Thông thường trong m ột đàn nái sinh sản bao gồm các loại lợn sau đây: SỐ lượng lợn nái hậu bị trong một cơ sở giống tuỳ thuộc vào qui mô đầu lợn m à chọn giữ lại nhiều ít khác nhau và t
Trang 1Chương IV
KỸ THUẬT CHÂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN
1 C ơ CẤU ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN
N uôi lợn nái sinh sản là một trong những khâu quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của nghề kinh doanh lợn Bởi vì năng suất của nghề nuôi lợn phụ thuộc vào số con sơ sinh sống cho đến khi cai sữa Số lượng lợn con cai sữa sẽ quyết định số lợn xuất chuồng giết mổ
Tuỳ theo qui mô đàn lợn mà số lượng các loại lợn nái sinh sản có khác nhau Thông thường trong m ột đàn nái sinh sản bao gồm các loại lợn sau đây:
SỐ lượng lợn nái hậu bị trong một cơ sở giống tuỳ thuộc vào qui mô đầu lợn m à chọn giữ lại nhiều ít khác nhau và tuỳ thuộc vào tỉ lệ loại thải đối với lợn cái hậu bị
2 Lợn nái kiểm định
Lợn nái kiểm định được tính từ khi lợn được phối giống có chửa lần đầu đến khi
đẻ lứa 1 Thời gian này gọi là nái kiểm định I Nếu lợn cái hậu bị được phối giống có chửa lúc 8 tháng tuổi cộng với thời gian chửa là 3 tháng 24 ngày cộng với thời gian nuôi con là 28 ngày thì tổng số thời gian để đánh giá lợn nái kiểm định I là: 12 tháng 22 ngày Nếu thời gian nuồi con kéo dài đến 35 ngày hoặc 56 ngày tuổi thì thòi gian tính cho lợn nái kiểm định sẽ dài hơn
Lợn nái phối giống có chửa lứa thứ 2 gọi là nái kiểm định II
Trang 2Thời gian đủ để đánh giá nái kiểm định n là:
Thòi gian cho nái kiểm định I: 12 tháng 22 ngày
Thời gian chờ động dục lại: 10 ngày
Thời gian chửa và nuôi con: 4 tháng 22 ngày.
Tổng số thời gian tối thiểu (áp dụng cai sữa lúc 28 ngày tuổi) để đánh giá nái kiểm định
cả I và n để đưa lôn nái cơ bản là 17 tháng 24 ngày, xấp xỉ 18 tháng.
3 Lợn nái cơ bản
Nái cơ bản là nái đã đẻ qua 2 lứa, tức là đã qua nái kiểm định I và nái kiểm định
II và đã được chọn lọc giữ lại làm nái sinh sản Lợn nái cơ bản phải đạt phẩm cấp tổng hợp từ cấp II trở lên, trong đó cấp sinh sản phải đạt từ cấp I trở lên theo tiêu chuẩn giám định của giống.
Trong hệ thống nhân giống Quốc gia thì nái cơ bản được coi là hệ thống ông bà G.p (Grand - Parents).
4 Lợn nái hạt nhân
Là đàn nái đã được chọn lọc thuần chủng, đã qua kiểm tra năng suất, phẩm cấp tổng hợp phải đạt từ cấp I trờ lên đến đặc cấp, trong đó cấp sinh sản phải đạt từ đãc cấp trở lên.
Nái hạt nhân chính là đàn nái: Bà cụ GGP (Great Grand Parents), dùng để sản xuất ra đàn lợn thuần chủng cao.
Như vậy trong nhân giống đàn lợn giống GGP không có lai tạp Đến thế hệ GP ông bà
đã có thể sử dụng nái lai 2 máu Ở thế hệ p (bố mẹ) là các loại lai 2 máu lặp lại hoặc 3 máu và cuối cùng là đàn lợn thương phẩm có năng suất cao.
II CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ s ứ c SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI
1 Khả năng sinh sảo
Khả năng sinh sản của lợn nái được đánh giá theo các chỉ tiêu sau đây:
Trang 3Đ ây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng Nó nói lên khả năng đẻ nhiều con
hay ít con của giống, nói lên kỹ thuật chăm sóc lợn nái có chửa và kỹ thuật thụ tinh của
- Loại đẻ ra còn sống: trong số này sẽ có một số con đã chết trong vòng 24h mà không phải do mẹ đè chết, một số khác do mẹ đè chết Như vậy số con sơ sinh sống đến 24h = SỐ con đẻ ra sống - số con chết trong 24hẵ
- Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, đã kết thúc giai đoạn chửa nhưng lợn đẻ ra như còn non tháng Loại thai non đã chết trong thời gian có chửa
và trước khi sinh ra
N guyên nhân của nó có thể là do nhiễm trùng như: Lepto, giả dại hoặc do thiếu dinh dưỡng SỐ thai non cao trong một lứa đẻ sẽ làm cho số lợn con sơ sinh trong lứa thấp
- Loại thai gỗ : Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 tói 90 ngày tuổi Thai chết ở giai đoạn này không gây sẩy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại
N guyên nhân do các thai không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng làm cho nhau' thai phát triển không đầy đủ, các thai phát triển dị dạng hoặc do bị nhiễm vi rút như: Entorovữus, Parvovirus Lợn nái chửa bị nhiễm Parvovừus lúc 70 ngày chửa về trước thì mới gây ra thai gỗ Các lợn cái hậu bị được nuôi cách ly và tiêm phòng đầy đủ sẽ ít khả năng nhiễm Parvovirus trong thời gian chửa
1.1 S ố con sơ sinh sống đến 24h trên lứa dẻ
Trang 4Số lợn con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24h cho một lứa đẻ.
Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong sản xuất người ta thường tính tỉ lệ thai non, thai gỗ như sau:
SỐ thai non+ Tỉ lê thai non (%) = —7 -— - -— X 100
Tổng sđ thai đẻ ra(Bao gồm: số con sống, số con chết, thai non, thai gỏ)
SỐ thai gỗ+ Tỉ lê thai gỗ (%) = — -— ^ - X 100
Tổng số thai đẻ ra(Bao gồm: số con sống, số con chết trong 24h, thai non, thai gỗ)
I J ề Sô lợn con cai sữa trên lứa
Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn là phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ãn cho lợn con ở các nước tiên tiến người ta cho lợn con tách mẹ ở 21, 28, 35 ngày tuổi Tách lợn con khỏi lợn mẹ sẽ làm cho số lứa đẻ của một nái trên năm tảng lên, đổng thòi hạn chế được m ột số bệnh hay lây truyền từ mẹ sang con
Ở nước ta, các trại chăn nuôi Nhà nước có thể cho lợn con tách mẹ lúc 35 ngày tuổi, còn chăn nuôi trong các hộ nông dân thì vẫn cai sữa ở 60 ngày tuổi
SỐ lợn con cai sữa trên lứa là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định nãng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuậtchăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
Số con sổng đến cai sữa
Tỉ lê nuôi sống (%) = - -— - -— X 100
SỐ lợn con để lại nuôiTrong một số ổ lợn, số lượng lợn con sinh ra nhiều nhưng để bảo đảm cho sự phát triển bình thường của lợn con, người ta chỉ để lại một số lợn con nhất định để nuôi Tỉ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt
1.4 S ố lợn con cai sữa/núi/năm
Chỉ tiêu này là sự đánh giá tổng quát nhất đối vói nghề nuôi lợn nái Người ta nuôi lợn nái có thể thu được lãi hay không là nhờ số lượng lợn con cai sữa/nái/năm Nếu
Trang 5tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong m ỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao.
2 Chất lượng đàn con
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đàn con bao gồm:
2.1 Trọng lượng sơ sinh toàn ổ
Là trọng lượng được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho
bú sữa lần đầu
Trọng lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn
m ẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của m ột số
cơ sở chăn nuôi Do đó thành tích này là bao gồm cả phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người Nhưng trước hết thuộc về thành tích của lợn nái
Trọng lượng sơ sinh toàn ổ là trọng lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn Những lợn con sơ sinh khoẻ mạnh và bị mẹ đè chết là thuộc trách nhiệm quản lý của cơ sờ chăn nuôi chứ không thuộc về thành tích sinh sản của lợn nái
Đối với cơ sở giống nhất là đối với các cơ sở nhân giống thuần chủng của đàn hạt nhân (GGP) thì nhất thiết phải cân trọng lượng sơ sinh của từng con, có đánh số tai
để theo dõi tăng trọng qua các tháng tuổi Còn ở cơ sở chăn nuôi thương phẩm chỉ cần cân trọng lượng toàn ổ để đánh giá thành tích sản xuất là được
Trọng lượng sơ sinh cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau
2 ế2 Trọng lượng 21 ngày toàn ổ
Trọng lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá tăng trọng của lợn con
và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất vào ngày thứ 21, sau đó giảm dần do đó người ta dùng trọng lượng toàn ổ lúc
21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn m ẹỗ
Trang 62.3 Trọng lượng toàn ổ lúc cai sữa
Ngày nay kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con có bước phát triển lớn Tuỳ theo trọng lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa: 24, 28, 35 ngày m à người ta
có loại thức ăn cho phù hợp
Do vậy người ta có thể tách lợn con ra khỏi lợn mẹ mà không cần đợi lợn con tới 56 ngày hoặc 60 ngày tuổi mới cai sữa Tuy nhiên trọng lượng lợn con cai sữa ở 24 hoặc 28 ngày tuổi chỉ có tác dụng trong việc định mức dinh dưỡng cho chúng Còn thành tích sản xuất của lợn nái thì phải cân trọng lượng của lợn con ở 56 hoặc 60 ngày tuổi thì mới
so sánh đánh giá với nhau được
ở nông thôn nước ta hiện nay, cai sữa lợn ở 60 ngày tuổi là phổ biến Ở lứa tuổi này lợn con hoàn toàn có thể tiôu hoá được các loại thức ăn thông thường không cần phải chế biến đặc biệt như thức ăn dùng cho cai sữa ở 24, 28 hoặc 35 ngày tuổi
Trọng lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến trọng lượng sơ sinh, làm nền tảng
và điổm xuất phát cho trọng lượng xuất chuồng
Đối với cơ sở nhân giống thuần, thuộc hệ GGP nhất thiết phải cân trọng lượng cai sữa
56 hoặc 60 ngày tuổi cho từng cá thể để chọn lựa cá thể tốt để làm giống
2.4 T ỉ lệ dồng đều của dàn lọn con
Trong một lứa lợn, sự đồng đều giữa các cá thể trong đàn nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc và phòng dịch bộnh cho lợn con
Tỉ lệ đồng dổu được tính bằng tỉ lệ phần trảm giữa cá thể có trọng lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có trọng lượng cao nhất trong đàn
Sự chônh lệch trọng lượng giữa hai cá thể này càng ít thì tỉ lệ đồng đều càng cao Trọng lưựng cơ thổ cao thì cũng cho tỉ lệ đồng đểu cao
Ví dụ: + Đỉrn lợn A có trọng lưựng con bé nhất là 9kg, trọng lượng con cao nhất làlOkg
+ Đàn lựn B có trọng lưựng con bé nhấl là 14 kg, trọng lượng con cao nhất là15kg
9
Tỉ lộ đồng đều đàn A = — X 100 = 90 %
10
Trang 7Tỉ lê đồng đều đàn B = — X 100 = 93 %
15
N hư vậy sự chênh lệch và tỉ lệ đồng đều giữa hai đàn là 3%, trong khi sự chênh lệch về trọng lượng giữa hai cá thể cao nhất và thấp nhất của cả hai đàn là giống nhau, cùng bằng 1 kg
3 Khoảng cách lứa đẻ
Là thòi gian để hoàn thành một chu kỳ sinh sản
Bao gồm: Thời gian chửa + thòi gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa
Trong ba yếu tố trên thì thời gian mang thai là không thể thay đổi Còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối có thể thay đổi để rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ ngắn sẽ làm tâng số lứa đẻ của nái /nãm
V í dụ: - Một lợn nái chửa: 114 ngày
- Thời gian nuôi con: 28 ngày-Thời gian chờ phối: 10 ngày
Tổng cộng cả chu kỳ sinh sản hết 152 ngày Vậy một năm lợn nái ấy đẻ tối đa là 2,4 lứa
ị
M ột lợn nái khác: - Thời gian chửa: 114 ngày
- Nuồi con: 42 ngày
- Thời gian chờ phối: 6 ngàyTổng cộng là 162 ngày cho một chu kỳ sinh sản Vậy lợn nái đẻ 2,2 lứa/năm
4 Khả năng tiết sữa
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chi tiêu nói lên khả nâng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống, kỹ thuật chãm sóc, nuôi dưỡng lợn nái của cơ sở chăn nuôi
Lợn không có bầu sữa, do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn mẹ thông qua trọng lượng đàn con
Trang 8N gày nay người ta dùng trọng lượng đàn con lúc tách m ẹ để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn m ẹỗ Nếu tách mẹ ở 28 ngày tuổi thì trọng lượng toàn đàn lúc 28 ngày tuổi là con số để đo khả năng tiết sữa của lợn mẹ.
Nếu muốn so sánh các cá thể lợn nái với nhau thì thời gian cai sữa phải giống nhau mới so sánh chính xác được
Đường cong tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất thường ở vào ngày thứ 21 V ì vậy để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta ít khi cho cai sữa trước ngày thứ 21 m à thông thường cai sữa ở 28, 35 hoặc 42 ngày tuổi, tuỳ theo điều kiện thức ăn có được cho lợn con Khi so sánh, đàn lợn con nào có trọng lượng cao hơn thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ tốt hơn
5 Tỉ lệ hao hụt của lợn mẹ• • • •
Lợn mẹ sau khi đẻ, nuôi con cơ thể bị gầy sút, điểu ấy rất ảnh hưởng tới thời gian động dục lại sau cai sữa của lợn mẹ và năng suất của lứa tiếp theo Do đó người ta cần tính tỉ lệ hao hụt của lợn mẹ, tỉ lệ hao hụt càng bé càng tốt
Trọng lượng lợn mẹ sau khi đẻ 24h - Trọng lượng lợn mẹ sau khi cai sữa
Ti lộ hao hụt(% )= - x io o
Trọng lượng lợn mẹ sau khi đẻ 24hLợn sau khi đẻ được 24h thì cân trọng lượng Khi cai sữa lợn con thì cân trọng lượng lợn mẹ Sự hao hụt trong quá trình nuôi con cũng nói lên khả năng tiết sữa của lợn mẹ và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn cùa cơ sở chăn nuôi
Cai sữa sớm cho lợn con là biện pháp hữu hiệu làm giảm tì lệ hao hụt của lợn mẹ
III NHŨNG NHÂN TÔ LÀM ẢNH HƯỞNG TỚI s ứ c SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI
Trong các nhân tố làm ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái có thổ chia thành hai loại:
- Nhân tố tác động do di truyền
- Nhân tố tác động do ngoại cảnh
Trong các nhủn lố ngoại cảnh thì có hai loại:
Trang 9- N hân tố tác động do thiên nhiên như: thòi tiết, k hí hậu.
- N hân tố tác động do con ngưòi như: thụ tinh nhân tạo, cai sữa sớm, bổ sung thức ăn cho lợn con
2 Phương pháp nhân giống
Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau
Cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng cũng chính là nãng suất của giống đó
3 Tuổi và trọng lượng phối giống lứa đầu
Lợn cái hậu bị phải thành thục cả về hai phương diện: thành thục về tính và thành thục về thể vóc thì mới cho phối giống lứa đầu được
- Thành thục về tính tức là lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục và rụng trứng
Lợn cái nội như ỉ, Móng Cái có tuổi thành thục về tính là 5 - 8 tháng
Lợn cái hâu bị nuôi nhốt sẽ có thời gian thành thục về tính chậm hơn lợn cái hậu bị nuôi thả
Trang 10Trong giai đoạn hậu bị, lợn nội được 4 tháng tuổi, lợn ngoại được 5 tháng tuổi, nếu cho tiếp xúc với lợn đực sẽ thúc đẩy lợn cái hậu bị động dục sớm hơn.
Khi tiếp xúc với lợn đực chỉ nên cho tiếp xúc với lợn đực còn non (khoảng 1 nãm tuổi) Ở tuổi này lợn đực cũng đã có kinh nghiệm trong việc gây kích thích cho lợn cái, đồng thời về tuổi tác và thể vóc không quá chênh lệch làm cho lợn cái hậu bị không phải sợ sệt, rụt rè trong khi tiếp xúc
Lợn cái hậu bị động dục lần đầu không nên cho phối giống ngay m à nên cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc lần động dục thứ ba Sở đĩ như vậy vì cho phối giống ở lần động dục đầu tiên sẽ cho tỉ lệ thụ thai thấp mà nếu có thụ thai thì số lợn con trên lứa sẽ thấp
N goài ra tình hình thảng trầm về giá cả thức ãn, triển vọng của việc tiêu thụ lợn con có thể làm cho việc phối giống chậm lại 1,2 kỳ động dục
V í dụ: người nuôi lợn thịt, nhằm vào thời điểm bán thịt lợn tết nguyên đán nên
có thể nuổi chậm lại 1 tháng hoặc 1 tháng rưỡi Người nuôi lợn nái cần bán lợn con phục vụ việc nuôi lọn thịt bán vào dịp tết, sẽ có thể cho phối giống chậm lại
Sự thành thục về thể vóc là sự phát triển, sinh trưởng đầy đủ của các cơ quan bộ phận của cơ thể Khi lợn hậu bị đã thành thục về thể vóc thì mới cho phối giống Tuy nhiên lợn cái hậu bị quá béo làm hạn chế rụng trứng, do đó làm giảm số lợn con/lứa Vì vậy lợn cái hậu bị ngoại nuôi đến 6,7 tháng tuổi phải cho ăn hạn chế để đến khi phối giống: khoảng 7,5 - 8 tháng tuổi lợn đạt trọng lượng 100 - 110 kg là vừa
4 Thứ tự các lứa đẻ
Khả năng sản xuất của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau
Lợn cái hậu bị, ở lứa đẻ thứ nhất cho số lượng con trên ổ thấp Sau đó từ lứa thứ
hai trở đi SỐ lợn con trên ổ sẽ tăng dần lên cho đến lứa đẻ thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu
giảm dần
Trong sản xuất người ta thường chú ý giữ vững số lượng lợn con/ổ ở các lứa từ thứ sáu trở đi bằng kỹ thuật chăn nuôi, quản lý, chãm sóc sao cho đàn lợn mẹ không tăng cân quá và cũng không gầy sút quá
Trang 11Giữ vững năng suất bằng cách kéo dài thành tích sinh sản của các lứa đẻ từ lứa thứ sáu trở đi cho đến lứa thứ mười sẽ có lợi hơn nhiều là loại thải chúng đi để thay th ế bằng đàn nái hậu bị khác Nếu tăng số lợn nái hậu bị đẻ lứa một vào đàn nái sinh sản sẽ làm tăng giá thành của 1 kg trọng lượng lợn con cai sữa, làm giảm lợi nhuận của cơ sở chăn nuôi.
5 Kỹ thuật phối giống
Kỹ thuật phối giống có ảnh hường tới số lượng con/lứa Chọn thòi điểm phối
giố n g thích hợp sẽ làm tăng tỉ lệ thụ thai và số con/lứa.
Nên chú ý rằng, nếu lợn cái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 - 40 giò sau khi bắt đầu chịu đực
Cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ giảm sút nhanh chóng
Đối với đàn lợn hạt nhân thì chỉ nên cho giao phối theo lối ghép đôi Một lợn cái chỉ cho giao phối với một lợn đực Nhưng để đảm bảo tỉ lệ thụ thai cao và số lượng lợn con trên ổ cao thì nên phối lặp
Đối với đàn lợn lai, sinh con thương phẩm thì có thể cho phối kép, tức là phối hai lần với hai đực giống khác nhau Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp và phối kép: từ 12 - 14 giờ cho lợn nái cơ bản, đối với lợn cái hậu bị thời gian này khoảng
từ 1 0 - 12 giờ
Trong kỹ thuật phối giống ngoài các thao tác nghề nghiệp ra, điều CỐI yếu là phải xác định thời điổm phối giống thích hợp Thòi điểm phối giống thích hợp có sự khác nhau giữa lợn nội và lợn ngoại, giữa nái cơ bản và nái hậu bị
Sơ đồ dưới đây cho thấy ảnh hưởng của thời điểm phối giống đến tỉ lệ thụ thai và có liên quan đến thời điểm trứng rụng
Trang 12Thời gian sau khi bắt đầu chịu đực (giờ) Theo cẩm nang chăn nuôi lợn -1996
IV NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN NÁI•
Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái cũng nhằm hai mục đích:
Duy trì sự sống bình thường và sản xuất
Sản xuất của lợn nái thì có: nuôi thai và tiết sữa
Phần nhu cầu năng lượng đã giới thiệu ở phần nuôi dưỡng lợn đực
1 Nhu cầu protein
1.1 Protein thô
Phần lớn protein động vật chứa 16% Nitơ Protein thô chính là N itơ tổng số nhân với 6,25 đối với thức ăn có nguồn gốc động vật và nhân với 5,7 - 5,95 đối với thức ăn có nguồn gốc thực vật
i 2 ể Protein thuần (tinh)
Protein luôn có chứa Nitơ nhưng không phải bất cứ hợp chất hữu cơ nào có chứa
N itơ đều được coi là protein Hợp chất chứa Nitơ nhưng khổng phải là protein thì gọi là
■%
N itơ phi protein
Protein thuần là hiệu số của protein thô và các hợp chất Nitơ phi protein
Trang 131.3 Protein tiêu hoá
Là hiệu số của protein thô trong thức ăn và protein thô trong phân
N itơ trong thức ăn - N itơ trong phân = N itơ tiêu hoá
N itơ tiêu hoá - N itơ trong nước tiểu = N itơ trao đổi
(hay N itơ sinh học) chính là N itơ tích luỹ
N itơ tích luỹ dùng vào hai mục đích: duy t ì và sản xuất
Trong khi tính toán nhu cầu protein để lên khẩu phần ăn ta cần chú ý 3 nguyên tắc cơ bản trong dinh dưỡng protein là:
- Protein động vật (bột cá, bột thịt, bột sữa ) và protein nấm men là loại protein
có giá trị sinh vật học cao
- Sự đa dạng trong thành phần thức ăn giúp khắc phục sự thiếu hụt các axit amin
- BỔ sung vào khẩu phần một lượng protein cao hơn nhu cầu để đảm bảo sự cân bằng axít amin trong khẩu phần thức ăn
1.4 Tính nhu cầu proíein cho lợn
Qua các kết quả nghiên cứu, người ta thấy tốc độ tăng trọng phần nạc của lợn (cũng chính là phần protein) từ 20 kg - 120 kg tương đối ổn định Khoảng 15% trọng lượng cơ thể là protein, trong đó 6 - 13% protein được chu chuyển hàng ngày để duy trì Trong qúa trình chu chuyển 6% protein bị mất đi
20
‘ 304050658095
13121110987
Trang 14Cách tính hệ số nhu cầu duy trì:
V í dụ: Lợn có trọng lượng 20 kg có tỷ lệ protein trong trọng lượng cơ thể là 15%= 0,15,
có 13% lượng protein chu chuyển hàng ngày = 0,13 trong đó có 6% protein bị m ất đi
=0,06
Vậy hệ SỐ nhu cầu protein duy trì của lợn 20 kg là: 0,15 X 0,13 X 0,06 = 0,0012
H ệ số nhu cẩu duy trì:
N hu cầu protein của lợn 50 kg có mức tăng 450 g nạc m ột ngày là: lOOg + 45 g = 145g
Nếu giá trị sinh vật của thức ăn là 65% thì 145/0,65 = 223g
N ếu tỉ lệ tiêu hoá là 80% thì 223/0,8 = 280 g
Vậy nhu cầu một ngày đêm là 280 g protein
Trang 15+ Đối với lợn nái nuôi con thì nhu cầu protein sản xuất chính là nhu cầu protein sản xuất sữa.
Sữa lợn mẹ có 6% protein Nếu một lợn mẹ m ột ngày tiết 5 kg sữa thì 5000g X 0,06 = 300g
Nếu giá trị sinh vật học là 70% thì 300/0,70 = 428g
Nếu tỉ lệ tiêu hoá 80% thì: 428/0,80 = 535g
V ậy nhu cầu tiết sữa của lợn mẹ là 535gế
Còn nhu cầu duy trì tính theo công thức đã có ở trên
+ Nhu cầu protein cho lợn có chửa
Khi có thai, trọng lượng lợn tăng lên nhất là ở giai đoạn cuối Tăng lên do trọng lượng của thai, các tổ chức ngoài thai: tuyến vú, rau thai, sự tích luỹ của cơ thể m ẹ cũng
tăngệ
Thai lợn 28 ngày tuổi nặng 1 - 1,5 g
Thai lợn 50 ngày tuổi nặng 50 g
Thai lợn 70 ngày tuổi nặng 220 g
Thai lợn 90 ngày tuổi nặng 600 g
Thai lợn 114 ngày tuổi nặng 1000- 1300 g
Nếu trọng lượng toàn ổ nặng 13 kg thì màng nước ối nặng 2,5 kg, nước ối nặng 2 kg, dạ con và các tổ chức khác nặng từ 1 - 4 kg
Giai đoạn m ang thai lợn có thể tăng trọng lượng từ 5 - 50 kg Thông thường lợn nặng 20
kg có khoảng 3 kg protein, tương đương vdi 26g/ ngày Nếu lợn mẹ có trọng lượng 90 -
100 kg thì nhu cầu duy trì là 60g ở giai đoạn đầu ở giai đoạn 30 ngày cuối nhu cầu tãng lên 65g/ngày
Vậy nhu cầu duy trì ở 80 ngày đầu là 60 + 26 = 86 g/ngày
Nhu cầu ở 30 ngày cuối là: 86 + 65 = 151g/ngày
Trang 16151/0,65 X 0,80 = 179g/ngày
2 Nhu cầu năng lượng lợn nái có chửa
Nhu cầu năng lượng duy trì vẫn là: Edt = 0,5 MJD xP0,75
Bào thai phát triển có 15% protein, 25% mỡ
N ăng lượng tiêu tốn cho sự phát triển trên khoảng 25 M JM E (25 M egajun năng lượng trao đổi) hay 26 M JDE (năng lượng tiêu hoá) cho 1 kg tăng lên của thai
Trong 115 ngày có chửa, trọng lượng lợn mẹ tãng lên khoảng 20 kg N hu cầu năng lượng cần:
20 X 26/115 = 4,5 M JDE cho m ộ t ngày
Nếu lợn có trọng lượng 140 kg thì:
Edt = 0,5 MJDE X 1400'75 = 0,5 X 41 = 20,5 MJDE
Năng lượng cần một ngày: 20,5 + 4,5 = 25 MJDE/ngày
Giai đoạn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi, cho ăn tự do để lợn phát triển hết mức
Từ tháng thứ 6 (đối với lợn ngoại và lợn lai) phải cho tiếp xúc với lợn đực vài ngày một
Trang 17Mức cho ăn lợn cái hậu bị
Sau thụ thai 1 - 3 ngày, hợp tử sẽ chuyển vào bám, làm tổ ở hai bôn sừng tử cung
- Hợp tử lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng và tinh trùng
Trang 18- M ầm thai được hình thành sau 3 - 4 ngày Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàng và tinh trùng Sau đó hình thành màng, mầm thai lấy chất dinh dưỡng qua m àng bằng thẩm thấu.
- Túi phôi được hình thành sau 5 - 6 ngày, túi phôi chứa chất lỏng
- M àng Ối hình thành sau 7 - 8 ngày Màng ối chứa một lượng dịch lỏng lớn, giúp cho phôi nằm thoải mái bôn trong, dễ xê dịch, không va chạm với các cơ quan xung quanh Thời kỳ này màng ối cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi: có protein, đường, m uối, mỡ, caroten và là nguồn cung cấp nước quan trọng cho phôi V ào cuối thòi gian chửa, ưiàng ối giúp sinh đẻ được dễ dàng
- M àng đệm hình thành sau 10 ngày Mặt màng đậm có nhiều lông nhung để lấy chất dinh dưỡng từ mẹ truyền cho phôi
- Màng niệu: hình thành sau 12 ngày, chứa nước tiểu của phôi thai
Cuối thời kỳ này trọng lượng của phôi đạt từ 1 - 2g Thời kỳ này dễ bị tiêu thai Thức ăn hồi mốc, các hoá chất cũng dễ làm hỏng thai Lợn mẹ cần yên tĩnh, không đuổi đi lại, xáo động mạnh
+ Thời kỳ tiền thai: Từ 23 - 39 ngày, thời kỳ này bắt đầu hình thành nhau thai nên sự kết hợp giữa mẹ và con chắc chắn hơn Đến cuối thời kỳ này thai đã tương đối phát dục xong Trọng lượng tãng nhanh, đến ngày thứ 30 trọng lượng đã đạt 3g, ngày thứ 39 trọng lượng đã đạt từ 6 - 7g Chất dinh dưỡng lấy chủ yếu từ cơ thể mẹ
+ Thòi kỳ bào thai: từ 40 - 114 ngày, thời kỳ này trao đổi chất m ãnh liệt, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận như: răng, dạ dầy, ruột, lông và hình thành đầy đủ các đặc điểm giống Bào thai phát triển nhanh nhất là 30 ngày trước khi sinh Đến cuối thời kỳ bào thai, trọng lượng bào thai tăng gấp 600 - 1300 lần Vì vậy nuôi lợn nái có chửa ở thời kỳ cuối là rất quan trọng Nó quyết định ừọng lưựng sơ sinh
Trong thực tế sản xuất, để thuận tiện người ta chia làm hai thời kỳ:
- Chửa kỳ I: từ khi thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ
- Chửa kỳ II: là giai đoạn 1 tháng trước khi đẻ, 3/4 trọng lượng sơ sinh là phát triển ở giai đoạn này
Trang 192 Nhu cầu dinh dưỡng
Protein chửa kỳ I: 90 - lOOg protein/1 đơn vị thức ăn
Protein chửa kỳ II: 100 - 1 lOg protein/1 đơn vị thức ăn
H oặc hỗn hợp thức ăn có 13 - 14% protein và cân đối năng lượng cũng như axít am in,
- Nhu cầu Vitam in A
Lợn chờ phối: 3500 u ự l kg vật chất khô của khẩu phần hoặc 1,5 vạn U I/100 kg trọng lượng lợn
Lợn chửa và nuôi con: 4000 - 4500 UI/1 kg VCK hoặc 2 - 2,2 vạn U I/100 kg trọng lượng lợn
Nếu bổ sung bằng Caroten:
+ Lợn chờ phối: 20 - 25 mg Caroten/100 kg trọng lượng
+ N ái có thai và nuôi con: 30 - 35 mg Caroten/100 kg trọng lượng
- Nhu cầu vitamin B(: lợn có chửa và nuôi con cần 2m g/l kg VCK trong khẩu phần
- N hu cầu vitamin D: lợn có chửa và nuôi con: 350 UI/1 kg VCK
- Nhu cầu vitamin E: 120 - 150 mg/100 kg trọng lượng
- N hu cầu khoáng Ca và P:
Lợn nội: Ca: 8 - lOg/con/ngày
p : 6 - 7g/con/ngày Lợn ngoại: Ca: 15 - lOg/con/ngày
Trang 20giảm còn m ột nửa Lợn nái sắp đẻ đến ngày đẻ, khồng cho vận động 3 - 4 ngày trước khi đẻ.
3 ề2 Công việc trợ sản
Theo dõi sát ngày phối có chửa để dự kiến ngày lợn đẻ, để chuẩn bị cho công việc trợ sản Lợn sắp đẻ bụng căng to, vú căng ra hai bên, khớp xương chậu có hiện tượng giãn ra, nên làm cho người ta cảm thấy lợn bị sụt mông Trước khi đẻ 1 tuần phải đưa lợn nái vào chuồng riêng, có thể là khu hộ sinh, chuồng được tiêu độc sát trùng trước đó 5 - 7 ngày Lợn sắp đẻ, âm hộ tiết dịch nhòm, âm hộ nở to, lợn hay đi lại, đái rắt, vú có hiện tượng chảy sữaệ Khi đẻ lợn nằm nghiêng, lợn là loài đa thai nên khi đẻ đầu, chân ra trước là bình thường Khi đẻ ra lợn con, lợn mẹ không biết liếm cho con nên người trợ sản phải chuẩn bị giẻ để lau khô cho lợn con c ắ t rốn cách khoảng 5cm, phải buộc chỉ ở phía trên rồi mới cắt ở phía dưới, c ắ t xong phải sát trùng bằng cồn Iode Lợn nái thường đẻ con vào ban đêm ỗ Lợn ít khi đẻ khó, cách 5 - 1 0 phút lợn đẻ m ột con
M ột ca trực lợn đẻ thường từ 2 - 3 giờ Lợn con đẻ ra, lau khô và tranh thủ cho bú sữa đầu Lợn mẹ thường vừa đẻ vừa cho con bú Tuy nhiên người ta thường chờ lợn đẻ xong rồi tuỳ thuộc số lượng con, cũng như trọng lượng sơ sinh mà cố định đầu vú cho lợn con
để trọng lượng đàn lợn sinh trưởng đồng đều nhau Cũng có trường hợp lợn đẻ khó, đó
là thời gian đẻ lâu, lợn mẹ yếu sức, không có khả năng rặn, lúc đó ta phải tiêm O xytoxin
để giúp co bóp tử cung Nếu lợn bị vỡ nước ối trước, bị khô, lợn rặn con không ra thì có thể bôi Vaseline Nếu lợn đẻ bọc, phải xé bọc ngay để lấy con ra nếu không lợn con sẽ
bị ngạt phải làm hô hấp nhân tạo để cứu sống lợn con Trường hợp lợn con chết trong bụng mẹ, phải can thiệp bằng tay, để lấy lợn con ra
Tóm lại: Công việc trợ sản rất quan trọng, vì đây là đến lúc sắp thu hoạch Nếu khỡng chú ý để lợn con đẻ ra bị chết, hoặc để lợn mẹ đè chết là tự làm giảm thu hoạch của mình
Trang 21Chương V
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN CON BÚ SỮA
Chăn nuôi lợn con bú sữa là khâu quan trọng nhất trong hệ thống dây chuyền sản xuất của ngành chăn nuôi lợn Suy cho cùng thì năng suất chăn nuôi lợn phụ thuộc vào số lợn con sinh ra còn sống đến khi cai sữa trên một lứa lợn cũng như trên m ột lợn nái trong m ột năm
SỐ lợn con còn sống đến cai sữa là phụ thuộc vào số lượng lợn con đẻ ra trên lứa và kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con bú sữa sao cho tỉ lệ sống đến cai sữa là cao nhất
Còn số con cai sữa/nái/năm lại phụ thuộc vào số lứa đẻ/nái/năm Số lứa đẻ/nái/năm thì phụ thuộc vào thời gian cai sữa cho lợn conỗ Cai sữa sớm số lứa đẻ trong một năm tăng
Nắm được những đặc điểm, nhu cầu và đề ra được những biện pháp kỹ thuật áp dụng cho lợn con bú sữa sẽ góp phần nâng cao hiệu qủa chăn nuôi lợn
I ĐẶC ĐIỂM CỦA LỢN CON BÚ SỮA
1 Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Lợn con sau khi sinh ra có tốc độ sinh trưởng rất nhanh
Sau 10 ngày tuổi trọng lượng tăng gấp 2 lần trọng lượng sơ sinh
Sau 20 ngày tuổi trọng lượng tăng gấp 5 lần trọng lượng sơ sinh
Sau 30 ngày tuổi trọng lượng tăng gấp 6 lần trọng lượng sơ sinh
Sau 40 ngày tuổi trọng lượng tãng gấp 7 - 8 lần trọng lượng sơ sinh
Sau 50 ngày tuổi trọng lượng tăng gấp 9 - 10 lần trọng lượng sơ sinh
Sau 60 ngày tuổi trọng lượng tăng gấp 12 - 16 lần trọng lượng sơ sinh
Sự sinh trưởng nhanh của lợn con đòi hỏi người chăn nuôi phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng
Theo qui luật tiết sữa của lợn, từ sau ngày thứ 21 lượng sữa mẹ bắt đầu giảm mà nhu cầu sinh trưởng của lợn con vẫn lớn, do đó yêu cầu tất yếu là phải bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh là do có khả năng tích luỹ chất hữu cơ m ạnh mà chủ yếu là tăng khối lượng cơ, tức là tăng phần nạc nên tiêu tốn thức
Trang 22ăn cho 1 kg tăng trọng lại thấp Vào 20 ngày tuổi, mỗi ngày lợn con có thể tích luỹ được
9 - 14g protein trên 1 kg trọng lượng cơ thể, trong khi lợn lớn chỉ tích luỹ được 0,3-0,4g proteinế
Đặc điểm tăng trọng nhanh ờ giai đoạn bú sữa của lợn là m ột đặc điểm quí Người chăn nuôi phải biết tận dụng đặc điểm này để nâng cao trọng lượng lợn con bú sữa
Trọng lượng sơ sinh, trọng lượng cai sữa, trọng lượng xuất chuồng có liên quan
m ật thiết với nhau Trọng lượng trước đó làm cơ sờ cho sự phát triển bình thường và nhanh chóng của trọng lượng tiếp theo
Hiệu quả tăng trọng từ khi cai sữa đến khi đạt trọng lượng 90 kg có h 2 = 0,31- Đây là một đặc điểm rất quan trọng Dù cho tách mẹ ờ ngày tuổi nào (23, 28, 35, 42 ngày), nâng cao trọng lượng lợn con lúc 60 ngày tuổi luôn luôn là m ục tiêu hàng đầu của nghề chăn nuôi lợn nái
2 Đặc điểm về tiêu hoá
Bộ máy tiêu hoá của lợn con bú sữa cũng phát triển rất nhanh để đáp ứng yêu cầu về tăng trọng nhanh
- Dung tích dạ dày 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh
Dung tích dạ dày 20 ngày tuổi gấp 8 lần lúc sơ sinh
Dung tích dạ dày 60 ngày tuổi gấp 60 lần lúc sơ sinh
Lúc sơ sinh dung tích dạ dày 0,03 lít, 60 ngày tuổi 1,8 lít
- R uột non 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh
Ruột non 20 ngày tuổi gấp 6 lần lúc sơ sinh
R uột non 60 ngày tuổi gấp 50 lần lúc sơ sinh
Sơ sinh dung tích ruột non 0,11 lít, 50 ngày tuổi đạt 5,50 lít
- R uột già 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh
R uột già 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần lúc sơ sinh
R uột già 60 ngày tuổi gấp 50 lần lúc sơ sinh
Trang 23Sơ sinh dung tích ruột già 0,04 lít, 60 ngày tuổi là 2 lít.
Sự phát triển về dung tích đường tiêu hoá rất nhanh nhưng hệ thống m en tiêu hoá chưa hoàn chỉnh
Men pepsin
Là men tiêu hoá protein từ thức ăn, nhưng dưới 25 ngày đầu sau khi đẻ men pepsin chưa có trong dạ dày lợn nên lợn con chưa có thể tiêu hoá protein từ thức ăn Lợn con tiêu hoá protein sữa mẹ nhờ men catepsin và men trypsin phát triển sớm trong dịch vị và trong dịch tuỵ Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị của lợn con mới có HC1 ở dạng
tự do, HC1 tự do mới hoạt hoá men pepsinogen không hoạt động thành pepsin hoạt động Từ đây lợn con mới có khả năng tiêu hoá potein thức ăn Do không có HC1 tự do cho nên lợn con dưới 25 ngày tuổi dễ bị vi khuẩn xâm nhập đường tiêu hoá gây ra các bệnh đường ruột Có thể kích thích vào tế bào vách dạ dày lợn con để sớm tiết HC1 bằng cách bổ sung sớm thức ăn cho lợn con Làm như vậy từ 10 ngày tuổi thì H ơ tự do có thể được tiết ra vào ngày thứ 14
Men Amilaza và malíaza
Dưới 3 tuần tuổi, hoạt tính của hai men này thấp do đó khả năng tiêu hoá thức ăn tinh bột của lợn con rất kém Tiêu hoá đường sữa lactose nhờ men lactaza sản sinh ra từ khi lợn mới sinh Men này hoạt động mạnh nhất ở hai tuần tuổi, sau đó giảm dần
Sau 3 tuần men amilaza và maltaza mới hoạt động mạnh lên Lúc này bổ sung thức ăn tinh bột nghiền rất nhỏ hoặc nấu chín sẽ làm tãng tỉ lệ tiêu hoá ở đường tiêu hoá lợn con
Men Saccaraza
Men saccaraza dưới hai tuần tuổi còn thấp do đó bổ sung đường m ía vào giai đoạn này lợn con chưa có khả năng tiêu hoá dễ đi ỉa chảy Nếu có bổ sung đường nên
bổ sung loại đường 6 cacbon như glucose, ửuctose
Men lipaza và kimoĩin
M en này có hoạt tính mạnh ở ba tuần lễ đầu để tiêu hoá mỡ sữa sau đó giảm dần Nói chung lợn con chỉ có khả năng tiêu hoá tốt chất dinh dưỡng từ sữa mẹ, còn
Trang 24thức ăn bổ sung tiêu hoá của lợn con còn kém Muốn bổ sung thức ăn sớm từ 10 ngày,
14 ngày tuổi thì khâu chế biến thức ăn là cực kỳ quan trọng
3Ế Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt
Thân nhiệt và điều tiết thân nhiệt của lợn con sơ sinh, bú sữa luôn luôn là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà chăn nuồi ở các vùng ôn đới và nhiệt đới khác nhau trên th ế giới Lợn con mới sinh khả năng điều tiết thân nhiệt rất kém do nhiều nguyên
ra Trọng lượng sơ sinh lớn hay nhỏ đều không ảnh hưởng đến sự tăng giảm thân nhiệt của lợn con Lợn con có trọng lượng sơ sinh lớn, mà nuôi trong chuồng có nhiệt độ thấp thì vẫn giảm thân nhiệt so vói lợn có trọng lượng sơ sinh thấp mà nuôi trong chuồng có nhiệt độ cao hơn Những dẫn chứng đểu cho thấy lợn con sơ sinh trong vòng 3 tuần lễ
Trang 25đầu, khả năng điều tiết thân nhiệt kém Do vậy chúng phải được sưởi ấm ở thòi kỳ sơ sinh đến 3 tuần đầu Sau 3 tuần lễ, cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn đã tương đối được ổn định - thân nhiệt của lợn đã lên đến 39°c - 39,5°c.
4 Đặc điểm về miễn dịch
Khả năng miễn dịch của lợn con trước 21 ngày tuổi là sự miễn dịch hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong m áu lợn con mới sinh hầu như chưa có kháng thể Lượng Y globuline trong máu chỉ có 1,3 mg Sau khi bú sữa đầu 24 giờ, lượng Ỵ globuline tăng lên 20,3 mg/lOOml máu Sữa đầu của
lợn có hàm lượng protein cao từ 12 - 16% trong đó hàm lượng Y globuline chiếm 34 -
45% Phân tử Y globuline chỉ có khả nâng thấm qua thành ruột lợn trong 24 giờ sau khi
đẻ nhờ trong sữa đầu có men antitrypsin làm mất hoạt lực của men trypsin tuyến tuỵ và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con còn khá rộng Sau 24 giờ lượng antitrypsin giảm, khoảng cách giữa các tế bào vách ruột lợn con hẹp lại cho nên lượng hấp thu y globuline kém đi Đến 3 tuần tuổi hàm lượng Ỵ globuline chỉ đạt được 24
m g/100 ml máu Trong khi máu của lợn trưởng thành y globuline có khoảng 65 m g/100
ml máu Sau 3 tuần lễ lợn con mới có khả năng tự tổng hợp Y globuline Do đó cho lợn con bú sữa đẩu là vổ cùng quan trọng để tăng sức đề kháng Lợn con không được bú sữa đầu sẽ chậm lớn, dễ mắc bệnh, tỉ lệ chết cao
II K Ỹ T H U Ậ T N U Ô I DƯ Ỡ NG , C H Ă M SÓC Q U Ả N LÝ
Điều quan trọng nhất trong kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con bú sữa là phải đạt được:
- Tỉ lệ nuôi sống cao
- Trọng lượng cai sữa cao
- Ti lô đồng đồu cao
- Tỉ lệ mắc các loại bệnh như thiếu máu, bệnh lợn con phân trắng thấp
1 Cô định đầu vú và cho sưởi ấm
Sưởi ấm cho lợn con là yếu tố rất quan trọng để nâng cao tỉ lệ nuôi sống Do cơ quan điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt của lợn con tăng giảm theo nhiệt độ
Trang 26của m ồi trường Lợn m ói sinh trong 2 - 3 ngày đầu, nhiệt độ ờ chỗ lợn con nằm phải từ
3 0 °c trở lên Tốt nhất là cho lợn con nằm trên sàn gỗ (không nằm trên nền xi m ăng) chung quanh được che kín gió Bên trên có m ột nắp chụp, bên dưới nắp chụp thắp m ột ngọn đèn hổng ngoại trên 100W hoặc gắn một lò sưởi bằng điện, nắp chụp có thể nâng lên, hạ xuống để cho vừa nhiệt độ trong ổ sưởi Sau 3 - 4ngày lợn con có thể tự chọn cho
m ình chỗ nằm thích hợp, xa hay gần lò sưởi để có nhiệt độ sưởi thích hợp cho mình
N hất thiết không được để lợn con nằm trên sàn xi măng, nếu khồng có sàn gỗ thì phải đệm rơm , cỏ Trong điều kiộn được sưởi ấm lợn con sống thanh thản thoải m ái sẽ phát triển thuận lợi, ít bệnh tật mà chóng lớn, hứa hẹn mức thu hoạch lứa lợn nái cao Lợn con sau khi sinh ra phải được bú sữa đầu ngay Nếu lợn mẹ đẻ lâu trên 2 giờ m à chưa xong thì những con đẻ ra trước phải cho bú Nếu lợn mẹ đẻ trong 2 giờ xong xuôi cả thì đến lúc đó hãy cho đàn lợn con bú một thể Lúc này tuỳ sức khoẻ của lợn con m à cho
bú vú thích hợp và cố định đầu vú cho lợn con Để nâng cao tỉ lệ đồng đều, những lợn con yếu cho bú những vú phía ngực, những lợn con khoẻ hơn cho bú các vú phía sau
N hững vú ở phía ngực gần tim lượng máu đến những vú này trước và trở về tim sau cho nên lượng sữa ở các vú này nhiều hơn Các ‘con lợn con yếu được bú ở những vú này sẽ
có điều kiện nâng cao sức khoẻ, thể trạng và tâng trọng nhanh làm cho tỉ lệ đồng đều trong đàn cao Cố đinh đầu vú cho lợn con phải bắt đầu ngay từ lần cho bú đầu tiốn Người trợ sản phải theo dõi để cho lợn con không tranh nhau Sau 3 - 4 lần bú lợn con
sẽ quen và lợn con cứ tiếp tục bú ờ vú nó bú lần trước và cũng vì các vú bên cạnh đã có con khác bú Trường hợp số lượng lợn con ít, còn thừa vú, những chú lợn con láu cá có thể m ột m ình bú 2 vú Trường hợp đó lợn con tự nhận biết và phân chia thời gian bú ở 2
vú đó cho đều nhau thì mới có sữa Việc này người chăn nuôi không cần can thiệp
2 Nhu cầu dinh dưỡng
Lợn con bú sữa có khả năng tâng trọng và tích luỹ chất hữu cơ rất cao nên cũng đòi hỏi chất dinh dưỡng rất cao Đáp ứng đầy đủ nhu cầu này, chỉ có sữa mẹ, đặc biệt là sữa đầu mới bảo đảm được
Trang 27Thành phần sữa đầu có:
Protein: 15,7% gấp 2 lần sữa thường 6% Chất béo: 5,2% Đường sữa: 3,5% Chất khoáng: 0,7% Các loại vitamin rất cao: vitamin A gấp 5 - 6 lần so với sữa thường, vitam in c gấp 2,5 lần, vitamin Bi và sắt gấp 1,5 lần Ngoài thành phần dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu sinh trưởng nhanh, trong sữa đầu còn có Ỵ globuline và M g S 0 4ỗ Vai trò của Y globuline trong sữa đầu đã nói ở trên Còn M gS 04 có tác dụng tẩy nhẹ Khi bú sữa đầu M g S 0 4 sẽ tẩy đi phần phân có trong đường tiêu hoá của lợn con trước khi sinh
N ếu không tẩy các phần cặn bã này, lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hoá Những lợn con do
mẹ đẻ nhiều không đủ vú để bú cần phải nuôi bộ cũng nhất thiết phải cho bú sữa đầu, 1
- 2 ngày sau khi đẻ trước khi đem bán cho người khác nuôi bộ
Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con bú sữa rất lớn Nhu cầu protein bổ sung cho lợncon từ:
10 - 20 ngày tuổi: 12g/con/ngày
20 - 30 ngày tuổi: 24g/con/ngày
30 - 45 ngày tuổi: 30g/con/ngày
45 - 60 ngày tuổi: 40g/con/ngày
Hoặc tốt hơn cả là mua thức ăn đã hỗn hợp chế biến sẩn của các hãng Proconco (thức ăn con cò) Loại thức ăn này đã được tính toán bảo đảm dinh dưỡng cho lợn con của tất cả các giống Những nơi không có điều kiện mua thức ăn chế biến hỗn hợp sẩn thì có thể phối hợp lấy khẩu phần thức ăn cho lợn con với nguyên liệu sẵn có theo hướng dẫn sau đây:
K h ẩ u p h á n cho lọn con tập ăn m ột ngày đêm (đơn vị tín h : g)*
Ngày
tuổi
Cámnõn
Bột gạo Bột sữa Bột đậu
tương
Bộtxương
Trang 28Hỗn hợp thức ăn phải đạt được 18 - 20% protein thô hay 120g - 130g protein tiêu hoá cho 1 đơn vị thức ăn.
3 Tập cho lợn con ăn sớm
Lợn con bú sữa có tốc độ tảng trọng nhanh, đồi hỏi chất dinh dưỡng lớn Nhưng sữa mẹ ngày càng giảm về số lượng và chất lượng, nhất là từ sau khi đẻ 3 tuần lễ Do đó
để bảo đảm sự tăng trọng đều đặn, nhất thiết phải bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Theò nghiên cứu của Hovorka (1983) ,mức dinh dưỡng mà lợn con có thể thu nhận được
từ sữa trong một ngày đêm như sau: (Bài giảng Đinh Thị Nông)
H àm lượng protein và đường cần tăng đến tuần thứ 3 sau đó mới giảm Còn mỡ
và năng lượng từ sau tuần thứ 2 đã giảm Vậy muốn nuôi lợn con tăng trọng liên tục không bị giảm ờ tuần thứ 3 sau khi đẻ thì phải bổ sung thức ăn cho lợn con bằng cách tập cho lợn con ãn sớm Tập cho lợn con ăn sớm khồng chỉ duy trì tốc độ tăng trọng mà còn có tác dụng:
- Thúc đẩy bộ m áy tiêu hoá phát triển nhanh
- Giảm tỉ lệ hao hụt của lợn nái.t • •
- Nâng cao khối lượng lợn con cai sữa
- Tiến hành cai sữa sớm cho lợn con Chỉ có thể cai sữa sớm khi đã tập cho lợn con ăn thức ăn m ột cách thành thạo
- Cai sữa sớm, tách lợn con khỏi lợn mẹ sớm sẽ làm giảm khả năng lây bệnh từ lợn m ẹ sang lợn con
Trang 29' m
Thời gian bắt đầu tập cho lợn con ăn từ 9 - 10 ngày tuổi, thức ăn theo công thức hỗn hợp đã nêu trên Lúc đầu thức ãn phải nấu chín, pha loãng cho vào m áng có ngăn để lợn con không thể nhảy đứng trong máng Phải có ô ngăn cách vói lợn mẹ Khi lợn con
bú xong, gần đói sắp sửa bú lại thì đuổi lợn con sang ngăn có m áng ăn riêng, nhốt lợn con lại đó và cho thức ăn mới, thơm để kích thích lợn con ăn Khi mới tập phải nhốt như vậy ngày 3 - 4 bận Sau khi lợn đã ăn quen, thức ăn không cần nấu loãng nhưng phải thơm và nghiền thật nhỏ cho ăn tự do cả ngày
Tập ăn sớm như vậy đến ngày thứ 20 lợn con ăn đã tốt, đến 30 ngày tuổi lợn con
có thể ăn no, từ đây tuỳ vào tình hình cụ thể mà có thể cai sữa luôn hay chưa
Nếu nhu cầu thị trường lớn, giá lợn con bán cao, đầu tư thức ăn ngoài không sợ
lỗ thì có thể m ạnh dạn mua thức ăn Proconco, CP Bayer .V.V để nuôi Nếu giá cả thị trường hạ, có thể nuôi tận dụng sữa mẹ để cho lợn con theo bú mẹ m ột thời gian nữa, cơ bản là phải tính toán cho được lợi tức thu lại khi phải đầu tư vào thức ăn đắt tiền Cần phải phân biệt hai phương thức chăn nuôi:
- Chăn nuôi tận dụng, mỗi hộ nông dân nuôi 1 nái hoặc 2 nái không cần đầu tư qui mô lớn cả về thức ăn và chuồng trại Việc tiêu thụ sản phẩm cũng không gặp khó khăn lớn
- Chăn nuôi theo lối trang trại, mỗi hộ nuôi từ vài chục lợn nái đến hàng trăm lợn nái thì phải có biện pháp đầu tư thức ăn Chăn nuôi theo kiểu này chỉ lấy lãi trên
m ỗi đơn vị sản phẩm ít nhưng vì số đơn vị sản phẩm lớn nên cuối cùng tổng thu nhập vẫn cao Do đó việc đầu tư thức ăn, giá trị dinh dưỡng cao, đắt tiền và không sợ bị rủi ro hoặc rủi ro ítỄ
Theo nghiên cứu của NRC (National Research Council) thì khối lượng của lợn con 8 tuần tuổi chịu ảnh hưởng của các thành phần sau:
- Thức ăn bổ sung: 57%
- Sữa mẹ: 38%
- Trọng lượng sơ sinh: 5%
Phương pháp tập
Trang 30Như vậy thức ăn bổ sung trong vòng 8 tuần tuổi quyết định 57% trọng lượng, đó
là trường hợp cai sữa ở 56 ngày tuổi, nếu cai sữa 28, 35 ngày tuổi thì tỉ lệ trọng lượng
còn chịu ảnh hưởng bởi thức ăn bổ sung cao hơn nữa
4 Kỹ thuật cai sữa sớm
Cai sữa sớm cho lợn con nhằm hai mục đích:
- Tăng số lứa đẻ của nái/ năm: tàng số lứa đẻ của nái/ năm có nghĩa là làm tăng
số lợn con cai sữa/nái/năm Theo FAO (1987) cai sữa ở 26 - 32 ngày tuổi lợn m ẹ đẻ
2,33 lứa/nãm cho 22,6 lợn con cai sữa Cai sữa trên 40 ngày tuổi lợn m ẹ đẻ 2,19
lứa/năm cho 20,8 lợn con cai sữa
-Tránh được một số bệnh truyổn nhiễm từ mẹ sang con Nếu nuôi chung m ẹ và
con thời gian dài, những bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con sẽ có cơ hội phát triển Nếu
tách lợn con khỏi lợn mẹ sớm, cho lợn con đến khu vực chuồng nuôi khác đã được sát
trùng đầy đủ sẽ tránh được bệnh mà nếu không tách con sớm lợn con sẽ mắc phải
Sau khi đã tập cho lợn con ăn no thức ăn đã chế biến sẵn, lợn con không cần đến
sữa m ẹ nữa thì có thể tiến hành tách lợn con khỏi lợn mẹ Thời gian tách mẹ có thể 28
ngày, 35 ngày hoặc 42 ngày sau khi đẻ Bắt đầu tách thì đưa ngay lợn con đến chỗ ở
mới Tại đây, tuyệt đối chuồng trại phải được giữ ấm về mùa đông, thoáng m át vể m ùa
hè Độ ẩm phải thích hợp với khí hậu Việt Nam, từ 75 - 85% là được
Vì như trên đã nói cai sữa sớm còn có ý nghĩa tránh được bệnh truyền nhiễm từ
mẹ sang con, cho nên phải chuyển con đến nơi ở mới đã tiêu độc sạch sẽ Lúc đầu
khồng nên tách đàn Có thể nuôi các đàn lợn con gần nhau, chỉ cách nhau gióng sắt, lợn
con rất dễ quen nhau Sau 7 - 1 0 ngày nhìn thấy nhau có thể ghép chúng thành đàn 20 -
30 con mà không sợ xảy ra đánh nhau Ghép thành đàn lớn, lợn con sẽ tranh nhau ăn,
lợn con ăn được nhiều sẽ phát triển bình thường, không bị ngừng sinh trưởng vài ngày
sau khi tách mẹ
Trang 315 C hế biến thức ăn
Q uyết định sự thành công trong cai sữa sớm cho lợn con là kỹ thuật chế biến thức ăn, sao cho phù hợp với hệ thống tiêu hoá của lợn con bú sữa và đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của chúng Có như vậy mới hy vọng lợn con vẫn tiếp tục tăng trọng
ở những ngày vừa tách khỏi lợn mẹ Thức ăn cho lợn con phải cân bằng dinh dưỡng, cân bằng axit am in Các loại bột gạo, bột đỗ tương phải được nấu chín trước khi đưa vào hỗn hợp để tăng cường khả năng tiêu hoá Bổ sung đầy đủ khoáng, vitam in, ngoài ra có thể bổ sung các loại enzym tăng cường tiêu hoá ở trong thức ăn vi sinh vật
Theo nghiên cứu của Nielsen và cộng sự 1982 thì nhu cầu axit amin của lợn con như sau:
mẹ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng với nồng độ đậm đặc vì vậy không cần phải bổ sung gì thêm Từ tuần lễ thứ 3 đã cần bổ sung năng lượng, nhu cầu này đặc biệt tăng lên
từ tuần lễ thứ 4 Theo nghiên cứu của Lacac - 1982 thì nhu cầu đó như sau:
Trang 32Tuần tuổi Trọng lượng
(kg)
N hu cẩu
(Kcal ME)
Sữa m ẹ cung cấp (Kcal ME)
Cần bổ sung (K cal M E)
V itam in là m ột hợp chất hữu cơ cơ thể gia súc không tự tổng hợp được m à phải
lấy từ thức ãn Thiếu vitamin hầu như mọi quá trình trao đổi chất đều phải đình trệ
Đối với lợn con bú sữa nhu cầu vitamin như sau (Theo NRC)
N hu cầu trên tính theo một bảng Anh trọng lượng cơ thể ( l b = 450g)
- Vitam in A tham gia vào nhiều quá trình trao đổi chất của cơ thể gia súc N hờ có vitam in A mà da, niêm mạc, giác mạc phát triển bình thường, vitam in A kích thích sự
Trang 33sinh trưởng của gia súc non, thiếu Vitamin A lợn con sẽ bị viêm da, khô mắt, viêm phổi, lợn chậm lớn.
- V itam in B| tham gia vào quá trình trao đổi chất và hoạt động thần kinh Thiếu
V itam in Bị lợn con giảm tính thèm ăn, lợn thiếu nhanh nhẹn, nhịp tim chậm, lợn chậm lớnỗ
- Vitamin B2 nếu thiếu lợn giảm tãng trọng, kém ăn, lông khô da, gây ỉa chảy,gây cứng khớp xương, gây thiếu máu
- Vitam in Bp chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu, thiếu B12 lợn sẽ thiếu
m áu, chậm lớn, kém ăn và giảm tăng trọng hoặc không tãng trọng
B ổ sung khoáng
K hoáng đa lượng chủ yếu là canxi và photpho là hai chất vô cơ tham gia vào quá trình tạo xương Lợn con đang sinh trưởng, nhu cầu Ca và p rất quan trọng, thừa Ca sẽ làm giảm hấp thu kẽm (Zn) và vì thế sẽ phát sinh bệnh da hoá sừng (parakeratosis)
Trong m ột ki-lô-gam vật chất khô của một khẩu phần cần có 9 g Ca và 7,5 g p
Bổ sung sắí (Fe)
Trong cơ thể lợn sơ sinh chỉ dự trữ được 50 mg sắt Mỗi ngày lợn con cần 7 mg
để duy trì sinh trưởng, trong khi sữa mẹ chỉ cung cấp được 1 mg Do đó nếu không bổ sung, sau 8 - 9 ngày lợn con sẽ có biểu hiện thiếu Fe Thiếu sắt sẽ sinh ra thiếu máu, giảm hàm lượng Hemoglobin trong máu, lợn con chậm lớn, da nhợt xanh, gây ỉa phân trắng
Bổ sung sắt dưới dạng dextran Fe là thích hợp nhất Sau khi đẻ 3 ngày, tiêm lm l ferro dextran loại có nồng độ 100 - 125 m gFe/lm l vào bắp thịt, sau 10 ngày tiêm tiếp
lm l nữa là được Điều cần chú ý là truớc khi tiêm ferro dextran 1 ngày cần phải bổ sung vitamin E khoảng 50 g vào khẩu phần ăn của lợn mẹ để đề phòng lợn con bị ngộ độc sắt Giới hạn sinh lý thấp của Hemoglobin trong máu là 8mg/100ml Trong thực tế có tới 50% lợn con sơ sinh chỉ đạt 6mg/100ml máu Nếu được tiêm ferro dextran thì hàm lượng, hem oglobin trong máu tăng và mức tăng trọng cũng cao hơn 18 - 20 % so với đối chứng Điều đó cho thấy tầm quan trọng của bổ sung sắt cho lợn con bứ sữa
Trang 34BỔ sung đồng (Cu)
Cùng với sắt, đồng tham gia vào quá trình tạo máu Đồng cần thiết cho sự chuyển biến sắt thành dạng kết hợp hữu cơ và đóng vai trò quan trọng trong sự tổng hợp Hemoglobin Đồng còn có tác dụng trong việc chuyển sắt vào dự trữ ở tuỷ xương Lợn con thiếu đồng cũng sẽ dẫn đến thiếu máu, giảm Hemoglobin trong máu và giảm tãng trọng Lợn con còn có hiện tượng khớp xương biến dạng, đầu sụn bị sưng to.Tuy nhiên
bổ sung đồng với liều lượng quá cao sẽ làm tăng hiện tượng tăng trọng lượng giả tạo Lợn lớn nhanh nhưng chất lượng thịt lợn kém và còn tồn đọng một lượng đồng lớn trong thịt gây haị cho người tiêu dùng thịt lợn
Nhu cầu đồng cho lợn con là 8m g/lkg thức ãn hoặc với lợn từ 5 kg đến xuất chuồng bổ sung 10 ppm cho 1 con một ngày
6 Chăm sóc lợn con bú sữa
Lợn con mới sinh như búp non trên cành Việc chăm sóc cẩn thận, chu đáo, tỉ mỉ nhất là trong tuần lễ đầu sau khi đẻ sẽ làm cho tỉ lệ sống được nâng cao Việc thiết kế chuồng cho lợn nái đẻ rất quan trọng Chuồng phải ấm, kín gió, có gióng chắn để lợn
mẹ không thể đè chết lợn con Theo nghiên cứu của một số tác giả thì trong các nguyên nhân chết của lợn con tì lộ do mẹ đè tới 44%, do cảm lạnh 14%, do thiếu máu 10%, bệnh đường ruột 9% và các nguyên nhân khác Xem vậy để thấy việc giữ cho mẹ không
đè chết con đà nâng tỉ lộ sống lên 44%
Tất cả các qui trình chăn nuôi lợn con như: bú sữa đầu, giữ ấm, bổ sung thức ăn đạm, vitamin, khoáng đủ tiêu chuẩn, cho uống nước ấm vào mùa đông, nước mát trong mùa hè, nước uống phải sạch, không cho lợn con nhấm nháp nước bẩn, cho lợn con vận động tắm nắng, tập cho lợn ăn sớm vv đổu không thể coi nhẹ một khâu nào cả
Sự cẩn thận, tỉ mì, chu đáo trong mọi khủu của qui trình nuôi lợn con, chắc chắn
sẽ đưa chúng ta tới kết quà mĩ mãn, hứa hẹn thu hoạch cao
Trang 35Chương VI
KỸ THUẬT CHẰN NUÔI LỌ'N THỊT• • •
Chăn nuôi lợn thịt là khâu cuối cùng trong dây chuyền sản xuất lợn Đó là mục đích, là nhu cầu của xã hội đối với ngành chăn nuôi lợn Trong các khâu sản xuất trung gian như: gióng, thức ăn, chăn nuôi lợn nái, lợn đực, lợn con người chăn nuôi đều có thể thu được lợi nhuận ỏ từng khâu này Vì vậy trong sản xuất đã hình thành tùng nhóm người chuyên thực hiện ổ các khâu khác nhau Nhưng về phương diện nhu cầu của xã hội, của q u ố c gia thì chăn nuôi lợn thịt mỏi là mục đích cuối cùng Qua số lượng lọn thịt xuất chuồng, sản lượng thịt lợn hay mức tiêu thụ thịt lợn tính trên đầu ngưòi hàng năm,
mà ngưòi ta có thể đánh giá được mức sống, mức phát triển của ngành chăn nuôi lợn của quốc gia ấy
I C Á C C H Ỉ T IÊ U Đ Á N H G IẢ sức SẢN XƯAT c ủ a l ơ n t h ị t
l ằ Khả năng tăng trọng
Khả năng tăng trọng là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lọn thịt Tăng trọng nhanh sẽ làm giảm tiêu tốn thức ăn trên một ki lô gara tăng trọng Tăng trọng nhanh ổ giai đoạn sau cai sữa và lọn choai sẽ làm tăng tỉ lệ nạc trong thịt xẻ Tăng trọng nhanh sẽ kết thúc vỗ béo sổm, xuất chuồng sớm., giảm thòi gian nuôi, giảm chi
phí sản xuất, giải p h ó n g ch u ồn g nuôi, tăng số v ò n g quay v ố n và kịp thời đáp ứng nhu cầu thịt lợn trên thị trường Khả năng tăng trọng được tính theo g/ngày hay kg/tháng Ngày nay khả năng tăng trọng của lợn có thể đạt tới 800 - 900 g/ngày tùy theo giống
và vào cuối giai đoạn vỗ béo Khả năng tăng trọng còn được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng thức ăn Tiêu tốn ít đơn vị thức ăn hay ít kilo gam thức ăn cho 1 kg tăng trọng thi
đó là hiệu quả sử dụng thức ăn cao
ỵ, đơn vị thức ăn
Hệ sổ sử dụng thức ăn: — 7
-X tống trọng lượng tăng (kg)
X kg thức ăn hỗn hợpHoặc: — 7 -:——
X tống trọng lượng tăng (kg)
Trang 36Trong sản xuất dại trà, có thể tính thêm: tổng só chi phí (tính bằng tiền) trên tổng số trọng lưọng tăng (tính bằng kg)
2.1.2 Tỉ lệ móc hàm (%):
Trọng lượng thịt móc hàm (kg)
Tỉ lệ móc hàm (%) = - — - X 100
Trọng lượng sổng (kg)Trọng lượng sống là trọng lượng lợn xuất chuồng (hay trọng lượng giết mổ) được cân lên sau khi cho lọn nhịn đói 24h hay ít nhắt cũng đã cho lợn nhịn ăn 12h Tức là tỉ lệ móc hàm chỉ tính vổi trọng lượng lợn sổng khi trong dạ dày không còn chứa thức ăn Còn đói với lộn mà trưổc khi giết mổ lại cho ăn no để bán cho được nhiều tiền, thì tính
tỉ lệ móc hàm với loại trọng lượng sổng này là không chính xác
2.2 Tỉ lệ thịt xẻ (%)
Trọng lượng thịt xẻ (kg)
Tỉ lệ thịt xẻ (%) = - X 100
Trọng lượng móc hàm (kg)Trọng lượng thịt xẻ là trọng lượng móc hàm đã cắt trừ đầu + 4 chân + đuôi + 2 lá mỡ.Phần thịt xẻ là phần thịt bao gồm: mông, đùi, vai và lưng Đó là phần thịt có giá trị nhất, do đó tăng tỉ lệ thịt xẻ là mục tiêu phấn đấu của các nhà chọn giống và dinh dưỡng học
Cũng có khi tính tỉ lệ thịt xẻ:
Trọng lượng thịt xẻ (kg)
Tỉ lệ thịt xẻ (%) = - - X 100
Trọng lượng sổng (kg)
Trang 37Tỉ lệ này ỏ thịt bò thường hay tính Còn ỏ thịt lợn người ta ít tính.
Trọng lượng thịt xẻ - Trọng lượng xương (kg)
Tỉ lệ thịt tinh (%) = - X 100
Trọng lượng thịt xẻ (kg)Sau khi đã có trọng lượng thịt xẻ, thì trước đó ỏ lúc tính tỉ lệ móc hàm ngưòi ta đã bổ đôi dọc sóng lưng, chia thân thịt xẻ lợn thành hai phần tương đương
Nửa bên phải đem bóc ra thành 4 phần: nạc, mỡ, xương, da để tính các tỉ lệ sau:
N g à y nay các nhà c h ọ n g iố n g và dinh dưổng học đang cố g ắ n g đ ể nâng cao tỉ lệ nạc.
Các giống lợn Yorkshire, Large White hiện đại, giống Landrace, Pietrain đều cho tỉ lệ nạc từ 55 - 62 %
Trong thân thịt xẻ, hai phần nạc và mỡ là không thay đổi, mà chỉ hoán vị cho nhau Nếu
mỡ tăng lên thì nạc giảm xuống
Mổ + nạc = hằng số
Tùy theo giống lợn và phương thức nuôi, mà tỉ lệ mỡ thường chiếm từ 25 - 35 % trong
thành phần thịt xẻ
2.3 Tỉ lệ thịt tinh (%)
Trang 38tỉ lệ xương: 7,52%; tỉ lệ da: 12,55%; tổng cộng: 20,07% Trong thành phần thịt xẻ: xương và da chiếm tỉ lệ từ 18 - 20% tùy theo giống Nếu da dày thì xương bé Nếu da mỏng thì xương to hơn.
Tỉ lệ hao hụt của thịt xẻ nói lên tỉ lệ nước chứa trong thịt xẻ cao hay thấp, nói lên chất lượng thân thịt, nói lên chể độ nuôi dưỡng và thòi tiết khí hậu khi làm thí nghiệm
Pxẻ - (Pnạc + Pmỡ + Pda + Pxương)
Tỉ lệ hao hụt (%) = - — - X 100
PxẻP: (Poids) là trọng lượng Tỉ lệ hao hụt nhỏ thì tốt Nửa thịt xẻ bên trái dành để đo các
chiều của thân thịt xẻ, độ dày mỡ lưng và diện tích "mắt thịt"
2.3.3 Tỉ lệ xương (%)
Trang 392.5ề Độ dày m ỡ lưng (mm)
Độ dày mổ lưng cúa lợn được tính bằng độ dày bình quân của điểm đo: độ dày
mđ lưng ỏ vị trí xương sườn thứ nhất - ứng với độ dày mô gáy - độ dày ổ xương sườn
6 - 7, độ dày ỏ xương sưòn cuối và độ dày mổ ỏ khớp thận - khum
Sưòn 1 + Sưòn 6,7 + Sườn cuối + Thận - khum
Đô dày mô lưng(mm) =
-4Riêng độ dày mổ ỏ khổp thận - khum là binh quân của ba điểm đo độ dày mỏ ỏ cơ bán nguyệt Tại chỗ cơ bán nguyệt đo hai điểm ỏ hai đầu của cơ và một điểm nữa ỏ giữa cơ Trong sản xuất và trong thương trưòng, người ta chỉ cần đo độ dày mổ ổ xương sườn cuối là đủ Độ dày mổ lưng tại vị trí xương sưòn cuối là bé nhất Khi lợn thịt xuất chuồng, ngưòi ta đo độ dày mỏ lưng tại ví trí này để định giá mua một ki lô gam thịt hơi Độ dày mổ lưng có hệ số di truyền khá cao: h2 = 0,49 vì vậy chọn lọc theo hưỏng giầm độ dày mờ lưng sẽ là hướng đi đúng đắn để tăng tí lệ nạc
2.6 Do độ dài thăn thịt
Thường có hai chiều đo: Dài thân thịt (Atlat - pubis) đo bằng thưóc gậy Dài cột sống (Atlat - Coccyx (xương cụt) đo bằng thưdc dây Chiều dài thân thịt có tương quan dương vđi tỉ lệ nạc Vì vậy ngưòi ta chú ý chọn lọc theo hướng dài thân để tăng tỉ lệnạc
2.7 Diện tích "mắt thịt" (area o f eye muscle o f loin)
Diện tích "mắt thịt" chính là diện tích cơ dài lưng được đo tại vị trí xương sườn cuối.Khi còn trong bụng mẹ, bào thai nằm yên, do đó cơ dài lưng chưa có vai trò gì quan trọng nên phát triển chậm
Sau khi sinh ra, nhò chức năng vận động nên cơ dài lưng phát triển rất nhanh Do đó cơ dài lưng có tác dụng như là sự phản ánh nhạy bén chế độ dinh dưổng và khả năng tích lũy nạc trong cơ thể lợn Cơ dài lưng có hệ só di truyền cao: h2= 0,66 và có tương quan dương với tĩ lệ nạc trong thành phần thịt xẻ
Trang 40M uốn đo diện tích mắt thịt, ta phải cắt một mảnh sưòn nửa thân thịt ữ ái, đưa vào ưdp lạnh cho đông cứng Sau đó dem ra cắt rất pbẳng ỏ sát cạnh sau của xương sưòn cuối -
Lấy một mảnh giẶỵ b p n g ^ i ^ s ạ t ^ m ắ t ^ n g í ^ cơ^iài htog^ tô lại hình dạng của
mắt cắt ngang ấy Sau có hỊnỊi dậng măt cắí nganẸ cơ, d à ụ ự ụ g đặtlên giấy mỏng có kẻ ô ly
Ỉ>;J T ‘ ' ■ l , t ) ề
Tô lại hình dạng mặt cắt ẩy Cũng chính mảnh giấy kẻ ô ly này, cắt lấy một mảnh giấy đúng 25 cm2 Dùng cân có độ chính xác 1% mg Đem cân mảnh giấy 25cm2 này lên xem được bao nhiêu gam Ví dụ: 25 cm2 được a gam Đem cân tiếp mảnh giấy hình mắt cắt có dài lưng Ví dụ được b gam
Tính diện tích cơ dài lưng:
a gam thi được 25 cm2 25 b
=> X cm2 =
Có thể đo diện tích cơ dài lưng (diện tích mắt thịt) bằng cách đơn giản hơn, nhanh hơn nhưng kém chính xác