1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam

46 579 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Đánh Giá Thực Trạng Về Chuyển Giao Công Nghệ Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thúc Đẩy Chuyển Giao Công Nghệ Trong Ngành Hóa Chất Và Dầu Khí Phù Hợp Với Điều Kiện Việt Nam
Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn, Đặng Hoàng Anh, Vũ Quang Trinh, Chử Văn Nguyên, Hoàng Văn Thứ
Người hướng dẫn TS. Trần Kim Tiến
Trường học Trung Tâm Thông Tin KHKT Hóa Chất
Chuyên ngành Chuyển Giao Công Nghệ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 25,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M6 DAU Là một nước đang phát triển, nhất làphải trải qua một thời gian dài chiến tranh, nên trình độ công nghệ của các ngành sản xuất công nghiệp, trong đó có Công nghiệp Hóa chất CNHC v

Trang 1

BO CONG THUGNG TRUNG TAM THONG TIN KHKT HOA CHAT

BAO CAO TONG KET DE TAI KH&CN CAP BO

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CHUYỀN

GIAO CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

TRONG NGÀNH HOÁ CHẤT VÀ DẦU KHÍ PHÙ HỢP

VỚI ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS TRẦN KIM TIẾN

7073 04/01/2009

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM _

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHKT HÓA CHẤT

BÁO CÁO ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2008 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CHUYỂN

GIAO CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THUC DAY TRONG CHUYEN GIAO CONG NGHE TRONG NGANH CONG NGHIEP HOA CHAT VA DAU

KHI PHU HOP VOI DIEU KIEN VIET NAM

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương

Cơ quan thực hiện: Trung tâm thông tin KHKT Hóa chất

Chủ nhiệm Đề tài: TS Trần Kim Tiến

Hà Nội - 2008

Trang 3

DANH SACH NHUNG NGUOI THUC HIEN CHINH

Chủ nhiệm Đề tài: TS Trần Kim Tiến

Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Thông tin KHKT Hóa chất Những người cùng tham gia thực hiện:

3 Vii Quang Trinh TS Công ty TPC Vina

4 Chử Văn Nguyên TS Ban Kỹ thuật, TCty Hoá chất Việt Nam

5 Hoàng Văn Thứ KS Công ty CMS

Thời gian thực hiện Đề tài: 12 tháng (từ 1/2008 đến 12/2008)

Trang 4

MUC LUC

L M6 DAU

I TONG QUAN

IL1 CO SG PHAP LY VA VA GIGI HAN DE TAI

IL2 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY CỦA VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ CGCN

IL3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỀN CỦA CNHC VÀ CNDK TẠI VIỆT NAM

1I.3.1 Tình hình phát triển của CNHC tại Việt Nam

1.3.1.1 Vài nét về lịch sử

1I3.1.2 Hiện trạng phát triển CNHC

1I.3.1.3 Định hướng và triển vọng phát triển CNHC

1I.3.2 Tình hình phát triển của Công nghiệp Dâu khí tại Việt Nam

1I.3.2.1 Vài nét về lịch sử

1I.3.2.2 Hiện trạng và triển vọng phát triển CNDK Việt Nam

1I.3.2.3 Định hướng phát triển CNDK Việt Nam

II NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG

CNHC VÀ CNDK VIỆT NAM

HI.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÁC NGUỒN CƠ SỞ DỮ LIỆU

HL2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT TRONG CNHC

VIỆT NAM

IH.2.1 Tình hình phát triển công nghệ sản xuất trong CNHC

III.2.2 Đánh giá hiện trang công nghệ một số ngành sản xuất chính

trong CNHC

HIL2.2.1 Nhóm công nghệ sản xuất phân bón

1IL2.2.2 Nhóm công nghệ sản xuất thuốc BVTV

IIL2.2.3 Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm cao su

1IL2.2.4 Nhóm công nghệ sản xuất hóa chất cơ bản

HI2.2.5 Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm điện hóa

HIL2.2.6 Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm giặt rửa

HI2.2.7 Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm hóa dầu

Trang 5

111.2.2.8 Nhém céng nghé khai thac quặng nguyên liệu

III.2.2.9 Nhém công nghệ sản xuất sơn, và vật liệu hàn

HII2.3 Yêu cầu công nghệ trong CNHC

IIL3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAN XUẤT TRONG CNDK

IIH.3.1 Phát triển công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí

IH.3.2 Phát triển công nghệ lọc- hóa dầu

IH.3.3 Đánh giá hiện trạng phát triển công nghệ một số ngành sản xuất

chính trong CNDK

1.3.3.1 Công nghệ thăm dò và khai thác dâu khí

1II.3.3.2 Công nghệ chế biến dâu khí

IIL4 ĐẶC ĐIỂM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CNHC VÀ

CNDK Ở NƯỚC TA

HI.4.1 Trong CNHC

1.4.2 Trong CNDK

IV VẤN ĐỀ HỖ TRỢ VÀ THÚC ĐẨY CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO

CÔNG NGHỆ TRONG CNHC VÀ CNDK PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN

VIỆT NAM

IV.1 ĐỐI VỚI CNHC

IV.2 ĐỐI VỚI CNDK

IV.3 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẨY MẠNH CGCN

Trang 6

I M6 DAU

Là một nước đang phát triển, nhất làphải trải qua một thời gian dài chiến tranh, nên trình độ công nghệ của các ngành sản xuất công nghiệp, trong đó có Công nghiệp Hóa chất (CNHC) và Công nghiệp Dầu khí (CNDK) ở nước ta nhìn chung đều tương đối thấp

CNHC nước ta ra đời đã trên 50 năm, từ một nền công nghệ sản xuất ban đầu hết sức thô sơ, lạc hậu Sau hòa bình lập lại, miền Bắc phát triển theo định

hướng lối xã hội chủ nghĩa (XHCN) với sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em

nên CNHC có điều kiện để phát triển cả về quy mô sản xuất và trình độ công

nghệ Tuy nhiên trong thời gian chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhiều cơ sở công nghiệp, trong đó có các cơ sở sản xuất thuộc CNHC lại bị tàn phá nặng nề

CNDK Việt Nam là ngành được đặt nền móng và phát triển tương đối muộn

hơn từ khi Đoàn Địa chất 36 thuộc Tổng cục Địa chất được thành lập (năm 1961) để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò đầu khí tại Việt Nam Song ngành này cũng bị đình trên trong thời gian chiến tranh

Chỉ sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, CNHC và CNDK

Việt Nam mới có cơ hội phát triển mạnh

Tuy nhiên sự trì trệ trong tư duy bao cấp và trong cách thực hiện phát triển

sản xuất kém hiệu quả vào những năm đầu thập kỷ 80 của Thế kỷ trước, các ngành sản xuất công nghiệp nước ta, trong đó có CNHC và CNDK, đã trải qua một thời kỳ khó khăn với nhiều thách thức lớn

Chỉ từ năm 1986 trở đi, khi cả nước thực hiện đường lối đổi mới và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, CNHC đã có bước phát triển mới về quy mô và công nghệ sản xuất, từng bước đi vào hội nhập kinh

tế quốc tế và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng

Đối với CNDK, sự thay đổi mạnh mẽ nhất là sau khi có sự đổi mới về tổ

chức và quản lý, thành lập Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) vào năm 1990

Đến nay, CNHC và CNDK nước ta đã những ngành sản xuất công nghiệp lớn, chiếm vị trí quan trọng của nên kinh tế cả nước Trong đó CNHC sản xuất

và cung cấp phân bón và nhiều sản phẩm khác, góp phần phục vụ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ đời sống nhân dân; CNDK thăm dò, khai thác

Trang 7

các sản phẩm dầu khí, đồng thời tham gia triển khai các lĩnh vực sản xuất dịch

vụ liên quan (cung ứng phân bón, sản xuất năng lượng) và có kim ngạnh xuất

khẩu lớn nhất trong số các ngành kinh tế nước ta

Tuy nhiên trừ một sốcông trình mới đã hoặc đang được đầu tư hiện đại, thì

trong nhiều lĩnh vực sản xuất của hai ngành công nghiệp kể trên, hạ tầng cơ sở

về công nghệ hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn và vấn để đầu tư nâng cấp đổi

mới công nghệ/ thiết bị trong các ngành sản xuất này vẫn đang là vấn đề rất cấp thiết

Theo TTXVN ngày 27/5/2008, kết quả khảo sát tại 1.200 doanh nghiệp Việt Nam của Tổ chức hợp tác kỹ thuật Cộng hoà liên bang Đức (GTZ) cho thấy

chỉ có khoảng 0,1% doanh thu hàng năm của doanh nghiệp được dành cho đổi

mới công nghệ, thiết bị Việc nhập khẩu công nghệ hàng năm của các doanh

nghiệp Việt Nam cũng chỉ dưới 10% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước và chỉ bằng 1/4 tỷ lệ nhập khẩu công nghệ của các nước phát triển Nguyên nhân là do

nhận thức về hội nhập của doanh nghiệp chưa đây đủ, trình độ của đội ngũ cán

bộ quản lý và người lao động trong doanh nghiệp còn thấp, thiếu vốn cho đổi mới công nghệ và nội dung về đổi mới công nghệ còn chưa rõ ràng Vì hạn chế trong đổi mới công nghệ/thiết bị của doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng thiết bị/công nghệ lạc hậu Hậu quả là sản phẩm kém đa dạng, tiêu tốn nguyên liệu, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Một trong những

nguyên nhân hạn chế quá trình đổi mới và phát triển công nghệ là có những bất

cập về chuyển giao công nghệ ( CGCN)

Để bước đầu có cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển và CGCN sản xuất

của CNHC và CNDK nước ta, Đề tài cấp Bộ “Khảo sát, đánh giá thực trạng về

chuyển giao công nghệ và đê xuất các giải pháp thúc đẩy trong chuyển giao

công nghệ trong ngành công nghiệp hóa chất và dâu khí phù hợp với điều kiện Việt Nam” được đặt ra với mục tiêu nghiên cứu và đưa ra một số thông tin liên

quan đến vấn đề CGCN sản xuất thuộc các ngành công nghiệp đã nêu, đồng thời

có các đề xuất liên quan nhằm thúc đẩy và phát triển CGCN

Đề tài được thực hiện theo các phương pháp sau:

- Thu thập cơ sở đữ liệu (CSDL) về tình hình phát triển sản xuất của các doanh nghiệp thuộc CNHC và CNDK ở nước ta

- Thu thập CSDL về tình hình hình áp dụng công nghệ và CGCN trong sản xuất của các doanh nghiệp thuộc CNHC và CNDK ở nước ta

- Thu thập CSDL về các văn bản pháp quy liên quan đến CGCN

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để thúc đẩy công tác CGCN

6

Trang 8

II TONG QUAN

I.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VA VA GIGI HAN DE TAI

Đề tài “Khảo sát, đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất

các giải pháp thúc đẩy trong chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp

hóa chất và dâu khí phù hợp với điều kiện Việt Nam”được triển khai thực hiện trên cơ SỞ:

- Quyết định số 1999/QĐÐ-BCT, ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng

Bộ Công Thương về việc giao kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2008;

- Hợp đồng Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 195.08-

RD/HĐ-KHCN ngày 03 tháng 3 năm 2008 giữa Bộ Công Thương (bên giao) và

Trung tâm Thông tin KHKT Hoá chất (bên nhận)

Trong khuôn khổ Đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn việc trình bày các vấn

đề liên quan đến CGCN sản xuất một số sản phẩm chính, chủ lực thuộc ngành CNHC và CNDK mà không đề cập đến các vấn đề liên quan đến các biện pháp kinh doanh, mở rộng thị trường, mở rộng thị phần hoặc các lĩnh vực kinh tế, chính trị liên qua đến 2 ngành công nghiệp đã nêu

H.2 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY CỦA VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ CGCN

Từ năm 1998 trở lại đây, Nhà nước và các bộ, ngành liên quan đã ban hành

một số văn bản chính thức liên quan đến các vấn đề về CGCN sau đây (xem toàn văn tại phần Phụ lục):

1/ NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ Quy định chỉ tiết về chuyển giao

công nghệ (Số: 45/1998/NĐ-CP) do Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 7 năm

1998

2/ THONG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn chế độ thu, quản lý và sử dụng

phí thẩm định, lệ phí đăng ký họp đông chuyển giao công nghệ (Số:

139/1998/TTLT/BTC-BKHCN) do do Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ va

Môi trường ban hành ngày 23 tháng 10 năm 1998

3/ THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 45/1998/NĐ-CP

ngày 1/7/1998 của Chính phủ quy định chỉ tiết về chuyển giao công nghệ (Số:

1254/1999/TT-BKHCNMT) do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban

hành ngày 12 tháng 7 năm 1999

4/ QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ KHCNMT Về việc ban hành

quy chế thẩm định hợp đồng chuyển giao công nghệ (Số:

Trang 9

1693/1999/QĐÐ-BKHCNMT) do Bộ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hanh ngay 1 tháng 10 năm 1999

5/ NGHỊ ĐỊNH Quy định xử phạt vỉ phạm hành chính trong lĩnh vực

quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ (Số: 16/2000/NĐ-CP) do Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 5 năm 2000

6/ LUAT Chuyển giao công nghệ (Số: 80/2006/QH11) do Quốc hội Nước

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006

IL.3 TINH HINH PHAT TRIEN CUA CNHC VA CNDK TAI VIỆT NAM

11.3.1 Tinh hinh phat trién cla CNHC tại Việt Nam

17.3.1.1 Vài nét về lịch sử

Sự ra đời và phát triển của CNHC trước năm 1960

CNHC nước ta đã được hình thành từ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp với nhiều thành tích trong sản xuất các loại hóa chất, vật liệu phục chiến đấu và sản xuất

Trong thời kỳ này, CNHC hoạt động dưới dạng các công binh xưởng, các xí nghiệp sản xuất nhỏ tại các địa phương hoặc tại an toàn khu (ATK) Việt Bắc và phục vụ nhu cầu kháng chiến với 3 mục tiêu quan trọng (quốc phòng, nông

nghiệp và dân sinh) Sản phẩm sản xuất bao gồm thuốc nổ, ngòi nổ và các hóa

chất liên quan (axit sunfuric, than cốc, phốt phát nghiền, v.v ) cùng một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ bộ đội và nhân dân như xà phòng, diêm, thuốc đánh răng, quặng phốt phát nghiền, giấy, mực in, v.v

Ngay sau ngày hòa bình lập lại (năm 1954), CNHC chỉ bao gồm một số ít

ỏi các cơ sở rất lạc hậu, trong đó có 6 xí nghiệp quốc doanh sản xuất xi măng và phốt phát nghiền quy mô nhỏ, một số cơ sở tư nhân sản xuất xà phòng, thuốc đánh răng, sơn dầu Trước nhu cầu cấp thiết về phân bón cho nông nghiệp, Nhà

nước đã quyết định lấy CNHC làm động lực để khôi phục và phát triển nông

nghiệp Trong thời kỳ này, Mỏ Apatit Lào Cai đã được khôi phục sản xuất và ngay từ năm 1955

Trong giai đoạn cải tạo và phát triển công nghiệp (1958 -1960), CNHC tiếp

tục được hướng vào phục vụ phát triển nông nghiệp Năm 1959, Nhà máy Supe

phốt phát Lâm Thao - con chim đầu đàn của ngành hoá chất thời kỳ đó- đã được khởi công xây dựng Tháng 4/1962, Nhà máy này đã chính thức đi vào hoạt động

và có sản phẩm supe phốt phát đơn xuất xưởng

Trang 10

Phương hướng phát triển của CNHC (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây

dựng) trong thời kỳ này là:

- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp

- Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng

- Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm (ắc qui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa,

v.v ) phục vụ các ngành kinh tế khác

- Sản xuất một số sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu dân sinh

Trong giai đoạn này, CNHC là một trong những ngành công nghiệp có tốc

độ tăng trưởng cao nhất

Về phân bón, từ sản lượng 6 nghìn tấn quặng phốt phát năm 1955 thì năm

1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn (trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền

là 49,7 nghìn tấn)

Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn

Đặc biệt cuối thời kỳ này, CNHC đã bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng

tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp, đồ dùng bằng nhựa và thuốc trừ sâu

Đặc điển của CNHC thời kỳ này là bên cạnh vai trò chủ đạo của các cơ sở

quốc doanh trung ương được khôi phục hoặc thành lập mới, thì CNHC tại các địa

phương cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất các nhu yếu phẩm phục vụ nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn) và tham

gia phục vụ nông nghiệp Hàng chục tấn thuốc trừ sâu đầu tiên là do công nghiệp

địa phương sản xuất ngay từ năm 1960

Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu cũng được hình thành Trong ngành có

một cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ là Viện Hoá học Công nghiệp đã

được thành lập năm 1955

Từ năm 1960, một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất thuộc CNHC được khôi phục hoạt động hoặc thành lập mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế 5 năm lần

thứ nhất ở miền Bắc

Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)

Trong kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), CNHC đã có bước phát triển mạnh Lúc này nhiều nhà máy mới trong ngành đã bắt đầu được xây dựng và đi vào sản xuất trên cơ sở công nghệ sản xuất luôn đi kèm với thiết bị do

các nước trong phe XHCN anh em viện trợ Trong kỳ đã hình thành 3 khu CNHC tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Phú Thọ (Việt Trì, Lâm Thao) và Hải Phòng và

Trang 11

đây chính là cơ sở để phát triển sản xuất tập trung các sản phẩm của ngành

CNHC sau này Tại các khu công nghiệp trên, hàng loạt nhà máy lớn của CNHC

đã được đầu tư xây dựng như : Nhà máy Hoá chất Việt Trì (Phú Thọ, năm 1961),

Phân đạm Hà Bắc (Bắc Giang, năm 1960), Ắc quy Tam Bạc (Hải Phòng, năm

1960 ), Pin Văn Điển ( Hà Nội, năm 1960), Phân lân nung chảy Văn Điển (Hà

Nội, năm 1963), Xà phòng Hà Nội (Hà Nội, năm 1960), Cao su Sao Vàng (Hà

Nội, năm 1960 ), v.v

Nhờ có các nhà máy phân bón mới xây dựng, kể từ năm 1962 lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến và đạt sản lượng hàng trăm nghìn tấn vào năm 1964 Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964 (đạt 864 nghìn tấn), trong đó có hàng nghìn tấn được

nghiền làm phân bón trực tiếp

Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric, xút - clo và các sản phẩm dẫn xuất liên quan Từ đây, CNHC cũng bắt đầu sản xuất thuốc trừ sâu 666, chất dẻo PVC từ axêtylen quy mô nhỏ

Ngành sản xuất nguồn điện hóa (pin điện, ắc quy), chất giặt rửa và một số

ngành hàng khác cũng bắt đầu phát triển, đáp ứng các sản phẩm cho quốc phòng,

các ngành kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Ngành công nghiệp cao su bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban

đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964), 29 nghìn bộ (năm 1965), chưa kể một số lượng

lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất

Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng cũng tăng đáng kể Kết quả về đầu tư xây dựng của CNHC thời kỳ này đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh là rất to lớn và CNHC đã góp phần làm cho phát triển kinh tế chung cả nước đạt được “đỉnh cao muôn trượng” (thơ Tố

Hữu) vào năm 1961

Nhưng kế hoạch sản xuất 5 năm chỉ được thực hiện không đầy 4 năm trong

hoà bình Năm 1964 miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ Mặc dù phần lớn các cơ sở CNHC ở miền Bắc nước ta đều bị

đánh phá và phải chuyển hướng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhưng các thành quả thu được vẫn đáng kể: CNHC vẫn có tốc độ tăng trưởng cao hơn

cả ngành Điện lực và Cơ khí Trong thời kỳ này, CNHC chiếm 9,5% giá trị tổng sản lượng toàn ngành Công nghiệp

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất do chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng CNHC và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển với cơ cấu ngành có nhiều thay đổi Lĩnh vực sản xuất và số ngành hàng tăng

10

Trang 12

nhanh Trong kỳ, trong CNHC đã hình thành một số ngành hàng chuyên biệt như

“hóa chất vô cơ cơ bản”, “phân bón”, và “nguồn điện hoá”, v.v

Thời kỳ 10 năm chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ (1965 -

1975)

Trong thời kỳ này, miền Bắc nước ta phải trải qua hai lần bị bom Mỹ đánh

phá nặng nề Đây cũng là thời kỳ CNHC có một bước biến chuyển mới : Ngay

19 tháng 8 năm 1969 Nhà nước đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), đồng thời đây cũng là thời kỳ mà các cơ sở CNHC miền Bắc phải vừa chiến đấu vừa sản xuất Mặc dù gặp rất

nhiều khó khăn do hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra, nhưng nhìn chung

CNHC vẫn bảo đảm có tốc độ tăng trưởng Giá trị tổng sản lượng năm 1975 tăng gấp 1,65 lần so với năm 1965

Trong kỳ, trừ Nhà máy Que hàn điện Việt Đức tại Thường Tín (Hà Tây

trước đây) được xây dựng mới vào năm 1967, Nhà máy Sơn tổng hợp Hà Nội vào

năm 1971 và Nhà máy Phân đạm Hà Bắc (đạt công suất 100 nghìn tấn urê/năm)

được khôi phục hoạt động vào các năm 1973-1977, v.v , CNHC hầu như không

có thêm cơ sở đầu tư mới nào Lúc này cán bộ công nhân viên (CBCNV) trong

ngành chủ yếu tập trung sửa chữa, hoặc đi đời (sơ tán) các cơ sở sản xuất để đảm bảo duy trì sản xuất phục vụ chiến đấu và đời sống nhân dân Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là các loại phân lân chế biến

Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế phục vụ CNHC cũng được hình thành, trong đó có Viện Thiết kế Hoá chất được thành lập năm 1967

Đánh giá lại bước phát triển của CNHC trong 20 năm xây dựng và phát

triển (từ hòa bình lập lại đến năm 1975), có thể thấy CNHC đã có bước phát triển

rất to lớn, đã hình thành và định hình cơ cấu các ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đó là các ngành:

- Công nghiệp sản xuất phân bón;

- Công nghiệp sản xuất thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông

nghiệp;

- Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;

- Công nghiệp cao su;

- Công nghiệp hoá chất cơ bản;

- Công nghiệp pin - ắcquy;

- Công nghiệp xà phòng và chất giặt rửa; v.v

Trang 13

Trong kỳ, CNHC còn bao trùm cả lĩnh vực vật liệu gồm các phân ngành như: silicat (chủ yếu là sản xuất xi măng), vật liệu chịu lửa, các mặt hàng gốm

sứ, thuỷ tinh, v.v Đặc điểm của CNHC thời kỳ này là các cơ sở quốc doanh (thuộc sở hữu Nhà nước) đóng vai trò trụ cột, bảo đảm gần 70% giá trị tổng sản

lượng toàn ngành Việc sản xuất phân lân chế biến, các hóa chất vô cơ cơ bản,

nhất là các hoá chất và sản phẩm phục vụ quốc phòng, v.v hoàn toàn do các cơ

sở quốc doanh thuộc Tổng cục Hóa chất đảm nhiệm theo kế hoạch và đáp ứng

các yêu cầu cụ thể

Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1976 — 1980

Đất nước thống nhất và giải phóng miền Nam Trong thời kỳ này CNHC đã tiếp quản hàng loạt xí nghiệp thuộc CNHC ở miền Nam, trong đó chủ yếu là xí nghiệp nhỏ CNHC là ngành có tỷ trọng đầu tư cao nhất trong các ngành công

nghiệp miền Nam khi đó và tập trung vào các sản phẩm tiêu dùng như: sản xuất

phân bón (phốtphorit nghiền, phân trộn), sản xuất hóa chất (axit sunfuric, phèn

nhôm), sản xuất sản phẩm cao su (săm lốp xe đạp và xe máy), sản xuất nguồn điện (pin, ắc quy), sản xuất các chất giặt rửa và mỹ phẩm (thuốc đánh răng, xà

phòng, bột giặt và mỹ phẩm), sản xuất vật liệu (sơn, que hàn, oxy ) va gia cong hàng nhựa (chất dẻo), v.v Trong đó, nhiều nhóm ngành hàng có mức phát triển với trình độ công nghệ khá, tương đương sự phát triển cùng kỳ của khu vực (nhất

là nhóm gia công hàng chất dẻo), nhưng lĩnh vực sản xuất phân bón lại có công

nghệ lạc hậu và phát triển chậm

Trong thời kỳ này trong CNHC, một mặt Nhà nước ta thực hiện cải tạo công

thương nghiệp miền Nam, sáp nhập nhiều cơ sở sản xuất nhỏ thành các công ty

sở hữu Nhà nước lớn hơn, mặt khác thành lập nhiều công ty mới thuộc những

phân ngành thuộc quyền quản lý của Tổng cục Hóa chất.Tại miền Bắc, nhiều

nhà máy hoá chất cũng được cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới Đặc biệt, để

thực hiện mục tiêu l,3 triệu tấn phân hóa học theo kế hoạch 5 năm, trong kỳ

Tổng cục Hóa chất đã nhanh chóng xây dựng nhiều cơ sở nghiền apatit để dùng

trực tiếp làm phân bón Kết quả là từ năm 1976 đến 1980, số xí nghiệp do Tổng cục Hóa chất quản lý đã tăng từ 71 lên 111

Cuối giai đoạn này, Liên Xô cũng viện trợ xây dựng Nhà máy Tuyển quặng

apatit tại Tầng Loỏng (Lào Cai) để thu hồi tinh quặng apatit từ quặng apatit loại

3 Ngoài ra, Nhà máy Phân lân Ninh Bình được đầu tư xây dựng và đi vào sản

xuất (năm 1977) Tuy nhiên, do tình hình thế giới và khu vực phức tạp, bên cạnh

việc Mỹ và một số nước phương Tây thi hành chính sách cấm vận đối với nước

ta, còn xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc

12

Trang 14

Từ năm 1978, sản lượng toàn ngành CNHC giảm sút nhanh, nhiều công trình đầu tư không thực hiện được hoặc phải do dang, trong đó có Nhà máy Tuyển Apatit Tằng Loỏng CNHC nằm trong bối cảnh chung của đất nước, cộng thêm sự giảm sút về nguyên liệu nhập khẩu, nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, trong năm 1980 chỉ số phát triển của CNHC đã giảm, chỉ còn bằng

94% so với năm 1976

Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1981 - 1985

CNHC là một trong số những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng tương đối cao trong kỳ kế hoạch này Giá trị tổng sản lượng năm 1985 gấp 1,8 lần năm 1980 CNHC cũng là một trong những ngành chiếm tỷ trọng cao nhất

trong toàn ngành công nghiệp, tới 10,6% vào năm 1985

Trong kỳ kế hoạch này, Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục được

mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980 Sản lượng và số mặt hàng của nhiều sản phẩm khác (thuốc trừ sâu, hóa chất vô cơ cơ bản, săm lốp xe đạp, pin, bột giặt, v.v ) đều tăng mạnh Tuy nhiên, sản lượng các sản phẩm phụ thuộc vào

nguyên liệu nhập khẩu như lốp ô tô, v.v lại giảm

Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1986 — 1990

Bắt đầu từ kỳ kế hoạch này, cả nước bước vào thực hiện đổi mới nên kinh tế

theo Nghị Quyết BCH Trung ương khóa VI (năm 1986) Nhờ có những đổi mới

trong chính sách và cơ chế của Nhà nước và do các cơ sở hạ tầng sản xuất (phân

bón, sản phẩm cao su, hóa chất, chất giặt rửa, tuyển quặng apatit, v.v ) được

đầu tư chiêu sâu hoặc đầu tư mới, nên nhìn chung sản xuất của CNHC có tốc độ tăng trưởng cao, thực sự đã có bước chuyển biến về chất Trong 3 năm đầu, tốc

độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng 6%, kể cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc các ngành hàng như xà phòng, thuốc đánh răng, săm lốp

xe đạp cũng có mức phát triển khá Song vì có nhiều ngành sản xuất phụ thuộc mạnh vào nguyên liệu nhập khẩu nên CNHC trong kỳ chịu tác động mạnh của cơ chế hai giá và các chính sách khác từ khi chuyển sang cơ chế thị trường Sản lượng của một số ngành hàng trong CNHC đã bị ảnh hưởng Tuy nhiên khu vực quốc doanh, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất, đã nhanh chóng vượt qua nhiều thử thách và vẫn giữ được vai trò chỉ đạo trong quá trình

phát triển chung của CNHC

Thời ky kế hoạch 5 năm 199] ~ 1995

Có thể nói kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là kỳ kế hoạch đầu tiên mà sản xuất của CNHC được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa có tính định hướng, trong

Trang 15

đó quyền tự chủ sản xuất kinh doanh (SXKD) được giao cho các doanh nghiệp, ngoại trừ một số sản phẩm đặc biệt trong ngành sản xuất phân bón là được giao theo chỉ tiêu pháp lệnh

Bước vào kỳ kế hoạch này về tổ chức cũng có một số thay đổi: Bộ Công

nghiệp nặng được thành lập lại; Tổng cục Hóa chất chấm dứt sự tồn tại và trên cơ

sở cơ chế quản lý mới, Nhà nước đã thành lập 2 Tổng Công ty quản lý các doanh

nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất trước đây: 1/ Tổng Công ty Phân bón và Hóa

chất Cơ bản; 2/ Tổng Công ty Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất Tiêu dùng Trong thời kỳ này, CNHC đã đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, bình quân hàng năm đạt mức gần 20% (cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành Công nghiệp) trong suốt kỳ kế hoạch

Trong nửa đầu thập kỷ 1990, các thành phan kinh tế ngoài quốc doanh

thuộc lĩnh vực CNHC phát triển nhanh Đã xuất hiện những công ty liên doanh

sản xuất chất tẩy rửa như P&G Việt Nam, Unilever Haso, Unilever Viso, hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hóa chất, ắc quy, sơn, v.v với các đối tác nước ngoài là những tập đoàn xuyên quốc gia mạnh trên thế giới Trong những lĩnh vực này, các xí nghiệp quốc doanh ở các địa phương và tư doanh cũng phát triển khá Trong lĩnh vực chất dẻo, ắc quy, cao su, hóa chất cơ bản, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) , đều có các hoạt động đầu tư của nước ngoài Trên thị trường của nhiều ngành hàng thuộc CNHC, ngoài các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn

có thêm các đối tác cạnh tranh mới

Sự ra đời của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam

Nhu cầu khách quan đã đặt ra vấn đề hình thành một tổng công ty đủ mạnh

để đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường, đủ khả năng huy động vốn, đổi mới

công nghệ và nhất là đầu tư vào những công trình trọng yếu có quy mô lớn và

công nghệ hiện đại

Trên cơ sở Quyết định số 835/TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20 tháng

12 năm 1995, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) theo mô hình

tổng công ty mạnh đã được thành lập trên cơ sở sáp nhập Tổng Công ty Phân

bón và Hóa chất cơ bản với Tổng Công ty Hóa chất công nghiệp và Hóa chất tiêu

dùng Trong thành phần tổ chức đầu tiên khi thành lập, VINACHEM bao gốm

44 DNNN thành viên (trong đó có 2 doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc), 6 đơn

vị sự nghiệp và 14 doanh nghiệp liên doanh

Sau khi VINACHEM được thành lập, hầu hết các nhà máy lớn thuộc các

ngành sản xuất quan trọng của CNHC nước ta đều do VINACHEM quản lý và

14

Trang 16

được sắp xếp lại Số lượng các doanh nghiệp cũng được thu gọn: Năm 1995

CNHC có 1729 xí nghiệp, sau 5 năm (năm 2000) số lượng xí nghiệp chỉ còn

1947

Xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và xu hướng hội nhập với kinh tế thế giới, trong kỳ kế hoạch 5 năm đầu tiên sau ngày thành lập (1996-2000), VINACHEM đã đề ra các mục tiêu chiến lược:

- Phát triển sản xuất trên cơ sở tích cực đổi mới công nghệ nhằm giảm tiêu

hao nguyên vật liệu, năng lượng, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, bảo đảm sức

cạnh tranh trên thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu

- Tập trung vào những lĩnh vực có tính chất then chốt với nền kinh tế quốc dân, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đó là: 1/ Sản xuất các hóa

chất và sản phẩm phục vụ nông nghiệp; 2/ Sản xuất sản phẩm cao su; 3/ Sản

xuất các hóa chất cơ bản

- Xây dựng chiến lượng dài hạn đến năm 2010 có tính đến năm 2020

Liên tục trong những năm sau ngày thành lập, trừ một số năm có khó khăn

đặc biệt về thời tiết hoặc khủng hoảng kinh tế của khu vực, tốc độ tăng trưởng

hàng năm của VINACHEM đều đạt khá (11-16%), thuộc loại cao trong toàn

ngành công nghiệp Trong quá trình phát triển, Tổng Công ty đã thực hiện những

giải pháp có tính chiến lược quan trọng:

Một là lấy thị trường trong nước làm mục tiêu phục vụ chủ yếu, đồng thời

chú trọng đẩy mạnh thị trường xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và

thế giới

Hai là trên cơ sở nắm vững thông tin về thị trường, đánh giá đúng chu kỳ của sản phẩm va dự báo chính xác xu thế thị trường, tiến hành đầu tư chiều sâu,

tập trung và dứt điểm cho các dự án ưu tiên

Ba là lấy việc đổi mới công nghệ làm nên tảng cho sự phát triển của doanh

nghiệp

Bốn là sự chỉ đạo tập trung của Tổng Công ty và sự phối hợp, giúp đỡ lẫn

nhau giữa các đơn vị thành viên tạo nên sức mạnh tổng hợp để toàn Tổng Công

ty đủ sức cạnh tranh trên thị trường

VINACHEM đã xác định phát triển một số ngành hàng quan trọng nhất gồm: phân bón, thuốc BVTV, sản phẩm cao su và hóa chất cơ bản Ngoài ra, các sản phẩm như nguồn điện (pin, ắc quy), khai khoáng (chủ yếu là khai thác và chế biến quặng apatit phục vụ sản xuất phân bón), chất giặt rửa, vật liệu hàn, v.v

cũng được chú ý phát triển

Trang 17

Trong các lĩnh vực sản xuất chủ yếu tại các doanh nghiệp của Tổng Công

ty, có nhiều công trình trọng điểm được đầu tư nâng cấp hoặc đầu tư mới tại các ngành hàng trong điểm, như:

- Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp (phân bón, thuốc BVTV) Tổng Công ty đã: nâng cấp và mở rộng tổng năng lực sản xuất supe phốt phát tại Lâm Thao và Long Thành từ 600 nghìn tấn lên 1,2 triệu tấn/năm (sau năm 2000); liên tục cải tiến dây chuyển sản xuất phân lân nung chảy (PLNC) tại Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển-VAFCO (năm 1988,

1996), Công ty Phân lân Ninh Bình-NIFERCO (năm 2002-2003) đạt kết quả đưa

công suất lò cao lên 100 nghìn tấn/ lò/năm, và áp dụng nhiều cải tiến kỹ thuật

(sử dụng than antraxit thay than cốc nhập ngoại, tận dụng nguyên liệu vụn, dưới

cỡ), trên cơ sở đó đưa công suất PLNC toàn Tổng Công ty lên 600 nghìn tấn/năm; cải tạo kỹ thuật nâng công suất Nhà máy phân đạm Hà Bắc lên 150 nghìn (thực tế đạt 180 nghìn) tấn urê/năm trên cơ sở nguồn vốn hỗ trợ trên 32 triệu USD của Chính phủ Trung Quốc (năm 2000-2003), v.v

Do đầu tư có trọng điểm, kết hợp vừa sản xuất vừa cải tạo và mở rộng, đồng thời nhanh chóng đưa các công trình vào khai thác để phát huy hiệu quả đầu tư, nên trong hơn 10 năm qua sản lượng phân bón do VINACHEM sản xuất và tiêu thụ đã tăng mạnh, từ 1,08 triệu tấn vào năm 1995 lên trên 4,0 triệu tấn/năm (năm 2008) Đặc biệt sản lượng phân NPK có mức tăng trưởng cao và đều đặn với công suất hiện đạt 2,8 triệu tấn/năm, chất lượng và chủng loại được tăng, chi phí

sản xuất được cải thiện Đến nay, riêng về phân lân chế biến và phân NPK, VINACHEM hoàn toàn có thể cung cấp đủ cho nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu Dự án Nhà máy sản xuất phân phức hợp DAP đầu tiên của nước ta tại Đình Vũ (Hải Phòng) do Tổng Công ty làm chủ đầu tư cũng đang trong quá trình

hoàn thiện Dự kiến đầu năm 2009 Nhà máy sẽ đi vào hoạt động

Đồng thời với việc mở rộng, nâng công suất các nhà máy phân bón, Tổng Công ty đã chỉ đạo và tổ chức mở rộng khai thác quặng apatit và hoàn thiện các nhà máy tuyển quặng apatit tại Lào Cai, đáp ứng đủ nhu cầu quặng apatit cho sản xuất phân bón

Việc đầu tư cải tạo các dây chuyền sản xuất thuốc BVTV cũng được Tổng

Công ty chú ý, chuyển từ chỗ chủ yếu sản xuất thủ công và công suất thấp sang

cơ khí hóa và tự động hóa một phần với nhiều thiết bị chuyên dùng hiện đại,

đồng thời đầu tư công nghệ để sản xuất một số nguyên liệu hoạt chất như

cacbofuran, validamyxin, v.v

- Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm cao su, các dây chuyển sản xuất săm lốp xe đạp, xe máy và lốp ô tô ở cả ba công ty cao su thành viên của Tổng

16

Trang 18

Công ty (gồm Công ty CP Cao su Sao Vàng- SRC tại Hà Nội, Công ty CP Cao su

Da Nang- DRC tai Da Nang va Cong ty CP Cong nghiép Cao su mién Nam — CASUMINA tại thành phố Hồ Chí Minh) đều được đầu tư thêm thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã và quy cách sản phẩm, nên đã sản xuất và đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm mới, chất lượng cao như lốp ô tô radial bán thép và toàn thép, lốp ô tô siêu trọng, v.v Các sản phẩm săm lốp không những đáp ứng

yêu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu

- Trong lĩnh vực sản xuất hóa chất cơ bản, Tổng Công ty đã đầu tư nâng cấp 2 cơ sở sản xuất xút-clo tại Việt Trì và Biên Hòa, đưa công suất tổng cộng lên 30 nghìn tấn xút/năm; Áp dụng công nghệ mới và mở rộng nâng công suất sản xuất lên trên 400 nghìn tấn axit sunfuric/năm tại 3 cơ sở sản xuất của Tổng Công ty Các đơn vị thành viên sản xuất hóa chất của Tổng Công ty đã đầu tư mạnh về sản xuất axit phốtphoric (công suất 30 nghìn tấn/năm), các muối gốc phốt phát, và đặc biệt là sản xuất phốt pho vàng (8-10 nghìn tấn/năm), góp phần quan trọng vào việc giải quyết tình trạng phải nhập khẩu toàn bộ nguyên liệu phốt pho và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên quặng apatit Lào Cai

- Lĩnh vực điện hóa cũng là lĩnh vực quan trọng được Tổng Công ty quan

tâm đầu tư công nghệ hiện đại, sản lượng cao Các sản phẩm ắc quy nhãn hiệu

PINACO, JP, Đồng Nai đã thay thế hàng nhập khẩu và có nhiều lô sản phẩm ắc

quy đã được xuất khẩu sang các nước trong khu vực

Trong công tác thương hiệu, trong 10 năm qua bên cạnh việc đầu tư có

trọng điểm hướng tới các ngành sản xuất công nghiệp chủ chốt, việc khẳng định

và phát triển thương hiệu cũng đã được VINACHEM và các doanh nghiệp thành

viên rất chú trọng Đến nay các doanh nghiệp của Tổng Công ty đều đã đăng ký

thương hiệu và nhãn hiệu sản phẩm Nhiều thương hiệu và nhãn hiệu sản phẩm

của Tổng Công ty đã trở nên quen thuộc với khách hàng trong và ngoài nước Có

những sản phẩm nhiều năm liền đạt danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao như: Phân bón “Ba lá cọ Xanh” của Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao (LAFCHEMCO), `Đâu Trâu” của Phân bón Bình Điền (BFC), "Con Ó” của Phân bón miền Nam (SFC), ` Con Cò Bay” của Phân bón và Hóa chất Cần Thơ (CFC); Săm lốp “SRC” của Cao su Sao Vàng, “DRC” của Cao su Đà Nắng,

“CASUMINA” của Công nghiệp Cao su miền Nam; Ắc quy “JP”, “PINACO”,

“Đồng Nai”, Pin “Con Ó” của Pin — Ắc quy miễn Nam; Pin ` Con Thỏ” của Pin

Hà Nội; Xà phòng, bột giặt nhãn hiệu “LIX”, “NET” của LIXCO và NETCO,

V.V

Việc quảng bá thương hiệu được thực hiên trên nên tảng chất lượng sản

phẩm của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty ngày càng cao và ổn định, kết

Trang 19

hợp với các biện pháp phát triển thị phần và thị trường Các doanh nghiệp trong

Tổng Công ty, nhất là các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thuộc các ngành

hàng chủ lực, đã góp phần rất lớn để giá trị sản xuất công nghiệp và doanh thu của Tổng Công ty đạt mức tăng trưởng cao Trong những năm gần đây, tỷ trọng

các ngành hàng trọng điểm luôn chiếm trên 70 % tổng giá trị sản xuất công

nghiệp của Tổng Công ty, trong đó phân bón và các loại thuốc BVTV chiếm 40-

42%; sản phẩm cao su 20-22 % và sản phẩm hóa chất cơ bản trên 10 %

Từ năm 2007, theo quyết định của Chính phủ, VINACHEM đã hoạt động

theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Đây là điều kiện tốt để Tổng Công ty tự

tin bước vào hội nhập kinh tế và góp phần quan trọng đưa CNHC Việt Nam tham gia tiến trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước

1I.3.1.2 Hiện trạng phát triểun CNHC

1 Quy mô và năng lực sản xuất

Trong nhiều năm qua, tỷ trọng của CNHC nước ta luôn chiếm khoảng trên 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành Công nghiệp với các ngành sản xuất đã được định hình là:

có thể tăng thêm công suất

* Phân lân nung chảy (PLNC): Hiện chủ yếu được sản xuất tại 2 cơ sở thuộc VINACHEM, năng lực sản xuất có thể đến 600 nghìn tấn/năm Song hiện tại công suất thực hiện tổng cộng chỉ cỡ 400 nghìn tấn/năm VAFCO có năng lực sản xuất lớn nhất, đến 400 nghìn tấn/ năm NIEERCO có năng lực sản xuất khoảng 300 nghìn tấn/năm

Ngoài ra một số xí nghiệp địa phương cũng sản xuất PLNC (Nhà máy Phân lâa Hàm Rồng - Thanh Hóa sản xuất 20 nghìn tấn PLNC/năm) Hiện LAFCHEMCO cũng đang có kế hoạch đầu tư xây dựng một dây chuyển sản xuất PLNC và dự kiến dây chuyền này sẽ đi vào hoạt động vào năm 2009-2010

+ Phân đạm: Hiện tổng năng lực sản xuất cả nước đạt 900 nghìn tấn

urê/năm Trong đó Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc-HANICHEMCO

18

Trang 20

(thuộc VINACHEM) với năng lực sản xuất 180 nghìn tấn urê/năm đi từ nguyên liệu than cám Nhà máy Phân đạm từ than Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn urê/năm (do VINACHEM đâu tư) sẽ đi vào hoạt động năm 2011

+ Phân hỗn hợp: Hiện cả nước có hàng trăm cơ sở sản xuất phân hỗn hợp NPK, trong đó 55% năng lực sản xuất thuộc về trên 20 doanh nghiệp lớn thuộc các hình thức sở hữu khác nhau (DNNN, cổ phần và có vốn đầu tư nước ngoài) với năng lực sản xuất tổng cộng đến 4,0 triệu tấn NPK/năm, trong đó riêng VINACHEM có thể sản xuất trên 2,8-3,0 triệu tấn/năm Ngoài ra còn có những

khối lượng lớn phân vi sinh (1,2 triệu tấn/năm), phân bón lá, phân khoáng trộn,

v.v được sản xuất và cung cấp ra thị trường

Đến nay trên thị trường Việt Nam có trên 600 loại phân bón được đăng ký

SXKD QD s6 40/2004/QD-BNN, ngay 19/8/2004, Bộ NN và PTNT đã đưa ra Bản danh mục bao gồm 21 loại phân bón khoáng đơn, 577 loại phân đa yếu tố

(gồm 9 loại phân phức hợp và 568 loại phân khoáng trộn), 8 loại phân vi sinh, 4 loại phân hữu cơ vi sinh, 50 loại phân hữu cơ sinh học, 61 loại phân hữu cơ

khoáng, 387 loại phân bón lá và phân dạng lỏng, 44 loại phân có bổ sung chất điều hoà sinh trưởng và 7 loại chất hỗ trợ cải tạo đất được đăng ký sản xuất kinh

doanh Hàng năm danh mục các loại phân NPK, hữu cơ vi sinh, phân bón lá và

phân dạng lỏng, v.v được xem xét và bổ sung

- Nhóm sản phẩm thuốc BVTV

Sản xuất trong lĩnh vực thuốc BVTV (với năng lực sản xuất 50-100 nghìn tấn/năm) hiện tại chủ yếu vẫn dưới hình thức gia công Có một số cơ sở liên

doanh của VINACHEM đã sản xuất được một số hóa chất trừ nấm bệnh (như

cacbofuran, validamyxin và một số hoạt chất khác) với công suất nhỏ

Đến nay cả nước có trên hàng trăm cơ sở sản xuất, gia công thuốc BVTV Trong số này hầu hết là cơ sở nhỏ đã được cổ phần hóa, 9 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài VINACHEM có I1 công ty thành viên chuyên sản xuất thuốc BVTV

là Công ty cổ phần Thuốc Sát trùng Việt Nam (VIPESCO) VIPESCO hiện

chiếm khoảng 10% thị phần của sản phẩm thuốc BVTV cả nước 3 cơ sở liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài của VIPESCO là KOSVIDA (chuyên sản xuất

các các phụ gia hoạt động bề mặt phục vụ gia công thuốc BVTV và các hoạt chất thuốc BVTV nhu cacbofuran , BPMC, excelBasa, glyphosate, perfect , 1soprothiolane, difenoconazole, propiconazole, v.v với năng lực sản xuất 2.000

tấn hoạt chất / năm), và VIGUATO chuyên sản xuất hoạt chất trừ nấm validamyxin (năng lực sản xuất 3.000 tấn/năm) và MOSFLY Việt Nam chuyên sản xuất hương (nhang) trừ muỗi và các chế phẩm diệt côn trùng gia dụng

Trang 21

Công ty Inoue Việt Nam (sản xuất lốp ôtô du lịch và xe tải nhẹ); Công ty

Yokohama (san xuất lốp xe máy) Các doanh nghiệp địa phương hiện chỉ sản xuất được săm lốp xe đạp và xe máy ở quy mô nhỏ

- Nhóm cdc san phẩm hóa chất

Hầu hết các sản phẩm hóa chất vô cơ cơ bản sản xuất trong nước do các

doanh nghiệp của VINACHEM đảm nhiệm Riêng với các sản phẩm xút - clo, ngoài 2 doanh nghiệp của VINACHEM (Công ty TNHH một thành viên Hóa chất Cơ bản miền Nam-SBCC và Công ty cổ phần Hóa chất Việt Trì-VICCO) cung cấp, còn do một số cơ sở sản xuất thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam

(Công ty Giấy Bãi Bằng, Giấy Biên Hòa ), hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài (Công ty VEDAN) cung cấp

Trong nước hiện nay không có cơ sở nào sản xuất các sản phẩm hóa chất

hữu cơ cơ bản ở quy mô công nghiệp trừ một số nhà máy đường sản xuất các loại cồn (etanol) công nghiệp và cồn thực phẩm

Cụ thể, tình hình sản xuất các sản phẩm hoặc hoá chất trong nước hiện nay

máy của VINACHEM (VICCO và Nhà máy Hóa chất Biên Hòa thuộc SBCC)

sản xuất chiếm trên 20% sản lượng xút chung của toàn ngành Các Công ty Giấy Bãi Bằng, Giấy Tân Mai, Giấy Đồng Nai, tổng cộng 15%, còn lại 60% do Công

ty Bột ngọt VEDAN sản xuất Tất cả các cơ sở sản xuất xút-clo ở Việt Nam đều

20

Trang 22

sản xuất ra sản phẩm xút lỏng (dung dịch 30 - 32% NaOH) phù hợp cho sử dụng của các ngành giấy, sản xuất hóa chất, v.v

Hiện tại, VINACHEM đang tiếp tục đầu tư nâng công suất các dây chuyển xút-clo hiện có: VICCO đầu tư mới một dây chuyền với công suất 10 nghìn tấn

xút/năm theo công nghệ membrane để đưa công xuất tổng lên 20 nghìn tấn xút/năm; SBCC cũng đầu tư để nâng công suất hiện tại (20 nghìn tấn xút/năm)

lên 30 nghìn tấn xút/năm

Sản xuất axit clohyđric (HCI) toàn ngành có năng lực tổng cộng không dưới

200 nghìn tấn/năm (loại 37%) và phục vụ chủ yếu cho sản xuất bột ngọt và chế biến thực phẩm Riêng VINACHEM hiện có sản lượng ước 80 nghìn tấn/năm

Phần còn lại do nhiều công ty khác thực hiện (Công ty Bột ngọt VEDAN, các

công ty của ngành Giấy, v.v )

Clo lỏng hiện còn có công suất nhỏ (vài chục nghìn tấn/năm) và phụ thuộc mạnh vào nhu cầu thị trường xử lý nước Trong nhiều năm nay riêng VINACHEM cung cấp khoảng 6 nghìn tấn/năm

Nhìn chung đến thời điểm hiện tại, công nghiệp xút - clo của Việt Nam

chưa đảm bảo tốt cân bằng clo Trong khi hầu hết các nhà máy sản xuất đều thừa clo (và hyđro) thì tại Công ty VEDAN lại thừa xút (phải xuất khẩu) Tuy nhiên hiện nay tình hình cân bằng clo đang được cải thiện dần do các nhà sản xuất nỗ lực tìm đầu ra cho clo đồng thời do nhu cầu clo lỏng, axit clohyđric và các muối

clorua tăng, mà tình trạng thừa clo hiện đã đỡ gay gắt hơn Tuy nhiên vấn đề cân

bằng clo hiện vẫn chưa được giải quyết dứt điểm nên có những thời gian thị trường cần xút nhưng các nhà sản xuất không thể tăng được công suất sản xuất

do không tiêu thụ được clo

+ Phốt pho vàng, axit phốtphoric và các muối phốt phát:

Ở nước ta photpho vàng được sản xuất theo phương pháp nhiệt tại Lào Cai Hiện tại, VINACHEM có 2 dây chuyền sản xuất phốt pho vàng hoạt động Một dây chuyền công suất 2 nghìn tấn /năm được xây dựng từ năm 1999 nhưng đến năm 2004 mới hoạt động chính thức Dây chuyền thứ 2 có công suất 6 nghìn tấn

P,/nam, hoạt động từ năm 2005 Ngoài ra hiện cũng đang có một số dự án xây

dựng dây chuyển sản xuất phốt pho vàng với tổng công suất ước 16 nghìn tấn

P,/nam

Hiện tại, tổng năng lực sản xuất axit phốtphoric cả nước là 25 nghìn tấn H;PO//năm, nhưng sản lượng dao động nhiều tùy thuộc vào nhu cầu, nhất là nhu cầu sản xuất natri tripolyphốtphát Hiện tại toàn bộ lượng axit phốtphoric sản

Trang 23

xuất trong nước đều là axit phốtphoric nhiệt (dùng phốt pho vàng làm nguyên liệu)

Tổng năng lực sản xuất natri tripolyphốtphát và các muối phốt phát khác của cả ngành CNHC khoảng 20-30 nghìn tấn và đi từ axit phốtphoric nhiệt Song sản lượng này phụ thuộc mạnh vào giá natri tripolyphốtphát và giá nguyên liệu trên thị trường (nhất là phốt pho vàng và axit phôtphoric nhập khẩu) Nếu giá nhập khẩu natri tripolyphốtphát có lợi hơn thì sản lượng sản xuất trong nước giảm đi Nhu cầu chính của natri tripolyphốtphát và các muối phốt phát khác ở nước ta hiện là của ngành sản xuất các chất giặt rửa Trong tương lai khi zeolite

được sử dụng nhiều trong sản xuất các chất giặt rửa (phù hợp với các yêu cầu về

môi trường) thì có thể nhu cầu natri tripolyphốtphát và các muối phốt phát khác

có thể sẽ giảm đi

Hiện tại ở Việt Nam không có cơ sở nào sản xuất axit phốtphoric theo công nghệ trích ly ở quy mô công nghiệp Dự kiến, khi nhà máy DAP Hải Phòng

(thuộc VINACHEM)) hoạt động sẽ có sản phẩm loại này

+ Đất đèn: Hiện tại các cơ sở sản xuất đất đèn (CaC,) ở nước ta đều có quy

mô nhỏ, hoạt động theo công nghệ lò hỗn hợp dùng than cốc và điện với trình độ thiết bị thấp, năng suất thấp, chi phí giá thành cao và nhất là gây ô nhiễm môi trường Đáng kể nhất là dây chuyên sản xuất đất đèn tại Nhà máy Đất đèn và Hóa chất Tràng Kênh (thuộc Công ty TNHH một thành viên Hơi kỹ nghệ- Que hàn - SOVIGAZ) có sản lượng hàng năm khoảng 10 nghìn tấn CaC,/năm

+ Nati silicat (thủy tỉnh lỏng): Năng lực sản xuất natri silicat (Na,SiO,xH,O) cả nước tổng cộng là khoảng 100 nghìn tấn/năm, chủ yếu dùng cho công nghiệp sản xuất chất giặt rửa, tuyển quặng, sản xuất que hàn điện, v.v

Công nghệ phổ biến được dùng để sản xuất sản phẩm này là công nghệ nung

phối liệu chứa sôđa (nhập khẩu) và cát thạch anh (nguyên liệu trong nước) trong

lò bằng Một số cơ sở còn sản xuất natri silicat từ nguyên liệu cát thạch anh và xút lỏng sử dụng lò quay có áp suất cao (trên dưới 10 at) Riêng VINACHEM hiện có 7 cơ sở sản xuất natri silicat với sản lượng hàng năm tổng cộng khoảng

50 nghìn tấn

+Alumin và phèn nhôm: Công suất sản xuất alumin của các cơ sở trong ngành Hóa chất hiện nay vào cỡ 100 nghìn tấn/năm và phèn nhôm (chủ yếu là

phèn đơn) cỡ 50 nghìn tấn/năm Sản phẩm phen nhôm được dùng để xử lý nước

cấp Các cơ sở sản xuất chính các loại sản phẩm này là SBCC và LAFCHEMCO (đều thuộc VINACHEM)

22

Ngày đăng: 04/06/2014, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w