việc theo nhóm để nghiên cứu, trao đổi ý tưởng và giải quyết các vấn đề được đặt ra.

Dạy học hợp tác có một số đặc điểm sau:

Hoạt động xây dựng nhóm là yếu tố đầu tiên, với thành viên được phân công bởi giáo viên Thứ hai, sự tương tác tích cực giữa học sinh trong các nhóm nhỏ là điều cần thiết, thể hiện qua việc hợp tác trong quá trình học tập Điều này không chỉ tạo ra mối liên kết trách nhiệm mà còn xây dựng mối quan hệ tình cảm và đạo đức giữa các thành viên Thứ ba, có sự ràng buộc trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nhóm, giúp mỗi học sinh nhận thức rõ vai trò của mình Cuối cùng, việc hình thành và phát triển kỹ năng hợp tác là rất quan trọng, khi học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn thực hành và củng cố các kỹ năng xã hội như lắng nghe và đặt câu hỏi.

Tiến trình dạy học hợp tác có thể chia thành 2 giai đoạn:

Trong giai đoạn này, giáo viên cần xác định hoạt động dạy học hợp tác dựa trên mục tiêu và nội dung bài học, cũng như tiêu chí thành lập nhóm theo trình độ và sở trường của học sinh Việc thiết kế các hoạt động kết hợp cá nhân, theo cặp và theo nhóm sẽ giúp tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập Đồng thời, giáo viên cần xác định thời gian phù hợp cho hoạt động nhóm để đạt hiệu quả cao Cuối cùng, việc thiết kế phiếu giao nhiệm vụ và các bài tập củng cố dưới hình thức trò chơi học tập sẽ tăng cường sự tích cực và hứng thú của học sinh.

Giai đoạn 2 của tổ chức dạy học hợp tác bao gồm ba bước quan trọng: Bước 1 là giao nhiệm vụ học tập cho học sinh Bước 2 là thực hiện nhiệm vụ học tập với sự hợp tác giữa các thành viên Cuối cùng, Bước 3 là trình bày và đánh giá kết quả của hoạt động hợp tác để đảm bảo hiệu quả học tập.

*Dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp tổ chức giáo dục, trong đó học sinh được đặt vào những tình huống có vấn đề mà họ chưa biết cách giải quyết Điều này yêu cầu học sinh phải nỗ lực tư duy và tìm kiếm phương tiện để tìm ra giải pháp.

Dạy học vấn đề có các đặc điểm sau:

Những năng lực cần đạt trong dạy học môn Ngữ văn theo chương trình 2018

Chương trình môn Ngữ văn nhằm phát triển năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh Môn học này còn giúp học sinh nâng cao năng lực ngôn ngữ và văn học thông qua việc rèn luyện kỹ năng đọc, viết, nói và nghe Học sinh sẽ có kiến thức nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và logic, từ đó hình thành học vấn căn bản của một người có văn hóa Ngoài ra, học sinh cũng biết cách tạo lập các văn bản thông dụng và tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học cũng như các giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống.

Mục tiêu giáo dục ở cấp tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành năng lực chung và phát triển năng lực ngôn ngữ cơ bản Học sinh cần đạt được các kỹ năng như đọc đúng và trôi chảy văn bản, hiểu nội dung và thông tin chính, liên hệ và so sánh với các văn bản khác Ngoài ra, học sinh cũng cần viết đúng chính tả, ngữ pháp, và có khả năng viết các câu, đoạn, bài văn ngắn, chủ yếu là bài văn kể và tả Cuối cùng, học sinh phải phát biểu rõ ràng và nghe hiểu ý kiến của người nói.

Phát triển năng lực văn học yêu cầu người đọc phân biệt giữa thơ và truyện, cũng như biết cách tiếp cận và cảm nhận chúng Điều này bao gồm việc nhận diện vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật, phát huy trí tưởng tượng, và cảm xúc trước cái đẹp và cái thiện của con người cùng thế giới xung quanh, như được thể hiện trong các tác phẩm văn học.

Mục tiêu cấp trung học cơ sở là phát triển các năng lực chung, năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học đã được hình thành ở cấp tiểu học với yêu cầu cao hơn Học sinh cần phân biệt các loại văn bản như văn học, nghị luận và thông tin; đọc hiểu cả nội dung tường minh và hàm ẩn Ngoài ra, học sinh phải viết đoạn và bài văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng một cách hoàn chỉnh, mạch lạc và logic, đồng thời tuân thủ quy trình và kết hợp các phương thức biểu đạt Kỹ năng nói cần dễ hiểu và mạch lạc, thể hiện thái độ tự tin phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp, và khả năng nghe hiểu với thái độ thích hợp.

Phát triển năng lực văn học yêu cầu người học phân biệt các thể loại như truyện, thơ, kí và kịch bản, cùng với một số tiểu loại cụ thể Họ cần nhận biết đặc điểm ngôn ngữ văn học và phân tích tác dụng của các yếu tố hình thức cũng như biện pháp nghệ thuật liên quan đến từng thể loại Bên cạnh đó, việc nhận diện giá trị biểu cảm, giá trị nhận thức và giá trị thẩm mỹ cũng rất quan trọng, giúp người học phân tích tính hình của tác phẩm.

18 tượng, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học; có thể tạo ra được một số sản phẩm có tính văn học

Mục tiêu cấp trung học phổ thông là phát triển năng lực đọc hiểu với yêu cầu cao hơn, bao gồm khả năng nắm bắt cả nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản phức tạp Học sinh cần phát triển tư duy phản biện và áp dụng kiến thức về ngôn từ văn học, các xu hướng và phong cách tác giả để hình thành năng lực đọc độc lập Ngoài ra, học sinh phải viết thành thạo các loại văn bản nghị luận và thuyết minh, đảm bảo tính logic và sức thuyết phục Kỹ năng nói và nghe cũng được chú trọng, với khả năng đánh giá nội dung và hình thức biểu đạt trong thuyết trình, cùng với việc tham gia tranh luận một cách chủ động và có thái độ phù hợp.

Phát triển năng lực văn học yêu cầu người học phân biệt tác phẩm văn học với các loại hình nghệ thuật khác, phân tích và nhận xét đặc điểm ngôn ngữ văn học Họ cần phân biệt giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong văn học, cũng như nhận biết, phân tích và cảm thụ tác phẩm dựa vào phong cách văn học Ngoài ra, việc có trí tưởng tượng phong phú, biết thưởng thức và đánh giá văn học là rất quan trọng, cùng với khả năng tạo ra một số sản phẩm có tính văn học.

Năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo

Năng lực giải quyết vấn đề là một kỹ năng thiết yếu cho mọi người ở mọi lứa tuổi và trong mọi tình huống Hiệu quả công việc và các mối quan hệ thường phụ thuộc vào khả năng giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân Do đó, việc rèn luyện năng lực này cho học sinh là vô cùng quan trọng.

Giải quyết vấn đề là khả năng tư duy và hành động trong những tình huống không có quy trình hay giải pháp sẵn có Người giải quyết vấn đề xác định mục tiêu hành động, nhưng không luôn biết ngay cách thực hiện Sự hiểu biết về tình huống và quá trình lý giải để đạt được mục tiêu thông qua lập kế hoạch và suy luận là cốt lõi của quá trình giải quyết vấn đề.

Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) được hiểu là khả năng cá nhân trong việc sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động, thái độ, động cơ và xúc cảm để xử lý các tình huống mà không có quy trình, thủ tục hay giải pháp thông thường sẵn có Theo Trần Việt Dũng (2013), năng lực này đóng vai trò quan trọng trong việc đối phó với những thách thức phức tạp.

Năng lực sáng tạo là khả năng của mỗi cá nhân trong việc tạo ra những giá trị mới, dựa trên sự kết hợp các phẩm chất độc đáo của họ Nói một cách đơn giản, sáng tạo chính là tìm ra những phương pháp mới để thực hiện công việc hoặc làm cho quá trình làm việc trở nên hiệu quả hơn.

Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học được xác định là khả năng nhận ra ý nghĩa và tìm ra giải pháp hiệu quả cho các tình huống học tập.

Trong quá trình sáng tạo, việc phát hiện và làm rõ vấn đề là rất quan trọng Hình thành và triển khai ý tưởng mới giúp mở rộng khả năng sáng tạo Đề xuất và lựa chọn giải pháp phù hợp là bước tiếp theo cần thiết Thiết kế và tổ chức hoạt động hiệu quả sẽ đảm bảo ý tưởng được thực hiện một cách suôn sẻ Cuối cùng, tư duy độc lập đóng vai trò then chốt trong việc phát triển những ý tưởng sáng tạo và giải pháp mới.

Trong đó ở cấp THPT thì các mức độ này được thể hiện như sau:

Các khả năng Bậc THPT

Nhận diện và làm rõ các ý tưởng mới từ nhiều nguồn thông tin khác nhau là rất quan trọng Cần phân tích độc lập các nguồn thông tin để đánh giá khuynh hướng và độ tin cậy của những ý tưởng này.

Phát hiện và làm rõ vấn đề là kỹ năng quan trọng giúp phân tích tình huống trong học tập và cuộc sống Việc nhận diện các tình huống có vấn đề sẽ hỗ trợ trong việc tìm ra giải pháp hiệu quả cho những thách thức mà chúng ta gặp phải.

Hình thành và triển khai ý tưởng mới

Trong học tập và cuộc sống, việc nêu ra nhiều ý tưởng mới là rất quan trọng Chúng ta cần suy nghĩ sáng tạo, không theo lối mòn, và tạo ra những yếu tố mới từ các ý tưởng khác nhau Hình thành và kết nối các ý tưởng sẽ giúp chúng ta nghiên cứu và thay đổi giải pháp phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh Đồng thời, việc đánh giá rủi ro và có kế hoạch dự phòng cũng là yếu tố cần thiết để đạt được thành công.

Thiết kế và tổ chức hoạt động - Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp

- Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật lực) cần thiết cho hoạt động

Điều chỉnh kế hoạch và thực hiện nó một cách linh hoạt là rất quan trọng để đạt được hiệu quả cao Cần phải xem xét cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề sao cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

- Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động

Tư duy độc lập là khả năng đặt ra nhiều câu hỏi có giá trị và không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều Người có tư duy độc lập không thành kiến khi xem xét và đánh giá vấn đề, đồng thời quan tâm đến các lập luận và minh chứng thuyết phục Họ cũng sẵn sàng xem xét và đánh giá lại các vấn đề một cách khách quan.

Cơ sở thực tiễn

Thực trạng dạy

Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử là tác phẩm mới trong chương trình Ngữ văn 10 của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, thay thế cho tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ ở lớp 11 Việc giảng dạy tác phẩm này đặt ra thách thức cho giáo viên trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của 8 giáo viên dạy Ngữ văn lớp 10 tại hai trường THPT để tìm hiểu về việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực Tất cả các giáo viên (100%) đều nhất trí rằng mục đích này là một trong những mục tiêu quan trọng cần đạt được trong các giờ dạy Ngữ văn hiện nay.

Để phát triển năng lực cho học sinh, thầy (cô) đã áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề và tổ chức trò chơi Những phương pháp này đã mang lại kết quả tích cực trong việc nâng cao khả năng tư duy và sự sáng tạo của học sinh.

Trong việc dạy học chương trình mới, nhiều giáo viên đã có sự chuyển mình tích cực bằng cách thiết kế kế hoạch bài dạy chu đáo và áp dụng các phương pháp dạy học mới nhằm phát triển năng lực cho học sinh Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên chưa sẵn sàng thay đổi hoặc gặp khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực một cách hiệu quả Những giáo viên này thường chỉ thực hiện các phương pháp dạy học mới một cách đối phó, chủ yếu khi có sự giám sát từ bên ngoài như dự giờ hay thi giáo viên dạy giỏi.

Thực trạng học

Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu khảo sát ý kiến của 8 học sinh ở các lớp

10 về việc học môn Ngữ văn cũng như học bài Mùa xuân chín, Hàn Mặc Tử

Về việc học văn của học sinh: Khi được hỏi: em đã học môn Ngữ văn như thế nào? Kết quả như sau:

Kết quả cho thấy, phần lớn học sinh có hứng thú và chú ý trong môn Ngữ Văn, với một số em tham gia tích cực Tuy nhiên, nhiều em tiếp thu một cách thụ động, chỉ chép lại tài liệu mà không quan tâm sâu sắc Nguyên nhân chủ yếu là do không phải giáo viên nào cũng truyền đạt được niềm đam mê văn học, khi giờ học chủ yếu mang tính thuyết giảng và thiếu sự sáng tạo Bên cạnh đó, một số học sinh lười học và lười đọc, cho rằng học văn chỉ là học thuộc, dẫn đến việc các em ít đồng cảm và cảm xúc với các tác phẩm văn chương.

Làm thế nào để học sinh trở thành những người tích cực và chủ động trong học tập, cũng như phát huy năng lực của các em, là một thách thức mà nhiều giáo viên luôn trăn trở.

Giải pháp thực hiện

Phương pháp dạy học dự án kết hợp với kĩ thuật động não

Dạy học dự án là hình thức dạy học hợp tác, giúp học sinh tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua việc giải quyết bài tập tình huống Dự án này mô phỏng môi trường sống và sinh hoạt của các em Bản chất của dạy học dự án không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn khuyến khích sự tham gia và phát triển kỹ năng thực tiễn.

Dạy học theo dự án là phương pháp giúp học sinh tiếp thu và vận dụng kiến thức một cách chủ động và sáng tạo Nhiệm vụ trong dạy học dự án yêu cầu sự cộng tác chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh, cũng như giữa các học sinh với nhau và với các lực lượng xã hội khác Phương pháp này không chỉ tạo hứng thú cho học sinh mà còn giúp giáo viên dễ dàng đánh giá khả năng của các em Trong tiết học, tôi đã áp dụng phương pháp dạy học dự án để hỗ trợ học sinh trong việc hình thành kiến thức mới, đặc biệt trong phần Đọc hiểu chung về tác giả và tác phẩm, kết hợp với kỹ thuật động não để tăng tính hiệu quả.

Hướng đến các yêu cầu:

- Nhận biết được những nét chính về cuộc đời và giá trị thơ ca của Hàn Mặc

Nắm vững những đặc điểm nghệ thuật và nội dung của thơ Hà Mặc Tử giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về các tác phẩm tiêu biểu của ông, đồng thời nhận thức rõ về vị trí và xuất xứ của bài thơ "Mùa xuân chín".

- Phân tích được tác động của bài học trong việc hình thành những phẩm chất cao đẹp cho con người: Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống

* Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:

- Năng lực sáng tạo: HS xây dựng được bài trình chiếu về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả Hàn Mặc Tử

- Năng lực giải quyết vấn đề: Thông qua hình thức làm việc nhóm, HS giải quyết các yêu cầu mà GV đã đặt ra

- Năng lực giao tiếp tiếng Việt: từ việc khai thác tài liệu trong thời gian ở nhà,

HS được thảo luận cùng nhau để đi đến sản phẩm cuối cùng; Được trình bày sản phẩm trước tập thể lớp

Năng lực thưởng thức văn học giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử, đồng thời khâm phục tình yêu thiên nhiên và cuộc sống của tác giả.

* Lí do sử dụng phương pháp dạy học dự án kết hợp với kĩ thuật động não:

Dự án học tập theo nhóm mang lại nhiều lợi ích cho giáo viên trong việc đạt được các mục tiêu giáo dục Học sinh sẽ tạo ra sản phẩm cuối cùng là văn bản đa phương thức, bao gồm bài trình chiếu với hình ảnh và âm thanh Qua đó, học sinh có cơ hội thực hành kỹ năng nói và nghe tương tác, đồng thời phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Tất cả các phòng học tại trường THPT Thanh Chương 1 và các trường lân cận đều được trang bị bảng thông minh, đáp ứng đầy đủ yêu cầu cơ bản để thực hiện hiệu quả phương pháp dạy học hiện đại.

Dự án này sẽ được tổ chức dưới hình thức một buổi sinh hoạt câu lạc bộ văn học, nơi toàn bộ học sinh trong lớp cùng tham gia Chủ đề của buổi sinh hoạt là “Hàn Mặc Tử với bạn đọc ngày nay”, nhằm khám phá và thảo luận về tác phẩm cũng như ảnh hưởng của nhà thơ Hàn Mặc Tử đối với độc giả hiện đại.

- Thời gian: 2 tuần kể từ lức lên ý tưởng dự án đến lúc đánh giá dự án

+ GV: Chia nhóm và giao nhiệm vụ cho HS

GV chia HS thành 2 nhóm

Nhóm 1: Xây dựng một bài trình chiếu có hình ảnh, âm thanh nói về cuộc đời của Hàn Mặc Tử

Nhóm 2: Xây dựng một bài trình chiếu có hình ảnh, âm thanh nói về sự nghiệp thơ văn của Hàn Mặc Tử và bài thơ Mùa xuân chín (xuất xứ, đề tài, cảm nhận chung)

Sau khi đưa ra yêu cầu chung, giáo viên yêu cầu từng thành viên trong nhóm tự phát triển ý tưởng và cách trình bày Đến hạn nộp, các thành viên phải gửi lại cho nhóm trưởng để xem xét Nhóm sẽ phân tích tính khả thi và hiệu quả của từng ý tưởng, từ đó quyết định phương án cho dự án Kỹ thuật này khuyến khích mọi thành viên tham gia tích cực, tránh tình trạng ỉ lại Mỗi ý kiến đều trải qua quá trình phân tích thông tin và đề xuất giải pháp khác nhau Qua đó, học sinh rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua việc chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa các phương pháp.

+ Cùng với HS thống nhất tiêu chí đánh giá

Học sinh sẽ làm việc theo nhóm để thực hiện dự án, bao gồm việc tìm kiếm thông tin và thiết kế bài trình chiếu trong vòng 2 tuần Giáo viên sẽ đôn đốc, nhắc nhở và kiểm tra tiến độ của dự án để đảm bảo sự hoàn thành đúng hạn.

- Báo cáo kết quả: Mỗi nhóm cử một đại diện lên trình bày sản phẩm học tập của mình

- Đánh giá dự án: Đánh giá theo các tiêu chí đã thống nhất, GV gọi HS các nhóm đánh giá lẫn nhau theo tiêu chí ở rubric bên dưới

Rubric đánh giá khả năng làm việc nhóm và bài trình chiếu của HS:

Tiêu chí Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4

Hình thức của Có nhiều hình Có nhiều hình Đơn điệu Không tạo

24 sản phẩm trình chiếu ảnh đẹp và phù hợp với nội dung, giúp tăng tính hấp dẫn cho bài thuyết trình Việc chèn âm thanh vào các hình ảnh sinh động là rất quan trọng, vì âm thanh có thể làm tăng hiệu quả truyền đạt thông điệp Nếu chỉ có hình ảnh mà không có âm thanh, sản phẩm trình chiếu sẽ không đạt được sự thu hút cần thiết.

Nội dung sản phẩm trình chiếu

Phân tích sâu sắc, lí giải hợp lí, chứng minh sáng rõ

Nêu được các yếu tố về thời đại, gia đình, bản thân của nhà thơ Hàn Mặc Tử

Nhóm 2: Nêu được: những tác phẩm chính, Nội dung , nghệ thuật thơ văn của Hàn Mặc

Tử và nêu được vài nét về bài thơ Mùa xuân chín)

Phân tích mới được 2/3 nội dung yêu cầu

Phân tích mới 1/3 nội dung yêu cầu

Không phân tích được về cuộc đời hoặc về sự nghiệp văn chương của Hàn Mặc

Khả năng làm việc nhóm

Các thành viên trong nhóm:

- Xung phong nhận nhiệm vụ

- Biết bày tỏ ý kiến tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm

Các thành viên trong nhóm:

-Vui vẻ nhận nhiệm vụ khi được giao

- Biết tham gia ý kiến xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm song đôi

Các thành viên trong nhóm:

- Miễn cưỡng, không thoải mái khi nhận nhiệm vụ được giao

- Còn ít tham gia ý kiến xây dựng kế hoạch

Các thành viên trong nhóm:

- Từ chối nhận nhiệm vụ

- Không tham gia ý kiến xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm

- Cố gắng, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, đồng thời chủ động hỗ trợ các thành viên khác trong nhóm lúc chưa chủ động

- Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao nhưng chưa chủ động hỗ trợ các thành viên trong nhóm hoạt động của nhóm

- Ít cố gắng, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của bản thân; ít hỗ trợ các thành viên trong nhóm

Cuối cùng, giáo viên tổng kết các ý kiến và đánh giá thái độ cũng như tinh thần thực hiện dự án, đồng thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc và rút ra bài học kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo.

Dự án quy mô nhỏ đã tạo ra một sân chơi bổ ích cho học sinh, giúp các em hứng thú với bài học và tổng hợp kiến thức liên môn Học sinh củng cố kiến thức về thể loại thơ trữ tình, rèn luyện kỹ năng văn thuyết minh khi trình bày, và phát triển năng lực công nghệ thông tin Qua quá trình hình thành ý tưởng, thu thập tài liệu, phân tích vấn đề và hoàn thành sản phẩm, các em có cơ hội rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề và phát huy khả năng sáng tạo.

Phương pháp dạy học hợp tác

Mùa xuân chín PPDH được áp dụng trong hoạt động hình thành kiến thức mới, đặc biệt trong phần Đọc hiểu chi tiết về tác phẩm, thông qua hình thức thảo luận nhóm.

Lý do chọn phương pháp dạy học hợp tác là vì nó giúp phát huy tính tích cực, chủ động và tự lực của học sinh trong quá trình học tập.

Học sinh (HS) cần tự giải quyết nhiệm vụ học tập, yêu cầu sự tham gia tích cực và trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm Phương pháp dạy học hợp tác không chỉ tạo điều kiện cho HS trao đổi và rèn luyện khả năng ngôn ngữ mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp, biết lắng nghe và phê phán ý kiến của người khác HS được luyện tập kỹ năng cộng tác và làm việc nhóm, từ đó tăng cường sự tự tin và khả năng trình bày trước đám đông.

- Thời gian thực hiện: Thảo luận trong vòng 7 phút

- Tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm GV chia lớp thành 3 nhóm

+ GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi cho HS làm việc theo nhóm, xây dựng rubric đánh giá sản phẩm học tập của học sinh

+ HS chuẩn bị giấy A0 (đã chuẩn bị ở nhà)

- Giao nhiệm vụ: GV nêu yêu cầu đối với mỗi nhóm

Nhóm 1: Phân tích bức tranh thiên nhiên của mùa xuân

Bức tranh thiên nhiên trong "Mùa xuân chín" được khắc họa qua những hình ảnh sinh động và tươi đẹp, thể hiện sự hồi sinh và sức sống mãnh liệt của mùa xuân Tác giả sử dụng những biện pháp nghệ thuật tinh tế như so sánh, nhân hóa và hình ảnh ẩn dụ để làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên, từ những bông hoa nở rộ đến những cơn gió nhẹ nhàng Những hình ảnh này không chỉ mang lại cảm giác tươi mới mà còn gợi lên những cảm xúc sâu lắng về cuộc sống và thời gian Qua đó, tác giả đã thành công trong việc truyền tải giá trị nghệ thuật và cảm xúc, khiến người đọc cảm nhận được sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên trong khoảnh khắc tuyệt vời của mùa xuân.

Nhóm 2: Câu hỏi: Bức tranh cuộc sống trong Mùa xuân chín hiện lên qua những hình ảnh nào? Nhận xét nét đặc sắc về nghệ thuật khi tác giả miêu tả những hình ảnh đó? Phân tích giá trị của những thủ pháp nghệ thuật trên?

Nhóm 3: Phân tích Cảm xúc của cái tôi trữ tình trong bài thơ

Câu hỏi: Nhận xét Cảm xúc của cái tôi trữ tình trong bài thơ (thể hiện trực tiếp, gián tiếp)?

- Thực hiện nhiệm vụ: HS làm việc theo nhóm

- Trình bày kết quả: Mỗi nhóm cử một bạn lên thuyết trình về sản phẩm học tập của nhóm mình

Giáo viên sẽ yêu cầu các thành viên trong nhóm và từ các nhóm khác đánh giá sản phẩm học tập của từng nhóm cũng như khả năng thuyết trình của học sinh dựa trên tiêu chí đã được xác định.

Tiêu chí Mức 1 Mức 2 Mức 3

1.Thông tin được thể hiện trong giấy

Nêu đầy đủ các thông tin về vấn đề, chủ đề

*Nhóm 1: Bức tranh thiên nhiên

+ Làn nắng ửng khói mơ tan

+ Gió: sột soạt trêu tà áo biếc

+ Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Nêu được từ 1/3- 2/3 thông tin, đặc điểm về vấn đề, chủ đề

Không nêu được hoặc nêu sai lệch đặc điểm của vấn đề, chủ đề

+Ngôn ngữ: tinh tế, giàu sức gợi

+ Dấu chấm giữa dòng thơ

→ Thiên nhiên có sự giao hòa giữa màu sắc, ánh sáng, âm thanh…mang đến một mùa xuân tràn đầy sức sống

*Nhóm 2: Bức tranh cuộc sống

+Cảnh vật: Mái nhà tranh lấm tấm vàng

+Con người: Bao cô thôn nữ hát trên đồi

+ Hình ảnh của cuộc sống bình dị, đời thường

+Từ láy gợi thanh, gợi hình (hổn hển, thầm thĩ)

(màu sắc tươi sáng) +So sánh

→Mùa xuân chín từ cảnh vật cho tới con người

*Nhóm 3: Cảm xúc của cái tôi trữ tình

- Bộc lộ gián tiếp qua bức tranh thiên nhiên, cuộc sống

→ Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống

Sực nhớ, bâng khuâng, nhớ

Nhớ làng: nặng tình với quê hương

Nhớ: chị ấy năm nay còn gánh thóc…

→Luôn trăn trở về cuộc đời, về con người

Vấn đề trung tâm được nêu rõ, được sắp xếp một cách hợp lí, khoa học;

Có ý chính, ý phụ nhưng sắp xếp chưa hợp lí

Chữ viết cẩu thả, sắp xếp ý lộn xộn, thiếu ý chính

Tự tin, bình tĩnh, ngôn ngữ linh hoạt, biết sử dụng kết hợp với các yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, điệu bộ…

Chưa thật bình tĩnh, trình bày vẫn còn run

Mất bình tĩnh, không trình bày được vấn đề

Thay vì sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đã áp dụng dạy học hợp tác để khuyến khích học sinh tham gia chủ động và phát triển năng lực giải quyết vấn đề Học sinh phân tích và đánh giá bức tranh màu xuân chín, từ đó gọi tên luận điểm, tìm luận cứ và sắp xếp ý tưởng, qua đó rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề Phương pháp này cũng giúp học sinh kết hợp giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để thuyết trình sinh động về sản phẩm học tập của nhóm Nhờ vậy, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh được củng cố, đồng thời giáo viên có thể đánh giá thường xuyên dựa trên sản phẩm của học sinh.

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

PPDH là một phương pháp hiệu quả để phát triển năng lực học sinh Trong việc giảng dạy văn bản "Mùa xuân chín", chúng tôi đã áp dụng phương pháp này bằng cách đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề, như tìm nguyên nhân và sáng tạo Thời điểm áp dụng phương pháp này cũng rất linh hoạt.

29 hoạt (có thể sử dụng trong hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động luyện tập)

Trong quá trình hình thành kiến thức mới, giáo viên cần xác định nguyên nhân của tình huống, đặc biệt khi tìm hiểu về nhan đề của văn bản.

Cách thức tổ chức hoạt động: Tình huống này được thực hiện với quy trình 4 bước như sau:

Bước 1: GV đặt vấn đề: Theo em, vì sao Hàn Mặc Tử lại đặt nhan đề cho bài thơ của mình là Mùa xuân chín?

Bước 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề là giai đoạn quan trọng, trong đó học sinh (HS) đề xuất phương án giải quyết Nếu HS gặp khó khăn, giáo viên (GV) có thể hỗ trợ bằng cách cung cấp hệ thống câu hỏi hướng dẫn, ví dụ như: "Nhan đề đó có gì đặc biệt?"

Nó được ghép lại bởi những từ loại nào?

Bước 3: Thực hiện kế hoạch: HS tiến hành trả lời câu hỏi, từ đó rút ra được nguyên nhân:

- Sở dĩ tác giả đặt nhan đề của bài thơ là Mùa xuân chín bởi vì: Đây là một sự kết hợp từ độc đáo

Nhan đề cấu tạo bởi từ loại là:

Mùa xuân đang ở độ căng mọng và tươi đẹp nhất, thể hiện sự vận động không ngừng và phát triển ngày càng rực rỡ Sự chín muồi và căng tràn sức sống của mùa xuân mang đến cảm giác tràn đầy năng lượng và sức sống mới.

Mùa xuân tươi sắc và rực rỡ nhất gợi lên cảm xúc tiếc nuối, khi vẻ đẹp đạt đến đỉnh cao cũng là lúc bắt đầu phai nhạt.

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá, kết luận

GV đánh giá theo các mức độ sau:

HS không nêu được nguyên nhân đầu tiên

HS nêu đúng được một nguyên nhân

HS nêu đúng hai nguyên nhân

Lưu ý: GV chấp nhận nếu HS có những ý mới hợp lí

Giáo viên đã tạo điều kiện cho học sinh tư duy và phân tích vấn đề, giúp các em huy động kiến thức để nhận diện bản chất của vấn đề Quá trình tìm kiếm nguyên nhân không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề mà còn khuyến khích sự sáng tạo trong cách diễn đạt.

Tình huống nâng cao này khuyến khích học sinh sáng tạo sản phẩm, giúp các em vận dụng kiến thức một cách nhuần nhuyễn và tái tạo kiến thức Qua quá trình sáng tạo, học sinh cũng phát triển nhiều năng lực khác Trong bài học, chúng tôi đã đưa ra cho học sinh một tình huống sáng tạo: viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích hình ảnh ấn tượng nhất trong bài thơ "Mùa xuân chín" Để hoàn thành tốt bài tập này, học sinh cần huy động kỹ năng viết và kiến thức thực tế về xã hội.

Bước 1: Giáo viên đưa ra yêu cầu viết một đoạn văn khoảng 200 chữ để phân tích hình ảnh ấn tượng nhất trong bài thơ "Mùa xuân chín" Do tính chất tốn thời gian của nhiệm vụ này, giáo viên sẽ giao cho học sinh thực hiện tại nhà.

Bước 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề: HS suy nghĩ, tìm ý để viết đoạn văn theo yêu cầu của GV

Bước 3: Thực hiện kế hoạch: HS tiến hành viết đoạn văn

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá, kết luận

GV đánh giá theo bảng kiểm kĩ năng viết đoạn văn như sau:

Tiêu chí Đạt Chƣa đạt

1 Hình thức Đảm bảo yêu cầu về hình thức của đoạn văn (Chữ cái đầu dòng viết thụt vào một chữ Kết thúc bằng dấu chấm câu HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng- phân - hợp)

Không đảm bảo yêu cầu về hình thức của đoạn văn

2 Nội dung Giới thiệu và phân tích được nét đặc sắc về nghệ thuật và nội dung của chi tiết, hình ảnh mà mình lựa chọn

Không phân tích được nét nét đặc sắc về nghệ thuật và nội dung của chi tiết, hình ảnh mà mình lựa chọn

3 Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

Mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

4 Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ; biết liên hệ, so sánh

Không có cách diễn đạt mới mẻ; Chưa biết liên hệ, so sánh.

Phương pháp tổ chức trò chơi

Trò chơi học tập là một hoạt động giáo dục có quy tắc và nội dung rõ ràng, nhằm phát triển nhận thức, mở rộng kiến thức, và hệ thống hóa các biểu thức.

Phương pháp trò chơi học tập là một công cụ hiệu quả nhằm phát triển trí tuệ và khơi dậy lòng ham hiểu biết của học sinh Qua việc tổ chức các hoạt động trò chơi dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh có cơ hội tham gia tích cực vào quá trình học tập Trò chơi học tập không chỉ tạo ra một không khí lớp học sôi nổi mà còn kích thích sự sáng tạo và tư duy của học sinh, giúp các em cảm thấy môn Ngữ Văn trở nên thú vị và dễ tiếp cận hơn.

Khi sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi, giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung giảng dạy và các dụng cụ cần thiết Việc kiểm soát tiến trình hoạt động và thời gian là rất quan trọng để đảm bảo trò chơi đạt hiệu quả Giáo viên nên dành thời gian cho học sinh hồi tưởng lại trải nghiệm và rút ra bài học cần thiết Trò chơi cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và nội dung bài học để tạo ấn tượng và hứng thú cho học sinh.

Phương pháp dạy học này được áp dụng trong việc hình thành kiến thức mới về phong trào thơ Mới trong môn Ngữ văn Giáo viên tổ chức trò chơi "Truyền mật thư" để tạo sự hứng thú và khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.

Mục đích của bài viết là giúp học sinh ghi nhớ những đặc điểm nổi bật của phong trào Thơ Mới, đồng thời tạo ra không khí hào hứng và vui vẻ, khơi gợi sự hứng thú trong việc tìm hiểu văn học.

- Thời gian thực hiện: 5 phút

Giáo viên chia lớp thành hai đội, mỗi đội gồm hai thành viên Để chuẩn bị cho hoạt động, giáo viên đã viết trên hai mẩu giấy ba thông tin quan trọng: Thông tin 1 là khoảng thời gian từ 1932 đến 1945, Thông tin 2 đề cập đến ba giai đoạn, và Thông tin 3 liên quan đến khái niệm "cái tôi".

Giáo viên giao nhiệm vụ cho hai đội bằng cách gọi đại diện lên nhận mật thư Các đội trưởng có 30 giây để đọc thông tin trong mật thư, sau đó truyền đạt lại cho các thành viên còn lại trong đội bằng ngôn ngữ hình thể mà không được nói Vi phạm quy tắc này sẽ dẫn đến việc thua cuộc Đội nào trả lời đúng và nhanh hơn với nhiều đáp án hơn sẽ giành chiến thắng.

Đội trưởng mỗi đội nhận thông tin mật thư và phải diễn tả lại cho các thành viên trong đội Các thành viên còn lại cần sử dụng khả năng quan sát và tư duy để hiểu chính xác thông tin mà đội trưởng đã truyền đạt.

- Trình bày kết quả: Thành viên trong đội nêu thông tin mà mình đã giải mã

- Đánh giá: GV đánh giá: Trong thời gian cho phép đội nào trả lời nhanh, đúng thông tin hơn đội đó sẽ chiến thắng

Phương pháp trực quan

Phương pháp trực quan trong dạy học, hay còn gọi là trình bày trực quan, là phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học như bản đồ, tranh ảnh và video để hỗ trợ người học tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn.

Trong Kế hoạch dạy học, phương pháp này được áp dụng đối với phần khởi động

* Lí do lựa chọn phương pháp dạy học trực quan: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho HS về nội dung bài học

- Thời gian thực hiện: 3 phút

- Tổ chức cho HS xem 2 bức tranh về mùa xuân

+ GV chuẩn bị 2 bức tranh về mùa xuân

- Giao nhiệm vụ: GV nêu yêu cầu HS phát hiện những bức tranh trên nói về mùa gì trong năm và nêu cảm nhận về bức tranh?

Học sinh cần quan sát và sử dụng trải nghiệm cá nhân để nhận diện mùa được thể hiện trong các bức tranh, đồng thời chia sẻ cảm nhận của mình về những tác phẩm nghệ thuật này.

- Trình bày kết quả: GV gọi một 2 em để trình bày suy nghĩ, cảm xúc của mình

Giáo viên đánh giá chính xác hay không về việc xác định mùa trong các bức tranh Họ cũng đánh giá mức độ cảm nhận của học sinh về nội dung, ý nghĩa và hình thức của các tác phẩm nghệ thuật này.

Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất

Ngày đăng: 27/07/2023, 10:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy (còn gọi là bản đồ khái niệm hay giản đồ ý) là một hình thức - (Skkn 2023) góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo cho học sinh qua dạy học bài 2 vẻ đẹp của thơ ca đọc hiểu văn bản mùa xuân chín, hàn mặc tử trong chƣơng trình ngữ văn 10
Sơ đồ t ư duy (còn gọi là bản đồ khái niệm hay giản đồ ý) là một hình thức (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w