1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học ngữ văn 11 tại trung tâm gdnn – gdtx hưng nguyên

43 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học Ngữ Văn 11 tại Trung tâm GDTX Hưng Nguyên
Trường học Trung tâm GDTX Hưng Nguyên
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Nghiên cứu sáng kiến
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hưng Nguyên
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. PHẦN MỞ ĐẦU (2)
    • 1. Li ́ do cho ̣n đề tài (2)
    • 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài (4)
    • 3. Đối tượng nghiên cứu (4)
    • 4. Giới hạn của đề tài (4)
    • 5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài (5)
  • II. PHẦN NỘI DUNG (6)
    • 1. Cơ sở lý luận của đề tài (6)
      • 1.1. Một số khái niệm (6)
        • 1.1.1. Chủ đề và vai trò của chủ đề (6)
        • 1.1.2. Năng lực (6)
      • 1.2. Cơ sở khoa học và thực tiễn (6)
      • 1.3. Ý nghĩa của tiết học theo chủ đề (7)
    • 2. Thực trạng vấn đề (8)
      • 2.1. Thuận lợi (8)
      • 2.2. Khó khăn (8)
      • 2.3. Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu (8)
    • 3. Nội dung và hình thức thực hiện giải pháp của đề tài (9)
      • 3.1. Mục tiêu của giải pháp (9)
      • 3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp (10)
        • 3.2.1. Một số Phương pháp xây dựng bài học Ngữ văn 11 theo chủ đề (10)
        • 3.2.2. Theo nội dung chính của tác phẩm (10)
        • 3.2.3. Theo đặc điểm văn hóa (10)
        • 3.2.4. Theo đặc điểm thể loại (11)
      • 3.3. Cách thức thực hiện giải pháp (11)
        • 3.3.1. Quy trình xây dựng bài học theo chủ đề (11)
        • 3.3.2. Minh họa một chủ đề dạy học (13)
    • 4. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả sử dụng (27)
      • 4.1. Về mặt định tính (27)
      • 4.2. Về mặt định lượng 27 (28)
  • III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (36)
    • 1. Kết luận (36)
    • 2. Kiến nghị (36)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (37)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

Li ́ do cho ̣n đề tài

Vào ngày 26/12/2018, Bộ trưởng Bộ GD – ĐT đã ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới theo thông tư số 32/2018/TT – BGDĐT, với mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách giáo dục hiện nay, tập trung vào việc phát triển năng lực học sinh Phương pháp dạy học không chỉ khuyến khích học sinh tích cực tiếp thu tri thức mà còn chú trọng vào việc hình thành và phát triển khả năng giải quyết vấn đề trong các tình huống thực tế Việc tăng cường hoạt động nhóm và cải thiện mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên theo hướng hợp tác cũng rất quan trọng để phát triển năng lực xã hội cho học sinh Do đó, bên cạnh việc học các kiến thức và kỹ năng riêng biệt, cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp để phát triển khả năng giải quyết các vấn đề chung.

Học sinh tại các Trung tâm GDTX thường đến từ hoàn cảnh khó khăn, với nhiều gia đình bận rộn kiếm sống và không có thời gian cho việc giáo dục con cái Nhiều phụ huynh không nắm rõ thông tin về lớp học, giáo viên chủ nhiệm và kết quả học tập của con, điều này gây khó khăn cho giáo viên trong công tác giảng dạy Hơn nữa, khả năng tự học của học sinh còn hạn chế, nhiều em phụ thuộc vào giáo viên và các giờ học trên lớp Một số học sinh thiếu ý thức trong học tập và coi nhẹ môn Văn, làm cho việc giảng dạy trở nên khó khăn hơn.

Trung tâm GDNN - GDTX Hưng Nguyên đặt mục tiêu nâng cao kết quả học tập của học sinh và giảm tỷ lệ học sinh yếu kém bằng cách đánh giá đúng năng lực của các em Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng học sinh yếu kém tại trung tâm cao hơn so với nhiều trường THPT khác trong khu vực Đặc biệt, môn Ngữ văn, thường bị học sinh coi là không hấp dẫn và không phù hợp với các ngành nghề hiện đại, dẫn đến tình trạng học sinh chây lười và học đối phó Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ học sinh yếu kém và tỷ lệ học sinh đạt điểm trên trung bình trong các kỳ thi tốt nghiệp.

Trách nhiệm của giáo viên, đặc biệt là giáo viên Ngữ văn, là phải nắm bắt tình hình thực tế của Trung tâm để đề ra các biện pháp cụ thể và phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Điều này không chỉ giúp khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục mà còn đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã đề ra Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần trăn trở làm thế nào để mỗi bài dạy, mỗi tiết học trở nên hấp dẫn và được học sinh mong đợi, yêu thích.

Trong chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực, đổi mới phương pháp dạy học các môn học cần thực hiện đảm bảo các mục tiêu sau:

Đề cao vai trò chủ thể học tập của học sinh là rất quan trọng, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác và chủ động của người học Cần khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều và ghi nhớ máy móc, tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng Điều này giúp hình thành và phát triển năng lực tự học, cho phép học sinh tiếp tục tìm hiểu và mở rộng vốn văn hóa cần thiết Từ đó, học sinh có thể trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập và sáng tạo trong tư duy.

Lựa chọn linh hoạt giữa các phương pháp chung và phương pháp đặc thù trong môn học là cần thiết, nhằm đảm bảo nguyên tắc "học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên".

Vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục và đối tượng học sinh là rất quan trọng Tùy thuộc vào các yếu tố như mục tiêu, nội dung và điều kiện dạy học, cần lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp hoặc học ngoài lớp.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục là cần thiết, nhằm sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học như mô hình, tranh ảnh địa lý, bản đồ, sơ đồ, bảng số liệu thống kê, phim video và phần mềm dạy học Những công cụ này không chỉ minh họa bài giảng của giáo viên mà còn hỗ trợ tích cực cho hoạt động học tập của học sinh Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể sử dụng các đồ dùng học tập tự làm nếu phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh.

Việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên được thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Dạy học thông qua việc tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập giúp học sinh tự khám phá kiến thức mới, thay vì chỉ thụ động tiếp nhận thông tin đã được sắp xếp trước.

Cần chú trọng rèn luyện cho học sinh các phương pháp đọc sách giáo khoa và tài liệu học tập, giúp các em tự tìm kiếm kiến thức đã có và phát hiện kiến thức mới Việc rèn luyện các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa và quy lạ về quen là rất quan trọng để phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh.

Tăng cường phối hợp giữa học tập cá nhân và học tập hợp tác nhằm khuyến khích học sinh suy nghĩ, làm việc và thảo luận nhiều hơn Mỗi học sinh cần nỗ lực tự lực độc lập trong khi vẫn hợp tác chặt chẽ với nhau để khám phá và tìm kiếm kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp giữa thầy và trò, cũng như giữa các học sinh, giúp vận dụng hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và tập thể trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.

Đánh giá kết quả học tập cần được thực hiện theo mục tiêu bài học trong suốt quá trình dạy học, thông qua việc sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập Đồng thời, cần chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá cho học sinh.

Học sinh thực hiện đánh giá lẫn nhau thông qua nhiều hình thức như lời giải mẫu và theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để phê phán Quá trình này giúp tìm ra nguyên nhân và đề xuất cách sửa chữa các sai sót.

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Trong dạy học, tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh tự tìm tòi và phát hiện kiến thức là mục tiêu quan trọng của phương pháp dạy học tích cực, nhằm phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.

Sáng kiến kinh nghiệm “Thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn 11 tại Trung tâm GDNN – GDTX Hưng Nguyên” nhằm tìm tòi và đổi mới phương pháp giảng dạy Bài dạy được thiết kế kết hợp các bài học cùng chủ đề về nội dung, đặc điểm, văn hóa và lịch sử, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao năng lực cảm thụ và học tập chủ động của học sinh Trong khuôn khổ đề tài, tác giả chỉ minh họa một thiết kế bài học cụ thể và thực hiện khảo sát trên 2 lớp học.

Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu của bài viết là đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn tại Trung tâm GDNN - GDTX, khuyến khích sự sáng tạo và thực hiện dạy học theo chủ đề liên quan đến nhiều môn học và thực tiễn Bài viết cũng nhấn mạnh việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học, cải tiến phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập, đồng thời tăng cường hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học.

Nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn giáo viên các môn học chủ động lựa chọn nội dung sách giáo khoa hiện hành để xây dựng bài học theo chủ đề Chúng tôi thiết kế tiến trình dạy học bằng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động học, phát huy năng lực học sinh Đồng thời, chúng tôi tiến hành thực nghiệm giảng dạy ở lớp trong môn Ngữ văn lớp 11 GDTX cấp trung học phổ thông.

Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học chủ đề và các hình thức tổ chức dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy năng lực học sinh tại Trung tâm GDNN – GDTX Hưng Nguyên trong môn Ngữ văn.

- Đối tượng nghiên cứu: Các bài học có cùng chủ đề của chương trình Ngữ văn

- Phạm vi nghiên cứu: SGK Ngữ văn 11, đặc biệt nghiên cứu phần tác phẩm.

Giới hạn của đề tài

Đề tài này được hình thành từ việc tích lũy kinh nghiệm giảng dạy và nâng cao chuyên môn trong môn Ngữ văn GDTX cấp THPT tại Trung tâm GDNN – GDTX Hưng Nguyên.

Đề tài này được hình thành từ việc tích lũy kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡng chuyên môn môn Ngữ văn trong giai đoạn từ năm 2019 đến 2020, với trọng tâm đặc biệt vào năm học 2021-2022.

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu văn bản

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành lịch sử, văn hóa, địa lý

PHẦN NỘI DUNG

Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Chủ đề và vai trò của chủ đề

Chủ đề, hay còn gọi là theme trong tiếng Anh và sujet trong tiếng Pháp, là vấn đề cốt lõi và trung tâm mà tác giả muốn truyền tải qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học.

Chủ đề tác phẩm thể hiện chiều sâu tư tưởng và khả năng nhạy bén của nhà văn đối với các vấn đề cuộc sống Từ những đề tài bình thường, tác giả có thể khái quát những chủ đề có ý nghĩa sâu sắc Tư tưởng và chủ đề cùng nhau tạo nên tầm vóc của tác phẩm.

Khái niệm đề tài giúp xác định nội dung của tác phẩm, trong khi chủ đề giải đáp vấn đề cơ bản mà tác phẩm muốn truyền tải Chủ đề và tư tưởng là hạt nhân của nội dung tác phẩm Chẳng hạn, tiểu thuyết "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố phản ánh cuộc sống cơ cực và bế tắc của người nông dân Việt Nam dưới chính sách sưu thuế tàn bạo của thực dân và phong kiến vào những năm 30 của thế kỷ XX.

Bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu thể hiện tình cảm sâu sắc giữa người cán bộ cách mạng và Việt Bắc trong khoảnh khắc chia tay sau chiến thắng kháng chiến chống Pháp Tác phẩm không chỉ có nội dung phong phú mà còn chứa đựng nhiều chủ đề phụ, cho phép nhà văn khai thác nhiều vấn đề khác nhau trong bối cảnh lịch sử và xã hội.

Chủ đề chính trong các tác phẩm như "Những người khốn khổ" của Vích-to Huy-gô, "Chiến tranh và hòa bình" của L Tôn-xtôi, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, và "Vỡ bờ" của Nguyễn Đình Thi là vấn đề bao quát nhất, trong khi các chủ đề phụ là những vấn đề nhỏ hơn, thứ yếu hơn nhưng vẫn liên quan chặt chẽ Việc phân biệt không chính xác giữa chủ đề chính và các chủ đề phụ có thể dẫn đến sự nhận thức và đánh giá sai lệch về tác phẩm.

Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, chủ yếu là sự thành thạo và khả năng thực hiện của cá nhân trong công việc Trong bối cảnh tâm lý và giáo dục học, năng lực được xem là một thuộc tính tâm lý phức hợp, bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.

1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn Ý tưởng sáng kiến Thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn 11 bắt đầu từ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn giảng dạy tại

Trung tâm GDNN – GDTX Hưng Nguyên

Cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy xuất phát từ nhu cầu lấy học sinh làm trung tâm và phát triển năng lực của các em Giáo viên cần nhận thức rằng việc đổi mới không chỉ nằm ở phương pháp mà còn ở hình thức bài học, khơi gợi và tìm tòi những giá trị mới từ những điều cũ Mặc dù việc xây dựng bài học theo hướng chủ đề đã được áp dụng trong một số tiết thao giảng và chia sẻ trong các buổi tập huấn, nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng bài và cách kết hợp các phương pháp Do đó, đây là một đề tài thú vị, mới mẻ và cần thiết cho việc giảng dạy Ngữ văn hiện nay.

Hiện nay, học sinh ít quan tâm đến môn Ngữ văn, đặc biệt là học sinh khối 12, thường có quan niệm sai lầm rằng “văn là chém gió” Tuy nhiên, Ngữ văn thực sự là một môn học khoa học với phương pháp nghiên cứu chặt chẽ Việc xem nhẹ môn học này dẫn đến sự lơ là và thiếu hiểu biết về tính ứng dụng của nó trong tương lai, cả trong học tập và công việc Giờ học Ngữ văn trở nên nhàm chán và thiếu cảm xúc, làm cho học sinh ngày càng xa rời môn học Điều này cũng ảnh hưởng đến cảm xúc giảng dạy của giáo viên Để đối phó với những thách thức này, giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm kiếm các bài học theo chủ đề để khuyến khích học sinh làm việc một cách năng động và sáng tạo.

1.3 Ý nghĩa của tiết học theo chủ đề

- Phát triển kỹ năng làm việc nhóm, tự học

- Phát triển năng lực cá nhân phù hợp với yêu cầu của từng chủ đề

- Hình thành và phát triển tư duy so sánh từ sự kết hợp bài học theo chủ đề

- Học tập bài học theo nhiều phương pháp mới, sáng tạo

- Có nhiều thời gian để thực hành, thuyết trình, đặt câu hỏi, phản biện vấn đề

- Nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn thông qua quá trình nghiên cứu văn bản, tìm tư liêu, soạn thảo nội dung bài học

- Nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học qua quá trình tìm kiếm tư liệu, áp dụng bài học điện tử

- Năng động, tích cực, nhạy bén trong việc hình thành tư duy kết hợp, so sánh

- Rèn luyện tình yêu nghề, đam mê với công việc, sự kiên nhẫn, sáng tạo

Thực trạng vấn đề

Nhóm giáo viên văn, dưới sự chỉ đạo của Ban Giám Đốc trung tâm, đã tổ chức các buổi học tập về phương pháp giảng dạy mới nhằm trao đổi kinh nghiệm và nâng cao kiến thức Các giáo viên trong nhóm không chỉ yêu nghề mà còn tâm huyết với chuyên môn, tích cực hỗ trợ lẫn nhau để phát triển nghiệp vụ sư phạm, góp phần vào sự phát triển của giáo dục nước nhà.

Khá nhiều em có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, thích khám phá những giá trị của văn hóa, văn nghệ

Việc cải tiến phương pháp giảng dạy đang diễn ra mạnh mẽ, tuy nhiên, việc giảng dạy các tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại vẫn chưa được chú trọng đúng mức Hơn nữa, tài liệu tham khảo về vấn đề này còn hạn chế, gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.

Học sinh tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên chủ yếu đến từ những xã có điều kiện kinh tế khó khăn và gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển Nhiều em còn nhút nhát, chưa dám mạnh dạn phát biểu ý kiến và trình bày cảm nhận cá nhân Thêm vào đó, một số học sinh cho rằng văn học Việt Nam quen thuộc nên không cần tìm hiểu sâu, dẫn đến việc tiếp nhận tác phẩm không chính xác.

2.3 Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu

Trước khi thực hiện sáng kiến này, tôi đã khảo sát các tiết dạy và học phần về truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945, thuộc chương trình Ngữ văn 11 trong các năm học 2019 – 2020, 2020 – 2021 và 2021 – 2022.

- Hình thức và nội dung giải pháp:

+ Tập trung vào mảng kiến thức thuộc phần văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn

1930 – 1945 trong chương trình Ngữ văn 11 năm học 2019 – 2020, 2020 – 2021.2021 – 2022

Sử dụng phiếu học tập với các câu hỏi trắc nghiệm giúp đánh giá kiến thức và sự hiểu biết của học sinh về truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 trong chương trình Ngữ văn 11.

Tiến hành kiểm tra viết cho học sinh nhằm đánh giá khả năng cảm thụ và phân tích giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch.

Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao) trong chương trình

Khối Lớp Sỉ số Giỏi Khá Trung bình Yếu

Qua khảo sát thực tế tôi thấy:

+ Sự hiểu biết về truyện ngắn hiện đại, nhất là truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945 được học trong chương trình còn hạn chế

+ Khả năng tiếp thu và cảm nhận các tác phẩm văn xuôi hiện đại giai đoạn 1930- 1945còn hạn chế

+ Kỹ năng phân tích và cảm thụ còn hời hợt Vì vậy số bài đạt điểm khá chưa cao.

Nội dung và hình thức thực hiện giải pháp của đề tài

3.1 Mục tiêu của giải pháp

Dạy học theo chủ đề tích hợp nội dung từ nhiều môn học liên quan, giúp học sinh tự hoạt động và vận dụng kiến thức vào thực tiễn Giáo viên chủ động lựa chọn nội dung và xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời áp dụng các phương pháp dạy học tích cực Sự đổi mới này nhận được sự đồng thuận từ các tổ bộ môn và đã đạt nhiều kết quả tích cực Giáo viên chú trọng đánh giá năng lực vận dụng kiến thức của học sinh, trong khi cơ chế quản lý chuyên môn được cải tiến để hỗ trợ hiệu quả cho việc thực hiện các phương pháp dạy học tích cực Bộ GD&ĐT khuyến khích giáo viên dạy từ 1 đến 2 bài học/chủ đề mỗi năm học Ban giám đốc Trung tâm GDNN – GDTX Hưng Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện địa phương, góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý chuyên môn và sắp xếp nội dung dạy học.

Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT quy định 9 tiêu chí đánh giá giờ dạy của giáo viên, đây là một bước đi thiết thực và hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.

3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Để có thể soạn thảo ra những thiết kế bài học theo chủ đề, việc quan trọng hàng đầu chính là tìm ra các phương pháp Dựa trên các tác phẩm thuộc chương trình cơ bản 11, kết hợp phân phối chương trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn năm học 2020 -

2021, có thể khai thác theo một số hướng sau:

Thiết kế bài học chủ đề theo nội dung chính của tác phẩm

Thiết kế bài học chủ dề theo đặc điểm văn hóa

Thiết kế bài học chủ đề theo đặc điểm thể loại

Thiết kế bài học chủ đề theo đặc điểm nghệ thuật (ngôn từ)

Thiết kế bài học chủ đề theo các phương pháp phê bình văn học (sinh thái)

Thiết kế bài học chủ đề theo chi tiết/hình ảnh/dạng nhân vật

3.2.1.Một số Phương pháp xây dựng bài học Ngữ văn 11 theo chủ đề

3.2.2 Theo nội dung chính của tác phẩm

Xác định chủ đề chính là một phương pháp phổ biến trong việc tiếp cận tác phẩm văn học, mang lại lợi ích cho cả giáo viên và học sinh Phương pháp này giúp học sinh dễ dàng nhận diện nội dung chính khi đọc văn bản.

Chương trình Ngữ văn 11 đánh dấu bước khởi đầu cho việc khám phá văn học hiện đại trong chương trình THPT, với mục tiêu khơi dậy niềm đam mê cho học sinh Việc tiếp cận văn học hiện đại một cách tự nhiên, giản dị và gần gũi mang đến làn gió mới trong cảm nhận của các em Đặc biệt, ba tác phẩm văn xuôi từ giai đoạn 1930 - 1945 được kết hợp thành bài học chủ đề, tạo nên sự phong phú cho chương trình học.

Việc ưu tiên nghiên cứu các tác phẩm trong chương trình SGK 11 giúp học sinh dễ dàng tiếp cận bài học Tuy nhiên, giáo viên cần mở rộng phạm vi bài học để nâng cao kiến thức cho học sinh, bao gồm việc đưa thêm dẫn chứng từ các tác phẩm khác trong giai đoạn văn học 1930 - 1945 Trong quá trình kết hợp, cần đảm bảo kiến thức cơ bản, đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời hướng học sinh đến giá trị chân - thiện - mỹ và áp dụng các bài học vào cuộc sống.

3.2.3 Theo đặc điểm văn hóa

Văn hóa là sản phẩm tinh thần của nhân loại, và tác phẩm văn học giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và truyền tải sự đa dạng của văn hóa Để kết hợp bài học hiệu quả theo đặc điểm văn hóa, cách tối ưu là lựa chọn các tác phẩm có chung đặc điểm văn hóa hoặc thuộc cùng một khu vực văn hóa.

Văn học không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là tấm gương phản chiếu văn hóa của một dân tộc Nó thể hiện những yếu tố văn hóa gắn liền với thiên nhiên, địa lý và lịch sử, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản sắc và giá trị văn hóa của cộng đồng.

10 phong tục, tập quán, ngôn ngữ có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm

Các tác phẩm nổi bật của Nguyễn Công Hoan như "Bước đường cùng", Ngô Tất Tố với "Tắt đèn" và "Việc làng", cùng Vũ Trọng Phụng với "Số đỏ" đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn học Việt Nam Những truyện ngắn và tiểu thuyết này không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện tài năng sáng tạo của các tác giả.

Các tác phẩm của Giông tố, Nam Cao, Nguyên Hồng và Nguyễn Đình Lạp như "Chí Phèo", "Bỉ vỏ" và "Ngoại ô" phơi bày thực trạng đen tối và bất công trong xã hội thuộc địa, phản ánh sự áp bức giai cấp và những hiện tượng nhố nhăng Những tác phẩm này thể hiện quan niệm hiện đại về xã hội, cho rằng số phận con người chỉ có thể thay đổi qua cách mạng xã hội, không còn chấp nhận định mệnh ngẫu nhiên Đồng thời, chúng khẳng định phương pháp tả thực mới mẻ, dựa trên quan sát và miêu tả chân thật, giúp người đọc cảm nhận được những trải nghiệm quen thuộc trong cuộc sống.

Các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, và Thạch Lam thể hiện nhu cầu giải phóng cá tính và phê phán quan niệm gia đình phong kiến Những tác phẩm này cổ vũ sự đoạn tuyệt với các lề thói gia đình cũ, hướng tới việc xây dựng đời sống mới theo khuynh hướng hiện đại và mang tính chất tư sản, cải lương Đặc biệt, chúng nổi bật với quan niệm mới về quyền con người trong xã hội và ý thức về con người cá nhân như những hiện tượng xã hội phức tạp.

Nguyễn Tuân trong tuỳ bút và truyện ngắn của mình khắc họa những cái “tôi” độc đáo, tôn vinh cá tính xuất chúng và giá trị văn hoá truyền thống Ông thể hiện lối cảm nhận cá nhân, đôi khi cực đoan và khinh bạc, nhưng tác phẩm của ông vẫn nêu bật quyền thành thật và tự do cá nhân trong nghệ thuật miêu tả.

3.2.4.Theo đặc điểm thể loại

Nghiên cứu tác phẩm theo đặc điểm thể loại giúp học sinh hiểu rõ hơn về kiến thức thể loại Tuy nhiên, đây là một thách thức lớn vì nhiều học sinh chưa nắm vững các thể loại tác phẩm Giáo viên cần khái quát hóa những đặc điểm cơ bản của thể loại, từ đó giúp học sinh có cái nhìn tổng quát và phân biệt được các đặc điểm riêng của từng thể loại Điều này cũng tạo điều kiện cho học sinh so sánh và đối chiếu các tác phẩm trong cùng một thể loại.

Giáo viên có thể xây dựng bài học chủ đề dựa trên thể loại truyện ngắn hiện đại trước Cách mạng Tháng Tám 1945, nhằm so sánh nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm, đặc biệt là giá trị hiện thực và nhân đạo Qua đó, giáo viên cũng có thể tìm ra những đặc điểm chung trong việc xây dựng nhân vật và bút pháp nghệ thuật.

3.3 Cách thức thực hiện giải pháp

3.3.1.Quy trình xây dựng bài học theo chủ đề

Mỗi bài học theo chủ đề cần giải quyết một vấn đề học tập cụ thể Do đó, quy trình xây dựng bài học bao gồm việc xác định tên chủ đề và thời gian thực hiện.

Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả sử dụng

Sau một thời gian thực hiện, tôi nhận ra nhiều điều mà trước đây mình chưa hiểu đúng Sự thay đổi nhận thức đối với giáo viên đã là một thành công lớn Hơn nữa, các em học sinh cũng đã tiến bộ rõ rệt trong các kỹ năng mềm Nhiều em tự tin đứng trước đám đông và trình bày tốt, cảm thấy mình được học chứ không phải bị học.

Sau một thời gian học tập chủ động, các em đã khám phá tiềm năng của bản thân và tự bổ sung kiến thức mới Nhờ công nghệ thông tin, các em kết nối và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, ngay cả khi không gặp nhau trực tiếp Trong các lớp học theo chủ đề, học sinh thể hiện sự chủ động hơn, khả năng tự làm việc và khám phá tốt hơn, cũng như thích ứng nhanh chóng với môi trường mới so với các lớp học truyền thống.

4.2 Về mặt định lượng Để định lượng kết quả học tập của các em trong suốt quá trình học tôi luôn theo sát sự tiến bộ của từng em, cũng như chú trọng đánh giá kết quả mỗi bài kiểm tra để đánh giá một cách đúng nhất

Sau khi dạy chủ đề “Truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945”, tôi đã tiến hành đánh giá kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra cho hai lớp (lớp thực nghiệm và lớp đối chứng) trong thời gian 15 phút Tiêu chí bài kiểm tra được xây dựng dựa trên mục tiêu bài học trong giáo án, với hình thức Đọc hiểu và thang điểm 10 Việc đánh giá bài kiểm tra dựa trên sự trình bày đúng yêu cầu đề ra và chấm điểm theo thang điểm 10 Kết quả cụ thể sẽ được trình bày sau.

Kết quả thực nghiệm Điểm giỏi

Bảng 1 Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm

Bảng 1 tổng hợp kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, phân loại theo thang điểm giỏi, khá, trung bình và yếu Kết quả thống kê được trình bày dưới dạng biểu đồ.

Biểu đồ 1 So sánh kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm

Biểu đồ 1 cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau khi dạy thực nghiệm Tỉ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi ở lớp thực nghiệm là 76.1%, cao hơn 24.4% so với lớp đối chứng chỉ đạt 51.7% Điểm trung bình của lớp đối chứng là 42.5%, với 7.5% học sinh đạt điểm yếu Kết quả này khẳng định rằng giải pháp dạy học chủ đã mang lại hiệu quả và tính khả thi.

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hứng thú của học sinh (HS) sau khi thực nghiệm là cao, khẳng định rằng giờ học không gây nhàm chán hay khó khăn cho các em Tôi đã thực hiện khảo sát với 8 câu hỏi để đánh giá cảm nhận của HS.

THỐNG KÊ KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG

BÀI HỌC THEO CHỦ ĐỀ Tổng số học sinh làm khảo sát: 42 Lớp thực hiện khảo sát: 11A

Câu 1 Sau bài học, anh/chị có hiểu bài học theo chủ đề là gì không?

Giỏi (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)

Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng

Câu 2 Anh/chị có nắm được đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn không?

Câu 3 Nét đẹp chính của nhân vật Huấn Cao qua truyện Chữ người tử tù là gì?

3 Tài hoa, khí phách, thiên lương

Câu 4 Dòng nào sau đây được xem là chủ đề truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân?

1 A Cái đẹp có thể sản sinh từ đất chết, nơi tội ác ngự trị nhưng không thể sống chung với tội ác Con người chỉ có thể và chỉ xứng đáng được thưởng thức cái đẹp khi giữ được thiên lương

2 B Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là sự hoà quyện tuyệt vời giữa: tâm - tài - thiện - mĩ

3 C Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bài ca ca ngợi cái đẹp, cái tài hoa bất tử

4 D Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bài ca đầy cảm hứng, động viên con người hãy giữ và gắng giữ cái đẹp của thiên lương trong bất kỳ hoàn cảnh nào

Câu 5 Dòng nào sau đây là nhận định không chính xác về khía cạnh nghệ thuật trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân?

1 A Phong cách nghệ thuật tài hoa - uyên bác 4

2 B.Nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ 2

C Tô đậm mâu thuẫn trong đời sống tâm hồn của viên quải ngục

3 D.Tô đậm cái phi thường, xuất chúng, gây cảm giác mãnh liệt

(qua đoạn văn cho chữ trong nhà giam: “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”)

Câu 6 Anh/chị có thích một tiết học Ngữ văn 11 dạy theo chủ đề không? Vì sao?

Các phương án tiêu biểu Số lượng

Có Không đưa ra lý do 2

Có Vì thú vị, bổ ích 18

Học sinh có thể chủ động nắm bắt kiến thức dễ dàng hơn, hiểu rõ nhiều khía cạnh một cách tổng quát và trọng tâm, đồng thời khối lượng bài học cũng nhẹ nhàng hơn.

Câu 7 Theo anh/chị, một tiết học theo chủ đề có những lợi ích nào với học sinh? (có thể chọn nhiều đáp án)

1 Số lượng bài học được giảm bớt 19

Phát huy năng lực của học sinh 23

3 Không khí học tập vui vẻ 28

4 Phát triển kỹ năng làm việc nhóm 30

Để phát triển bài học Ngữ văn theo chủ đề, cần chú trọng vào việc tạo ra các hoạt động học tập tương tác, khuyến khích học sinh tham gia thảo luận và chia sẻ ý kiến cá nhân Việc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, như sử dụng video, hình ảnh minh họa, sẽ giúp học sinh hứng thú hơn với môn học Ngoài ra, giáo viên nên kết hợp các tác phẩm văn học với các vấn đề xã hội hiện nay để học sinh thấy được sự liên quan và ý nghĩa của Ngữ văn trong cuộc sống Cuối cùng, việc tổ chức các buổi ngoại khóa, như tham quan di tích văn hóa hoặc giao lưu với tác giả, sẽ góp phần nâng cao tình yêu và sự đam mê của học sinh đối với Ngữ văn.

Các phương án tiêu biểu Số lượng

Cho học sinh tự chủ động nắm bắt kiến thức bằng cách tranh luận, thảo luận, thuyết trình, giáo viên đóng vai trò là người đồng hành hỗ trợ

31 Đưa vào nhiều hoạt động ngọai khóa, học bằng cách hóa thân vào nhân vật, chơi trò chơi

Lồng ghép nhiều kiến thức liên môn, kiến thức xã hội 7

Học với nhiều tranh ảnh, các sản phẩm sáng tạo, sơ đồ tư duy, bài giảng e-learning, tích hợp công nghệ thông tin,

Kết quả cho thấy việc áp dụng các biện pháp dạy học chủ đề đã mang lại hiệu quả tích cực, khi đa số học sinh yêu thích môn Ngữ văn hơn Các tiết học trở nên hấp dẫn và bổ ích, giúp học sinh nhận thấy sự liên quan giữa quá khứ và hiện tại Điều này đã kích thích hứng thú của các em trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhiều em còn bày tỏ ý định chọn Ngữ văn làm con đường lập nghiệp trong tương lai.

Trong quá trình nghiên cứu và đề xuất phương pháp giảng dạy "Thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn 11 tại Trung tâm GDNN – GDTX Hưng Nguyên", tôi đã tiến hành khảo sát để bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp đã đề xuất, đồng thời khẳng định mức độ cấp thiết và khả thi của đề tài.

2 Nội dung và phương pháp khảo sát

Nội dung khảo sát tập trung vào hai vấn đề chính: thứ nhất, tính cấp thiết của các giải pháp được đề xuất đối với vấn đề nghiên cứu; thứ hai, khả năng thực hiện của các giải pháp này trong bối cảnh nghiên cứu hiện tại.

2.2 Phương pháp khảo sát: Để tiến hành khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi sáng kiến tôi đã làm phiếu khảo sát hai đối tượng: học sinh và một số giáo viên tại Trung tâm Với học sinh tôi đã tiến hành khảo sát các em học sinh khối 11 (trong cả 2 lớp 11A, 11B)

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 27/07/2023, 10:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD&ĐT, Sách giáo khoa Ngữ văn 11 cơ bản, Nxb.Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 11 cơ bản
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
2. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), 217 đề và bài văn dành cho học sinh 10 -11 - 12, Nxb.Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 217 đề và bài văn dành cho học sinh 10 -11 - 12
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb.Đại học quốc gia Hà Nội
3. Trần Phương Thu (tuyển chọn), Đi tìm vẻ đẹp văn chương, Nxb.Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm vẻ đẹp văn chương
Tác giả: Trần Phương Thu
Nhà XB: Nxb.Giáo dục Việt Nam
4. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nxb.Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb.Văn học
5. Trần Đăng Suyền (chủ biên) Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, Nxb.Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), CT THPT, môn Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: CT THPT, môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
7. Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương (2007), Đạo đức học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
8. Phạm Minh Hạc (2002), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm. - (Skkn 2023) thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học ngữ văn 11 tại trung tâm gdnn – gdtx hưng nguyên
Bảng 1. Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm (Trang 28)
Bảng 1 đã tổng hợp kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS lớp thực nghiệm - (Skkn 2023) thiết kế bài dạy theo chủ đề nhằm phát huy năng lực học sinh trong dạy học ngữ văn 11 tại trung tâm gdnn – gdtx hưng nguyên
Bảng 1 đã tổng hợp kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS lớp thực nghiệm (Trang 29)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w