Đặc điểm và tên gọi: Đặc điểm nổi bật của thuốc khí dung là khi sử dụng, hoạt chất được phân tán đều dưới dạng hạt mịn ở thể lỏng, keo hoặc bột với kích thước phù hợp trong khí đẩy.. Th
Trang 1UBND TỈNH BÌNH PHƯỚC TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÌNH PHƯỚC
GIÁO TRÌNH
KỸ THUẬT BÀO CHẾ VÀ SINH DƯỢC HỌC
CÁC DẠNG THUỐC - II
NGÀNH: DƯỢC TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
( Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ- ngày ………tháng năm……
của ……… )
Bình Phước, năm 2020
Trang 2TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
LỜI GIỚI THIỆU
Bào chế học là môn học nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và kỹ thuật thực hành về pha chế, sản xuất, kiểm tra chất lượng, đóng gói, bảo quản các dạng thuốc và các chế phẩm bào chế để có hoạt tính trị liệu tốt nhất và ít tác dụng không mong muốn nhất
Giáo trình được biên soạn căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu đào tạo, khối lượng
thời gian của môn Bào chế trong chương trình đào tạo Dược sĩ cao đẳng hệ chính quy
Cấu trúc trong từng bài gồm 2 phần: mục tiêu, nội dung, cuối mỗi chương
là các câu hỏi tự lượng giá Phần mục tiêu xác định rõ các vấn đề sinh viên phải thực hiện được sau khi học, phần nội dung cung cấp các kiến thức cơ bản liên quan đến dạng thuốc, kỹ thuật bào chế, tiêu chuẩn chất lượng cũng như các thông tin về sinh dược học của dạng thuốc đó
Để học tập có kết quả, sinh viên phải:
- Xác định rõ mục tiêu từng chương, từng bài
- Thực hiện được các yêu cầu mà mục tiêu đã đề ra
- Sau khi học, cần tự kiểm tra kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi tự lượng giá
- Liên kết với phần thực hành để ứng dụng các kiến thức đã học trong bào chế các dạng thuốc
Để dễ dàng tiếp thu bài học cũng như để hiểu biết toàn diện và chi tiết hơn, sinh viên phải dự giờ giảng và đọc thêm tài liệu có liên quan được giới thiệu trong tài liệu tham khảo của môn học
CHỦ BIÊN Ths Ds Đinh Vũ Yến
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 7 THUỐC KHÍ DUNG 6
CHƯƠNG 8 THUỐC MỠ 26
CHƯƠNG 9 KỸ THUẬT BÀO CHẾ CÁC DẠNG THUỐC ĐẶT 58
CHƯƠNG 10 THUỐC BỘT – THUỐC CỐM 81
Bài 1 Kỹ thuật bào chế thuốc bột 81
Bài 2.Thuốc cốm 92
CHƯƠNG 11 THUỐC VIÊN 97
Bài 1 Kỹ thuật bào chế thuốc viên nén 97
Bài 2 Kỹ thuật bào chế thuốc viên tròn 133
Bài 3 Kỹ thuật điều chế viên bao 146
CHƯƠNG 12 KỸ THUẬT BÀO CHẾ THUỐC NANG 167
CHƯƠNG 13 TƯƠNG KỴ TRONG BÀO CHẾ 188
CHƯƠNG 14 CÁC DẠNG THUỐC ĐẶC BIỆT 200
CHƯƠNG 15 GMP – THỰC HÀNH TỐT SẢN XUẤT THUỐC GOOD MANUFACTURING PRACTICE – GMP 208
TÀI LIỆU THAM KHẢO 233
Trang 4GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: KỸ THUẬT BÀO CHẾ VÀ SINH DƯỢC HỌC CÁC DẠNG
THUỐC - II
Mã môn học: BCP.C.33.31
Số tín chỉ: 3/ 3
Thời gian thực hiện môn học: 135 giờ
Trong đó: Lý thuyết: 43 giờ;
đó sinh viên có được các phương pháp và kỹ thuật điều chế các dạng thuốc, đánh giá chất lượng từng dạng thuốc Giúp sinh viên rèn luyện được các kỹ năng
và tác phong nghề như thận trọng, tỷ mỉ chính xác, khách quan, trung thực và vệ sinh
Trang 5II Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức:
+ Nghiên cứu quy trình chế biến, bào chế các dạng thuốc để tìm cho mỗi hoạt chất một dạng thuốc thích hợp nhất cho việc điều trị một bệnh xác định
+ Hiểu và biết sử dụng tá dược phù hợp cần thiết cho dạng thuốc
+ Sử dụng và đổi mới trang thiết bị phục vụ chế biến, bào chế, …
+ Nghiên cứu dạng bào chế bảo đảm tính hiệu nghiệm, tính không độc hại, và
Trang 6CHƯƠNG 7 THUỐC KHÍ DUNG MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Trình bày được nguyên tắc hoạt động, phân loại và ưu nhược điểm của thuốc khí dung
2 Nêu được 5 thành phần cấu tạo chung của thuốc khí dung
3 Trình bày được nguyên tắc sản xuất thuốc khí dung
4 Nêu được yêu cầu chất lượng chính của thuốc khí dung
5 Hướng dẫn sử dụng đúng các loại thuốc khí dung trên cơ sở hiểu biết về cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của dạng thuốc
1.1.2 Đặc điểm và tên gọi:
Đặc điểm nổi bật của thuốc khí dung là khi sử dụng, hoạt chất được phân tán đều dưới dạng hạt mịn ở thể lỏng, keo hoặc bột với kích thước phù hợp trong khí đẩy
Kiểu phân tán hạt treo lơ lửng trong khí gọi là trạng thái khí dung hay sol - khí Hạt thuốc có thể là dung dịch, bột mịn, hoặc những tập hợp phức tạp khác, nên thuốc còn có những tên tương ứng để phân biệt như:
- Thuốc phun mù: Hạt thuốc ở thể rắn như hạt bụi trong khí (smog), ví dụ
Trang 7thuốc khí dung chứa oxytetracyclin, hydrocortison, fusafungin,
- Thuốc phun sương: Hạt thuốc ở thể lỏng hay dung dịch, tương tự kiểu hạt sương trong không khí (mist) Ví dụ: thuốc phun sương chứa oxymetazolin, adrenalin, theophyllin, lidocain,
- Thuốc phun keo: Hạt thuốc ở thể keo, lỏng, có độ nhớt cao, ví dụ: thuốc phun keo collagen, chitosan, povidon, dùng ngoài da hoặc trên da đầu, tóc hoặc dạng dược - mỹ phẩm keo phun (xịt) làm bóng tóc, dưỡng tóc
Thực tế còn gặp 2 dạng thuốc khác có đặc điểm tương đồng với thuốc khí dung nhưng không đáp ứng với định nghĩa trên, đó là thuốc ống hít và thuốc bọt Thuốc ống hít là dạng thuốc hoạt chất cũng phân tán trong khí nhưng đạt mức kích thước phân tử, thường dùng qua đường mũi, miệng,… nhờ hoạt chất dễ bay hơi hoặc thăng hoa
Thuốc bọt là dạng thuốc hoạt chất ở thể lỏng, thường là nhũ tương dùng khí đẩy, song thuốc không được phân tán thành hạt nhỏ mà chính khí đẩy lại phân tán trong thuốc thành các bọt khí và tự vỡ nhanh ngay sau khi được đẩy
ra khỏi bình chứa, thuốc còn lại ở thể mềm, dễ bám dính, nên thuốc bọt thường dùng ngoài da
1.2 Phân loại
1.2.1 Theo đường dùng
Thuốc dùng ngoài: dùng phun xịt trên da, trên tóc…
Thuốc dùng theo đường miệng: chữa bệnh răng miệng, hoặc tác dụng toàn thân: trị hen suyễn, đau nửa đầu
Thuốc dùng theo đường hô hấp: để trị bệnh ở mũi, họng, phổi để gây tê, kháng khuẩn, kháng viêm…
Các vị trí khác: thuốc khí dung dùng cho tai, phụ khoa, hậu môn, vệ sinh môi trường…
Trang 81.2.2 Theo loại khí đẩy và trạng thái tập hợp của thuốc
Theo khí đẩy: thuốc khí dung dùng khí nén là không khí, là khí trơ (khí carbonic, khí nitơ…) hay hỗn hợp khí (n-butan, chloro fluorocarbon – CFC,…) Theo trạng thái tập hợp: với thuốc khí dung hoàn chỉnh, đóng trong bình kín nén khi ở trạng thái bảo quản, thuốc có thể tập hợp thành 2 pha, 3 pha hoặc dạng phức tạp
− Trạng thái 2 pha: gồm pha khí nén và pha lỏng (thuốc dạng dung dịch, hỗn dịch) Pha lỏng gồm các dung môi – chất dẫn thông thường nhưng đặc biệt
có thể là chất khí hóa lỏng (khí nén) hoặc hỗn hợp dung môi và khí hóa lỏng
− Trạng thái 3 pha: hình thành khi dùng khí nén hóa lỏng (2 pha) Nếu thuốc
không hỗn hòa trong pha khí hóa lỏng, mà nổi lên trên, hoặc chìm xuống dưới sẽ hình thành hệ tập hợp 3 pha
− Trạng thái bọt: hình thành bởi sự phân tán khí đẩy trong thuốc ở thể lỏng hay môi trường liên tục lỏng Thuốc dạng bọt được bào chế kiểu nhũ tương Dầu trong nước sau đó phân tán vào tướng khí nén, khí sẽ đảo pha hình thành các bọt khí trong tướng dầu, tạo bọt Bọt được nén trong bình áp suất cao, khi mở van bọt sẽ phun ra và nhanh chóng vỡ để khí thoát ra, để lại nhũ tương thuốc Loại này thường dùng khí hóa lỏng
− Ngoài ra, tùy sự hiện diện của nước hay dung môi còn phân biệt:
Trang 9− Khí dung khô: các hạt thuốc ở trạng thái rắn khô như oxytetracyclin, hydrocortison, streptomycin…
− Khí dung ướt: nếu các hạt ở trạng thái ướt hoặc lỏng như adrenalin, ipratropium, theophylin…
− Nếu hoạt chất được phân tán siêu mịn từ 0,001 – 0,1 m hay đến gần kích thước phân tử, lúc này thuốc không còn tồn tại hệ dị thể của các hạt trong khí, mà hình thành hệ đồng thể khí hay hơi và được chi phối bởi các quy luật của chất khí, không thuộc hệ khí dung hay khí quy ước
1.2.4 Theo kỹ thuật tạo khí dung
− Thuốc khí dung tạo bằng máy nén khí: dùng cho bệnh viện, tập thể nhiều người bệnh Được coi như dạng pha chế theo đơn, người bệnh đến cơ sở điều trị để dùng thuốc theo chỉ dẫn
− Thuốc khí dung dùng khí nén đóng sẵn: thuốc được đóng trong chai/ lọ/ bình có gắn van, nén khí trơ hoặc hỗn hợp khí hóa lỏng Còn gọi là khí dung tự động vì chỉ bấm nút là thuốc được phun ra theo yêu cầu
− Thuốc khí dung dùng piston: đóng chai, bình có gắn van đồng thời với piston, người dùng tự bơm không khí trước khi thuốc được đẩy ra Tương
tự có loại thuốc khí dung đóng trong bơm tiêm với đầu phun thích hợp, tiện dùng cho thuốc phân liều nhỏ dùng một lần như thuốc gây tê, giảm đau, sát trùng vết thương
− Các dạng khác: hộp chứa bột thuốc để hít; thuốc hít có bộ phận nghiền thuốc tạo bột mịn để hít, thuốc khí dung tạo bởi xung động (siêu âm hoặc điện cao tần); khí dung dùng quả bóp hoặc dùng bao bì dẻo xếp nếp để nén bóp Ngoài ra những kiểu trị liệu cổ truyền như nồi xông, phòng, lều xông hơi thuốc hoặc máy xông hơi, thuốc hút…có thể coi như kiểu khí dung dùng nhiệt độ cao
Trang 10Hình 7.1 Các trạng thái tập hợp của thuốc khí dung đóng khí nén
(1) Trạng thái 2 pha
(2) và (3) Trạng thái 3 pha
(4) Thuốc phun ra khỏi bình
1.3 Ưu, nhược điểm
− Với thuốc khí dung có van định liều, đảm bảo sự phân liều chính xác
− Thuốc được phun ra phủ nhẹ lên da hay niêm mạc, hạn chế tối đa các tác động gây kích ứng nơi dùng thuốc
− Thuốc khí dung có thể được dùng thay cho dạng thuốc tiêm đối với một
số loại thuốc như hormon (ví dụ insulin), thuốc chống virus…bằng cách xông hít qua đường hô hấp rất thuận tiện cho bệnh nhân
− Thuốc phun có hiệu lực điều trị cao: khi dùng tại chỗ, dược chất được tiếp xúc tốt trên da hay niêm mạc Khi dùng xông hít qua miệng, mũi vào phổi, thuốc có thể phát huy tác dụng toàn thân do dược chất được hấp thu qua mao mạch dưới lưỡi hay mao mạch phế nang vào máu, tránh được sự
Trang 11phân hủy dược chất ở đường tiêu hóa và ở vòng tuần hoàn qua gan vì thuốc không đi qua đường này
− Nói chung thuốc khí dung sử dụng liều lượng thấp, có thể hạn chế được tác dụng không mong muốn
1.3.2 Nhược điểm
− Kỹ thuật sản xuất tương đối phức tạp, đòi hỏi đồ bao gói bao gồm bình chứa, hệ van, đầu phun…Quá trình đóng nạp chất đẩy đồng thời với quá trình đóng gói hoàn chỉnh tạo bình thuốc kín đòi hỏi thiết bị phức tạp
− Thuốc khí dung sử dụng chất đẩy loại dẫn chất fluorocarbon là chất phá hủy tầng ozon của khí quyển trái đất Loại chất đẩy là hydrocarbon không
có nhược điểm này nhưng lại là các chất dễ gây cháy nổ khi tiếp xúc với nhiệt
− Một số thuốc khí dung dùng tại chỗ khi dùng nhầm vào đường hô hấp có thể gây nguy hiểm chết người
− Thuốc khí dung dùng xông hít vào phổi nếu không có sự phối hợp nhịp hít thở theo đúng yêu cầu sử dụng, liều thuốc sẽ không được hấp thu đầy
đủ, không đạt được hiệu lực điều trị mong muốn
2 Thành phần cấu tạo thuốc khí dung
Thuốc khí dung có thể chứa một hay nhiều loại dược chất cùng với chất đẩy, dung môi, chất độn, chất bảo quản, chất làm tăng độ tan, chất ổn định…
Các thành phần đặc trưng và quan trọng của thuốc khí dung là chất đẩy, bình chứa, van, đầu phun (nút bấm) và thuốc
2.1 Chất đẩy
Chất đẩy trong thuốc khí dung là các khí nén hoặc khí hóa lỏng, tạo ra áp suất cao trong bình để phun thuốc ra khỏi bình khi bấm mở van Khí hóa lỏng gồm 2 nhóm là các dẫn xuất của fluorocarbon và các hydrocarbon Khí nén thường dùng cho thuốc khí dung là nitơ, carbon dioxyd và nitơ oxyd
Trang 12Các khí hóa lỏng dùng làm chất đẩy cho thuốc khí dung
− Khí hóa lỏng có nhiều ưu điểm hơn khí nén về nhiều mặt nên thường được dùng trong các thuốc khí dung yêu cầu chất lượng cao Bình thuốc khí dung chứa khí hóa lỏng có thể tích gọn nhỏ do khí lỏng có thể giữ được áp suất hằng định trong quá trình sử dụng, đảm bảo độ chính xác phân liều và độ mịn của các tiểu phân
− Khí hóa lỏng còn đóng vai trò tác nhân gây phân tán, là thành phần trong tiểu phân thuốc phun ra từ bình chứa, hơi khí lỏng hóa thoát ra khỏi tiểu phân, làm cho các tiểu phân thuốc tiếp tục bị phân chia nhỏ hơn, trong một số trường hợp riêng có thể tạo bọt xốp
có nhiều đồng phân thì thêm chữ a, b, c đứng sau các con số
Dichloro difluoro methan CCl2F2 (Propellant 12, Freon 12)
Dichloro tetrafluoro ethan C2Cl2F4 (Propellant 114, Freon 114) Trichloro monofluoro methan CCl3F (Propellant 11, Freon 11) Chloro difluoro ethan C2H3ClF2 (Propellant 142b)
Heptafluoro propan C3HF7 (Propellant 227)
Difluoro ethan C2H4F2 (Propellant 152a)
Tetrafluoro ethan C2H4F4 (Propellant 134a)
Trang 13− Các dẫn chất fluorocarbon nói chung tương đối trơ về hóa học, ít độc hại
và không dễ cháy Do có những ưu điểm như đã nêu trên chúng được dùng cho các thuốc khí dung xông hít qua mũi hoặc miệng tạo ra các tiểu phân có độ mịn cao để thuốc dễ hấp thu, phát huy hiệu lực điều trị tốt Tuy nhiên chúng phá hủy tầng ozon của khí quyển trái đất nến bị cấm sử dụng cho các thuốc khí dung thông thường thuốc khí dung dùng để xông hít qua mũi, qua đường miệng, tạo bọt xốp dùng cho âm đạo chứa các chất sát khuẩn, thuốc khí dung chứa kháng sinh cho phép không áp dụng quy chế này
− Các chất đẩy fluorocarbon thường được dùng phối hợp theo tỷ lệ sao cho đạt được một áp suất hơi thích hợp cho từng chế phẩm thuốc khí dung
2.1.2 Các chất đẩy là hydrocarbon
− Các hydrocarbon được dùng làm chất đẩy có ưu điểm so với các flurocarbon là giá thành rẻ và không gây tác hại đến khí quyển Tuy nhiên, chúng dễ cháy nổ Các chất hay dùng là propan, butan và isobutan
Để hạn chế khả năng cháy nổ có thể trộn lẫn với các fluorocarbon hoặc sử dụng bình khí dung có lắp van thích hợp
2.1.3 Các khí nén dùng làm chất dẩy
− Các khí nitơ, dinitơ dioxyd, carbon dioxyd được dùng làm chất đẩy trong thuốc khí dung Tùy theo bản chất của công thức thuốc và cấu tạo của van, thuốc được phân tán ra khỏi bình tạo thành mù, bọt xốp hoặc thể mềm như thuốc mỡ
− Các khí nén còn có ưu điểm là trơ về mặt hóa học, không phản ứng tương tác với các dược chất trong hệ Khí nitơ và carbon dioxyd còn có vai trò đẩy loại không khí trong hệ bình thuốc khí dung, làm tăng độ ổn định của thuốc
− Khác với khí hóa lỏng, thuốc khí dung sử dụng khí nén có nhược điểm là khi sử dụng áp lực trong bình sẽ giảm dần nên phân liều không ổn định
Trang 142.2 Bình chứa
− Bình chứa thuốc khí dung được làm bằng các vật liệu có khả năng chịu áp suất cao (12,5 – 13,5 atm ở 550C) và không bị chất đẩy hay các thành phần khác của thuốc ăn mòn như kim loại (nhôm, thép không rỉ, thép mạ thiếc), thủy tinh
− Tùy vào loại thuốc khí dung mà bình chứa có dung tích và hình thể khác nhau
Hình 7.2 Cấu tạo hình sol – khí dùng khí nén đóng sẵn
a-Cấu tạo bình khí dung ở trạng thái van đóng b-Trạng thái van mở
1 Vỏ bình 2 Vòng đệm và lò xo 3 Đầu phun
4 Ống nhúng (mao quản) nhúng trong thuốc 5 Khí nén
− Van định liều: là loại van khi bấm nút mở van, thuốc chỉ được phun ra một liều lượng xác định Cơ sở của việc tạo ra một liều thuốc chính xác là nhờ
Trang 15nguyên tắc van có một khoang trống kích thước của khoang trống này quyết định lượng thuốc đẩy ra
Van định liều có 2 kiểu cơ bản: kiểu van sử dụng ở thế thẳng đứng và kiểu quay đầu ngược xuống kiểu van dùng thẳng đứng với ống nhúng nhỏ thường dùng cho thuốc hệ dung dịch Kiểu van quay ngược thường không có ống nhúng dùng cho hệ thuốc khí dung chứa hỗn dịch, nhũ
tương
Hình 7.3 Sơ đồ cấu tạo van định kiểu khóa kép
1 Bình thuốc 2 Khóa 1 3 Buồng định thuốc 4 Khóa 2
5 Đầu nhấn 5a Trạng thái van đóng: định liều thuốc
5b trạng thái van mở: phun thuốc
2.4 Đầu phun và nút bấm
Đầu phun đồng thời là nút bấm, miệng phun làm nhiệm vụ giải phóng thuốc ra khỏi bình chứa, hướng thuốc phun vào nơi cần điều trị Đầu phun được gắn liền với hệ van để khi bấm, van sẽ mở ra và cũng nhanh chóng đóng lại khi thôi không bấm nút nhờ lò xo trong van
Có một số loại đầu phun cơ bản như sau:
− Đầu khí dung: được sử dụng rộng rãi, có khả năng tạo ra các tiểu phân tương đối nhỏ bằng cách cho hơi đẩy qua các lỗ hở đầu phun có thể có từ 1 đến 3
lỗ mở có đường kính từ 0,4 đến 1 mm
Trang 16− Đầu phun tạo bọt xốp: có lỗ thoát tương đối rộng, từ 1,78 đến 3,81 mm và có thể rộng hơn Các lỗ thoát cho thuốc đi vào một khoang khá rộng sau đó tiếp tục được đẩy ra ngoài qua một miệng phun
− Đầu phun tạo các thuốc thể mềm: phân tán thuốc tạo ra có thể chất mềm như thuốc mỡ, bột nhão, cấu tạo tương tự loại đầu phun bọt xốp
− Các đầu phun đặc biệt: nhiều thuốc khí dung có mục đích sử dụng riêng đòi hỏi các đầu phun có thiết kế hình dáng cấu tạo đặc biệt sao cho thuốc được đưa đến nơi điều trị cần thiết như ở miệng, ở yết hầu, ở mũi, mắt, âm đạo…
2.5 Thuốc
Tùy theo đường dùng thuốc, nơi cần điều trị, bản chất của dược chất và chất đẩy sử dụng trong hệ mà cho thêm các tá dược cần thiết vào thuốc và bào chế thuốc thành dung dịch, hỗn dịch hay nhũ tương…để đóng nạp vào bình thuốc
3 Nguyên tắc sản xuất thuốc khí dung
Sản xuất thuốc khí dung gồm hai giai đoạn chủ yếu là: điều chế thuốc để đóng nạp vào bình và đóng nạp chất đẩy vào bình thuốc (đồng thời hoàn chỉnh đóng kín bình thuốc)
− Giai đoạn điều chế thuốc đòi hòi kỹ thuật và dụng cụ thiết bị như đối với việc sản xuất các dạng bào chế thông thường thuộc hệ dung dịch, hỗn dịch, nhũ tương, bột thuốc…
− Giai đoạn nạp chất đẩy có thể thực hiện bằng phương pháp đóng áp suất hoặc đông lạnh
Quy trình sản xuất của cả 2 cách đều có 7 giai đoạn (xem sơ đồ)
Pha chế thuốc
− Thuốc chứa trong bình khí dung có thể bào chế dưới dạng dung dịch, hỗn dịch và nhũ tương như các dạng thuốc khác Song với sự tham gia của khí đẩy sẽ xuất hiện những vấn đề mới như độ tan của hoạt chất trong dung
Trang 17dịch, khả năng phân tán và kết tinh trở lại trong hỗn dịch…chắc chắn có ảnh hưởng bởi áp suất bề mặt do khí nén gây ra Đặc biệt với nhũ tương bọt mà khí đẩy tham gia vào tướng nội của nhũ tương D/N sẽ có sự phối hợp của khí đẩy ngay trong quá trình pha chế tức trong công thức Những vấn đề khác như độ mịn của hạt phân tán trong sử dụng, khả năng phân liều, tính sinh khả dụng của thuốc…là những vấn đề rất phức tạp, không trình bày ở tài liệu này
− Quy trình nhiệt độ lạnh: chỉ áp dụng cho khí hóa lỏng CFC, phải có thiết
bị làm lạnh không khí xuống -35 → -400C (thường dùng tuyết carbonic hoặc tuyết khô aceton…ở nhiệt độ này hóa khí hoàn toàn) Không dùng cho khí hóa lỏng hydrocarbon vì dễ thoát khí khỏi thiết bị, gây cháy nổ,
và thận trọng với loại fluorocarbon vì dễ thoát khí gây ngạt Lượng khí lỏng đóng vào từng chai/ lọ/ bình được xác định bằng phép cân
− Quy trình dùng áp suất cao nén khí: phải có thiết bị nén khí ở áp suất cao
80 – 150 PSI, trong một chu trình kín, có thể áp dụng cho cả khí nén và khí hóa lỏng
− Cả 2 quy trình đều có thao tác đuổi không khí ra khỏi bình trước khi đóng khí đẩy Có thể thực hiện bằng cách hút chân không liên kết với nén khí trong quy trình dùng áp suất cao hoặc đơn giản đặt vào bình một ít khí hóa lỏng, khí hóa hơi sẽ ở lại bình và đuổi không khí ra khỏi bình
− Ở quy mô công nghiệp, quy trình dùng áp suất cao được ưa chuộng hơn vì
ít bị ô nhiễm môi trường, ít thoát khí đẩy, năng suất cao (đóng trong lồng kín nhiều bình, đóng bằng máy xoay tròn nhiều đầu bơm tự động) Phương pháp lạnh năng suất không cao…song được dùng ở quy mô nhỏ
và dạng đóng van phân liều do áp suất ổn định khi dùng khí hóa lỏng
Trang 18Hình 7.4 Sơ đồ quy trình sản xuất thuốc khí dung đóng sẵn khí đẩy ở áp suất cao
Thao tác kiểm tra độ kín
Rất đơn giản, nhúng bình đã hoàn chỉnh trong nồi cách thủy ở 54 – 550C, phát hiện bình hở để loại bỏ nếu thấy xuất hiện bọt khí
Thao tác dán nhãn và hoàn chỉnh bao bì
Tương tự như các dạng thuốc khác, do bình khí dung bằng các vật liệu kim loại hoặc phủ nhựa nên thường in sẵn nhãn hiệu khí dung trong khâu sản xuất bao bì, nên không phải dán nhãn
Trang 19Bảo quản
Các bình khí dung luôn ở trạng thái áp suất cao nên không được đè nén bình, chọc vật cứng, nhất là khống chế nhiệt độ nơi tồn trữ < 500C…để tránh nổ bình hoặc nổ cháy với những chất khí dễ cháy
4 Sơ lược về bào chế một số dạng khí dung khác
4.1 Dụng cụ tạo khí dung khô
4.1.1 Kiểu thuốc ống hút có vít xoay: gồm 2 phần
Phần miệng để hút đồng thời mang một vít có cánh quạt ở trong để xoay làm mịn hạt thuốc
Phần thân là một ống để giữ hạt thuốc được phân tán và có cơ cấu khớp với phần miệng để làm xoay cánh quạt khi ấn lên xuống
4.1.2 Kiểu thuốc đĩa hút
Gồm một hộp có đầu để hút, trong hộp đựng một đĩa tròn, có đục lỗ xung quanh Mỗi lỗ trên đĩa chứa một liều thuốc bột mịn, khi lỗ chứa thuốc tới đầu hút, người bệnh hút thuốc qua miệng Hết liều thuốc, đến lần sau, quay đĩa cho liều thuốc mới tới đầu hút và sử dụng Mỗi hộp có thể có đến 60 liều thuốc dùng 20 – 30 ngày, rất thích hợp cho bệnh nhân bị hen suyễn, dị ứng đường hô hấp mãn tính
4.1.3 Kiểu hộp thuốc hít chạy điện
Cấu tạo tương tự kiểu vít xoay nhưng cơ cấu lớn hơn để có thể hút, hít qua đường mũi, miệng và đĩa xoay hình xoắn ốc thẳng đứng trong hộp được chạy bằng một motor điện để phân tán thuốc tốt hơn Thuốc được phân liều dùng cho máy có thể là viên nén, nang thuốc, thuốc bột
Trang 204.3 Máy xông hơi
− Nồi xông hoặc lều xông, phòng xông hơi để giải cảm, trị nhiễm trùng đường hô hấp hoặc tắm hơi như một liệu pháp vật lý chữa bệnh, giảm stress được dùng rất lâu trong dân gian hay y học cổ truyền đông tây
− Trong liệu pháp trên tác dụng của hơi nước ở nhiệt độ cao vừa phải có tác dụng trị bệnh và hiệu quả hơn nếu phối hợp với các dược liệu cây cỏ hoặc hoạt chất dễ cuốn theo hơi nước: các tinh dầu (bạc hà, bạch đàn, ngũ trảo,
sả, hương nhu…), menthol, long não, cineol, các mùi thơm thích hợp…
− Máy xông hơi dựa trên cơ sở trên, dùng điện và thường điều chỉnh tự động cung cấp hơi nóng ẩm ổn định ở nhiệt độ 430C Khi dùng có thể phối hợp với các thuốc sát khuẩn loại tinh dầu hoặc không Rất hiệu quả
để xông mũi – họng trong trường hợp viêm xoang, sổ mũi, cảm lạnh Sử dụng đơn giản, gọn nhẹ
4.4 Máy tạo khí dung bằng siêu âm
Máy tạo khí dung có rung động siêu âm khoảng 1 MHz, tác động lên một lá kim loại mỏng, trên đó các giọt dung dịch thuốc được nhỏ vào đều đặn Các giọt thuốc được phân chia thành dạng hạt rất mịn khoảng 5 m, phân tán trong không khí của lồng kín, có các ống dẫn cho bệnh nhân hút – hít Máy thường dùng cho điều trị ở bệnh viện và giá thành đắt
4.5 Bình thuốc khí dung kiểu piston
− Bình phun thuốc dạng lỏng, chủ yếu là dung dịch thuốc theo cơ chế lực đẩy cơ học, bằng piston nén không khí có sẵn trong bình, đẩy thuốc qua đầu phun
− Thích hợp với dạng dung dịch hoặc nhũ tương, hỗn dịch thật loãng vì áp suất nén không cao Có thể tận dụng được bình chứa bằng cách làm sạch
và thêm thuốc
− Khó áp dụng cho thuốc đậm đặc hoặc phải ấn bằng tay, không phải đối tượng nào cũng ưa sử dụng
Trang 21− Ngoài ra còn gặp dạng thuốc phun qua đầu phun gắn trên bơm tiêm, bình khí dung kiểu quả bóp cao su hoặc bằng chất dẻo xếp nếp
5 Một số nội dung kiểm nghiệm thuốc khí dung
− Kiểm nghiệm nguyên phụ liệu
− Kiểm tra kiểm soát bán thành phẩm
− Kiểm nghiệm bao bì
− Kiểm nghiệm thành phẩm
− Kích thước hạt
− Diện tích tiếp xúc của dòng khí dung
− Tốc độ phun thuốc
− Chất lượng của van
− Độ kín của bao bì hay tốc độ rò rỉ thuốc
5 Buồng chứa thuốc
6 Ống phun mang piston
7 Van để ấn đầu phun
8 Lỗ phun thuốc
9 Nắp bảo vệ
Trang 22Penicillin ống 500.000 IU Eucalyptin ống 2 ml = 200 mg 1 ống Vitamin C ống 5 ml = 500 mg 1 ống Hydrocortison viên 5 mg 1 viên Nước cất vô trùng 5 ml Dùng 1 lần/ ngày x 7 – 15 ngày
Đây là đơn trị viêm xoang mũi và các bệnh nhiễm trùng mãn phế quản phổi Dùng đầu phun gắn máy nén khí trong bệnh viện
Nghiền mịn hydrocortison, trộn chung với các thành phần khác trong đầu phun Hướng dẫn người bệnh hít qua đường mũi họng trong khoảng 30 phút
6.2 Thuốc khí dung cắt cơn hen suyễn (dùng đầu quả bóp cao su)
Theophylin 1 g Adrenalin HCl 4 g Natri sulfit 0,2 g Dung dịch acid hydrochlorid 10%, vđ pH 3,5 Acid benzoic 0,5 g Kali clorid 0,7 g Nước cất vđ 100 ml Pha chế, đóng chai 10 ml có kèm đầu bóp nhỏ giọt
Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch vô trùng
Trình bày: hộp 1 chai kèm theo dụng cụ phun thuốc: đầu phun có đầu thích hợp với họng hầu và quả bóp cao su
Cách dùng: nhỏ 10 giọt thuốc vào đầu phun Ngậm đầu phun và bóp thuốc hít vào họng
Còn gặp dạng đóng dưới khí nén hóa lỏng như CFC 12, chai 15 – 30 ml
Trang 236.3 Chai thuốc khí dung dạng dung dịch
Mỗi chai chứa
Lidocain HCl 3,80 g Ethanol 95% 27,30 g Propylen glycol 6,82 g Tinh dầu bạc hà 0,08 g Hỗn hợp khí đẩy 27 g (Đồng lượng 50 : 50 của dichloro difluoro methan và dichloro tetrafluoro ethan) Thuốc được bào chế đóng trong bao bì với khí đẩy hóa lỏng, van định liều (tương đương 4,8 mg lidocain base/ lần phun)
Dùng gây tê tại chỗ trong các khoa răng hàm mặt, da liễu, phụ khoa, thần kinh, tai mũi họng
6.4 Bình thuốc khí dung kiểu hỗn dịch
Oxytetracyclin HCl 0,4 g Hydrocortison 0,133 g Acid oleic 0,05 g Khí đẩy hóa lỏng A70 (propan) vđ 100 g Đóng bình 100 g, dùng ngoài da
Hỗn dịch được tạo thành do phân tán các hạt mịn 5 m của hoạt chất trong tướng lỏng propan Acid oleic có tác dụng phân tán và làm trơn
Dùng tại chỗ: phun lên các vết thương, vết phỏng, ngứa bội nhiễm ngoài da
6.5 Bình thuốc có bọt khí đẩy
Dexpanthenol 4,63 g
Tá dược tạo bọt vđ 100 g
Trang 24Bọt thuốc được bào chế bởi hòa tan hoạt chất trong hỗn hợp sáp ong – dầu parafin nhũ hóa tạo nhũ tương D/N Trộn với khoảng 3,5 – 5% hỗn hợp propan – butan (khí đẩy hóa lỏng), tạo bọt xốp Nén vào bình chứa
Bình chứa bằng hợp kim nhôm, phủ nhựa, mặt trong xử lý không rỉ Gắn đầu van đặc biệt dùng cho dạng bọt
Dùng xoa ngoài da, bảo vệ da do tổn thương, kích thích phục hồi da do tác động của hoạt chất và tạo gel bảo vệ của tá dược Chống hăm nách, bẹn…cho trẻ nhỏ
CÂU HỎI TỰ LƯỢNG GIÁ
Chọn câu trả lời đúng nhất
1 Trạng thái phân tán hoạt chất trong khí của thuốc khí dung được hình thành khi:
A Thuốc đã được đóng trong bao bì
B Thuốc được bào chế dưới dạng bột
C Thuốc được bào chế dưới dạng lỏng
D Thuốc được đẩy ra khỏi bao bì
2 Khi bán thuốc khí dung cho người bệnh, nhân viên bán thuốc cần
hướng dẫn cách sử dụng, đặc biệt để tránh nổ chai thuốc, vì:
A Thuốc là hoạt chất hữu cơ
B Thuốc có chứa cồn ethylic
C Thuốc có chứa khí nén ở áp suất cao
D Thuốc được đóng đầy chai
3 Thuốc khí dung được gọi là thuốc phun sương khi:
A Thuốc dưới dạng dung dịch
B Thuốc dưới dạng bột
C Thuốc dưới dạng khí
Trang 25D Thuốc được nén ở áp suất cao
4 Hai loại khí trơ tự nhiên hay dùng làm khí đẩy cho thuốc khí dung là:
Trang 26CHƯƠNG 8 THUỐC MỠ
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Nêu được định nghĩa, phân loại và yêu cầu chất lượng của thuốc mỡ
2 Trình bày được cấu tạo, ưu nhược điểm của các tá dược dùng để bào chế thuốc mỡ
3 Trình bày được kỹ thuật bào chế thuốc mỡ bằng phương pháp hòa tan, trộn đều đơn giản, trộn đều nhũ hóa và trộn đều trực tiếp
4 Nêu được trình tự pha chế một số công thức thuốc mỡ cụ thể
− Kem bôi da: là thuốc mỡ có thể chất mềm, mịn màng do trong thành phần
có chứa một tỷ lệ lớn các chất ở thể lỏng như nước, glycerin, propylen
Trang 27glycol, dầu thực vật, dầu khoáng Các kem thường có cầu trúc kiểu nhũ tương D/N hoặc N/D
− Gel: là thuốc mỡ có thể chất mềm, trong đó có một hay nhiều dược chất được hòa tan hay phân tán trong tá dược polymer thiên nhiên hoặc tổng hợp
1.2.2 Dựa vào cấu trúc
− Thuốc mỡ thuộc hệ phân tán đồng thể (thuốc mỡ một pha, thuốc mỡ kiểu dung dịch) loại này dược chất tan trong tá dược
− Thuốc mỡ thuộc hệ phân tán dị thể (thuốc mỡ nhiều pha) Loại này dược chất và tá dược không đồng tan Các thuốc mỡ thuộc hệ này được xếp thành 3 phân nhóm:
+ Thuốc mỡ kiểu hỗn dịch: dược chất ở dạng bột mịn phân tán đều trong tá dược
+ Thuốc mỡ kiểu nhũ tương: dược chất ở thể lỏng hoặc mềm phân tán đều trong tá dược
+ Thuốc mỡ có cấu trúc phức tạp: loại này tá dược có cấu trúc nhũ tương, dược chất có thể là chất rắn, lỏng, tan hoặc không tan trong tá dược Thuốc mỡ có cấu trúc kiểu hỗn dịch – nhũ tương hoặc dung dịch – hỗn dịch – nhũ tương
1.2.3 Theo mục đích sử dụng hoặc điều trị
− Thuốc mỡ bảo vệ da và niêm mạc
− Thuốc mỡ gây tác dụng điều trị tại chỗ: có thể phân biệt thành 2 phân nhóm
− Thuốc mỡ sử dụng trên da
− Thuốc mỡ sử dụng trên niêm mạc (mắt, mũi, âm đạo, hậu môn)
− Thuốc mỡ gây tác dụng điều trị toàn thân: đây là dạng thuốc dán có tác dụng kéo dài, được dán vào da lành để đưa dược chất vào hệ tuần hoàn qua đường da
Trang 281.3 Yêu cầu chất lượng
− Phải là hỗn hợp hoàn toàn đồng nhất giữa dược chất và tá dược, trong đó dược chất phải đạt độ phân tán càng cao càng tốt
− Thể chất mềm, mịn màng, không được có mùi lạ, không biến màu, không cứng lại hoặc tách lớp ở điều kiện thường
− Không được chảy lỏng ở 370C và phải bắt dính được trên da hay niêm mạc khi bôi
− Không gây kích ứng, dị ứng đối với da và niêm mạc dù phải sử dụng trong thời gian dài
− Bền vững (về lý, hóa và vi sinh) trong quá trình bảo quản
− Gây được hiệu quả điều trị cao đúng với mục đích và yêu cầu khi thiết kế công thức
− Không gây bẩn quần áo và dễ rửa sạch bằng xà phòng và nước
2 Thành phần thuốc mỡ
2.1 Dược chất
Dược chất dùng trong thuốc mỡ rất phong phú, bao gồm các chất ở thể rắn, lỏng, mềm, tan hoặc không tan trong tá dược Dược chất phải đạt tiêu chuẩn dược dụng, phải được hòa tan hoặc phân tán đồng nhất trong tá dược
2.2 Tá dược
2.2.1 Yêu cầu đối với tá dược thuốc mỡ
− Có khả năng phối hợp với các dược chất thành hỗn hợp đồng nhất Hỗn hợp này phải đáp ứng với các yêu cầu đối với các thuốc mỡ về các mặt: thể chất, tính tan chảy, khả năng bắt dính, độ thấm…
− Phóng thích dược chất theo đúng yêu cầu thiết kế
− Đưa được dược chất đến vị trí cần tác động
− Không có tác dụng dược lý riêng và không cản trở dược chất phát huy tác dụng
Trang 29− Không cản trở hoạt động sinh lý bình thường của da (sự tỏa nhiệt, sự tiết
mồ hôi…), không làm khô da, không gây kích ứng, dị ứng dù phải sử dụng trong thời gian dài
− Có pH trung tính hoặc hơi acid gần với pH của da
− Bền vững về mặt vật lý, hóa học và sinh học
− Ít gây bẩn da, quần áo và dễ rửa sạch bằng nước
− Có thể tiệt khuẩn được
Trong thực tế không có loại tá dược nào đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu trên, vì vậy người ta phải phối hợp nhiều tá dược với nhau để thu được một hỗn hợp tá dược đạt yêu cầu
2.2.2 Phân loại tá dược
− Nhóm tá dược thân dầu
− Nhóm tá dược thân nước
− Nhóm tá dược nhũ tương (nhũ tương khan và nhũ tương hoàn chỉnh) 2.2.2.1 Nhóm tá dược thân dầu và không tan trong nước
Trang 30+ Giải phóng hoạt chất kém
− Tá dược điển hình:
+ Dầu cá: thu được bằng cách ép từ gan các loại cá thu, có thể chất
lỏng sánh, màu hơi ngà vàng, có mùi vị đặc biệt Do có chứa một tỷ
lệ đáng kể các vitamin A và D nên dầu gan cá thường được dùng để điều chế thuốc mỡ bôi vết bỏng hoặc vết thương trong quá trình lên
da non
+ Dầu lạc: thu được bằng cách ép từ hạt cây lạc, có thể chất lỏng
sánh, không tan trong nước, dễ tan trong các dung môi hữu cơ, thường được sử dụng phối hợp với tá dược dầu mỡ sáp để điều chỉnh thể chất
+ Dầu vừng: thu được bằng cách ép hạt cây vừng, là chất lỏng sánh,
dịu với da và niêm mạc, ngoài việc sử dụng làm tá dược thuốc mỡ, dầu vừng còn được dùng để điều chế dầu cao xoa, cao dán đông y
+ Mỡ lợn: mỡ lợn thu được bằng cách rán nhỏ lửa những lá mỡ lợn
tốt, thể chất mềm, màu trắng, có mùi vị đặc biệt Trong mỡ lợn có một lượng nhỏ cholesterol, do vậy mỡ lợn có khả năng nhũ hóa 12% nước, 20% glycerin Mỡ lợn có khả năng thấm sâu nên được dùng làm tá dược thuốc mỡ cần tác dụng ở nội bì, hạ bì
Trang 31+ Sáp ong: được thu từ tổ các loài ong mật, có cấu tạo là ester của các acid béo cao với alcol béo cao, chủ yếu là cetyl palmitat Có 2 loại sáp ong:
+ Sáp ong vàng: có thể chất dẻo quánh, màu vàng
+ Sáp ong trắng: là sáp ong đã được tẩy màu, tuy có màu trắng nhưng thể chất hơi giòn, dễ bị vỡ vụn
Sáp ong được dùng phối hợp với các tá dược dầu mỡ để điều chỉnh thể chất
+ Lanolin (sáp lông cừu): thu được bằng cách tinh chế các chất béo lấy từ nước giặt lông cừu trong kỹ nghệ làm len Lanolin có cấu tạo
là ester của các acid béo với các alcol thơm có nhân steroid như: cholesterol…nên lanolin có khả năng nhũ hóa mạnh Có 2 loại lanolin:
Lanolin khan nước: loại này không có nước trong thành phần nên
có màu sẫm hơn, bền vững trong quá trình bảo quản, có khả năng nhũ hóa được 200% nước Có thể coi lanolin khan nước là một tá dược nhũ tương khan
Lanolin ngậm nước: loại này trong thành phần có chứa 25 – 30% nước So với lanolin khan nước, loại này màu nhạt hơn, thể chất mềm hơn, vì có nước trong thành phần nên không bền vững, dễ
bị ôi khét trong quá trình bảo quản Mặc dù đã có nước trong thành phần, lanolin ngậm nước vẫn nhũ hóa được 100% nước
Có thể coi lanolin ngậm nước là một tá dược nhũ tương hoàn chỉnh
➢ Các dẫn chất của dầu mỡ sáp
− Các dầu mỡ hydrogen hóa: là sản phẩm của phản ứng cộng hợp hydro
để bão hòa các dây nối đôi của các gốc acid béo không no có trong dầu
Trang 32mỡ, làm cho dầu mỡ có thể đặc hơn, nhiệt độ nóng chảy cao hơn, bền vững hơn, không bị ôi khét khi bảo quản Các dầu hydrogen hóa thường dùng làm tá dược thuốc mỡ:
+ Dầu lạc hydrogen hóa
+ Dầu hướng dương hydrogen hóa
+ Dầu đậu tương hydrogen hóa
+ Dầu bông hydrogen hóa
− Các acid béo cao được phân lập từ dầu mỡ
+ Acid stearic: là hỗn hợp gồm có acid stearic và acid palmitic, trong
đó acid stearic không dưới 40%, có nhiệt độ nóng chảy 54 – 570C Trong thuốc mỡ, acid stearic được sử dụng làm pha dầu trong các nhũ tương, được phối hợp với các tá dược dầu, mỡ, sáp để điều chỉnh thể chất của thuốc mỡ, tạo xà phòng với hydroxyd kiềm hoặc các amin kiềm để làm chất nhũ hóa
+ Acid oleic: có thể chất lỏng sánh, màu hơi vàng, có khối lượng riêng 0,8 – 0,9, nhiệt độ đông rắn 100C Acid oleic được sử dụng làm pha dầu trong các nhũ tương, làm tăng tính thấm qua da của nhiều dược chất
− Các alcol béo cao được phân lập từ các sáp:
+ Alcol cetylic: là một chất ở thể rắn, chứa không dưới 90% octadecanol, ở dạng tinh thể hoặc mảnh óng ánh, không màu, không tan trong nước, tan trong ethanol cao độ, chloroform,…thường được dùng phối hợp với các tá dược dầu, mỡ, sáp để điều chỉnh thể chất thuốc mỡ
+ Alcol cetostearylic: là hỗn hợp có từ 50 – 70% alcol stearic và 20 – 35% alcol cetylic, nhiệt độ nóng chảy từ 48 – 550C, thường được
Trang 33phối hợp với các tá dược trong nhóm dầu, mỡ, sáp để điều chỉnh thể chất của thuốc mỡ
Các hydrocarbon
− Các hydrocarbon là sản phẩm tinh chế các dư phẩm của dầu mỏ các hydrocarbon no ở thể lỏng, mềm hoặc rắn, không tan trong nước, ít tan trong ethanol, dễ tan trong ether, chloroform, có thể trộn đều với các tá dược dầu, mỡ, sáp
− Ưu điểm:
+ Bền vững về mặt hóa học, không bị các vi cơ, nấm mốc làm hỏng + Có thể phối hợp với nhiều loại dược chất để bào chế thuốc mỡ + Rẻ tiền, dễ kiếm
Vaselin vàng có thể chất dẻo quánh, màu vàng và rất trung tính Vaselin trắng thu được từ vaselin vàng do tẩy màu bằng acid nên không thật trung tính, thể chất mềm, màu trắng như mỡ lợn nhưng dẻo và trong hơn
Trang 34Vaselin có khả năng hòa tan các dược chất thân dầu như tinh dầu, menthol, long não có khả năng phối hợp với nhiều dược chất để điều chế thuốc mỡ Vaselin thường được phối hợp với lanolin khan nước để làm tá dược thuốc mỡ kháng sinh, thuốc mỡ tra mắt
+ Dầu vaselin hay dầu parafin: là hỗn hợp các hydrocarbon no ở thể lỏng, thể chất lỏng sánh như dầu, khối lượng riêng 0,85 – 0,89, không màu, không mùi, không tan trong nước, dễ tan trong các dung môi hữu cơ, dễ trộn đều với các tá dược dầu, mỡ, sáp
Dầu parafin thường được sử dụng làm pha dầu trong các nhũ tương hoặc phối hợp với các tá dược dầu mỡ sáp để điều chỉnh thể tích thuốc mỡ
+ Parafin: là hỗn hợp hydrocarbon no có thể chất rắn, màu trắng, óng ánh, sờ nhờn tay, nhiệt độ nóng chảy 50 – 600C, không tan trong nước, dễ tan trong các dung môi hữu cơ Parafin thường được dùng phối hợp với các tá dược dầu mỡ sáp để điều chỉnh thể chất
Các silicon
− Là các chất trùng hiệp cao phân tử mạch chính được cấu tạo bởi 2 nguyên tố silic và oxy sắp xếp xen kẽ với nhau và các hóa trị còn lại của silic được bão hòa bằng các gốc hữu cơ alkyl hoặc aryl Tính chất phụ thuộc vào bản chất của sự trùng hiệp (mạch thẳng, vòng hoặc nhánh) và bản chất của bản chất gốc thế (metyl, phenyl hoặc kết hợp cả hai) Tùy theo mức độ trùng hiệp (giá trị n) các sản phẩm sẽ có độ nhớt khác nhau và được biểu thị bằng đơn vị độ nhớt cps Đặc tính của các silicon là bền vững với các nhân tố lý hóa như có thể đun nóng ở nhiệt
độ cao mà không bị oxy hóa, độ nhớt không thay đổi và không gây kích ứng hoặc dị ứng với da
Trang 35− Nhờ các đặc tính trên, silicon thường được dùng làm tá dược cho thuốc
mỡ bảo vệ hoặc phối hợp trong thuốc mỡ cần tá dược khan như thuốc
mỡ kháng sinh Cần lưu ý rằng các silicon kích thích niêm mạc mắt nên không dùng làm tá dược cho thuốc mỡ tra mắt
2.2.2.2 Các tá dược thân nước
− Các tá dược thân nước gồm những tá dược có thể hòa tan hoặc trương
nở trong nước tạo hệ gel
+ Không cản trở sự trao đổi bình thường ở chỗ bôi thuốc và môi trường, không gây kích ứng, dị ứng, có tác dụng dịu da và tạo cảm giác dễ chịu, mát mẻ
+ Không có khả năng thấm qua da nhưng thích hợp với da hoặc niêm mạc đã bị tổn thương hoặc da bị mẫn cảm với tá dược béo
+ Không trơn nhờn, dễ rửa sạch bằng nước và xà phòng
Trang 36Vì vậy, trong thành phần tá dược gel thường có các chất bảo quản chống nấm mốc như natri benzoat, nipagin, nipasol và các chất giữ
ẩm như glycerin, sorbitol, propylen glycol
Gel polysaccarid
− Bao gồm các gel chế từ tinh bột, thạch, alginat
− Alginat được chiết từ các loài trong biển, giá thành rẻ nên hay được dùng làm tá dược thuốc mỡ người ta thường sử dụng các alginat kiềm với nồng độ từ 5 – 10% Ví dụ tá dược có thành phần sau:
Natri alginat 5,0 g Glycerin 10,0 g Natri benzoat 0,2 g Nước tinh khiết vđ 100,0 g
Gel carbopol
− Carbopol (carbomer, carboxy vinyl polymer) là sản phẩm trùng hiệp của acid acrylic có công thức tổng quát như sau:
− Là dạng bột màu trắng, ít tan trong nước nhưng trương nở tạo gel, có
pH acid và độ nhớt không cao, khi trung hòa bằng các amin kiềm, các gel này có pH trung tính và độ nhớt cao, có thể chất thích hợp làm tá dược thuốc mỡ Để tạo gel carbopol, có thể dùng với nồng độ từ 1 – 5% Ví dụ thành phần sau:
Carbopol 2,0 g Triethanolamin vđ Glycerin 20,0 g Nipagin 0,2 g Nước tinh khiết vđ 100,0 g
Trang 37Gel dẫn chất của cellulose
− Để làm tá dược thuốc mỡ, người ta sử dụng các dẫn chất của cellulose
có khả năng trương nở tạo gel như metyl cellulose, carboxymetyl cellulose, natri carboxymetyl cellulose, hydroxypropyl metyl cellulose
− Ngoài những ưu điểm chung kể trên, các gel dẫn chất của cellulose còn
có ưu điểm tương đối bền ở nhiệt độ cao khi tiệt khuẩn và có thể điều chỉnh pH bằng hệ đệm, cho nên có thể sử dụng làm tá dược thuốc mỡ tra mắt
− Các dẫn chất của cellulose thường được sử dụng với nồng độ từ 2 – 7%
để làm tá dược thuốc mỡ Ví dụ thành phần tá dược sau:
Metyl cellulose 5,0 g Glycerin 10,0 g Dung dịch thủy ngân phenyl borat 2% 0,5 g Nước cất vđ 100,0 g
Tá dược polyethylenglycol
− Polyethylen glycol (Macrogol, carbowax, PEG) là sản phẩm trùng hiệp của ethylen glycol có công thức sau:
HO – CH2 – [CH2 – O – CH2 - ]n – CH2 – OH
− Tên chất còn kèm theo một con số biểu thị phân tử lượng của nó PEG
có cả 3 dạng lỏng, mềm, rắn tùy phân tử lượng
+ Từ 200 – 700 ở thể lỏng
+ Từ 1000 – 1500 ở thể mềm
+ Từ 2000 – 12000 ở thể rắn
Trang 38− Các PEG thể rắn không màu, không vị, có mùi nhẹ riêng, đồng tan với nước, cồn, aceton, benzen và các glycol, không đồng tan với các ether, dầu béo, các hydrocarbon
− Ưu điểm:
+ Các PEG lỏng có khả năng hòa tan nhiều loại dược chất, kể cả một
số chất không tan trong nước và trong dầu PEG háo ẩm mạnh, có
độ nhớt cao, có khả năng gây thấm, nhũ hóa…PEG được ứng dụng nhiều trong bào chế để làm dung môi cho một số dược chất khó tan, làm chất gây thấm trong các hỗn dịch, làm chất nhũ hóa trong các nhũ tương, làm tá dược tan, rã, trơn, dính trong thuốc viên nén và tá dược trong thuốc mỡ, thuốc đặt…
+ PEG thường được phối hợp giữa chúng với nhau theo nhiều tỷ lệ để
có những hỗn hợp đáp ứng yêu cầu làm tá dược thuốc mỡ Tỷ lệ này còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể về tính chất, số lượng dược chất hoặc với điều kiện thời tiết Khi tỷ lệ dược chất lỏng cao (5 – 20%), có thể thay một tỷ lệ nhỏ (3 – 5%) PEG bằng các alcol béo cao trong các tá dược nhũ tương kiểu D/N để làm tăng chỉ số hút nước, tăng độ bền và dễ rửa sạch
+ PEG giúp dược chất đạt được độ phân tán cao và một số dược chất khi phối hợp với các tá dược này có tác dụng mạnh hơn do được phóng thích nhanh và hoàn toàn hơn
− Nhược điểm:
+ Có thể làm giảm hoạt tính của một số dược chất như phenol và dẫn chất, muối amoni bậc 4, một số kháng sinh (penicillin, bacitracin, neomycin, tetracyclin…), các paraben
+ Do chứa một số tạp chất như các vết kim loại, các peroxyd…nên khi dùng PEG làm tá dược có thể gây tương kỵ làm biến chất một
Trang 39số hoạt chất thường gặp trong thuốc mỡ Vì vậy PEG phải được kiểm tra về giới hạn các tạp chất trước khi đưa vào sản xuất
+ Không có khả năng thấm qua da lành nên mặc dù phóng thích hoạt chất nhanh và hoàn toàn nhưng vẫn không thích hợp để chế thuốc
mỡ hấp thu PEG chỉ thích hợp làm tá dược cho thuốc mỡ tác dụng tại chỗ, vết thương có mủ, vết thương ở nơi nhiều lông tóc và cần
dễ rửa sạch
+ Do tính háo ẩm nên PEG làm khô da vì vậy không nên dùng cho thuốc mỡ trị chàm da, vẩy nến…Có thể khắc phục bằng cách thêm 10% lanolin hoặc 10% nước hoặc 5% alcol cetylic
− Để làm tá dược thuốc mỡ,thường phối hợp các loại PEG theo tỷ lệ khác nhau
PEG 400 600 g PEG 3350 400 g (USP XXVI)
− Để có tác dụng nhũ hóa mạnh, có thể phối hợp PEG với các alcol béo cao hoặc chất nhũ hóa mạnh
PEG 400 47,5 g PEG 4000 47,5 g Alcol cetylic 5,0 g 2.2.2.3 Tá dược nhũ tương
➢ Tá dược nhũ tương khan
− Tá dược nhũ tương khan (tá dược nhũ hóa, tá dược hút, tá dược khan) trong thành phần có pha dầu và chất nhũ hóa thân dầu, có khả năng hút nước và chất lỏng phân cực để tạo thành nhũ tương kiểm N/D
Trang 40− Ưu điểm:
+ Bền vững trong quá trình bảo quản
+ Giải phóng dược chất nhanh
+ Có khả năng thấm sâu
− Nhược điểm:
+ Cản trở sự trao đổi bình thường của da
+ Trơn nhờn, khó rửa sạch bằng nước
− Một số tá dược nhũ tương khan:
+ Lanolin khan nước
+ Tá dược thuốc mỡ tra mắt (Dược điển Anh 1998)
Dầu parafin 100 g Lanolin khan nước 100 g Vaselin 800 g + Tá dược nhũ hóa
Cholesterol 30 g Alcol cetylic 30 g Sáp ong trắng 80 g Vaselin 860 g
➢ Tá dược nhũ tương hoàn chỉnh
− Tá dược nhũ tương hoàn chỉnh là những tá dược trong thành phần có đầy đủ pha dầu, pha nước và chất nhũ hóa, tùy thuộc vào bản chất của chất nhũ hóa ta có tá dược nhũ tương kiểu D/N hay N/D
− Ưu điểm: