1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản hai đứa trẻ, chữ người tử tù trong chương trình ngữ văn 11 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực

84 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Skkn 2023) Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù trong chương trình Ngữ văn 11 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực
Tác giả Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Giang
Trường học Trường THPT Đô Lương
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC HAI VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ, CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ TRONG CHƯƠNG TRÌNH

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC

HAI VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ, CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 NHẰM PHÁT TRIỂN

PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO HỌC SINH

Lĩnh vực: Ngữ văn Nhóm tác giả:

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lí do chọn đề tài……….1

2.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……….2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 2

4 Giả thuyết khoa học……… 2

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu……… 2

6 Phương pháp nghiên cứu……… 3

7 Tính mới của đề tài………4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1: Cơ sở lí luận……….6

1 Lí luận về lí thuyết kiến tạo……….… 6

2 Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học trong nhà trường phù hợp với yêu cầu của thời đại và nền giáo dục hiện đại……… …6

3 Sự phù hợp khi vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học Ngữ văn…….…… 6

4 Lí luận về dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh………7

5 Giới thuyết về văn xuôi lãng mạn 1930-1945……….… 7

Chương 2 Cơ sở thực tiễn……….……….8

1 Thực trạng vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học môn Ngữ văn THPT trên địa bàn Đô Lương hiện nay……….………8

2 Khả năng vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)………8

3 Qui trình vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) theo quan điểm kiến tạo……… 10

Chương III Các giải pháp để vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)……….14

1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở đọc truyện và tái hiện cốt truyện……… ………… 14

1.1 Hướng dẫn HS kiến tạo tri thức trên cơ sở đọc truyện……….14

1.2 Hướng dẫn HS kiến tạo tri thức trên cơ sở tái hiện cốt truyện……….15

1.2.1.Tóm tắt bằng sơ đồ hình ảnh……… 15

1.2.2.Tóm tắt bằng video hoạt họa……… 16

2.Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua hoạt động phân tích ý nghĩa tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật và hệ thống nhân vật……….16

2.1 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích ý nghĩa tình huống truyện……….……….…17

2.2 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích hệ thống nhân

Trang 3

vật……… ….18

2.3 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích hinh tượng nghệ thuật……….18

3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách nhập vai hóa thân vào nhân vật trong truyện………19

3.1 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách đọc phân vai……….20

3.2 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách Diễn kịch……… 20

3.3 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách đóng vai nhân vật để trả lời phỏng vấn……… 21

4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua con đường đồng sáng tạo……….…23

4.1 Đặt câu hỏi mở……… … 23

4.2 Viết tiếp câu chuyện……… 24

4.3 Làm thơ, vẽ tranh, hát nhạc……… 24

5 Giải pháp 5: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua quan sát, chiêm nghiệm và giải quyết vấn đề sáng tạo……….……… 24

6 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất………….….26

6.1 Mục đích khảo sát……….26

6.2 Nội dung và phương pháp khảo sát……… 26

6.3 Đối tượng khảo sát……… ………28

6.4 Kết quả khảo sát……… 28

7.Thực nghiệm sư phạm……… 32

7.1.Mục đích thực nghiệm……… 32

7.3 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm……….……….…32

7.4 Kết quả thực nghiệm……….……… ….32

7.5 Kế hoạch bài dạy thực nghiệm……….35

7.6 Kết quả đánh giá……… 35

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 38

1 Hiệu quả của đề tài……… 38

1.1Phạm vi ứng dụng ……….….…38

1.2 Mức độ vận dụng……….…….38

1.3 Hiệu quả………38

1.4 Phân tích kết quả khảo sát……… 39

2 Tính khoa học……… 39

3 Những kiến nghị đề xuất……… ….39

4 Khả năng mở rộng của đề tài……… 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 4

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ

Trang 6

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn mà ngành giáo dục và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã

nêu lên mục tiêu cụ thể “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng

hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” Để thực hiện tốt mục tiêu

trên cần có nhận thức đúng đắn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này Trong hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam, Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí quan trọng hàng đầu Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung, dạy đọc hiểu văn bản nói riêng theo hướng phát huy chủ thể sáng tạo của học sinh

là nhiệm vụ trọng tâm Dạy học ngữ Văn giúp học sinh bồi dưỡng tâm hồn, phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Như giáo

sư Trần Đình Sử khẳng định: “Bài học tác phẩm văn học không phải là bài để giáo

viên giảng và bình, mà để cho học sinh đọc” và “Dạy học đọc hiểu có nghĩa là dạy học sinh kiến tạo nội dung ý nghĩa bài văn”

Lý thuyết kiến tạo đang là một trong những lý thuyết về dạy học vượt trội được

sử dụng trong giáo dục hiện nay Ở nhiều quốc gia, dạy học theo Lý thuyết kiến tạo

đã trở thành xu hướng tất yếu của đổi mới giáo dục Theo Jeans Piaget: “Quá trình

nhận thức của người học thực chất là quá trình người học xây dựng nên những kiến thức cho bản thân thông qua các hoạt động đồng hoá và điều ứng các kiến thức và

kỹ năng đã có để có thể thích ứng với môi trường học tập Đây chính là nền tảng của lý thuyết kiến tạo” Mục đích của việc dạy học theo quan điểm kiến tạo là giúp

cho học sinh có khả năng chủ động, tự chủ và tự học suốt đời Sự chủ động này thể hiện ở chỗ người học được đặt vào những tình huống học tập mà ở đó họ thấy có khả năng và có nhu cầu giải quyết vấn đề đặt ra và thông qua việc giải quyết tình huống học tập đó, họ kiến tạo nên tri thức mới cho mình

Đối với môn Ngữ văn, yêu cầu đổi mới PPDH trong nhà trường phổ thông càng trở nên cấp thiết bởi đây là một môn học có tính đặc thù Định hướng đổi mới PPDH Ngữ văn cần phải lựa chọn và ứng dụng thích hợp những PPDH hiện đại có ích lợi cao nhất cho bộ môn, cho người học và cho cả người dạy Như vậy, dạy học tác phẩm văn chương (TPVC) trong nhà trường phổ thông hiện nay cũng cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bạn đọc - học sinh Đây là điều tất yếu không những thích ứng với xu thế thời đại mà còn phù hợp với đặc trưng môn học

Hai văn bản Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ là những tác phẩm xuất sắc gắn

liền với tên tuổi hai tác giả Nguyễn Tuân, Thạch Lam và dòng văn học lãng mạn

Trang 7

1930-1945 Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cách tiếp cận hai văn bản này Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận hai văn bản này theo lí thuyết kiến tạo

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng lí

thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù trong

chương trình Ngữ văn 11 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng vận dụng lý thuyết kiến tạo vào việc phát triển phẩm chất, năng lực ở học sinh trong môn Ngữ Văn THPT nói chung và dạy học văn xuôi lãng mạn Việt Nam nói riêng Từ đó đề xuất hướng vận dụng lí

thuyết kiến tạo vào dạy hoc hai văn bản Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ trong chương

trình ngữ văn 11 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực, tăng sự hứng thú cho học sinh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Học sinh lớp 11 và GV giảng dạy Ngữ văn THPT trên địa bàn huyện Đô Lương

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi này thì:

- HS sẽ hứng thú, yêu thích học Ngữ văn, từ đó chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập

- HS sẽ được hình thành, phát triển các phẩm chất năng lực thông qua dạy học hai

văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù khi vận dụng LTKT

- Nhân rộng giải pháp để hướng tới mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh trên địa bàn huyện Đô Lương nói riêng và cả nước nói chung

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận bao gồm: Giới thiệu khái quát về LTKT; DH theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực; văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945

- Khảo sát, đánh giá thực trạng và khả năng vận dụng lí thuyết kiến tạo vào việc dạy

học hai văn bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) - Ngữ

văn 11

Trang 8

- Đề xuất các giải pháp: Xây dựng hệ thống quy trình, biện pháp vận dụng LTKT

vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của những

phương pháp, cách thức vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và

Chữ người tử tù

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dụng: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và sử dụng số liệu thu được

từ việc khảo sát, phân tích thực trạng về việc dạy học bằng LTKT hai văn bản Hai

đứa trẻ và Chữ người tử tù Từ đó, đề xuất một số giải pháp vận dụng LTKT vào

dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm phát triển phẩm chất năng

lực cho HS

- Về không gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai nghiên cứu tại trường THPT Đô Lương 3 và một số trường THPT trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An trong năm học 2022-2023

- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong hai năm học 2021-2022 và 2022-2023

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, khái quát hóa, các thông tin, các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm thiết lập cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về các phẩm chất, năng lực của người học hiện nay

- Nghiên cứu về LTKT

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra theo bảng hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học hai văn bản

Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù

- Phương pháp quan sát các hoạt động của giáo viên, học sinh trong các giờ học, điều kiện dạy và học của giáo viên và học sinh

- Phương pháp phỏng vấn giáo viên và học sinh, các nhà quản lý giáo dục nhằm có được những thông tin về dạy học theo LTKT nhằm làm sáng tỏ những nhận định khách quan của kết quả nghiên cứu

- Nghiên cứu các sản phẩm của giáo viên và học sinh (giáo án, phiếu học tập, )

- Phương pháp thống kê toán học sử dụng để tính toán các tham số đặc trưng, so sánh kết quả thực nghiệm

Trang 9

7 Tính mới của đề tài

Đề xuất vận dụng LTKT vào dạy học môn Ngữ Văn nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đến từng học sinh, phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại và tiệm cận với chương trình giáo dục phổ thông mới

Đề xuất cách tiếp cận hai văn bản bằng LTKT nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh

Đề xuất một hướng đi mới mẻ, tăng hứng thú học tập cho học sinh khi tiếp cận hai văn bản văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930-1945

Qua phiếu điều tra về việc vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và

Chữ người tử tù trên địa bàn huyện Đô Lương, chúng tôi nhận thấy đây là lần đầu

tiên giải pháp này được áp dụng

Trang 10

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Lí luận về lí thuyết kiến tạo

1.1 Nguồn gốc, đặc điểm cốt lõi của LTKT

Lý thuyết kiến tạo (Constructivism) là một thành tựu nghiên cứu tâm lý học về quá trình nhận thức của người học Lí thuyết này được hình thành, bắt nguồn từ tư tưởng về hoạt động nhận thức của J Piaget (1896-1980) một nhà tâm lí học và triết học người Thụy Sỹ Thuyết kiến tạo là một bước phát triển mới trong lịch sử phát triển của tâm lí học giáo dục, nó được hình thành trên cơ sở của sự phát triển từ chủ nghĩa hành vi đến chủ nghĩa nhận thức, và quá trình này được coi là “một cuộc cách mạng của tâm lí học giáo dục” và có ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc cải cách chương trình hiện nay trên thế giới

Nội hàm của LTKT: tri thức là sản phẩm của hoạt động tạo ra bởi chủ thể thông qua trải nghiệm cá nhân – người học kết nối thông tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa với cá nhân đó Luận điểm cơ bản của thuyết kiến tạo là: Con người tự khai sáng cho mình, con người tự làm ra chính mình LTKT đề cao vai trò người học nhưng không coi nhẹ vai trò người dạy Người học tích cực sáng tạo

để kiến tạo mình, người dạy khơi nguồn, định hướng chỉ bảo giáo dục đến người học Sứ mệnh của người dạy là giúp người học khám phá, có năng lực kiến tạo bản thân mình Người dạy tạo ra môi trường, nhu cầu, động lực để người học cọ sát thực

tế những vấn đề mà người học gặp phải, sẽ gặp phải hoặc phải giải quyết để lựa chọn trong quá trình khám phá, kiến tạo

1.2 Các loại kiến tạo trong dạy học Dạy học theo LTKT

1.2.1 Kiến tạo cơ bản (còn gọi là kiến tạo nội sinh)

Kiến tạo cơ bản lấy kinh nghiệm đã có của cá nhân làm nền tảng để hình thành thế giới quan khoa học, đồng thời quan tâm đến quá trình chuyển hóa nhận thức bên trong của mỗi người học Do vậy, trong quá trình dạy học, phải tạo điều kiện cho

HS khai thác vốn kinh nghiệm, kiến thức sẵn có của mình, từ đó các em cảm thấy hứng thú hơn, chủ động hơn trong các hoạt động học tập Thông qua các hoạt động đồng hóa và điều ứng, tri thức mới được hình thành bao gồm cả quá trình kế thừa, phát triển các quan niệm đúng sẵn có đồng thời loại bỏ những quan niệm chưa đúng của người học

1.2.2 Kiến tạo xã hội (còn gọi là kiến tạo ngoại sinh)

TheoVygotsky, việc học của con người không chỉ dừng lại ở quá trình kiến tạo

cơ bản mà đồng thời được thực hiện thông qua sự tương tác, tranh luận trong cộng đồng Bởi vậy, kiến thức được kiến tạo nên đều mang tính xã hội Kiến tạo xã hội

đã nhấn mạnh vai trò của các yếu tố văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức Tương tác xã hội đóng một vai trò quan

Trang 11

trọng trong việc kiến tạo kiến thức, vì vậy việc tăng cường hợp tác, giao tiếp giữa

HS với nhau và với GV là điều kiện để các em tự mình kiến tạo nên kiến thức Điểm mạnh của kiến tạo xã hội là nhấn mạnh đến vai trò các yếu tố xã hội bên ngoài chủ thể nhưng cũng có nhược điểm là chưa đề cao, phát huy vai trò của chủ thể tích cực trong quá trình nhận thức

2 Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học trong nhà trường phù hợp với yêu cầu của thời đại và nền giáo dục hiện đại

Vấn đề cốt lõi, trung tâm của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam là tập trung chuyển mạnh từ giáo dục chủ yếu là truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất và phát triển năng lực người học Những định hướng đổi mới giáo dục của Việt Nam với quan điểm người học là trung tâm và theo tiếp cận năng lực là rất phù hợp với bản chất và những nguyên tắc cơ bản của Thuyết kiến tạo: coi trọng bồi dưỡng cho người học tinh thần sáng tạo, ý thức hợp tác và năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn Vì thế dạy học theo LTKT hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thời đại và thực tiễn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay

3 Sự phù hợp khi vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học Ngữ văn

Môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông, riêng phần văn là các tác phẩm tiêu biểu được tuyển chọn của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, phong phú ở nhiều thể loại, phong cách, trải dài theo từng giai đoạn; và xoay quanh các chủ đề: tình yêu nước, yêu quê hương; tình yêu con người, yêu thiên nhiên và các giá trị văn hóa Bằng phương tiện ngôn từ nghệ thuật, tác phẩm văn học phản ánh diện mạo phong phú của hiện thực mọi thời đại, mọi nền văn hóa, bất chấp không gian, thời gian Chỉ khi người học chủ động sáng tạo hòa cảm vào thế giới nghệ thuật mới hiểu được chân dung thời đại, hay một nền văn hóa, văn minh, một miền quê hương xứ

sở Bởi thế, vận dụng LTKT vào dạy học ngữ văn hoàn toàn phù hợp với đặc trưng

và là yêu cầu cần thiết trong việc thiết kế, tổ chức và sử dụng phương pháp/kĩ thuật dạy học ngữ văn Các chiến lược dạy học phân hóa môn Ngữ văn nhằm phát triển phẩm chất như yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, dũng cảm, trung thực, trách nhiệm… các năng lực như ngôn ngữ, văn học, tự chủ, hợp tác, sáng tạo, tin học ,…

Chương trình Ngữ văn THPT tổng thể cũng qui định các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của học sinh như phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng

về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp

và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống

Vậy dạy học vận dụng LTKT chính là một con đường để dạy học ngữ văn theo định hướng phẩm chất, năng lực

Trang 12

4 Lí luận về dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh

Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người Do vậy, trong mọi thời đại, các chương trình giáo dục được áp dụng, tuy có khác nhau về cấu trúc, phương pháp và nội dung giáo dục nhưng đều hướng tới mục tiêu nhân cách Trong

đó việc hình thành phẩm chất và năng lực con người (đức, tài) được quan tâm nhấn mạnh Qua các thời kỳ với các giai đoạn lịch sử khác nhau, yêu cầu về nhân cách nói chung và phẩm chất, năng lực nói riêng của con người với tư cách là thành viên trong xã hội cũng có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi của thời đại Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục nước ta cũng đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nếu như trước đây giáo dục chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh và giúp người học hình thành

hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì ngày nay, điều đó vẫn còn đúng, còn cần nhưng chưa đủ Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống phẩm chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lỳ, sinh lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học Theo đó, những phát triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người

5 Giới thuyết về văn xuôi lãng mạn 1930-1945

Ở Việt Nam văn xuôi lãng mạn xuất hiện với tư cách như một trào lưu văn học gắn liền tên tuổi của các tác giả thuộc nhóm “Tự lực văn đoàn” như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nhất Linh, Khái Hưng…

Về nội dung: các nhân vật, tình huống hình ảnh được nhà văn sáng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu biểu hiện lí tưởng và tình cảm của tác giả Các nhà văn lãng mạn thường tìm kiếm những giá trị cao đẹp trong những cảnh đời tăm tối, tầm thường; khám phá cái cao cả trong những số phận bị ruồng bỏ, chà đạp Nhân vật của văn xuôi lãng mạn hành động theo sự tưởng tượng chủ quan của nhà văn và trực tiếp thể hiện tư tưởng của tác giả nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc

Về nghệ thuật: Văn học lãng mạn thường sử dụng thủ pháp tương phản, đối lập, thích khoa trương, phóng đại, sử dụng ngôn ngữ giàu sức biểu hiện cảm xúc, giọng văn nhẹ nhàng, cách miêu tả tinh tế từ cảnh vật đến hồn người Cách tạo dựng tình huống truyện đặc sắc, xây dựng nhân vật bằng bút pháp lãng mạn, lí tưởng hóa Miêu

tả tinh tế thế giới nội tâm của nhân vật…

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Thực trạng vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học môn Ngữ văn THPT trên địa bàn huyện Đô Lương hiện nay

Trong năm học 2021-2022, chúng tôi đã tiến hành dự giờ ngẫu nhiên 04 tiết dạy ngữ văn ở 3 khối lớp (10T1, 11T3, 12D4, 12A1) trường THPT Đô Lương 3, Đô Lương , Nghệ An Quá trình dự giờ, chúng tôi đã ghi chép lại tiến trình của các tiết dạy Bên cạnh những nỗ lực cải tiến bài dạy theo định hướng năng lực và áp dụng một số PP/KTDH mới đáng được ghi nhận thì nhìn chung các giờ học văn còn bộc

lộ những hạn chế, tồn tại Một số GV đã cố gắng đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học nhưng định hướng phát triển năng lực và phẩm chất cho HS chưa rõ ràng ở từng hoạt động dạy học Một số GV còn chưa chú trọng phân hóa nội dung bài học để phù hợp với năng lực học, phong cách học của từng nhóm đối tượng khác nhau; chưa phân hóa cách hướng dẫn, cách gợi ý, gợi mở để phù hợp với từng nhóm đối tượng Nói cách khác, GV chưa tạo cơ hội để HS thể hiện sự chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập Trong tiến trình dạy học, HS còn thiên về tái hiện và tiếp thu kiến thức Các năng lực như tự chủ, tự học; năng lực giải quyết vấn

đề và sáng tạo…còn chưa được hình thành rõ nét

Từ thực trạng trên, chúng tôi muốn bước đầu vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản văn xuôi lãng mạn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 11 nhằm tạo hứng thú cho HS vừa hướng tới mục tiêu phát triển các phẩm chất năng lực cho HS

2 Khả năng vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ

(Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

2.1 Thuận lợi

Văn xuôi lãng mạn 1930-1945 được xem là thành tựu nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại với những nét đặc sắc riêng của nó, được kết tinh ở hai tác giả Thạch Lam và Nguyễn Tuân Đây là những tác giả có nhiều cống hiến cho nền văn học

Việt Nam Hai tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù thể hiện rõ phong cách nghệ

thuật của hai tác giả Vì thế khi học hai tác phẩm này sẽ khơi dậy hứng thú, niềm đam mê, sức sáng taọ của HS để phát triển các phẩm chất năng lực

Mặt khác, đối tượng tiếp nhận tác phẩm văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945

là các em học sinh lớp 11, các em đã được cung cấp khá đầy đủ những kĩ năng và tri thức, phương pháp cần thiết cho việc tiếp nhận văn bản văn học tự sự Phần đông các em cũng đã ý thức được điểm mạnh trong học tập của mình thuộc lĩnh vực, hoạt động nào, năng lực gì Đặc biệt, sống trong một môi trường xã hội mới, học sinh có nhiều cơ hội tiếp xúc với lối sống hiện đại nên các em rất năng động, sáng tạo, ưa khám phá, thích tìm tòi sáng tạo, thích thể hiện bản thân

Hệ thống mạng Internet, cơ sở vật chất, kỹ thuật số và công nghệ số ngày càng phát triển cho phép GV và HS có thể dễ dàng khai thác, lựa chọn, xử lí và tạo ra các

tư liệu theo mục tiêu bài học cũng như thiết kế, tổ chức và thực hiện ý tưởng, chẳng

Trang 14

% 6

%

hạn: dạy học dự án, dạy học trải nghiệm,… Việc vận dụng âm nhạc, hội họa/ không gian, sơ đồ tư duy vào dạy học hay kết nối trí thức với đời sống đều trở nên dễ dàng Giáo viên đã ít nhiều quan tâm đến LTKT, đã hiểu về vai trò của lí thuyết này với giáo dục nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng Qua phiếu khảo sát, khi được hỏi

về khả năng vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử

tù? Đã có 90% GV (36/40 người) cho rằng rất có khả năng và có khả năng thành

công

Biểu đồ: Khả năng vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản

Hai đứa trẻ và Chữ người tử

Với những điều kiện thuận lợi về đặc trung bài dạy, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nguồn học liệu phong phú; sự nhanh nhạy nhạy, thích khám phá của HS; đặc biệt là lòng nhiệt huyết, đam mê, sẵn sàng tinh thần đổi mới của GV nên việc vận dụng LTKT vào dạy học ngữ văn hoàn toàn phù hợp Đây cũng là yêu cầu cần thiết trong việc thiết kế, tổ chức và sử dụng phương pháp/kĩ thuật dạy học ngữ văn Nó phù hợp với chiến lược dạy học phân hóa môn Ngữ văn nhằm phát triển phẩm chất như yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, dũng cảm, trung thực, trách nhiệm… các năng lực như ngôn ngữ, văn học, tự chủ, hợp tác, sáng tạo, tin học ,… rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Vậy dạy học vận dụng LTKT chính là một con đường để dạy học ngữ văn theo định hướng phẩm chất, năng lực

2.2 Khó khăn

*Về phía giáo viên:

Hiện nay nền giáo dục nước nhà đang từng bước chuyển mình theo hướng đổi mới tích cực Nhiều GV đã bắt kịp yêu cầu của thời đại để tự hoàn thiện bản thân Tuy nhiên ở một số GV vẫn sử dụng cách dạy học truyền thống, khi dạy học văn bản

tự sự còn thiên về truyền thụ tri thức văn học mà ít gắn với thực tiễn, ít tích hợp kiến thức liên môn, ít cho học sinh trải nghiệm sáng tạo, chủ động lĩnh hội kiến thức Vài năm gần đây, bên cạnh phương pháp thuyết trình GV đã kết hợp một số phương pháp/kĩ thuật dạy học mới như: thảo luận nhóm, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật phòng tranh,… và vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học văn bản tự sự tuy hiệu quả

Trang 15

đang dừng lại ở sinh động hóa tiết dạy và tạo hứng thú cho học sinh Còn việc hướng đến mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực người học khi tiếp cận bài học thì GV chưa đạt được đầy đủ

Cũng qua phiếu khảo sát giáo viên chưa vận dụng LTKT vào hoạt động dạy học văn bản nói chung và dạy học hai văn bản văn xuôi lãng mạn nói riêng là do tâm lí ngại thay đổi, sợ mất thời gian và thiếu mạnh dạn, tự tin Đặc biệt, trong quá trình triển khai thiết kế bài dạy ứng dụng công nghệ số, giáo viên còn gặp khó khăn Bởi hạn chế các kĩ năng như soạn thảo văn bản, PowerPoint, Internet, khai thác học liệu Một

số giáo viên còn nhận thức mơ hồ hoặc lạm dụng công nghệ thông tin, lúng túng khi

sử dụng máy tính và các phần mềm, chưa biết khai thác công nghệ số để hỗ trợ đắc lực vào việc tìm kiếm tài liệu và tổ chức hoạt động dạy học

*Về phía học sinh:

Thói quen học thụ động vẫn còn khá phổ biến Một số các em không quan tâm đến hoạt động tự tìm đến tri thức mà quen nghe, chép và ghi nhớ, tái hiện một cách máy móc, rập khuôn những gì mà giáo viên đã giảng hoặc tài liệu soạn sẵn trên internet Cùng với lối học hành chỉ để đáp ứng yêu cầu thi cử, đã và đang làm mất dần óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến người học thành quen suy nghĩ, diễn đạt bằng ý vay mượn, lời sẵn có nên chưa phát huy và phát triển hết các năng lực, phẩm chất vốn có của HS

Ở nhiều học sinh, khi GV áp dụng phương pháp mới, giao nhiệm vụ học tập làm việc nhóm hoặc tự học thì không tự giác, ỷ lại vào bạn khác, không hợp tác.Thực trạng này gây cản trở việc tổ chức một giờ dạy học văn hiệu quả nói chung và văn

bản Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) nói riêng

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay, tuy còn một số tồn tại ở GV và HS trong giờ DH ngữ văn nhưng chúng tôi nhận ra GV đã

và đang quan tâm tìm hiểu LTKT để vận dụng vào dạy học, nhận ra ưu điểm của con đường dạy học này và đã thử áp dụng ở một số nội dung học Đa số GV thấy tính khả thi khi dạy văn bản văn xuôi lãng mạn theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực Tuy nhiên, rất cần một nền tảng lí luận dạy học khoa học, tiên tiến và hiệu quả làm định hướng để những đổi mới trên thực sự hiệu quả Vận dụng LTKT vào các khâu của quá trình dạy học là một hoạt động thiết thực và hiệu quả trong bối cảnh đổi mới giáo dục trên

3 Qui trình vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ

(Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) theo quan điểm kiến tạo

3.1 Giai đoạn chuẩn bị

Đây là giai đoạn vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành bại của một giờ học Bên cạnh sự chuẩn bị bài dạy của GV là việc chuẩn bị bài học của HS Dựa vào phần Hướng dẫn học bài và Kết quả cần đạt trong sách giáo khoa, GV định hướng việc chuẩn bị học tập của các em Cùng với việc chuẩn bị kiến thức là chuẩn bị tâm

Trang 16

thế giờ học và việc chuẩn bị tâm thế tiếp nhận sẽ được tiếp tục ở phần giới thiệu bài trong hoạt động dạy học

Trong giai đoạn chuẩn bị, GV và HS cần thực hiện một số công việc sau:

* Nhiệm vụ của giáo viên:

- Xác định đúng mục tiêu, nội dung kiến thức trọng tâm của bài học

- Xác định kiến thức và kĩ năng đã có, những thế mạnh của HS liên quan đến nội dung bài học

- Lựa chọn các PPDH và phương tiện dạy học dự kiến dùng trong giờ dạy

- Xây dựng các tình huống dạy học, dự kiến các khả năng có thể xảy ra trong quá trình giải quyết các tình huống dạy học Đây là một điểm quan trọng của việc tổ chức dạy học theo LTKT, nhằm hạn chế được thời gian trên lớp và sẽ khai thác tốt nhất các kiến thức đã có, kiến thức vừa được xây dựng của HS

* Nhiệm vụ của học sinh:

Sự chuẩn bị của HS trong quá trình học tập cũng vô cùng quan trọng: Những yêu cầu HS chuẩn bị được GV đặt ra ở bài học trước Nội dung công việc chuẩn bị của

HS có nhiều mặt, đa dạng: tìm hiểu tác giả, đọc văn bản trong sách giáo khoa, giải thích từ khó; ôn tập, củng cố những kiến thức đã học, thu thập thêm tư liệu liên quan đến nội dung bài học mới, trả lời các câu hỏi theo yêu cầu của GV, HS chuẩn bị bài học cũng là giai đoạn các em bắt đầu chuẩn bị tâm thế, thâm nhập vào tiết học mới Một điều cần lưu ý là khi dạy bài mới, GV cần kiểm tra, đánh giá sự chuẩn bị của HS

3.2 Hoạt động học tập trên lớp

Bước 1 Giới thiệu bài

Giới thiệu bài là một hoạt động tiếp tục tạo tâm thế học tập cho HS và đây cũng là một hoạt động không thể thiếu khi vận dụng LTKT vào dạy học văn xuôi lãng mạn Lời dẫn của GV sẽ cho HS và định hướng được nội dung bài học Do đó, lời dẫn càng sáng tạo, càng độc đáo càng có khả năng kích thích hứng thú và gây sự chú ý cho HS

Bước 2: Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS

GV nên kiểm tra các kiến thức đã có của các em có liên quan đến bài học bằng cách

sử dụng các câu hỏi đã chuẩn bị từ trước Thông thường, nếu có nhiều câu hỏi thì nên in thành các phiếu học tập, yêu cầu HS giải đáp các câu hỏi theo nhóm hoặc cá nhân, sau ít phút GV thu lại và đánh giá nhanh các kết quả thu được Nếu GV chỉ sử dụng một hoặc hai câu hỏi thì có thể đặt câu hỏi đó trước lớp và yêu cầu HS trả lời

GV có thể lựa chọn các hình thức trải nghiệm bằng âm nhạc (HS hát bài Thư pháp khi học Chữ người tử tù), hội hoa (HS vẽ tranh về Bức tranh phố huyện khi học Hai

đưa trẻ), trò chơi ô chữ, viết chữ thư pháp…

Trang 17

Bước 3: Dạy bài mới

Từ cấu trúc nội dung chương trình của phần văn xuôi lãng mạn, chúng tôi chia thành bốn hoạt động như sau để vận dụng linh hoạt, phù hợp các bước lên lớp:

- Hoạt động đọc hiểu phần tiểu dẫn

- Hoạt động đọc hiểu tác phẩm

- Hoạt động luyện tập, rèn kĩ năng

- Hoạt động vận dụng sáng tạo

Cách dạy cụ thể như sau:

* Hoạt động đọc hiểu phần tiểu dẫn:

Để dạy có hiệu quả nhóm bài này, theo tôi nên tiến hành như sau:

-Hệ thống thông tin cơ bản

-Mở rộng, khắc sâu

* Hoạt động đọc hiểu tác phẩm

- Hướng dẫn học sinh phân tích, cảm nhận tác phẩm thông qua việc: Tìm hiểu ý nghĩa nhan đề, tình huống truyện, nhân vật, hình tượng nghệ thuật, sự việc chi tiết đặc sắc Ở bước này, học sinh tiến hành phân tích, xử lí ngữ liệu theo yêu cầu của giáo viên dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập, thảo luận nhóm Trong khâu này, học sinh cần phát huy tính tích cực, tự tìm hiểu, tự phân tích và rút ra nhận xét mang tính cá nhân Với giáo viên không nên chỉ chú ý đến kết quả phân tích, xử lí ngữ liệu mà còn giúp các em hình thành và rèn luyện cách phân tích và xử lí thông tin Tổ chức học sinh trao đổi, thảo luận Giáo viên gọi cá nhân hoặc tổ nhóm trình bày cụ thể kết quả đã tìm hiểu được, đồng thời biện giải cơ sở, con đường đi đến kết quả đó Ở phần này, giáo viên nên khuyến khích động viên các em tranh luận, phản biện về các vấn đề, nội dung mà bạn khác đã nêu ra theo gợi dẫn Vậy nên giáo viên khi đứng trước kết quả lao động của các em cần phải bổ sung điều chỉnh và chốt một cách đầy

đủ, chính xác, ngắn gọn nội dung kiến thức các em cần có trong bài học

- Phương pháp tổ chức DH: dạy học dự án, thảo luận nhóm, trải nghiệm sáng tạo, phát vấn, bình chi tiết, giải quyết vấn đề…

* Hoạt động luyện tập, rèn kĩ năng: Mặc dù trọng tâm của bài học là hình thành

kiến thức, kĩ năng, phát triển phẩm chất năng lực, song giáo viên cũng nên dành một phần thời gian của tiết học để cho học sinh luyện tập về kiến thức và kĩ năng để thực hiện các nhiệm vụ nhằm khắc sâu kiến thức trọng tâm của bài Sản phẩm của hoạt động luyện tập cũng được học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau qua bảng kiểm và phiếu đánh giá theo tiêu chí Giáo viên có thể kết hợp đánh giá và cho điểm với các sản phẩm có chất lượng tốt

Trang 18

- Các phương pháp và kĩ thuật phù hợp là: Kỹ thuật khăn trải bàn, Kĩ thuật trình bày

một phút, lồng ghép trò chơi, vẽ sơ đồ tư duy

* Hoạt động vận dụng

Mục tiêu của hoạt động vận dụng là phát triển năng lực của học sinh thông qua vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn Vì vậy giáo viên cần xác định được các tình huống hợp lí để học sinh phát huy kiến thức đã học để giải quyết một cách chính xác, khoa học

Có hai cách cơ bản để tạo tình huống cho học sinh vận dụng là: vận dụng giải quyết các vấn đề trong học tập (Ví dụ: đọc hiểu một số văn bản của tác giả Nguyễn Tuân và Thạch Lam ); vận dụng giải quyết các tình huống trong cuộc sống (gắn liền với bản thân học sinh; các vấn đề xã hội )

Sản phẩm của hoạt động rất phong phú: có thể là bài văn, đoạn văn, file trình chiếu, tranh vẽ, video, sáng tác theo nhóm hoặc cá nhân Với những chủ đề học tập, sản phẩm có thể là dự án của nhóm hay tập thể lớp

Trang 19

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG LTKT VÀO DẠY HỌC HAI

VĂN BẢN HAI ĐỨA TRẺ VÀ CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở đọc truyện và tái hiện cốt truyện

* Cơ sở giải pháp

Theo quan điểm dạy học kiến tạo, tri thức là do học sinh kiến tạo chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ người khác Để có thể học tập tốt, kiến tạo được tri thức cần thiết khi đọc hiểu tác phẩm truyện, mỗi học sinh cần phải chủ động tiếp cận văn bản truyện trước khi đến lớp Nghĩa là mỗi học sinh cần phải đọc truyện, tái hiện cốt truyện, tóm tắt truyện…để nắm được những vấn đề cơ bản nhất của truyện Học sinh đọc truyện càng kĩ, nắm bắt nội dung câu chuyện tốt thì khả năng kiến tạo

sẽ càng tốt, càng sâu Ngược lại nếu HS không đọc thì các em không có gì để kiến tạo

* Cách thực hiện giải pháp

1.1 Hướng dẫn HS kiến tạo tri thức trên cơ sở đọc truyện

Để thực hiện quá trình kiến tạo tri thức trên cơ sở đọc truyện, GV tiến hành hướng dẫn HS thực hiện các bước đọc truyện tại nhà ở tiết học trước với các bước như sau: -Bước 1: Hướng dẫn HS đọc truyện

GV hướng dẫn HS cách đọc theo quá trình kiến tạo như sau:

+ Đọc nhan đề, dự đoán nội dung

+ Đọc thầm, diễn cảm để cảm nhận giọng điệu của các nhân vật trong truyện, cảm nhận giọng điệu của người kể chuyện đối với các sự kiện được kể

-Bước 2: Kiến tạo tri thức trên cơ sở hoàn thiện bảng sơ đồ KWHL

Nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc truyện trước khi khám phá giá trị của tác phẩm trong tiết dạy học đọc hiểu văn bản tại lớp, GV hướng dẫn HS về nhà đọc truyện và làm sơ đồ học tập theo sơ đồ K-W-H-L của Dona Ogle

Liệt kê những gì bạn đã học về

Sơ đồ bảng kĩ thuật KWHL

Với việc đọc và điền thông tin và bảng sơ đồ này sẽ là những bước đầu tiên giúp HS kiến tạo tri thức nền về tác phẩm truyện sẽ học Đồng thời ta sẽ thấy thứ tự quá trình động não của HS, mỗi một quá trình động não tương ứng với một quá trình kiến tạo

Trang 20

tri thức từ cơ bản đến nâng cao, từ lĩnh hội kiến thức đã có đến làm mới kiến thức cho bản thân

- Kiến tạo tri thức tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) trên cơ sở đọc truyện (Phụ lục

1)

- Kiến tạo tri thức tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) trên cơ sở đọc truyện

Như vậy thông qua việc đọc và lập sơ đồ theo bảng kiểm KWHL đã hình hành

và kiến tạo cho HS những tri thức ban đầu về hai tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người

tử tù HS biết cách đọc, thu nhận những thông tin cơ bản nhất về tác giả, tác phẩm,

đặc trưng thể loại, ghi chép những thông tin cơ bản ấy làm bước nền cho quá trình kiến tạo tri thức ở những bước tiếp theo Với việc áp dụng bảng KWHL này thường xuyên trong hoạt động đọc tác phẩm tại nhà sẽ tạo thành một phương pháp đọc và học tốt cho HS Đồng thời giúp HS phát triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, hình thành và phát triển phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm

1.2 Kiến tạo tri thức dựa trên cơ sở tái hiện cốt truyện

Một trong những yêu cầu cơ bản đối với học sinh sau khi đọc văn bản truyện là phải tái hiện bằng cách tóm tắt được văn bản đó một cách ngắn gọn, đầy đủ Thông thường hoạt động tóm tắt cốt truyện sẽ thực hiện trong bước Hình thành kiến thức mới Để thực hiện việc tóm tắt văn bản có nhiều cách thực hiện khác nhau Cách quen thuộc là GV gọi HS tóm tắt bằng miệng, nhưng bên cạnh đó để thúc đẩy sự sáng tạo, góp phần hình thành các năng lực, phẩm chất tốt cho HS, GV có thể áp dụng các hình thức tóm tắt cốt truyện như sau:

+ Sơ đồ hình ảnh này có hai cách để thực hiện:

Một là sơ đồ vẽ bằng tay vào bảng phụ

Hai là thiết kế các slide và trình chiếu hình ảnh đã vẽ

-Bước 3: Thực hiện tóm tắt cốt truyện trong giới hạn dung lượng thời gian cho phép tại lớp (Phụ lục 2)

Trang 21

Link video HS lớp 11D5 tóm tắt tác phẩm Chữ người tử tù bằng sơ đồ hình ảnh trên bảng phụ: https://youtu.be/xj50REe6SAs (Phụ lục 2)

1.2.2 Tóm tắt bằng video hoạt họa

Đây là hoạt động đòi hỏi người học phải biết cách sưu tầm các video hoạt họa

về nội dung cốt truyện, biết cách edit lại để phù hợp với dung muốn chuyển tải và giới hạn thời gian theo yêu cầu cầu của GV, hoặc tập hợp những HS có kĩ năng sử dụng tốt các phần mềm đồ họa để thiết kế video

Trên thực tế hoạt động này khá mất thời gian và đòi hỏi HS phải có kĩ năng sử dụng tốt công nghệ thông tin mới có thể hoàn thành tốt sản phẩm Tuy nhiên hoạt động này có tính kiến tạo tri thức cao cho HS thông qua việc các em biết sử dụng những kiến thức cũ để làm mới nó trong sản phẩm của mình

Các bước thực hiện:

- Bước 1: GV giao nhiệm vụ tiết học trước

- Bước 2: Đọc truyện, nắm rõ cốt truyện

- Bước 3: Sưu tầm, edit, thiết kế video

- Bước 4: Thiết kế nội dung phù hợp với video

- Bước 5: Trình bày sản phẩm tóm tắt truyện bằng video hoạt họa (Phụ lục 2) + Trình chiếu video

+ Học sinh tóm tắt truyện theo hình ảnh trên video Link video: https://youtu.be./aVyPljp3VXg

Như vậy với dạy học kiến tạo, việc đọc truyện, tóm tắt cốt truyện của HS vô cùng quan trọng, giúp HS tiếp cận và kiến tạo nội dung của văn bản nhanh chóng và dễ dàng hơn, rút ngắn quá trình chinh phục trí thức Bên cạnh đó với việc hực hiện các nhiệm vụ học tập như vẽ sơ đồ cốt truyện, tóm tắt truyện và đẩy lên kênh youtube

để chia sẻ kinh nghiệm học tập đã phát huy tối đa sự chủ động sáng tạo trong học tập của HS, đây là yếu tố cốt lõi của LTKT Bên cạnh đó còn giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực công nghệ, hình thành các phẩm chất như chăm chỉ, trách nhiệm Đây cũng chính là mục tiêu mà giáo dục hướng tới

2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua hoạt động phân tích ý nghĩa tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật và hệ thống nhân vật

* Cơ sở của giải pháp

Tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật và hệ thống nhân vật là những yếu tố then chốt để cấu tạo nên giá trị một tác phẩm truyện Thực tiễn dạy học cho thấy một

số HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của các yếu tố này Một số em chưa có kiến thức lí luận về tình huống truyện, hình tượng nhân vật hay hình tượng nghệ thuật, hoặc các em chưa có phương pháp để tiếp cận cũng như khám phá giá trị của

Trang 22

các yếu tố đó Bởi vậy theo chu trình kiến tạo tri thức cho HS đây là hoạt động vô cùng quan trọng cần pải có trong việc vận dụng LTKT vào dạy học

* Cách thực hiện giải pháp

2.1 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích ý nghĩa tình huống truyện

2.1.1 Khái niệm, vai trò tình huống truyện trong kiến tạo tri thức cho HS

- Tình huống truyện là sự kiện, là hoàn cảnh, tình thế của câu chuyện Tình huống này chứa đựng những mâu thuẫn, bất thường, thậm chí là nghịch lý trong cuộc sống của nhân vật

- Tình huống truyện đóng vai trò vô cùng quan trọng Đối với cốt truyện, tình huống góp phần thúc đẩy cốt truyện phát triển, tạo kịch tính Không chỉ vậy, đối với nhân vật, tình huống này còn thể hiện tính cách, tâm lí nhân vật một cách rõ nét, chân thật nhất

2.1.2 Các bước kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích tình huống truyện

GV hướng dẫn HS kiến tạo bằng cách tiếp cận tình huống truyện

* Bước 1: Xác định tình huống truyện

Khi đọc hiểu truyện ngắn Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân GV phải định hướng cho HS tìm hiểu tình huống truyện của truyện ngắn này là cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục tại chốn ngục tù

*Bước 2: Phân tích tình huống truyện

GV kiến tạo tri thức để HS biết cách phân tích tình huống truyện bằng những câu hỏi như sau:

-Huấn Cao và quản ngục gặp nhau trong hoàn cảnh nào?

-Xét trên bình diện xã hội và bình diện nghệ thuật cuộc gặp gỡ ấy có điều gì đặc biệt?

-Qua cuộc hạnh ngộ đầy đặc biệt này mỗi nhân vật đã bộc lộ những tính cách, phẩm chất gì?

-Tình huống truyện này có tác dụng gì trong việc thúc đẩy sự phát triển của câu chuyện?

*Bước 3: Rút ra ý nghĩa tình huống truyện

Để kiến tạo tri thức cho HS gv đặt câu hỏi :

-Qua tình huống này tác giả gửi gắm thông điệp gì?

-Tình huống truyện góp phần thể hiện tu tưởng, chủ đề của tác phẩm ra sao?

Trang 23

– Thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm:

+ Khẳng định sự bất tử của cái đẹp, sự tất thắng của cái chân, cái thiện, cái mĩ trong cuộc đối đầu với những gì xấu xa, tăm tối, độc ác

+ Thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua tình huống truyện là thông điệp

về sức mạnh cảm hóa kì diệu của nghệ thuật, của cái đẹp “Cái đẹp cứu rỗi nhân loại”.- Thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: một người nghệ sĩ tài hoa, đầy cá tính, luôn tìm tòi, khám phá cái đẹp, cái đẹp độc đáo, phi thường nhưng vẫn mang giá trị nhân văn sâu sắc

+ Tình huống ấy chứa đựng một quan niệm sâu sắc: Cái đẹp là bất diệt Dù thực tại

có hắc ám, tăm tối và bế tắc đến đâu cũng không tiêu diệt được cái Đẹp Nó mãi mãi

là một lí tưởng nhân văn cao cả của cõi người này

+ Tình huống như thế cũng chứa đựng một niềm tin mãnh liệt rằng: Cái đẹp cứu vớt con người Cái đẹp sẽ làm cho cuộc đời này trong sáng hơn, cái Đẹp dẫn dắt con người hướng heo ánh sáng của nó…

- Góp phần thể hiện tính cách nhân vật

- Thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật cả nhà văn

2.2 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích hệ thống nhân vật (Phụ lục 4)

Để HS có thể kiến tạo tri thức của tác phẩm từ phương diện nhân vật, GV có thể linh hoạt trong việc sử dụng PPDH, KTDH như thảo luận nhóm, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án, kĩ thuật khăn trải bàn…

Các bước tiến hành dạy học :

-Xác định các sự việc, chi tiết liên quan đến nhân vật

-Phân tích sự việc, chi tiết

-Nghệ thuật xây dựng nhân vật

-Nhận xét tính cách, phẩm chất của nhân vật

Trong thực tiễn dạy học, mỗi nhân vật có những cách khai thác riêng như nhân vật Huấn Cao trên phương diện phẩm chất, nhân vật Liên tâm trạng…tùy vào đặc điểm nhân vât GV có cách hướng dẫn HS cách khai thác cho phù hợp

2.3 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân tích hinh tượng nghệ thuật (Phụ lục 4)

Các bước kiến tạo ý nghĩa văn bản qua hình tượng nghệ thuật

-Bước 1: GV gợi dẫn cho HS phát hiện hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm

GV đặt câu hỏi: Xác định hình tượng nghệ thuật trong văn bản

Trang 24

HS xác định hình tượng nghệ thuật là bức tranh phố huyện được khác họa qua ba thời điểm : chiều tàn, đêm xuống, đêm khuya

- Bước 2: Phân tích đặc điểm, ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật

GV tổ chức hoạt động tìm hiểu đặc điểm, ý nghĩa bức tranh phố huyện bằng các PP như :

+ Sử dụng phương pháp phát vấn, đàm thoại để kiến tạo tri thức về văn bản thông qua hình tượng nghệ thuật GV kiến tạo tri thức cho HS thông qua các câu hỏi:

- Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn được khắc họa qua những phương diện nào?

- Em có nhận xét gì về hình ảnh những đứa trẻ con nhà nghèo? Qua đó bước đầu cho

em cảm nhận gì về cuộc sống của người dân phố huyện trước cách mạng tháng tám?

- Hinh ảnh ánh sáng và bóng tối có tương quan như thế nào?

- Khi tàu đến phố huyện thay đổi như thế nào?

+ Tổ chức hoạt động nhóm: GV chia nhóm và phân công nhiệm vụ phù hợp (Phụ lục 4)

Khi tìm hiểu bức tranh phố huyện lúc chiều tàn, GV chia lớp làm bốn nhóm nhó Nhóm 1: Thiên nhiên

Nhóm 2: Phiên chợ tàn

Nhóm 3: Con người

Nhóm 4: Đánh giá ý nghĩa, nghệ thuật xây dựng.hình tượng

Khi tìm hiểu bức tranh phố huyện lúc đêm tối, GV chia lớp làm ba nhóm

Nhóm 1: Tìm hiểu yếu tố ánh sáng, bóng tối

Nhóm 2: Tìm hiểu yếu tố cuộc sống mưu sinh của con người

Nhóm 3: Đánh giá ý nghĩa, nghệ thuật xây dựng hình tượng

Khi tìm hiểu bức tranh phố huyện lúc đêm khuya , GV chia lớp làm ba nhóm

Nhóm 1: Phố huyện lúc tàu đến

Nhóm 2: Phố huyện lúc tàu đi

Nhóm 3: Đánh giá ý nghĩa, nghệ thuật xây dựng hình tượng

3 Giải pháp 3 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách nhập vai hóa thân vào nhân vật trong truyện

* Cơ sở của giải pháp

Khi kiến tạo với tư cách là người quan sát, chứng kiến, mối HS sẽ có những nhìn nhận, đánh giá khách quan về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, giúp các

Trang 25

em nắm vững kiến thức cần thiết và phần nào bộc lộ năng lưc của bản thân Song như vậy vẫn là chưa đủ đối với việc dọc hiểu truyện ngắn nói chung và hai tác phẩm Chữ Người tử tù , Hai đứa trẻ nói riêng Phải khi các em thực sự nhập vai, nghĩa là

tự hóa thân vào nhân vật, trải qua những tình huống của nhân vật thì lúc đó các em mới có thể hiểu sâu sắc hơn về nhân vật, về tác phẩm và tự bộc lộ tư tưởng, tình cảm cũng như quan điểm, cách nhìn nhận của bản thân mình Vì vậy trong quá trình dạy học theo quan điểm lý thuyết kiến tạo mối GV cần dẫn dắt HS nhập vai, hóa thân vào các nhân vật để các em tự xử lý theo cách của mình

+ Bước 1: GV chọn những HS có chất giọng truyền cảm, phù hợp với từng nhân vật

để đọc lời dẫn chuyện và đọc phân vai

+ Bước 2: GV hướng dẫn cho từng HS cách đọc sao cho phù hợp với nhân vật mà mình nhập vai

+ Bước 3: HS thực hiện nhiệm vụ đọc phân vai

Yếu tố quyết định đến sự thành công của phương pháp này chính là khả năng nhập vai của học sinh đến đâu! Ngoài chất giọng vốn có, học sinh phải tìm hiểu kĩ về nhân vật mà mình sẽ nhập vai (và cả những nhân vật khác) Sau đó dành thời gian tập luyện để đảm bảo đọc trôi chảy, chính xác, diễn cảm thể hiện một cách tốt nhất tính cách cũng như những trạng thái tâm lí của nhân vật Ở hoạt động này, không đòi hỏi học sinh phải như những diễn viên thực thụ nhưng người nhập vai phải có sự hoá thân vào nhân vật ở một mức độ nào đó Đặc biệt, phải chú ý đến giọng điệu sao cho phù hợp với nhân vật

3.2 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách Diễn kịch (Phụ lục 5)

Các bước thực hiện Sân khấu hóa tác phẩm tác phẩm

- Bước 1: Lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm học sinh trong lớp thực hiện

- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Theo nhiệm vụ được phân công, các em thực hiện công việc như xây dựng kịch bản, học lời thoại, cách diễn xuất, thiết kế trang phục Trong quá trình đó giáo viên cần theo dõi sát sao, kiểm tra và giúp đỡ kịp thời, giải quyết những vướng mắc để hoàn thành tốt nhiệm vụ

-Bước 3:Thu thập kết quả, đánh giá sản phẩm

Trang 26

+ Tổ chức cho học sinh báo cáo sản phẩm

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

Khi thực hiện sân khấu hóa tác phẩm văn học, cần chú ý cho học sinh những vấn đề sau như sau:

- Phải đọc kĩ tác phẩm để nắm chi tiết nội dung, nghệ thuật tác phẩm

- Trên cơ sở tôn trọng giá trị nội dung tác phẩm, các em xây dựng lại kịch bản theo cảm nhận của mình

- Thực hiện các công đoạn chuẩn bị: làm đạo cụ, trang phục, học lời thoại kịch bản

3.3 Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách đóng vai nhân vật để trả lời phỏng vấn (Phụ lục 6)

Hoạt động này gồm các bước như sau:

-Bước 1: GV nêu tình huống có vấn đề mang tính giả định

Yêu cầu của tình huống này phải là tình huống có vấn đề và mang tính thử thách

HS phải đặt mình vào nhân vật, đặt mình vào trong ngữ cảnh cụ thể tại ngay thời điểm xảy ra tình huống

-Bước 2: HS giải quyết tình huống

Để giải quyết tình huống, HS phải đưa ra các lý lẽ, có thể liên hệ với các tình huống xảy ra tương tự trong thực tiễn cuộc sống để chứng minh cho cách giải quyết tình huống của mình là hợp lý và đúng đắn

-Bước 3: HS- GV thảo luận và chốt kiến thức

HS có thể đưa ra nhiều cách giải quyết tình huống khác nhau Trong trường hợp này

GV cần cho HS thảo luận, phản biện, và đưa ra ý kiến đánh giá của cá nhân bằng phiếu màu để thể hiện quan điểm nhận thức riêng của các nhân Sau đó GV chốt ý bằng cách đưa ra phương án giải quyết tình huống tối ưu nhất

Khi dạy học truyện Chữ người tử tù GV nêu tình huống: Nếu em là quản ngục trong hoàn cảnh đã đỗi đãi rất tử tể với Huấn Cao, nhưng vẫn bị Huấn Cao là một

kẻ tử tù tỏ thái độ khinh bạc, coi thường em sẽ xử lý như thế nào?

Với tình huống này có thể sẽ có hai luồng ý kiến:

+ Sẽ không hạ mình, không đối đãi tử tế nữa vì đã đỗi đãi tử tế rồi nhưng vẫn bị khinh bạc coi thường và không biết quý trọng tình cảm của quản ngục dành cho Huấn Cao

+ Vẫn tiếp tục đối đãi tử tế với Huấn Cao vì xuất phát từ sự tôn trọng và ngưỡng vọng với tài năng của Huấn Cao chứ không chỉ vì riêng mục đích xin chữ

Trang 27

GV cho HS thảo luận lấy ý kiến bằng phiếu đánh giá (màu vàng: đồng ý với ý kiến thứ nhất, màu xanh: đồng ý với ý kiến thứ hai) Thông qua số lượng phiếu là kênh thông tin để Gv nắm bắt được suy nghĩ cũng như tư duy của HS về một tình huống khi HS được nhập vai vào nhân vật để trả lời câu hỏi phỏng vấn Từ đó có những định huớng đúng đắn cho HS khi gặp một tình huống tương tự trong thực tiễn cuộc sống

Với tình huống này GV định hướng: Trong thực tiễn cuộc sống cũng không ít những người sẽ từ bỏ việc đối đãi tốt với người không biết trân trọng tình cảm của mình Nhưng với quản ngục xuất phát từ sự tôn trọng ngưỡng mộ tài năng của Huấn Cao chứ không chỉ vì mục đích xin chữ, nên dù bị coi thường và khinh bạc nhưng ông vẫn không thấy bị tổn thương hay tức giận Từ đó ta có thể rút ra được bài học trong cuộc sống phải biết kiên trì, nhẫn nại, biết cách làm chủ cảm xúc bản thân trong một

số trường hợp khi bị người khác hiểu sai về mình Bên cạnh đó phải biết trân trọng những người có tài, biết trân quý những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống

Khi dạy học văn bản Hai đứa trẻ, GV nếu tình huống: Nếu em là Liên mỗi khi bà

cụ Thi điên đến mua rươu, em có bán cho bà cụ nữa không?

HS có thể sẽ đưa ra các phương án trả lời:

+ Vẫn bán cho bà cụ, vì bà cụ không bình thường nên Liên sợ

+ Không bán cho bà cụ, vì sợ bà không có tiền để trả

+ Vẫn bán vì Liên thương bà, thương cho kiếp người tàn

GV cho HS thảo luận bày tỏ ý kiến bằng phiếu đánh giá (ý kiến một: màu hồng, ý kiến hai: màu vàng, ý kiến ba: màu xanh)

GV định hướng, chốt ý: Trong tình huống này, thực tế sẽ có thể xảy ra cả ba phương

án như trên Nhưng đối với Liên ta hiểu tại sao Liên hơi sợ bà cụ, và dù bà cụ có thể

sẽ không trả đủ số tiền so với một cút rượu đầy mà Liên rót cho bà Nhưng ta có thể thấy hành động này xuất phát từ tấm lòng nhân hậu và đầy sự trắc ẩn của Liên, chị thương cho nhưng x kiếp người tàn như bà cụ Thi, nên chị không tính toán lời lãi Như vậy qua phương pháp nêu tình huống, HS được trải nghiệm bản thân vào nhân vật đã giúp các em hiểu rõ hơn về nhân vật, bày tỏ quan điểm cá nhân và tích lũy được những bài học quý giá cho bản thân Đồng thời bằng cách vận dụng LTKT với hai quá trình đồng hóa và điều ứng đã khai thác triệt để những kiến thức vốn có của HS về các nhân vật trong tác phẩm cũng như kinh nghiệm trong thực tiễn cuộc sống để làm mới nó, giúp HS kiến tạo thêm những tri thức mới, vận dụng để giải quyết các tình huống thực tiễn một cách khả thi hơn Phát triển tốt các năng lực như: năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết tình huống Hình thành và phát triển các phẩm chất: thật thà, nhân ái Đó chính là mục tiêu của việc vận dụng LTKT vào dạy học

Trang 28

4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua con đường đồng sáng tạo (Phụ lục 7)

* Cơ sở của giải pháp:

Hiện nay, thực trạng văn mẫu như một hòn đá tảng làm cản trở và triệt tiêu sự sáng tạo của thầy và trò tồn tại trong mọi cấp học Đã đến lúc cần phải nhìn nhận lại nguyên do, và tìm ra giải pháp để trả môn Ngữ văn trở về đúng sứ mệnh và thiên chức của mình

Nhà văn sáng tạo tác phẩm bao giờ cũng gửi gắm đến bạn đọc một thông điệp, một nhân sinh quan, “một bài học về trông nhìn và thưởng thức” Tiếp nhận văn học đòi hỏi độc giả với những tầm đón nhận khác nhau sẽ lấp đầy những khoảng trống, khoảng trắng mà nhà văn trao gửi Bởi vậy, cũng như vô số những bạn đọc văn thông thường, mỗi học sinh khi tiếp cận một văn bản cũng đang thưởng thức nó với tư cách

là một độc giả thực thụ, lần đầu đến với chỉnh thể nghệ thuật – đứa “con đẻ tinh thần” của nhà văn

Tiếp cận tác phẩm văn chương cũng là một quá trình như thưởng thức một bản nhạc hay một bức họa vậy Người đọc phải thực sự rung cảm trước nó, thấy nó đẹp,

nó hay, cần dụng công, dụng tâm để kiếm tìm khám phá đánh thức những rung động thẩm mỹ với tác phẩm nghệ thuật ngôn từ của nhà văn.Bởi vậy, người thầy giáo tài năng bắt buộc phải khơi gợi và nuôi dưỡng được tình yêu văn chương, đánh thức được vai trò “độc giả sáng tạo” của người học, đem đến một cách tiếp cận riêng, một hướng lí giải riêng, một lối nhỏ đi vào tác phẩm văn chương bằng “đôi mắt” riêng của học trò chứ không thể quy chụp hay đồng phục với mẫu số chung, áp đặt kiến thức từ người dạy sang người học

* Cách thức thực hiện giải pháp:

4.1 Đặt câu hỏi mở

Sau bước bắt buộc học trò đọc để hiểu và nắm bắt nội dung, trong giờ học mỗi giáo viên cần đặt ra được nhiều câu hỏi gợi mở, kích thích năng lực tư duy độc lập và sáng tạo ở mỗi học trò Một câu hỏi luôn được mỗi giáo viên đặt ra khi học sinh đọc xong tác phẩm đó là: Em có ấn tượng với tác phẩm không? Em thích nhân vật nào?

Em thấy đồng cảm với tác giả ở đoạn nào nhất? Có thể cắt nghĩa và nêu lí do cho các bạn được biết? Với những câu hỏi mở như vậy, mỗi học sinh sẽ có một câu trả lời khác nhau Lớp học lúc này sẽ trở thành một không gian mở để thầy và trò được đối thoại dân chủ Ngoài những câu hỏi mở ở dạng sơ khai, mỗi giáo viên trong và sau quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm cũng cần nâng độ khó của các câu hỏi lên để giúp các em nắm bắt sâu hơn về thông điệp tác phẩm và có những liên

hệ với thực tiễn đời sống

Ví dụ:

Sau tiết học Chữ người tử tù:

Trang 29

+ Học sinh nêu suy nghĩ của mình về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong

xã hội ngày nay

+ Về ý thức bảo tồn và phát huy vẻ đẹp văn hóa truyền thống…

+ Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân có mâu thuẫn với bài ca dao “Trong đầm

gì đẹp bằng sen ” không? Vì sao?

Hoặc ở tác phẩm Hai đưa trẻ GV yêu cầu HS viết đoạn văn nghị luận về vấn đề sau:

+ Hãy viết đoạn văn bàn luận về câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

+ Hãy lắng nghe lời tâm sự của nhà văn Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ:

“Chừng ấy người trong bóng tối đang mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống

hằng ngày của họ”

Từ đó, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của mình về ước mơ của con người trong cuộc sống

4.2 Viết tiếp câu chuyện

Cùng với vai trò là người hướng dẫn trong quá trình đọc hiểu, giáo viên còn phải là người đóng vai trò then chốt định hướng trong việc giúp học sinh tạo lập văn bản khi yêu cầu HS viết tiếp câu chuyện:

Ví dụ: Hãy viết tiếp câu chuyện hoặc viết lại một kết thúc khác so với sách giáo khoa

sau khi học xong 2 tác phẩm Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ Với dạng bài tập này,

HS được thể hiện năng lực sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn chương, kỹ năng tạo lập văn bản

4.3 Làm thơ, vẽ tranh, hát nhạc

Học văn không chỉ tiếp nhận kiến thức đóng khung trong văn bản mà hơn thế, văn bản trở thành chất liệu để HS thỏa sức đam mê, khả năng sáng tạo, phát huy hết năng khiếu, thế mạnh của mình Có thể xem xét những hoạt động như vẽ tranh, làm thơ, hát nhạc về đề tài mà tác phẩm vừa học đặt ra Với hình thức dạy học này sẽ thu hút các HS có khuynh hướng về âm nhạc, hội họa, thơ ca như cho các em viết một bản nhạc rap liên quan bài học hoặc tạo sự kết nối giữa âm nhạc và những nội dung bạn dạy cho học sinh Hãy cho học sinh phát từng bản nhạc đồng thời HS phải đưa ra lý

do tại sao lại chọn bản nhạc đó Việc này sẽ thu hút sự quan tâm của HS - lứa tuổi trẻ trung, năng động đồng thời vẫn cho phép GV kiểm tra mức độ hiểu bài của các

em Với phương pháp dạy này, HS sẽ cảm thấy thích thú với môn học hơn, từ đó kích thích sáng tạo những bản thu âm hay các thiết bị phát âm thanh (Phụ lục 8)

5 Giải pháp 5: Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua quan sát, chiêm nghiệm và giải quyết vấn đề sáng tạo

* Cơ sở của giải pháp

Trang 30

Trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn được hiểu là quan sát, nếm trải và chiêm nghiệm vận dụng những đơn vị kiến thức trong môn Ngữ văn vào thực tế, sau đó để học sinh tự trải nghiệm, rút ra kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Từ đó, học sinh được kích thích tính chủ động, sáng tạo tiếp cận kiến thức

và tăng niềm yêu thích với môn học Ai cũng hiểu năng lực để mỗi con người vào đời không chỉ bó hẹp trong yêu cầu ghi nhớ, tích lũy kiến thức mà còn để phân tích sâu, vận dụng sáng tạo trong công việc và để sống tốt hơn Môn Ngữ văn, trong ý

nghĩa văn là đời càng cần vậy Học Ngữ văn hiện nay không còn chủ yếu là đi vào

khai thác cái hay cái đẹp của ngôn từ, của hình tượng nghệ thuật, mà còn để cái hay cái đẹp ấy giúp học sinh có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tốt, sống tích cực, nhân văn Bởi nó rèn luyện năng lực ngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn chương…Trải nghiệm với mục tiêu phát triển, phẩm chất năng lực làm cho hoạt động trải nghiệm thành đường đi có đích Học thực tế sẽ đem đến cho học sinh sự hứng thú học tập Ở đó, người thầy bớt lối cảm thụ văn hộ trò rồi tiến hành đọc - chép Mở không gian học tập mới ở ngoài lớp, ngoài trường đã tạo ra sự “đổi gió” Đó là đáp ứng nhu cầu

chính đáng “Trăm nghe không bằng một thấy”.Khi được tham gia tìm, xây dựng nội

dung học, trò sẽ nhớ lâu và quý kiến thức hơn

*Cách thức thực hiện biện pháp:

Các bước tổ chức DH trải nghiệm sáng tạo:

- GV lên kế hoạch, giao nhiệm vụ học tập cho học sinh

- Học sinh trải nghiệm, thực hiện nhiệm vụ học tập

- Học sinh trình bày, thảo luận sản phẩm sau trải nghiệm

Các hình thức dạy học trải nghiệm sáng tạo khi dạy học hai tác phẩm Hai đứa trẻ

và Chữ người tử tù:

+ Tổ chức phiên tòa giả định để xem xét Huấn Cao có tội hay không? (Phụ lục 9) + Tổ chức cuộc thi hùng biện, viết thư pháp…kích thích trí tưởng tượng và óc sáng tạo của học sinh vừa khắc sâu hơn về nhân vật, tác phẩm Các kiến thức như cốt truyện, hình tượng nhân vật, giá trị hiện thực và nhân đạo được các em tiếp thu dễ dàng, sâu sắc

Ví dụ: các tổ trong lớp sẽ thi vẽ về bức tranh phố huyện qua ba thời khắc: chiều tàn, đêm xuống và về khuya hoặc vẽ cảnh cho chữ

+ Tổ chức diễn đàn, tranh biện để học sinh chia sẻ quan điểm của mình

+ Tổ chức giới thiệu, đọc sách liên quan đến tác giả, tác phẩm đang được học

+ Hoạt động phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

+ Ứng dụng công nghệ vào sáng tạo môn Ngữ văn: Đây vừa là thế mạnh vừa là sở thích của học sinh ngày nay Giáo viên có thể cho học sinh thiết kế các trò chơi trên

Trang 31

các nền tảng công nghệ, tạo ra các video sinh động về các nhân vật của tác phẩm, vẽ truyện tranh chuyển thể từ tác phẩm văn học…

Như vậy các giải pháp đề xuất ở trên được thực hiện theo đúng chuỗi logic của các bước kiến tạo theo nguyên tắc vận dụng LTKT Các giải pháp này được thực hiện dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, đảm bảo sự phù hợp với đối tượng dạy học và điều kiện thực tế tại địa phương Đồng thời giữa các giải pháp có mối quan

hệ tương trợ lẫn nhau, tiến hành đồng bộ, vận dụng một cách có hiệu quả vào quá trình dạy học Trong quá trình thực hiện cần linh hoạt trong sự vận dụng các giải pháp để phù hợp với từng đối tư

6 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất (Phụ lục 8) 6.1 Mục đích khảo sát

Thông qua khảo sát nhằm khẳng định sự cấp thiết và tính khả thi của các giải

pháp vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm

phát triển phẩm chất năng lực cho HS để từ đó hoàn thiện các giải pháp cho phù hợp với thực tiễn

6.2 Nội dung và phương pháp khảo sát

6.2.1.Nội dung khảo sát

Để tiến hành khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất, chúng tôi xây dựng phần trưng cầu ý kiến theo hai tiêu chí: Tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp nâng cao kĩ năng kiểm soát cảm xúc cho giáo viên trong công tác giảng dạy Ngữ văn

Thực hiện đánh giá các tiêu chí theo 4 mức độ từ cao đến thấp và được lượng hóa bằng điểm số:

+ Tính cấp thiết: Rất cấp thiết (4 điểm); Cấp thiết ( 3 điểm); Ít cấp thiết ( 2 điểm); Không cấp thiết ( 1 điểm)

+ Tính khả thi: Rất khả thi ( 4 điểm); Khả thi ( 3 điểm); Ít khả thi ( 2 điểm); Không khả thi ( 1 điểm)

Sau khi nhận kết quả thu được, chúng tôi tiến hành phân tích, xử lý số liệu trên bảng thống kê, tính tổng điểm (∑) và điểm trung bình (�) của các trường đã được khảo sát sau đó xếp theo thứ tự bậc để nhận xét, đánh giá và rút ra kết luận

+ Thời gian tiến hành từ tháng 11/2022 đến hết tháng 03/2023

6.2.2 Phương pháp khảo sát và thang đánh giá

Trao đổi bằng bảng hỏi với thang đánh giá 04 mức ( tương ứng với điểm số từ

1 đến 4):

Không cần thiết, Ít cần thiết, Cần thiết và Rất cần thiết Không khả thi, Ít khả thi, Khả thi và Rất khả thi

Trang 32

* Tính điểm trung bình theo phần mềm Excel

6.3 Đối tượng khảo sát

Nhằm khẳng định tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất trên chúng tôi

đã tiến hành khảo sát, lấy phiểu trưng cầu ý kiến các giải pháp của đề tài với 40 đối tượng là giáo viên giàu kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy tại các trường trên địa bàn huyện Đô Lương bằng phiếu trả lời trắc nghiệm online trên Google Forms, qua

2 đường link: https://forms.gle/nbGBhsKgmHr3LLgr5

Bảng 1: Tổng hợp các đối tượng khảo sát

6.4 Kết quả: Khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm

phát triển phẩm chất năng lực cho HS

6.4.1 Sự cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất

Bảng 2: Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các giải pháp

Ít cấp thiết

Không cấp thiết

Trang 33

Ít cấp thiết

Không cấp thiết

sinh kiến tạo

tri thức trên cơ

Trang 34

Ít cấp thiết

Không cấp thiết

hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm phát triển phẩm chất năng lực cho

HS” có mức độ cấp thiết cao, với điểm trung bình chung của 5 giải pháp 3,18, mặc

dù các đối tượng khảo sát có cách đánh giá khác nhau, nhưng theo quy luật số lớn

có thể nói đa số lượt ý kiến đánh giá đều thống nhất cho rằng cả 5 giải pháp đề xuất

là có tính cấp thiết Giải pháp 2 “Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua hoạt động phân tích ý nghĩa tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật và hệ thống nhân vật” được đánh giá cao nhất với � =4,2, xếp bậc 1/5 Trong khi đó giải pháp 5

" Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua quan sát, chiêm nghiệm giải quyết vấn đề sáng tạo” được đánh giá ít cấp thiết nhất với � =2,7 xếp bậc 5/5, còn lại các giải pháp khác có điểm trung bình tương ứng từ �=2,825 tới � = 3,15

Mức độ cấp thiết của các giải pháp đề xuất tương đối đồng đều , khoảng cách giữa các giá trị điểm trung bình không quá xa nhau Như vậy các ý kiến đều cho rằng các giải pháp nghiên cứu, đề xuất đều cấp thiết và có khả năng thực hiện được ở các trường THPT hiện nay, các giải pháp đó có mỗi quan hệ với nhau, tác động, chi phối

hỗ trợ lẫn nhau vì vậy phải thực hiện đồng bộ các giải pháp mới đem lại hiệu quả

6.4.2 Tính khả thi của các giải pháp đề xuất

Bảng 3: Kết quả khảo sát tính khả thi của các giải pháp

Trang 36

- Đánh giá tính khả thi của các giải pháp

Kết quả khảo sát tính khả thi ở bảng 3 cho thấy giáo viên tham gia khảo sát

đã đánh giá tính khả thi của các giải pháp " Vận dụng LTKT vào dạy học hai văn

bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm phát triển phẩm chất năng lực cho HS"

tương đối đồng đều, điểm trung bình chung của 5 giải pháp là 3,295 điểm, khoảng cách giữa các giá trị điểm trung bình không quá xa nhau, điều này chứng tỏ rằng các đối tượng khảo sát tuy khác nhau về đơn vị công tác nhưng các ý kiến đánh giá chung là tương đối thống nhất Tuy nhiên đi sâu vào từng giải pháp cụ thể và từng nhóm chủ thể đánh giá thì cũng có sự chênh lệch khác nhau, sự chênh lệch đó diễn

ra theo quy luật thuận, cùng tăng, cùng giảm như nhau

Giải pháp " Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua hoạt động phân tích ý nghĩa tình huống truyện, hình tượng nghệ thuật và hệ thống nhân vật " là giải pháp

có mức độ khả thi cao nhất với �= 3,7 điểm; Giải pháp "Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua con đường đồng sáng tạo" là giải pháp có giá trị điểm thấp nhất với � =3,1 xếp thứ 5/5, các giải pháp còn lại đều có tính khả thi với điểm trung bình từ 3,175 đến 3,325

Tóm lại: Từ bảng kết quả khảo sát cho thấy các giải pháp nhằm "Vận dụng

LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm phát triển

phẩm chất năng lực cho HS" đề xuất trong đề tài đều được các giáo viên đánh giá mức độ cấp thiết và khả thi cao

Các giải pháp đưa ra đạt điểm trung bình �= 3,18 về tính cấp thiết và �=3,295

về tính khả thi Việc thực hiện có hiệu quả này của các giải pháp sẽ là cơ sở để vận

dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm phát triển

phẩm chất năng lực cho HS

- Đánh giá về tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp:

Trang 37

Kết quả nghiên cứu trên khẳng định tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp vận dụng LTKT vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù nhằm

phát triển phẩm chất năng lực cho HS Qua các thông số cho thấy các giải pháp có tính cấp thiết và tính khả thi cao, trong đó các giải pháp có tính cấp thiết và tính khả thi thấp nhất vẫn có điểm trung bình lớn hơn hoặc bằng 2,7 điểm, tức là vẫn nằm trong khoảng cao của thang chấm 4 điểm tối đa Điều này chứng tỏ các giải pháp đề xuất bước đầu đã được các giáo viên đồng tình ủng hộ

7 Thực nghiệm sư phạm

7.1 Mục đích thực nghiệm

Mục đích: So sánh hiệu quả trước và sau khi thực hiện biện pháp Từ đó, phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những khuyết điểm mà biện pháp mang lại

7.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

a Đối tượng, địa bàn: Đối tượng để chọn thực nghiệm là học sinh các lớp 11A1, 11T2, 11D5, 11D6 tại trường THPT Đô Lương 3

HS lớp 11A1, 11A6 trường THPT Đô Lương 4

b Thời gian thực nghiệm

Chúng tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm hai văn bản Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù

theo kế hoạch bài dạy đã thiết kế năm học 2022-2023 theo phân phối chương trình môn ngữ văn 11

7.3 Nội dung thực nghiệm

Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học hai văn bản Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù

theo kế hoạch bài bạy và sử dụng các giải pháp dạy học đã được đề xuất trong phần

7.4.Kết quả thực nghiệm

4.1 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm được sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp thực nghiệm đối chứng

Trường Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng GV thực hiện

THPT Đô Lương 3 11A1:42 HS 11D4: 40 HS Nguyễn Thị Giang

THPT Đô Lương 4 11A1: 40 HS 11A6: 40 HS Nguyễn Thị Đỗ Quyên 4.2 Kết quả thực nghiệm

5.1.Bảng kết quả học tập qua bài kiểm tra 15p

Trang 38

Khá (7-8 điểm)

Giỏi (9-10 điểm)

Số 1 0 0 16,6 46,3 78,5 51,2 4,7 2,4

Trang 39

Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS bài

số 1Trường THPT Đô Lương 3

Bảng phân loại kết quả học tập Trường THPT Đô Lương 3

Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS bài số 1- Trường THPT Đô Lương 3

Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS bài số 1- Trường THPT Đô Lương 3

Khá (7-8 điểm)

Giỏi (9-10 điểm)

Trang 40

Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS bài

số 2Trường THPT Đô Lương 4

10

0 80

Bảng phân loại kết quả học tập Trường THPT Đô Lương 4

Bảng phân loại kết quả học tập Trường THPT Đô Lương 4

7.5 Kế hoạch bài dạy thực nghiệm

Thiết kế “Kế hoạch bài dạy văn bản Hai đứa trẻ củaThạch Lam (Ngữ văn 11) theo

định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” (Phụ lục 9)

7.6 Kết quả đánh giá

Đánh giá được thực hiện ở lớp 11A1 và diễn ra ở cả quá trình dạy học và sau khi kết thúc bài dạy Đánh giá của đề tài dựa trên quan điểm: đánh giá là học tập, đánh giá vì học tập và đánh giá kết quả học tập Vì vậy, hoạt động đánh giá rất có ý nghĩa Sau đây là kết quả đánh giá qua bài kiểm tra 15 phút cuối bài học:

Lớp được đánh giá: 11A1- trường THPT Đô Lương 3 Sĩ số: 42 học sinh

Ngày đăng: 27/07/2023, 08:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w