Từ yêu cầu của sự đổi mới cùng với việc nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của dạng bài văn nghị luận, cũng như những bất cập mà GV gặp phải trong quá trình dạy học dạng văn nghị l
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2SỞ GD&ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT THÁI HÒA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 3MỤC LỤC
I Lý do chọn đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu 3
III Tính mới của đề tài 3
IV Đối tượng nghiên cứu 3
V Nhiệm vụ nghiên cứu 3
VI Phương pháp nghiên cứu 4
VII Giả thuyết khoa học 4
Nếu thiết kế và tổ chức được dạy học nhóm sẽ nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề cho HS khi học môn Ngữ văn 10 THPT 4
VIII Thời gian thực hiện 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Thực trạng giảng dạy môn Ngữ văn tại trường 10
2.2 Giao nhiệm vụ cho HS trình bày trước lớp về các vấn đề đã tìm hiểu 17
2.3 Giao nhiệm vụ thực hành viết báo cáo theo chủ đề cho từng nhóm cụ thể 22
2.4 Hướng dẫn HS xây dựng đề cương bài báo cáo nghiên cứu theo nhóm dưới hình thức sơ đồ tư duy 25
2.5 Hướng dẫn HS các nhóm phân tích, đánh giá chéo bài viết báo cáo nghiên cứu 31
2.6 Áp dụng kỹ năng chia sẻ và lắng nghe tích cực trong quá trình các nhóm trình bày trước lớp 33
2.7 Đánh giá sản phẩm bài viết của các nhóm theo rubric đánh giá và hướng dẫn tự sửa lỗi 36
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 39
3.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả sáng kiến 39
3.2 Đánh giá sự thay đổi của HS sau khi áp dụng giải pháp 39
3.3 Đánh giá hiệu quả đối với GV trong quá trình giảng dạy 43
Trang 4PHẦN III: KẾT LUẬN 45
1 Kết quả đạt được của đề tài 45
1.1 Đối với bộ môn 46
1.2 Đối với giáo viên 47
1.3 Đối với học sinh 47
2 Khả năng áp dụng của đề tài 48
3 Vận dụng vào thực tiễn 48
4 Kiến nghị 48
5 Hướng phát triển của đề tài 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 52
- Chú ý thời gian thuyết trình gọn hơn 73
………
………
…… 73
Trang 6I Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” sau khi được Hội nghị
Trung ương 8 (khóa XI) thông qua đã trở thành định hướng và động lực cho sự phát triển của Giáo dục Đào tạo Việt Nam trong giai đoạn mới Trong đó, một trong những nội dung quan trọng là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Để thực hiện thắng lợi nghị quyết 29, nhận thức của người GV trong bối cảnh hiện nay cũng cần sự thay đổi Từ vị thế trung tâm, GV cần phải tổ chức được các chuỗi hoạt động nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Yêu cầu này đối với bộ
môn Ngữ văn lại cần thiết hơn bao giờ hết để chấm dứt kiểu “thầy đọc trò chép”
Môn Ngữ văn không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kỹ năng đọc - viết cho HS, mà còn giúp HS hiểu rõ hơn về con người, xã hội và thế giới xung quanh mình Nhờ môn học này, các em được tiếp cận với những tác phẩm văn học đa dạng qua các thời kỳ, tác giả với nhiều nền văn hóa khác nhau; để từ
đó, HS có thể hiểu sâu sắc hơn về những giá trị tư tưởng, văn hóa mà các tác phẩm
đó mang lại Môn ngữ văn cũng giúp HS rèn luyện khả năng tư duy, phản biện và giải quyết vấn đề Trong quá trình phân tích, cảm nhận các tác phẩm văn học, HS được yêu cầu suy nghĩ một cách toàn diện và dẫn ra những quan điểm của mình Đây là cơ hội tốt để các em học cách đưa ra chính kiến, bảo vệ quan điểm của bản thân và thuyết phục người đọc hoặc người nghe Những kỹ năng này là cần thiết cho sự thành công không chỉ trong lĩnh vực học thuật mà còn trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra, môn ngữ văn còn giúp HS phát triển khả năng cảm nhận và đánh giá nghệ thuật Các tác phẩm văn học không chỉ là những bài viết, mà còn là những
“công trình nghệ thuật” HS được học cách phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học dựa trên cảm nhận cá nhân và các tiêu chuẩn nghệ thuật Đó là điều kiện lý tưởng cho HS phát triển cái nhìn đa chiều hơn về nghệ thuật, đánh giá được chất lượng của các tác phẩm văn học khác nhau Tất cả những kỹ năng này đều là cơ sở cho sự thành công trong học tập và cuộc sống của học sinh
Văn nghị luận đóng vai trò quan trọng và chiếm một vị trí không thể thiếu trong quá trình học tập và phát triển của các em HS từ bậc trung học cơ sở đến THPT Không chỉ có ý nghĩa trong văn học, văn nghị luận còn giáo dục và rèn luyện cho các
em những phẩm chất đạo đức con người Văn nghị luận luôn đưa ra hai mặt tốt - xấu, phải - trái để HS bàn luận, thể hiện quan điểm cá nhân, đưa ra những minh chứng lý luận về cả hai mặt giúp các em hiểu rõ từng vấn đề, giáo dục các em học theo những điều tốt, tránh xa những điều xấu Thông qua đó, văn nghị luận hình thành cho HS một lối sống tốt, giúp các em tự nhận thức về suy nghĩ, hành động của bản thân, sống theo chủ nghĩa tốt đẹp và kiên định với quan điểm của mình, tích cực tu dưỡng đạo đức và tích lũy những bài học đắt giá làm hành trang cho tương lai
Trang 7Theo chương trình sách giáo khoa mới của GDPT 2018, dạng bài viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề trong môn Ngữ văn 10 có nhiều sự khác biệt
và đổi mới Các em HS cần viết báo cáo về một đề tài văn học đã thực hiện, hoặc
về một vấn đề thực tế trong cuộc sống Dù là vấn đề nào, các em cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng về các đề tài lựa chọn, xác định các luận điểm, đưa ra những lý lẽ, lập luận và dẫn chứng để chứng minh cho các luận điểm đó Các em cần bổ sung thêm những trích dẫn, nhận định của người khác hay những thống kê thực tế để xác minh cho nhận định của mình Trong thực tế công tác giảng dạy hiện nay, các
GV luôn cố gắng trau dồi kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, chương trình Ngữ văn 10 học theo chương trình sách giáo khoa mới nên các bộ sách tham khảo, nâng cao còn hạn chế Thêm vào đó, lượng kiến thức ở mỗi bài khá nhiều nên các GV còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là đối với việc dạy viết dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Theo Thông tư 32/2018/TT - BGDĐT về ban hành Chương trình GDPT mới, yêu cầu mà Bộ giáo dục đưa ra đối với các em HS lớp 10 thông qua môn Ngữ văn
là nâng cao tính chủ động, sáng tạo, phát triển các phẩm chất và kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng tự học, tự chủ, năng lực tư duy logic sáng tạo, kỹ năng giao tiếp hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề, Chương trình học trước đây đè nặng lý thuyết, nhẹ về thực hành, chủ yếu chỉ giáo dục HS bằng những kiến thức sách vở Chính vì vậy mà chương trình học không thể đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho HS, hạn chế về phát triển năng lực đồng thời ít tạo được sự hứng thú từ các em HS chủ yếu chỉ học với tâm thế đối phó, chưa thật sự được trau dồi các kỹ năng cần thiết Đây cũng là lý do dẫn đến việc cần thay đổi phương pháp dạy học mới Điều này nhằm hướng đến sự phát triển năng lực toàn diện về phẩm chất cho người học, thông qua những kiến thức mới mẻ cùng với các phương pháp dạy học tích cực
Đó là tiền đề giúp các em dễ dàng hơn trong việc tiếp cận kiến thức cũng như nâng cao các kỹ năng cần thiết, cải thiện hiệu quả học tập Thực tiễn cho thấy, nhiều HS cảm thấy bị động khi học Ngữ văn theo phương pháp truyền thống, bản thân chưa chủ động chuẩn bị kiến thức mới trước khi đến lớp, sự tương tác giữa các em trong lớp rời rạc, đôi khi các em mất hoàn toàn hứng thú với môn Ngữ văn vì cảm thấy khó và áp lực Việc truyền tải những kiến thức khô khan đến HS theo cách truyền thống vẫn chưa đủ để HS ghi nhớ và vận dụng Do đó, việc sử dụng những phương pháp dạy học mới để nâng cao hiệu quả giờ học và tăng hứng thú học tập cho HS
là vô cùng cần thiết Những phương pháp này không chỉ giúp HS dễ dàng hơn trong việc tiếp cận kiến thức mà còn là công cụ hỗ trợ các em ghi nhớ kiến thức tốt hơn
Việc cấp thiết hiện tại là GV phụ trách bộ môn Ngữ văn 10 cần nghiên cứu và đưa ra các phương pháp dạy học mới, trong đó phương pháp dạy học theo nhóm thích hợp để phát triển cho HS những năng lực phẩm chất cần thiết Thông qua hoạt động nhóm, các em HS được rèn luyện và phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, làm việc nhóm và những năng lực khác giúp các
Trang 8em HS phát triển toàn diện Các thành viên trong nhóm có thể chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng những nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi HS có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy bản thân cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp thu thụ động từ giáo viên
Từ yêu cầu của sự đổi mới cùng với việc nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của dạng bài văn nghị luận, cũng như những bất cập mà GV gặp phải trong quá trình dạy học dạng văn nghị luận, tôi đã mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu đề
tài “Biện pháp tổ chức dạy học nhóm nhằm nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận
báo cáo nghiên cứu một vấn đề - Ngữ văn 10” với mong muốn áp dụng các
phương pháp học tập tích cực để nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận cho HS
II Mục đích nghiên cứu
Đề tài được lựa chọn và nghiên cứu nhằm mục đích đề ra các phương pháp tổ chức dạy học nhóm nhằm nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Các GV được trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho bản thân Các em HS rèn luyện được kỹ năng viết văn nghị luận, nâng cao kết quả học tập trong môn Ngữ văn 10
III Tính mới của đề tài
Đề tài được lựa chọn và nghiên cứu kỹ lưỡng, sáng tạo trong các biện pháp để đáp ứng chương trình dạy học theo sách giáo khoa mới Các biện pháp đều được thực hiện theo các phương pháp giáo dục mới, theo hướng dạy học tích cực để nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề cho HS trong chương trình Ngữ văn 10, đồng thời rèn luyện và bổ sung cho HS những năng lực cần thiết, đặc biệt là năng lực hợp tác để các em hoàn thiện bản thân
IV Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp tổ chức dạy học nhóm nhằm nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề - Ngữ văn 10, áp dụng thực nghiệm với HS lớp 10 trường THPT Thái Hòa
V Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với nhiệm vụ giải đáp các vấn đề cụ thể được liệt kê dưới đây:
- Nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận về một vấn đề cụ thể trong đời sống và báo cáo nghiên cứu một vấn đề cho HS lớp 10
- Nâng cao kỹ năng hoạt động nhóm, rèn luyện cho HS những năng lực phẩm chất cần thiết
- Thực nghiệm sư phạm để minh họa tính hiệu quả và khả thi của các biện
pháp trong đề tài
Trang 9VI Phương pháp nghiên cứu
Để có thể hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã tiến hành sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: GV nghiên cứu kiến thức từ sách giáo
khoa và tìm hiểu các tài liệu tham khảo về kỹ năng dạy và viết văn nghị luận cho
HS
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: GV nghiên cứu và rút ra những bài học
kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy, qua quá trình quan sát và trao đổi với các đồng nghiệp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: GV phân tích kiến thức lý thuyết với thực
tiễn áp dụng, kết hợp với các kinh nghiệm đã rút ra, tổng hợp lại những mặt lợi, hại
để đề xuất các giải pháp phù hợp
- Phương pháp kiểm tra: GV kiểm tra chất lượng học sinh viết văn nghị luận,
so sánh kết quả trước và sau quá trình áp dụng các biện pháp vào thực tiễn để kiểm tra tính hiệu quả của đề tài
VII Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và tổ chức được dạy học nhóm sẽ nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề cho HS khi học môn Ngữ văn 10 THPT
VIII Thời gian thực hiện
Tháng 9/2022 – 12/2022 Xây dựng và bảo vệ đề cương, triển khai viết
Tháng 01/2022– 02/ 2022 Hoàn thiện dần và tiếp tục áp dụng sáng kiến để
kiểm định độ tin cậy của các giải pháp đề ra
Tháng 3/2022 Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Phương pháp tổ chức dạy học nhóm
Phương pháp tổ chức dạy học nhóm là một trong những phương pháp dạy học tích cực Đây là cách dạy học trong đó HS được chia thành nhiều nhóm nhỏ, các thành viên trong nhóm cùng hợp tác để thực hiện yêu cầu mà GV đưa ra Phương pháp này tập trung vào việc phát triển các kỹ năng xã hội, giải quyết vấn đề, giao
Trang 10tiếp và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Nó giúp HS tăng cường khả năng
tư duy, trao đổi ý kiến và giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao hiệu quả học tập Theo nhà giáo dục học nổi tiếng người Mỹ Elliot Aronson, phương pháp dạy học theo nhóm được gọi là Jigsaw Classroom Ông Elliot Aronson đã phát triển phương pháp này vào năm 1971, nhằm giải quyết vấn đề xung đột giữa các sinh viên trong các khóa học của ông Từ đó, phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục trên toàn thế giới Phương pháp dạy học theo nhóm giúp HS tăng cường khả năng tự học, tư duy độc lập và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề Đồng thời, phương pháp này cũng giúp các em phát triển kỹ năng xã hội, giao tiếp và hợp tác với nhau trong một môi trường học tập tích cực và đầy đủ trách nhiệm
Phương pháp tổ chức dạy học nhóm đã được ứng dụng trong giáo dục, trong các tiết học từ trước đến nay và thể hiện được vai trò quan trọng của mình Đồng thời, nó cũng có tính xây dựng cao đối với công tác đổi mới phương pháp giáo dục
và phát huy năng lực của HS Dạy học theo nhóm là hoạt động giúp các em tích lũy và chủ động tìm hiểu kiến thức, bàn luận về thông tin, bày tỏ quan điểm cá nhân về một vấn đề cụ thể Phương pháp dạy học theo nhóm không chỉ giúp HS phát huy tinh thần học tập chủ động, năng động sáng tạo hơn mà còn là “công cụ
hỗ trợ đắc lực” để các em rèn luyện thêm những kỹ năng mềm cần có ở người chủ nhân tương lai của thế giới Thông qua phương pháp này, HS được trau dồi kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác với các thành viên khác, kỹ năng tìm kiếm thông tin, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng thể hiện quan điểm, Đây cũng là mục tiêu được đề ra và chú trọng trong giáo dục hiện nay Dần dần, phương pháp dạy học theo nhóm trở thành một phần nhất định trong đổi mới phương pháp giáo dục
Hình 1: Hình ảnh các em HS trong giờ sinh hoạt nhóm
Trang 111.1.1.2 Dạng bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu về một vấn đề
Báo cáo nghiên cứu là văn bản trình bày kết quả nghiên cứu về một vấn đề dựa trên các dữ liệu khách quan, chính xác, đáng tin cậy
Văn nghị luận báo cáo nghiên cứu về một vấn đề là dạng văn mà trong đó, tác giả sử dụng chủ yếu các lý lẽ, dẫn chứng sau đó dẫn vào lập luận; nhằm đưa ra luận điểm, chứng cứ để xác định và chỉ ra cho người đọc, người nghe thấy được tư tưởng, quan điểm của tác giả về một vấn đề cụ thể; đồng thời tạo điểm nhấn riêng cho bài viết Dạng văn này có đặc điểm chung của các dạng văn nghị luận khác, tuy nhiên, yêu cầu cao hơn về tư duy logic cũng như những luận điểm, luận cứ trong đó Văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề có hàm lượng khoa học cao, cần có lối hành văn mạch lạc, thông minh và rõ ràng Để viết một bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề cụ thể, người viết cần tìm hiểu kỹ lưỡng về vấn đề nghiên cứu, thu thập và phân tích các dữ liệu liên quan đến vấn đề, từ đó đưa ra các luận điểm, chứng cứ hợp lý, thuyết phục Trong quá trình viết, người viết cần phải
sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành, các công thức, các định lượng để minh chứng cho các luận điểm của mình Với mục đích trình bày các nghiên cứu, báo cáo về một vấn đề cụ thể, văn nghị luận báo cáo nghiên cứu đòi hỏi người viết phải có khả năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, dễ hiểu và truyền đạt được tư tưởng, quan điểm của mình một cách thuyết phục Do hàm lượng kiến thức chuyên ngành cao, đây là một dạng văn yêu cầu người viết phải có sự kiên nhẫn, tập trung cao độ và sự cẩn trọng để tránh những sai sót trong quá trình viết
Dạng văn này giúp các em HS rèn luyện góc nhìn, tư duy đúng đắn, nhạy bén, khách quan về nhiều vấn đề trong cuộc sống Để đáp ứng các yêu cầu của dạng văn này, HS cần tự trau dồi cho mình những kiến thức xã hội phong phú, tham khảo những ánh nhìn từ các góc độ khác nhau về các vấn đề của xã hội, kết hợp với cái tôi cá nhân, HS thể hiện suy nghĩ, tư duy của riêng mình về cuộc sống, về xã hội Đây là một trong những đức tính cần thiết ở một công dân tương lai Thông qua quá trình phát triển đó, bản thân các em sẽ có quan niệm vững vàng, nhìn nhận các vấn đề xã hội và sẵn sàng cống hiến, xây dựng, đổi mới đất nước
Bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu có bố cục cơ bản gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài Tuy nhiên, yêu cầu đối với mỗi phần lại khác nhau:
- Mở bài: Trong phần đầu của bài viết, cần nêu ra được vấn đề nghiên cứu và
giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu Người viết cần chỉ ra một cách khái quát nhất các câu hỏi báo cáo nghiên cứu về cái gì? Nghiên cứu trong hoàn cảnh nào Như vậy, người đọc có thể dễ dàng nhận ra các nội dung được thể hiện trong bài viết Không nên trình bày quá dài dòng, viết ngắn gọn và hạn chế các từ ngữ mang tính chủ quan, ảnh hưởng đến tính khoa học, khách quan của toàn bài Nên sử dụng ngôn ngữ đơn giản, trực tiếp trong phần này
- Thân bài: Thân bài là phần quan trọng nhất trong toàn bài viết, bao hàm toàn
bộ các nội dung quan trọng trong bài Thông qua phần này, tác giả thể hiện toàn bộ
Trang 12kết quả, thành tựu nghiên cứu của mình một các logic nhất Thân bài cần bao hàm một số nội dung sau:
+ Các vấn đề cơ bản của nghiên cứu: sau khi đã giới thiệu sơ qua về nghiên cứu trong phần mở bài, người viết cần nêu đầy đủ hơn về các vấn đề cơ bản của nghiên cứu ngay phần đầu thân bài
+ Phần thân bài cần trình bày rõ ràng những kết quả nghiên cứu đề tài đã được thực hiện trong nghiên cứu Tác giả cần nêu lên cụ thể những góc độ ảnh hưởng cũng như quá trình lý luận, dẫn dắt đến các kết quả nghiên cứu đã thực hiện được
+ Trong phần thân bài này, tác giả cũng cần nêu được những nhận định, tổng kết của mình về nghiên cứu Những kinh nghiệm, kiến nghị của cá nhân để phát triển đề tài cũng như những cống hiến của đề tài cho xã hội
- Kết bài: Kết bài là phần cuối cùng của bài văn nghị luận báo cáo kết quả
nghiên cứu Trong phần này, tác giả phải tổng kết lại toàn bộ các luận điểm được nhắc đến trong bài cũng như mở rộng và nêu ra các vấn đề mới tiếp theo
Mở bài, thân bài, kết bài là các phần hết sức quen thuộc và cần thiết đối với mỗi bài văn Để hoàn thành bài viết này, không chỉ nội dung, mà tác giả còn cần chú ý đến bố cục của bài viết Phần mở bài và phần kết bài cần có dung lượng tương đương với nhau Phần thân bài nên có độ dài tối thiểu dài hơn 3 lần so với phần mở bài và kết bài Như vậy, cấu trúc của bài sẽ trở nên cân đối, mạch lạc và phù hợp hơn Trong phần thân bài, HS nên chia ra thành các đoạn nhỏ để có bài viết dễ nhìn nhất Mỗi luận điểm là một đoạn văn
Trong trường hợp viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu phát triển thành một báo cáo nghiên cứu, học sinh có thể dựa vào kết cấu trên và chia ra thành các chương, các mục theo các nhóm nội dung cụ thể, theo ý đồ nghiên cứu cũng như mạch logic của tác giả
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức dạy học nhóm trong môn ngữ văn
Để có thể tổ chức dạy học nhóm trong giờ học môn ngữ văn, GV cần nắm được một số nguyên tắc cụ thể Bất kỳ nguyên tắc nào cũng sẽ đều có các ưu điểm, hạn chế nhất định Vì thế, để khắc phục nhược điểm và phát huy tối đa ưu điểm của phương pháp dạy học này, giáo viên cần linh hoạt một số nguyên tắc nhất định,
cụ thể như sau:
- GV cần dựa vào tình hình thực tế của mỗi lớp để chọn cách thức chia nhóm cho phù hợp Mỗi lớp sẽ có số lượng HS khác nhau Mỗi hoạt động nhóm sẽ có nhu cầu nhất định về thực hiện nhóm, số lượng nhóm trong hoạt động Ngoài ra, việc các em HS di chuyển quá nhiều trong lớp có thể dễ dẫn đến mất trật tự lớp học, GV cần sắp xếp sao cho phù hợp Thêm vào đó, việc làm việc quá lâu trong một nhóm nhất định cũng dễ khiến các em HS cảm thấy nhàm chán hay làm giảm
đi hiệu quả của phương pháp tổ chức dạy học theo nhóm Vậy nên, tùy theo từng
Trang 13giai đoạn, thời điểm thích hợp, GV có thể thay đổi cách chia nhóm, để HS có thể thích nghi với cách làm việc trong nhóm mới, từ đó phát triển kỹ năng làm việc nhóm của mình
- GV luôn phải chú ý, quan sát và theo dõi, hướng dẫn hoạt động của từng nhóm Các em HS chưa có quá nhiều kỹ năng làm việc theo nhóm, để thực hiện hiệu quả, GV cần đưa ra những hướng dẫn chi tiết Song song cùng với quá trình các em làm việc nhóm, GV cũng cần theo sát để kịp thời phát hiện ra những sai sót, từ đó hướng dẫn các em thực hiện lại sao cho đúng Lứa tuổi HS hiếu động, dễ sao nhãng trong quá trình làm việc nhóm, nói chuyện riêng dẫn đến mất trật tự lớp học, GV nên bám sát các em để đảm bảo trật tự lớp, đảm bảo các em làm việc hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến các lớp học khác trong trường
Hình 2: Hình ảnh giáo viên hướng dẫn hoạt động nhóm trong giờ học
- Việc lựa chọn các hoạt động được tổ chức cần phải phù hợp, nằm trong khả năng thực hiện của HS và tiết học Đặc điểm của các nội dung nên cụ thể, tường minh giúp các em dễ dàng tiếp nhận Để có thể phát huy tối đa hiệu quả của phương pháp học tập theo nhóm, trước hết, GV cần lựa chọn các nội dung và cách ứng dụng phù hợp Không phải với nội dung nào thì phương pháp làm việc nhóm cũng hiệu quả nhất Đồng thời, cũng cần căn cứ vào khả năng của HS để giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong lớp sao cho hiệu quả
- Sau khi kết thúc các hoạt động nhóm, GV luôn phải kết luận, chuẩn hóa kiến thức cho HS Đây là một công tác hết sức quan trọng và cần thiết GV cần nhắc lại
và tổng hợp kiến thức cho các em Thông qua quá trình tìm hiểu của mình, HS đã
có những hiểu biết nhất định về kiến thức nhưng không tránh khỏi những lỗi sai dễ mắc phải GV cần chuẩn hóa lại những kiến thức này để HS hiểu đúng kiến thức được truyền tải
Trang 141.1.3 Một số lưu ý khi hướng dẫn học sinh viết bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề
Bên cạnh đó, khi viết bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề, các
em HS sẽ khó tránh khỏi một số lỗi sai nên GV cần nắm được và lưu ý với HS một
số vấn đề như sau:
- GV cần lưu ý cho HS trong việc xác định chủ đề và mục tiêu Trước khi viết bài, HS cần được giáo viên hướng dẫn cách xác định rõ chủ đề và mục tiêu của bài viết Các em cần phải hiểu rõ về vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin liên quan, đưa ra các giả thuyết, dẫn chứng và luận điểm hợp lý để phản biện vấn đề
- GV cần lưu ý nhắc nhở HS đọc kỹ yêu cầu của đề bài, chú ý từng từ ngữ, câu chữ được thể hiện trong bài Vì các bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề có hàm lượng khoa học cao, cần viết đúng và chặt chẽ trong từng luận điểm, nên sử dụng hệ thống ngôn từ ngắn gọn, mạch lạc, tránh dài dòng, lan man Đồng thời, các em cũng cần đọc kỹ yêu cầu của đề bài và đáp án trong bài viết, tránh lạc đề hay xa đề
- Lưu ý trong việc gợi ý lựa chọn tài liệu tham khảo cho HS Hiện nay, tốc độ Internet phát triển nhanh chóng mà bản thân mỗi HS đều được trang bị cho mình các thiết bị điện tử truy cập thông tin, đây vừa là ưu điểm nhưng cũng vừa là hạn chế cần lưu tâm Thu thập tài liệu cho mục đích học tập, nghiên cứu, làm việc là vô cùng quan trọng Tài liệu là nguồn thông tin phục vụ cho mục đích nhất định Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay thì nguồn tài liệu trên Internet đang là nguồn cung cấp chủ yếu, phổ biến nhất Nó chứa đựng tất cả các thông tin trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, khoa học Tuy nhiên, không xác định được nguồn gốc là hạn chế lớn nhất của tài liệu Internet; có nhiều nguồn tài liệu tham khảo không chính thống, thông tin chưa được kiểm chứng dễ khiến các
em hiểu sai lệch về kiến thức Để giúp HS tránh được việc này, GV cần lưu ý với các em cách lựa chọn tài liệu tham khảo phù hợp hay gợi ý cho các em một số tài liệu tham khảo có liên quan
- Lưu ý về các lỗi sai khi làm bài văn nghị luận báo cáo về một vấn đề mà HS thường gặp Cùng với kinh nghiệm giảng dạy của mình, GV cần liệt kê ra một số lỗi sai mà HS thường gặp trong quá trình viết bài văn nghị luận báo cáo về một vấn
đề để các em có thể biết và tránh, từ đó nâng cao kết quả học tập, rèn luyện về lối viết dạng văn này
- Lưu ý hướng dẫn HS sắp xếp và triển khai nội dung chính của bài văn Các bài văn nghị luận báo cáo về một vấn đề cần có tính logic cao GV cần lưu ý hướng dẫn các em cách sắp xếp và triển khai các nội dung chính trong bài văn sao cho phù hợp, mạch lạc, thể hiện đúng luận điểm mà các em muốn nêu lên trong bài
Trang 151.2 Thực trạng giảng dạy môn Ngữ văn tại trường
1.2.1 Thực trạng phương pháp giảng dạy môn ngữ văn tại trường
Qua quá trình quan sát và ghi chép, tôi nhận thấy thực trạng phương pháp giảng dạy môn ngữ văn ở trường THPT Thái Hòa còn có một số hạn chế như sau:
- Tại trường chưa có nhiều phương pháp tổ chức dạy học môn ngữ văn sáng tạo, dạy học theo phương pháp truyền thống là chủ yếu, GV đưa ra kiến thức, HS ghi chép, tự tìm hiểu và làm bài Chính vì vậy, các tiết học thường nhàm chán Các
em tập trung vào việc ghi bài thay vì hiểu và nhớ kiến thức thông qua lời giảng của thầy cô Vậy nên khả năng ghi nhớ kiến thức và ứng dụng các kiến thức đã học trong viết các bài văn cụ thể của các em HS chưa tốt Một số giờ học, GV còn
“cháy” giáo án, không kịp hoàn thiện chương trình, nội dung đã được xây dựng trước đó Đồng thời, tiết học cũng trở nên mệt mỏi, ảm đạm Việc tiếp thu kiến thức của HS chưa cao, ngay cả tinh thần tự học tại nhà của các em cũng chưa được chú trọng, dẫn đến nhiều điểm còn chưa hiểu bài
- Một số HS không thực sự yêu thích môn ngữ văn Các em thường có thái độ đối phó khi tham gia môn học HS ghi bài còn sơ sài, bài có bài không, thậm chí một số phần còn ghi sai Vở ghi chép của HS ẩu, không đáp ứng đủ nội dung cần thiết cho việc học Các em không yêu thích môn ngữ văn nên cũng thường xuyên mất tập trung trong lớp, nói chuyện riêng hay là làm các bài tập khác, Chất lượng các bài tập, bài viết chưa tốt, đôi khi còn mang tính chất đại khái Một số em
HS còn chép lại các bài văn tham khảo và nộp cho giáo viên thay vì tự tìm hiểu và thực hiện bài
- Các hoạt động tập thể dành cho HS trong giờ học ngữ văn chưa được khai thác tốt, thiếu đa dạng, chủ yếu là cho HS cùng thảo luận ngắn Các em chưa thể cùng nhau tìm hiểu kiến thức Nếu có, các hoạt động cũng được tổ chức không hiệu quả, mang tính hình thức và chưa thực sự thu hút được sự chú ý của học sinh hay giúp các em ghi nhớ kiến thức tốt hơn Với môn Ngữ văn, đa phần thầy cô đều chú ý đến việc nhanh chóng “chạy” cho kịp chương trình, nội dung đã xây dựng thay vì chú ý phát triển các hoạt động làm việc nhóm cho HS
1.2.2 Thực trạng làm quen với chương trình ngữ văn lớp 10 mới
Các em HS (2007) là khóa đầu tiên áp dụng chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 mới và đang tiến hành làm quen với chương trình học nên còn nhiều bỡ ngỡ Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn lớp 10, GV cũng có nhiều thuận lợi như:
- Sau khi triển khai chương trình học tập theo sách giáo khoa mới, việc học tập môn Ngữ Văn lớp 10 nói riêng và hoạt động học tập trong toàn trường nói chung luôn có sự động viên, khuyến khích và hỗ trợ của các cấp lãnh đạo, nhà trường; thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn cho GV trong tổ chuyên môn Các thầy cô có thể tìm hiểu, chia sẻ với nhau về những cập nhật mới trong sách, điểm
Trang 16khác biệt giữa chương trình mới và chương trình cũ để từ đó có định hướng xây dựng giáo án phù hợp Trong các buổi tập huấn, thầy cô cũng đã làm việc tích cực, chú ý tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm
Hình 3,4: Hình ảnh giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Thái Hòa tham gia các
buổi tập huấn sách giáo khoa mới do Sở Giáo dục tổ chức
Hình 5,6: Hình ảnh GV tổ Ngữ văn các trường THPT 1/5, Thái Hòa, Đông Hiếu, Tây Hiếu, trong buổi học tập, trao đổi chuyên môn với thầy Nguyễn Chí Hòa –
Chuyên viên Sở giáo dục và đào tạo Nghệ An
Trang 17- Nhà trường cũng luôn tạo điều kiện cho GV đổi mới phương pháp giáo dục, cung cấp đầy đủ các phương tiện hỗ trợ giảng dạy để nâng cao hiệu quả học tập tại trường Ban giám hiệu nhà trường luôn theo sát hoạt động của các tổ chuyên môn, kịp thời đưa ra các chỉ đạo cần thiết để phát triển, nâng cao hiệu quả giảng dạy
- Các GV giảng dạy môn ngữ văn đã và đang tích cực, chủ động nghiên cứu, xây dựng bài giảng, tìm kiếm phương pháp dạy học phù hợp với chương trình ngữ văn lớp 10 mới Các thầy cô đều tâm huyết với nghề, yêu thương HS, có tinh thần học tập, sáng tạo cao, không ngừng tìm tòi và học tập các phương pháp hiệu quả khác, thử nghiệm áp dụng trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn lớp 10 để ngày càng nâng cao hiệu quả, thích nghi với hơi thở mới của thời đại
1.2.3 Khảo sát thái độ của học sinh khi học môn ngữ văn và dạng bài văn nghị luận
Để có thể nhìn thấy về tác động của phương pháp giảng dạy môn ngữ văn tại trường THPT Thái Hòa, tôi đã tiến hành khảo sát thái độ của HS khi học môn ngữ văn và đặc biệt là dạng văn nghị luận báo cáo một vấn đề
Khảo sát được tiến hành ở 2 lớp 10 của trường THPT Thái Hòa (gồm lớp 10C
và 10E) trên tổng số 85 HS, thu về được kết quả như sau:
Bảng khảo sát thái độ HS khi học môn ngữ văn và dạng văn nghị luận
Qua bảng trên có thể thấy, số HS yêu thích tiết học ngữ văn chỉ có 7%, nhưng
số HS không thích tiết ngữ văn lại lên đến 56% Số HS với thái độ trung hòa cũng chiếm tỉ lệ không ít Có thể thấy, đa phần các em HS đều không quá yêu thích môn ngữ văn và dạng văn nghị luận Tuy nhiên, các em lại khá yêu thích hoạt động làm việc nhóm trong giờ học
1.2.4 Khảo sát mức độ nhận biết và thông hiểu của học sinh về dạng bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề
Tôi cũng đã tiến hành tìm hiểu cụ thể về mức độ nhận biết và thông hiểu của
HS đối với dạng bài nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Thông qua đó, tôi
có thể hiểu hơn về năng lực của các em để từ đó xây dựng phương pháp giáo dục mới sao cho phù hợp
Bảng khảo sát mức độ hiểu của HS về dạng bài văn nghị luận báo cáo nghiên
cứu một vấn đề, được tiến hành ở 2 lớp 10C và 10E
Trang 18Qua bảng trên có thể thấy, số HS nhận biết được dạng bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề lên đến 70% Đa phần các em HS đều đã biết về dạng văn này cũng như khái niệm, các đặc điểm cơ bản của dạng văn Tuy vậy, số HS thông hiểu, có thể trả lời các câu hỏi, bài tập cơ bản về văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề chỉ có 21% Số HS biết vận dụng các kiến thức này chỉ có 9% Chỉ có số ít các em hiểu và viết được các bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề đạt yêu cầu
1.2.5 Khảo sát kỹ năng làm việc nhóm trong môn ngữ văn của HS
Hiện nay, phương pháp tổ chức làm việc nhóm đã được tổ chức trong giờ giảng dạy môn ngữ văn, tuy nhiên chưa gặt hái được quá nhiều thành quả Để có thể phát triển công tác này, cần hiểu rõ hơn về kỹ năng làm việc nhóm của các em Trong quá trình thực hành trên lớp, tôi đã tiến hành khảo sát về kỹ năng làm việc nhóm của các em HS trong môn học
Bảng khảo sát kỹ năng làm việc nhóm trong môn ngữ văn của HS ở 2 lớp 10C
Trang 19* Mục tiêu của biện pháp:
Biện pháp được thực hiện là bước đầu của hoạt động tổ chức làm việc nhóm trong giờ học môn ngữ văn Biện pháp này nhằm giúp các em HS tìm hiểu các bài mẫu về các báo cáo nghiên cứu hay tư liệu nghiên cứu trước đó Từ đó, các em sẽ
có cái nhìn cụ thể hơn về tính ứng dụng của văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề, cách viết bài, cũng như những trường hợp sử dụng đến dạng văn này trong cuộc sống Thông qua việc tham khảo, nghiên cứu các tư liệu trước đó, HS có thể tiếp thu thêm những ưu điểm, điểm mạnh của các báo cáo và ứng dụng vào các hoạt động của mình
* Cách thức thực hiện:
Việc tìm kiếm và nghiên cứu các tài liệu báo cáo nghiên cứu mẫu là vô cùng cần thiết Đây không chỉ là ví dụ mà còn là hướng dẫn, mẫu để các em có thể thực hiện theo Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu mẫu này, HS sẽ có thêm kiến thức không chỉ về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề
mà còn về vấn đề nghiên cứu, được báo cáo đề cập đến Khi tìm hiểu rõ về bố cục, nội dung, cách trình bày của các báo cáo nghiên cứu mẫu tìm thấy được, HS cũng
sẽ hiểu rõ hơn về cách thức làm bài văn báo cáo nghiên cứu một vấn đề Các em sẽ nắm được cách triển khai các vấn đề sao cho hợp lý, cách xây dựng luận điểm dựa trên các luận cứ cụ thể Từ đó, thiết lập bố cục, dung lượng của từng phần, lưu ý của chúng, hiểu được các phần cơ bản cần thể hiện trong các dạng văn nghị luận nghiên cứu một vấn đề
Hoạt động tìm hiểu và tham khảo các báo cáo nghiên cứu mẫu là một công việc khó và cần có sự hợp tác của nhiều thành viên, xuất phát từ thực trạng các em
HS trong lớp chưa có khả năng làm việc nhóm tốt GV cần chia nhóm theo số lượng hợp lý và giao nhiệm vụ cho các nhóm Như vậy sẽ đảm bảo sự đồng đều trong việc phân công nhiệm vụ cho các nhóm trong lớp, cho từng thành viên trong nhóm Mỗi em HSđều phải tự học, tự làm việc để hoàn thành công việc mà GV giao cho Tổ chức tìm hiểu và tham khảo các báo cáo nghiên cứu mẫu cũng sẽ thúc đẩy hoạt động học tập của các em, giúp HS nâng cao khả năng tự học, tìm kiếm thông tin, khả năng làm việc nhóm, tránh tình trạng ganh tị giữa các thành viên trong lớp Ngoài ra, còn tạo cho các em một thói quen tốt trong việc tìm hiểu trước khi thực hiện bất kỳ công việc nào Đồng thời, hoạt động chia nhóm tìm hiểu về các tài liệu,
tư liệu mẫu cũng góp phần khơi dậy phần nào niềm yêu thích của HS đối với dạng bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề và với môn ngữ văn
Trang 20Để thực hiện biện pháp này, tôi đã tiến hành theo các bước cụ thể sau:
+ Bước 1: Phân chia HS trong lớp thành nhiều nhóm và hướng dẫn các nhóm cách làm việc nhóm hiệu quả
Đối với nhiệm vụ tìm hiểu, tham khảo các báo cáo nghiên cứu mẫu, tôi đã chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm sẽ có từ 6-7 HS Trước khi nhận nhiệm
vụ, tôi yêu cầu các nhóm thảo luận và đặt tên cho nhóm, bầu nhóm trưởng và thư
ký nhóm Mỗi thành viên sẽ có các nhiệm vụ nhất định Tôi cũng đã chia sẻ rõ với các em vai trò của từng vị trí trong quá trình hoạt động của một nhóm Đồng thời, hướng dẫn các em cách làm việc theo nhóm sao cho đúng trình tự, đảm bảo và hiệu quả nhất
Hình 7: Hình ảnh các em HS làm việc nhóm sau khi GV hoàn thành chia nhóm
Nhóm trưởng sẽ tổ chức họp nhóm để bàn về nhiệm vụ được GV giao, các thành viên sẽ lần lượt đưa ra ý kiến, từ đó xây dựng các công việc cần thực hiện và phân công nhiệm vụ phù hợp với năng lực của từng thành viên Cần chú ý là nhóm trưởng phải đề ra thời hạn hoàn thành công việc của các bạn, đảm bảo tiến trình làm việc diễn ra đúng tiến độ mà GV đã giao Sau khi đã hoàn thành phân công công việc và có hạn nộp bài cụ thể, các em có thể bắt đầu thực hiện phần công việc của mình và hoàn thành nhiệm vụ
+ Bước 2: Giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm hoạt động
Sau khi các nhóm đã được hình thành, đặt tên cho nhóm mình, tôi tiến hành giao nhiệm vụ cho từng nhóm
Ví dụ: Khi dạy học sinh Bài 4 - Sức sống của sử thi, viết báo cáo nghiên cứu
về một vấn đề, tôi đã yêu cầu các nhóm tìm kiếm và nghiên cứu các bài tư liệu báo
cáo nghiên cứu mẫu Tôi đã cung cấp tên một số báo cáo để các em HS tìm hiểu thêm Trong phần này, tôi cũng lưu ý từng nhóm về cách thức nghiên cứu và tìm kiếm các báo cáo Đầu tiên, các em cần đảm bảo, các báo cáo mà mình tìm được
Trang 21hoàn toàn đúng và đã được công nhận, thừa nhận trước đó Điều này được thể hiện bằng các dấu xác nhận của các cơ quan chức năng có liên quan trong các báo cáo Tôi cũng đã hướng dẫn HS cách thức tìm kiếm tài liệu sao cho hiệu quả Các em có thể tìm kiếm tại thư viện trường hoặc tìm hiểu trên mạng internet
Tôi đã đưa ra tên một số báo cáo trước đó và phân công nhiệm vụ tìm hiểu cụ thể cho từng nhóm:
- Nhóm 1: Bài báo cáo về Thời gian sử dụng mạng xã hội của học sinh THPT
hiện nay
- Nhóm 2: Bài báo cáo về Giáo dục nâng cao ý thức khi tham gia giao thông
của học sinh
- Nhóm 3: Bài báo cáo về Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bạo
lực học đường của học sinh hiện nay
- Nhóm 4: Bài báo cáo về Phương pháp giữ gìn và phát huy văn hoá truyền
thống của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Nhóm 5: Bài báo cáo về Một số dấu ấn của sử thi Ấn Độ Ra – ma – ya – na
trong văn hóa Việt Nam
Mỗi nhóm cần tìm hiểu cụ thể về bố cục của bài báo cáo, các nội dung chính trong báo cáo là gì Các em cần khái quát và tóm tắt các vấn đề cơ bản của báo cáo (lý do nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu, ) Đặc biệt, học sinh cần phân tích được đặc điểm về cách viết của tác giả và ngôn ngữ của báo cáo Các em cũng cần chỉ ra các kết quả nghiên cứu mà tác giả đã nghiên cứu được, đồng thời là cách thức thực hiện của báo cáo
Vì bài tập thực hiện trên lớp, các em khó có thể tiếp cận với các tài liệu nên tôi đã tìm sẵn, in ra và gửi đến từng nhóm để các em có thể tìm hiểu cụ thể hơn
Hình 8: Hình ảnh GV hướng dẫn các nhóm tìm hiểu
Trang 22+ Bước 3: Các nhóm trình bày, tổng kết những kết quả đã tìm hiểu
Mỗi nhóm sẽ có thời gian 10 phút để thống nhất và ghi lại những kết quả mà mình đã tìm được, có liên quan đến các đề tài văn nghị luận như: tên đề tài, vấn đề nghiên cứu, các luận điểm chính, HS có thể trình bày lại trên các tờ giấy khổ A0
và gắn trên bảng sau đó báo cáo lại với lớp
Sau khi áp dụng biện pháp này, các em đã hiểu rõ hơn về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Thông qua quá trình tìm hiểu, HS đã nắm được cơ bản cách viết, ngôn ngữ cần sử dụng, các phần và các nội dung cần có trong một bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Đồng thời, các em HS cũng nhiệt tình hơn trong quá trình học tập và tìm hiểu về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề; tích cực, chủ động hơn khi tham gia các hoạt động học tập
* Điểm mới của biện pháp:
Điểm mới của biện pháp nằm ở việc GV đã ứng dụng phương pháp làm việc nhóm cho HS ngay từ đầu tiết học Bằng việc chia thành từng nhóm, việc tìm hiểu các tư liệu tham khảo trở nên nhanh chóng, dễ dàng hơn, các em HS trong lớp đều cần tham gia học tập và tìm hiểu để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm mình mà GV
đã giao cho trước đó Hoạt động này giúp HS thích thú hơn trong quá trình học tập, nâng cao hiệu quả hoạt động của các em trong giờ học, giúp HS yêu thích môn học hơn, hiểu hơn về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề
2.2 Giao nhiệm vụ cho HS trình bày trước lớp về các vấn đề đã tìm hiểu
* Mục tiêu của biện pháp:
Biện pháp được thực hiện để GV giao nhiệm vụ cho HS trình bày trước lớp về các vấn đề đã tìm hiểu Biện pháp này tạo cơ hội cho các nhóm trình bày các kết quả nghiên cứu mà nhóm mình đã thực hiện được trước toàn lớp, để các nhóm cùng nhận xét, chia sẻ và hoàn thiện kiến thức GV sẽ có thể nhận xét, sửa chữa và chuẩn hóa kiến thức cho các em HS Đồng thời, biện pháp cũng sẽ giúp HS trong từng nhóm rèn luyện kỹ năng thuyết trình, làm chủ trước đám đông
* Cách thức thực hiện:
Trình bày trước lớp là một trong những kỹ năng quan trọng và cần thiết đối với các em HS Đây là hoạt động để giúp các em chia sẻ thành quả nghiên cứu của nhóm mình sau một thời gian dài làm việc Việc này sẽ giúp GV đánh giá được hiệu quả làm việc của từng nhóm cũng như biết được khả năng làm việc nhóm của
HS, tìm ra các những bạn tích cực, có nhiều hoạt động trong từng nhóm Với HS, hoạt động trình bày trước lớp về các kết quả tìm hiểu của nhóm sẽ giúp các em mở rộng kiến thức Sau khi chia sẻ kết quả, nhóm sẽ lắng nghe nhận xét đánh giá, những ý kiến phản biện của các nhóm còn lại, và tiếp tục quá trình trao đổi, thảo luận Điều này góp phần tạo không khí sôi nổi trong lớp học Đồng thời, việc thuyết trình trước lớp cũng sẽ giúp các em HS rèn luyện kỹ năng thuyết trình trước đám đông, phát huy khả năng sáng tạo, tự tin thể hiện cá tính, suy nghĩ của mình trước cả lớp
Trang 23Hình 9, 10: Hình ảnh HS thuyết trình trước lớp về các vấn đề
nhóm mình đã tìm hiểu
Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này, tôi luôn chú trọng tổ chức các hình thức đa dạng để cho các em HS thuyết trình về các kết quả hoạt động được trước lớp, sau mỗi giờ hoạt động nhóm Tôi đã thực hiện theo các bước cụ thể sau: + Sau khi các nhóm HS đã kết thúc quá trình tìm hiểu và ghi chép lại kết quả trên khổ giấy A0, tôi sẽ yêu cầu các nhóm phân công nhiệm vụ cho thành viên đại diện trình bày kết quả tìm hiểu của nhóm Các nhóm có thể tự do lựa chọn hình thức trình bày, thuyết trình Có thể mỗi thành viên trong nhóm trình bày một phần hoặc một thành viên sẽ đại diện trình bày cho cả nhóm Các thành viên còn lại sẽ còn chú ý lắng nghe và nhận xét, đưa ra câu hỏi
+ Hình thức trình bày có thể đa dạng khác nhau: vẽ tranh, sơ đồ cây, thuyết minh, Các nội dung được trình bày gọn trong khổ giấy A0 và giáo viên đã phát trước đó Mỗi nhóm sẽ có tối đa 5 phút để trình bày về kết quả thảo luận của nhóm mình
Trang 24+ Ví dụ: Đối với nhóm 3, các em đã chọn thuyết trình bằng sơ đồ tư duy và trình bày được tương đối đầy đủ một vài những nội dung như:
* Vấn đề nghiên cứu của tác giả trong bài viết là: Bài báo cáo về Nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường của học sinh hiện nay
Chủ đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường
Nhánh 1: Về phía học sinh
Nhánh 2: Yếu tố sinh lý
Nhánh 2: Yếu tố tâm lý
Nhánh 2: Bất cân bằng trong phát triển tâm sinh lý
Nhánh 1: Về phía gia đình, nhà trường và xã hội
Nhánh 2: Từ gia đình
Nhánh 3: Buông lỏng trong quản lý và giáo dục con cái
Nhánh 3: Môi trường gia đình
Nhánh 3: Nhân cách đạo đức của cha mẹ
Nhánh 3: Ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế gia đình
Nhánh 2: Từ trường học
Nhánh 3: Phân bổ trình độ học sinh chưa hợp lý
Nhánh 3: Quan niệm giáo dục thiên lệch
Nhánh 3: Mối quan hệ thầy trò
Nhánh 3: Vai trò quản lý của nhà trường
- Với đề tài này, các em HS nhóm 3 đã chỉ ra được thực trạng nghiên cứu của báo cáo và lý do thúc đẩy tác giả lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu này
* Những luận điểm chính được tác giả sử dụng để triển khai bài viết là:
- Đưa ra và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường xuất phát từ phía học sinh
- Đưa ra và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường xuất phát từ phía gia đình, nhà trường và xã hội
Trong quá trình làm bài, nhóm 3 cũng đã tiến hành liên hệ và mở rộng kết quả nghiên cứu cụ thể về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi bạo lực học đường của học sinh
Nhóm 3 đã tham gia thuyết tình kết hợp với sơ đồ tư duy được nhóm vẽ trên phần mềm và trình chiếu trên Powerpoint Tất cả các thành viên trong nhóm đều lần lượt trình bài một phần, một nhánh trong sơ đồ tư duy một cách rõ ràng và dễ hiểu Sau khi nhóm 3 thuyết trình xong, các nhóm còn lại trong lớp cũng đã tham gia đặt câu hỏi cho phần thuyết trình của nhóm Các nhóm đã có nhiều câu hỏi rất hay, bám sát thực tiễn
Trang 25+ Ví dụ: Đối với nhóm 5: Tìm hiểu về Một số dấu ấn của sử thi Ấn Độ Ra –
ma – ya – na trong văn hóa Việt Nam, các em đã chọn thuyết trình trực tiếp bằng
lời nói và trình bày được tương đối đầy đủ một vài những nội dung như:
* Vấn đề nghiên cứu của tác giả trong bài viết là: Dấu ấn của sử thi Ấn Độ Ra-ma-ya-na trong văn hóa Việt Nam
- Các em cũng đã chỉ ra bối cảnh nghiên cứu của báo cáo và lý do tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề này
* Những luận điểm chính được tác giả sử dụng để triển khai bài viết là:
- Dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong văn học dân gian và văn học viết thời trung đại
- Dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong nghệ thuật điêu khắc
- Dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong văn hóa đương đại
Nhóm cũng đã liên hệ và mở rộng kết quả nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng,
tác động của tác phẩm chiến thắng Mtao - Mxây trong văn hóa Việt Nam
Trong quá trình các nhóm thảo luận, tôi luôn chú ý duy trì trật tự và ổn định lớp học Đặc biệt là đưa ra các tiêu chí thi đua cho các nhóm, nhằm khuyến
khích tinh thần làm việc của nhóm Ví dụ như hình thức trao cờ thi đua, hoa trạng
nguyên, ngôi sao hy vọng, … Việc làm này sẽ tạo ra sự hứng thú, tinh thần tập
trung cao độ để hoàn thành nhiệm vụ vì giữa các nhóm sẽ có sự cạnh tranh
* Ví dụ thang điểm cộng cho tiêu chí giành Cờ thi đua:
1 Hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian 10
2 Vấn đề nghiên cứu nêu trong bài báo cáo có ý
3 Báo cáo cung cấp thông tin rõ ràng về các thao
4 Báo cáo thể hiện được sự phù hợp giữa kết quả đạt được với mục tiêu nghiên cứu 20
5 Người thuyết trình trình bày đúng thời gian,
6 Các phương tiện hỗ trợ được sử dụng hiệu quả 15
Trang 26Sau khi tổ chức cho các em trình bày về kết quả nghiên cứu, thảo luận của nhóm mình, tôi nhận thấy HS của mình đã tích cực, chủ động hơn trong quá trình học tập giờ ngữ văn nói chung và đặc biệt là tiết học về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề nói riêng Đối với các nội dung được các nhóm thuyết trình, các thành viên khác trong lớp đều rất chú ý và sôi nổi nhận xét, đặt câu hỏi Từ đó,
HS cũng hiểu sâu hơn về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu vấn đề, cũng như xác định rõ các nội dung cần có trong dạng văn này Giờ học cũng trở nên thú vị, lôi cuốn và thu hút HS hơn Sau đó, các em cũng đã chủ động hoàn thành nhiệm vụ được GV giao về nhà, thậm chí là tìm hiểu thêm các thông tin khác về dạng văn báo cáo nghiên cứu một vấn đề và chia sẻ trước lớp
Hình 11: Hình ảnh sơ đồ tư duy của nhóm 3: Báo cáo nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi bạo lực học đường của học sinh hiện nay
* Điểm mới của biện pháp:
Điểm mới của biện pháp nằm ở việc xây dựng, tạo điều kiện cho HS thuyết trình và chia sẻ về kết quả nghiên cứu của mình trước lớp Hoạt động này không chỉ giúp các em rèn luyện kỹ năng diễn thuyết trước đám đông mà còn là hoạt động vận dụng kiến thức, giúp HS ghi nhớ kiến thức lâu hơn và hiểu rõ hơn về kiến thức đã tìm hiểu được Đồng thời, hoạt động cũng góp phần thúc đẩy tinh thần giúp đỡ, học tập của các em HS trong lớp, cùng nhau góp ý, giúp các bạn tiến bộ hơn Tiết học diễn ra trong không khí sôi nổi, hào hứng, bớt nhàm chán, dần dần khơi dậy tình yêu với môn ngữ văn của HS
Trang 272.3 Giao nhiệm vụ thực hành viết báo cáo theo chủ đề cho từng nhóm cụ thể
* Mục tiêu của biện pháp:
Biện pháp được thực hiện nhằm đưa ra nhiệm vụ thực hành cho từng nhóm
GV sẽ giao nhiệm vụ viết báo cáo theo từng chủ đề được chỉ định cho từng nhóm
cụ thể Qua các biện pháp 1 và 2, HS đã hiểu rõ hơn về bố cục cũng như cách viết của dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Để HS có thể hiểu đầy đủ
về dạng văn này, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm để các em có thể cùng nhau thực hiện, cùng nhau hoàn thành một báo cáo hoàn chỉnh Khi thực hiện hoạt động này, HS không chỉ cần hiểu rõ kiến thức đầy đủ về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề mà còn cần kết hợp với nhau để có thể tạo nên một báo cáo hoàn chỉnh
* Cách thức thực hiện:
Giao nhiệm vụ thực hành viết báo cáo theo chủ đề nhất định cho từng nhóm là một hoạt động thực hành cần thiết, không thể thiếu trong khi học về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề Khi đó, GV có thể nắm bắt được các em hiểu kiến thức đến mức độ nào và có thể ứng dụng trong quá trình viết bài như thế nào Việc tìm hiểu kỹ về dạng văn này từ cấu trúc, cách viết văn, các nội dung cần có ở biện pháp 1 và 2 sẽ tạo tiền đề giúp HS có thể nắm chắc và thực hiện hoạt động một cách tốt nhất Thêm vào đó, các báo cáo mẫu được tham khảo cũng sẽ phần nào giúp các em hoàn thành nhiệm vụ này Giao nhiệm vụ viết báo cáo theo chủ đề cho HS sẽ giúp tăng sự đa dạng về các đề bài, không chỉ dừng lại ở việc tham khảo các báo cáo, tài liệu thông thường hay các bài tập trong sách giáo khoa Có nhiệm
vụ cụ thể về viết báo cáo theo chủ đề, sẽ giúp các nhóm dễ dàng tiếp cận vấn đề và biết cách triển khai vấn đề dưới dạng nghị luận, trong một báo cáo hoàn chỉnh, tăng hoạt động thực hành trong giờ học, tăng tính trải nghiệm, vận dụng kiến thức trong điều kiện thực tế Thông qua đó tạo thử thách cho HS, tạo động lực cho các
em phấn đấu chiếm lĩnh tri thức Đồng thời, hoạt động cũng sẽ giúp lớp học trở nên sôi nổi hơn
Hiểu được tầm quan trọng của việc giao nhiệm vụ viết báo cáo theo từng chủ
đề cho các nhóm HS, tôi đã tìm hiểu một số dạng bài nhất định, hướng dẫn HS thực hiện theo các bước cụ thể dưới đây:
+ Bước 1: GV hướng dẫn học sinh về cách thức viết bài văn nghị luận báo cáo về một vấn đề cho tất cả HS
Tuy các em HS đã tìm hiểu về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu về một vấn đề trước đó, hiểu được cách viết văn, bố cục của một bài văn nghị luận dạng này tuy nhiên vẫn chưa hoàn chỉnh Để giúp HS có thể hoàn thành tốt nhất việc viết báo cáo theo chủ đề chỉ định, đầu tiên, tôi đã hướng dẫn các em cách viết bài văn nghị luận báo cáo sao cho đúng chuẩn
Đầu tiên, về bố cục của một báo cáo, HS cần đảm bảo báo cáo đủ các phần như sau:
Trang 28- Mở bài: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu Trong phần này, các em sẽ phải chỉ ra lý do lựa chọn vấn đề nghiên cứu, thời gian, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu cũng như các yếu tố về bối cảnh khác của nghiên cứu
- Thân bài: Quá trình thực hiện nghiên cứu và thành quả của nghiên cứu Trong phần này, HS sẽ cần cân nhắc và chia các kết quả nghiên cứu thành từng mục nhỏ, sau đó tiến hành trình bày về quá trình nghiên cứu để tìm ra kết quả đó, chỉ ra các luận cứ, dẫn chứng tìm được thông qua quá trình nghiên cứu
- Kết bài: Kết luận Phần kết luận sẽ tổng kết lại những giá trị lý luận cũng như giá trị thực tiễn của báo cáo Những kiến nghị, đề xuất và phát triển đề tài nếu
có
Trong quá trình thực hiện báo cáo, các em cũng cần chú ý xây dựng danh mục tài liệu tham khảo là các tài liệu các em sử dụng; đọc thêm sách, báo để thêm dẫn chứng hay luận cứ cho bài viết của mình
Về ngôn từ khi viết báo cáo Với dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề, HS cần tránh những từ ngữ thể hiện tính chủ quan cao Không nên viết quá hoa mỹ, văn học mà nên ngắn gọn, cô đọng, đi trực tiếp vào vấn đề Chú ý đến lối viết mạch lạc, logic, có tính gắn kết giữa các phần nội dung
Tôi cũng đã nhắc nhở các em HS một số lưu ý cần thiết khi viết báo cáo về một chủ đề nhất định:
- Đầu tiên, các em cần xác định rõ ràng vấn đề nghiên cứu mà nhóm lựa chọn
để báo cáo là gì
- Tiếp theo, các em cần xây dựng các chủ đề, nội dung rõ ràng, cần thiết cho từng phần HS cũng cần đảm bảo bố cục của báo cáo được thiết kế mạch lạc, rõ ràng để người đọc dễ hiểu và có thể tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng HS cần phải trình bày khoa học, mạch lạc các nội dung về kết quả nghiên cứu
- HS cũng cần chú ý đến dung lượng của từng phần trong báo cáo của mình Phần nội dung có dung lượng dài nhất, trong khi đó, phần mở bài và kết bài có dung lượng ngắn hơn và tương đương nhau Điều này sẽ giúp các em bảo đảm rằng, báo cáo của mình không quá dài hoặc quá ngắn, mà đáp ứng được yêu cầu của GV
- Cần trình bày rõ ràng, mạch lạc các nội dung về kết quả nghiên cứu Việc chỉ ra các luận cứ, dẫn chứng sẽ giúp báo cáo thêm tính xác đáng, tính khoa học
- Các em cần phân biệt rõ các nội dung được thể hiện trong báo cáo của mình Điều này sẽ giúp HS đảm bảo rằng báo cáo của mình không bị lặp lại hoặc mâu thuẫn với những thông tin được trình bày trước đó
Tất cả các lưu ý này đều rất quan trọng và sẽ giúp HS viết được một báo cáo khoa học, thuyết phục và đạt được điểm cao Chỉ khi các em hiểu rõ về những điểm trên, mới có thể hoàn toàn xây dựng và hoàn thiện được một báo cáo hay và đúng chuẩn
Trang 29+ Bước 2: GV xây dựng bộ chủ đề và cho các nhóm tiến hành bốc thăm chọn chủ đề
Sau khi đã hướng dẫn cho HS cách làm báo cáo và dạng bài viết nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề, tôi đã xây dựng các bộ chủ đề quen thuộc với các
em HS để các em có thể tiến hành bốc thăm chủ đề mà nhóm mình sẽ thực hiện Các chủ đề bao gồm: Các tư tưởng lớn trong văn học; Tự hào lịch sử Việt Nam; Bảo vệ môi trường; Các vấn đề giáo dục; Bảo vệ sức khỏe; Các vấn đề xã hội; Tôi đã viết các chủ đề vào giấy để các nhóm trưởng tiến hành bốc thăm để đảm bảo công bằng
Sau khi các nhóm đã bốc thăm chủ đề, giáo viên cho các nhóm thảo luận và lên ý tưởng cho bài văn nghị luận của mình Trong tiết học, các nhóm sẽ đưa ra tên
đề tài và ghi lại trên bảng để GV có thể dễ dàng nắm bắt GV cũng sẽ chia sẻ và góp ý về hướng triển khai đề tài để các nhóm có thể thực hiện tốt hơn
Ví dụ: Các nhóm đã tiến hành bốc thăm và thu được các chủ đề như sau: + Nhóm 1: Bốc thăm được vấn đề về bảo vệ môi trường
Nhóm đã quyết định lựa chọn đề tài “Vấn đề bảo vệ môi trường tại trường THPT Thái Hòa hiện nay”
+ Nhóm 2: Bốc thăm được các vấn đề về xã hội
Nhóm đã quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu về một vấn đề văn hóa truyền thống của Việt Nam”
+ Nhóm 3: Bốc thăm được các vấn đề về văn học
Nhóm đã quyết định lựa chọn đề tài “Những giá trị của sử thi Ê đê đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Ê- đê”
+ Nhóm 4: Bốc thăm được các vấn đề xã hội
Nhóm đã lựa chọn đề tài: “Tinh thần đoàn kết, gắn bó dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước”
+ Nhóm 5: Bốc thăm được chủ đề Bảo vệ sức khỏe
Nhóm đã lựa chọn đề tài: “Tuyên truyền về phòng chống thuốc lá điện tử cho học sinh THPT Thái Hòa trong giai đoạn hiện nay”
Các nhóm đều đã thảo luận và lên kế hoạch thực hiện chi tiết cụ thể để hoàn thành báo cáo mà GV giao cho
Sau khi thực hiện biện pháp này, các em HS đã nhanh chóng bắt tay vào thực hiện nghiên cứu và viết báo cáo Mỗi nhóm đều đã lên kế hoạch chi tiết cụ thể về các việc cần làm, các mốc thời gian cần chú ý để đảm bảo hoàn thành báo cáo theo yêu cầu của GV Các nhóm đều hoạt động rất tích cực và hiệu quả, các thành viên trong nhóm đều tham gia thảo luận, góp ý xây dựng, nhóm trưởng tổng hợp lại các ý kiến, thư ký ghi chép lại nội dung cần thiết Khả năng làm việc nhóm của HS đã tăng lên đáng kể
Trang 30Hình 12: Hình ảnh các nhóm đưa ra đề tài đã chọn
* Điểm mới của biện pháp:
Điểm mới của biện pháp nằm ở việc GV đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm Biện pháp đã nâng cao hoạt động thực hành vận dụng kiến thức, HS tìm hiểu được về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề trong viết và hoàn thành một báo cáo thực tế Đây là biện pháp kế thừa và phát triển từ hai biện pháp
đã được thực hiện trước đó Nếu hai biện pháp trước phát triển mức độ nhận biết
và thông hiểu, đối với dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề của HS thì biện pháp này giúp các em vận dụng các kiến thức đó trong thực tế hoàn thiện một báo cáo Biện pháp cũng giúp rèn luyện cho các em HS kỹ năng lên kế hoạch trước khi thực hiện bất kỳ một công việc gì để có thể đạt được hiệu quả cao nhất, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm của HS
2.4 Hướng dẫn HS xây dựng đề cương bài báo cáo nghiên cứu theo nhóm dưới hình thức sơ đồ tư duy
* Mục tiêu của biện pháp:
Biện pháp được thực hiện nhằm hướng dẫn HS xây dựng đề cương báo cáo nghiên cứu theo nhóm, dưới hình thức sơ đồ tư duy một cách chi tiết Sau khi đã lên kế hoạch chi tiết thực hiện báo cáo, bước xây dựng đề cương là bước quan trọng không thể bỏ qua Trong biện pháp này, GV sẽ hướng dẫn HS xây dựng đề cương bài báo cáo theo nhóm, dưới hình thức sơ đồ tư duy để các em có thể định hình rõ ràng về các nội dung cần thực hiện Đề cương cũng là một trong những bước cần thiết giúp HS hình thành và xây dựng báo cáo một cách sơ bộ Bước làm
đề cương sẽ giúp GV hướng dẫn và điều chỉnh kịp thời các nội dung của HS, để các em có thể hoàn thành báo cáo một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất
* Cách thức thực hiện:
Đề cương được xem như là “dàn bài” của một báo cáo nghiên cứu một chủ
đề Nếu như khi viết văn, các em cần xây dựng dàn ý thì khi viết bài báo cáo nghiên cứu, sau khi đã lên kế hoạch thực hiện, HS cần xây dựng đề cương chi tiết
Trang 31cho bài báo cáo đấy Đề cương chính là một bản kế hoạch nội dung của một bài báo nghiên cứu Trong đề cương, HS sẽ cần hoạch định ra các phần, cấu trúc sẽ có trong báo cáo cũng như các ý sẽ triển khai Việc xây dựng đề cương sẽ giúp HS hiểu và biết cách lên dài bài cho bài báo cáo Đồng thời, việc này sẽ giúp các em xác định được các nội dung chính cần thiết và phân bổ dung lượng cho từng phần sao cho cân đối, hợp lý Xây dựng đề cương trước cũng sẽ là một trong những căn cứ để các nhóm trưởng có thể phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm mình, để cùng nhau hoàn thành một báo cáo nghiên cứu về vấn đề, chủ đề mà GV yêu cầu Hiểu được tầm quan trọng đó, tôi đã hướng dẫn các em học sinh xây dựng đề cương cho một bài báo cáo theo các bước cụ thể như sau:
+ Bước 1: GV thông tin cho học sinh hiểu rõ hơn về ý nghĩa của hình thức học tập theo sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một phương pháp được áp dụng nhiều trong giáo dục, giúp ghi chép lại kiến thức dưới dạng sơ đồ, hệ thống hóa lại các kiến thức giúp HS dễ dàng theo dõi và ghi nhớ kiến thức hơn Việc áp dụng sơ đồ tư duy trong việc ghi chép giúp các em tiết kiệm được thời gian, công sức, tổng hợp kiến thức logic và sáng tạo hơn, tăng tính ghi nhớ và khoa học của HS khi ghi chép bài Việc hệ thống hóa kiến thức thành các sơ đồ tư duy tránh để cho các em bị rơi rớt kiến thức hay khó tìm kiếm các thông tin cần thiết khi tra cứu lại trong vở ghi
Vì đã được thực hành từ nhiều tiết học trước đó nên HS đều đã nắm được cụ thể cách xây dựng sơ đồ tư duy, cũng như hiệu quả của chúng Các em cũng thường xuyên ứng dụng sơ đồ tư duy trong ghi chép bài vở hay áp dụng phương pháp này trong các môn học khác
+ Bước 2: GV hướng dẫn các nhóm xây dựng sơ đồ tư duy đối với bài văn nghị luận báo cáo nghiên cứu về một vấn đề
Đã có tiền đề trước đó, mỗi em HS đều đã nắm được về cách xây dựng sơ đồ
tư duy Tôi đã nêu ra một số nhánh cần có trong sơ đồ tư duy mà HS cần xác định
và xây dựng nội dung cần thiết để các em có thể hoàn thiện sơ đồ tư duy của nhóm mình Các nhánh, nội dung quan trọng bao gồm:
- Vấn đề nghiên cứu của đề tài là gì?
- Các vấn đề cơ bản của nghiên cứu (lý do, đối tượng, thời gian, phạm vi nghiên cứu, )
- Các luận điểm chính (thường bao gồm từ 3 đến 4 luận điểm chính)
- Kết luận
Tuy theo từng chủ đề, HS cần xây dựng từng nội dung chi tiết cho từng nhánh sao cho phù hợp Mỗi nhánh sẽ tương ứng với nội dung của một chương trong báo cáo Với việc xây dựng sơ đồ tư duy của đề tài, tôi cũng đã lưu ý các em một số vấn đề như nhau:
Trang 32- Cần phân cấp được các thông tin - tương ứng với các mục 1,2,3 sẽ được viết trong báo cáo Với các mục có cấp thông tin từ 4 trở lên cần được thể hiện chi tiết trên sơ đồ tư duy
- Nên trình bày ngắn gọn các nội dung chính, không cần quá chú trọng đến câu chữ nhưng cần đúng và chính xác, để lúc xem sơ đồ tư duy có thể nhanh chóng nắm bắt được vấn đề
- Cần có một ghi chú riêng về các mạch logic trong từng phần hay các lưu ý
cụ thể với từng đề mục để thành viên được giao nhiệm vụ hoàn thành phần đó có thể làm tốt
Ví dụ: Với đề tài nghị luận nhóm 3: Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề trong
văn học, giáo viên đã hướng dẫn các nhóm xây dựng sơ đồ tư duy gợi ý như sau:
* Trung tâm: Vấn đề chính (Ví dụ: “Những giá trị của sử thi Ê đê đối với đời
sống văn hóa tinh thần của người dân Ê- đê”)
* Nhánh cấp 1: Đặt vấn đề (Ví dụ: Những tác phẩm sử thi luôn có ảnh hưởng lớn đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Ê-đê)
* Nhánh cấp 1: Tài liệu tham khảo
Hình 13: Minh họa sơ đồ tư duy mẫu GV gợi ý
Trang 33Với các gợi ý như trên, HS có thể dễ dàng hoàn thành sơ đồ tư duy là đề cương của đề tài nghiên cứu mà nhóm đã chọn Tương tự, với các nhóm khác, tôi cũng đã đến tận nơi để có thể đưa ra những gợi ý cho nhóm trong quá trình xây dựng sơ đồ tư duy
+ Bước 3: Các nhóm tiến hành lên dàn bài chi tiết cho đề tài báo cáo dựa trên sơ đồ tư duy đã xây dựng
Sau khi nhận được hướng dẫn từ GV, các nhóm đều đã nắm được các công việc cần thiết thực hiện, cũng như các nội dung cần có trong việc xây dựng đề cương của báo cáo và trình bày nó dưới dạng sơ đồ tư duy Các nhóm đã lập tức bắt tay vào tiến hành và xây dựng sơ đồ tư duy một cách chi tiết
Sau khi có sơ đồ tư duy, các nhóm sẽ bắt đầu viết dàn bài chi tiết, triển khai từ các ý có trong sơ đồ tư duy
Ví dụ: Dàn bài của nhóm 3 với chủ đề Văn học, đề tài “Những giá trị của sử
thi Ê đê đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Ê- đê” đã xây dựng như
mà bao gồm ý nghĩa ngợi ca
- Hình thức biểu diễn sử thi của người dân Ê đê là hình thứ hát, hát kể,… + Hát kể sử thi là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đã có từ lâu đời của cộng đồng người Ê đê, được tồn tại bằng hình thức truyền miệng từ đời này qua đời khác
+ Nội dung của hát kể sử thi chủ yếu ca ngợi các anh hùng dân tộc, tôn vinh những người có công tạo lập buôn làng, những người anh hùng có công bảo vệ cộng đồng thoát khỏi sự diệt vong, áp bức và sự xâm chiếm của các thế lực khác; …
+ Ngôn ngữ diễn xướng của sử thi Êđê là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời và nhạc
- Sự ảnh hưởng của sử thi đến đời sống người dân Ê đê:
+ Ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần: Người Ê đê thực hiện hát sử thi trong cuộc sống hàng ngày, trong lễ nghi và lao động
+ Sự tôn sùng của người Ê đê về sử thi
3 Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
4 Tài liệu tham khảo
Trang 34+ Bước 4: GV đánh giá, nhận xét đề cương
Khi nhận được đề cương từ HS, tôi đã xem qua và đánh giá chất lượng từng bài của các em, sau đó đánh giá, nhận xét cụ từng nhóm Với mỗi nhóm, tôi đều chỉ ra và góp ý những phần các em cần sửa, chú ý khi hoàn thiện đề cương của báo cáo
Dàn bài các nhóm xây dựng đều đã đáp ứng được các nội dung cần có trong báo cáo Đồng thời, các dàn bài này cũng khá chi tiết và đầy đủ, cân đối về mặt bố cục Dựa vào đây, các nhóm có thể bắt đầu phân công nhiệm vụ và hoàn thiện việc viết báo cáo theo các chủ đề đã chọn trước đó
+ Bước 5: Các nhóm tiến hành viết bài
Sau khi đã có dàn bài, nhóm trưởng sẽ tiến hành phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm, mỗi nhóm có 1 tuần để hoàn thiện bài văn của mình Mỗi nhóm sẽ có từ 6 -7 thành viên, mỗi thành viên sẽ có nhiệm vụ viết một phần trong bài báo cáo Nhóm trưởng và thư ký nhóm sẽ có nhiệm vụ tổng kết lại và chỉnh sửa, góp ý cho phần làm của từng thành viên để bài báo cáo hoàn chỉnh nhất Các em cũng đã xây dựng bảng phân công công việc, để GV có thể nắm bắt được hoạt động của từng thành viên trong quá trình làm việc nhóm
Ví dụ: Nhóm 2 đã tiến hành phân chia công việc cụ thể cho từng thành viên
trong nhóm như sau:
Nhóm trưởng: tổng hợp + chỉnh sửa bài
Thư ký nhóm: viết phần kết luận + báo cáo phân công công việc
Thành viên 1: Hoàn thành phần đặt vấn đề
Thành viên 2: Hoàn thành phần Giá trị và phân loại trong phần thân bài
Thành viên 3: Hoàn thành phần Cách thức gây cười trong phần thân bài
Thành viên 4: Hoàn thành phần Ý nghĩa và Hội nhập trong phần thân bài Thành viên 5: Hoàn thành phần kết luận
Mẫu bảng phân công nhiệm vụ:
Trang 35Hình 14: Hình ảnh nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho các thành viên
trong nhóm
Sau khi thực hiện biện pháp này, các nhóm đã tích cực làm việc và hoàn thiện
đề cương bài báo cáo theo chủ đề mà GV đã giao trước đó Kỹ năng viết của HS
cũng có sự tiến bộ rõ rệt Các em đã biết cách phân tích ngữ liệu, xác lập quy trình
viết, tiến hành viết thử để GV có thể hướng dẫn và sửa lỗi trực tiếp Dựa trên bảng
phân công công việc, có thể thấy toàn bộ các thành viên trong nhóm đều hoạt động
tích cực, các nhóm trưởng đã biết phân chia công việc cho từng thành viên để đảm
bảo, công việc được hoàn thành nhanh chóng, hiệu quả theo yêu cầu của cô giáo
HS cũng đã nắm được và vận dụng tốt các kiến thức về dạng văn nghị luận báo cáo
nghiên cứu một vấn đề và viết hoàn chỉnh một bài báo cáo Tuy còn nhiều điểm
cần sửa nhưng đều là những lỗi nhỏ Đặc biệt, khả năng làm việc nhóm của các em
đã được cải thiện tích cực
* Điểm mới của biện pháp:
Qua biện pháp này, HS đã nắm được toàn bộ những bước làm cần thiết để có
thể viết hoàn chỉnh một báo cáo nghiên cứu một chủ đề nhất định, được GV giao
trước đó Điểm mới của biện pháp nằm ở việc tăng cường độ làm việc nhóm, cũng
như khối lượng công việc cho từng nhóm, tăng cấp độ áp dụng kiến thức để HS có
thể ghi nhớ kiến thức lâu và nhanh hơn Với biện pháp này, kỹ năng làm việc
nhóm của các em đã được cải thiện vượt bậc Không chỉ nhóm trưởng hay thư ký
nhóm mà các thành viên còn lại trong nhóm đều hoạt động tích cực, có trách nhiệm
với phần việc mình được giao Biện pháp cũng đảm bảo tính công bằng khi đánh
giá năng lực, lực học của mỗi HS Ngoài ra, thông qua biện pháp này, giờ học tìm
hiểu về dạng văn nghị luận báo cáo nghiên cứu một vấn đề trở nên sôi nổi, hấp dẫn
hơn, thu hút sự chú ý, yêu thích của các em HS
Trang 362.5 Hướng dẫn HS các nhóm phân tích, đánh giá chéo bài viết báo cáo nghiên cứu
* Mục tiêu của biện pháp:
Biện pháp được thực hiện giúp HS hoàn thiện các kỹ năng phân tích, đánh giá chéo bài viết báo cáo nghiên cứu của nhau Sản phẩm của mỗi nhóm đều sẽ có những ưu điểm, hạn chế riêng Thông qua việc phân tích và đánh giá bài viết của nhóm bạn, các em có thể học tập ưu điểm của các bài viết, đồng thời biết những lỗi sai mà nhóm bạn đã mắc phải, từ đó tránh không lặp lại trong các bài viết của mình Biện pháp cũng giúp tăng vai trò, hoạt động của HS trong giờ học, các em được bày tỏ, được thể hiện quan điểm nhiều hơn Việc vận dụng kiến thức để phân tích và đánh giá bài của nhóm bạn cũng sẽ giúp HS ghi nhớ kiến thức tốt hơn
* Cách thức thực hiện:
Việc hướng dẫn các nhóm phân tích, đánh giá chéo bài viết báo cáo nghiên cứu của nhau có vai trò quan trọng Đây là một trong những hoạt động nằm trong khâu đánh giá, nhận xét và rút kinh nghiệm Việc hướng dẫn các nhóm phân tích, đánh giá chéo báo cáo của nhau sẽ giúp tăng tính tham khảo trong tiết học Mỗi nhóm sẽ có thể xem và thấy được các ưu, nhược điểm trong bài của nhóm bạn, từ đó học tập các ưu điểm và rút kinh nghiệm từ các thiếu sót, sửa chữa báo cáo của mình sao cho hiệu quả Thêm vào đó, các em cũng sẽ nhận biết được các lỗi sai thường gặp trong khi viết các bìa báo cáo, hay các lỗi sai mà nhóm bạn mắc phải, từ đó rút kinh nghiệm cho bài làm của mình và không mắc phải trong những lần sau
Để thực hiện biện pháp này, tôi đã tiến hành theo các bước cụ thể như sau:
+ Bước 1: GV phát bài của các nhóm theo hình thức phát chéo
Đầu tiên, tôi tiến hành phát chéo bài các nhóm đã nộp cho các nhóm còn lại, sao cho các nhóm không tự đánh giá bài của mình
Cụ thể là nhóm 1 đánh giá bài của nhóm 2, nhóm 2 đánh giá bài của nhóm 3, nhóm 3 đánh giá bài của nhóm 4, nhóm 4 đánh giá bài của nhóm 5 và nhóm 5 đánh giá bài của nhóm 1
Mẫu bảng đánh giá chéo giữa các nhóm:
Trang 37+ Bước 2: Các nhóm tiến hành phân tích và đánh giá bài viết của nhóm bạn
Trong quá trình đọc bài và đánh giá, các thành viên trong nhóm cùng tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế của bài viết nhóm bạn và ghi chú lại Việc này sẽ giúp HS nhận ra được những điểm mà mình cần phải khắc phục, từ đó sẽ cải thiện được chất lượng bài viết của mình
Để đánh giá bài viết của nhóm bạn, các nhóm cần tìm hiểu và chỉ ra tối thiểu
3 ưu điểm trong bài viết của nhóm bạn cùng với các lỗi sai mà nhóm mắc phải khi làm bài Những ưu điểm có thể là cách trình bày rõ ràng, mạch lạc, có sử dụng các tài liệu tham khảo hoặc các ý kiến đưa ra được thuyết phục và có tính thuyết phục cao Các lỗi sai có thể là sai sót về ngữ pháp, chính tả, sử dụng từ không chính xác hoặc các ý kiến chưa rõ ràng, chưa được phát triển đầy đủ
Đồng thời, sau khi đã chỉ ra các lỗi sai, các nhóm cần tiến hành thảo luận và đưa ra phương án sửa chữa các lỗi sai đó sao cho phù hợp Điều này sẽ giúp HS cải thiện được kỹ năng viết của mình, tránh được các lỗi sai tương tự trong tương lai Ngoài ra, việc thảo luận và đưa ra phương án sửa lỗi sai cũng giúp các em rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, góp phần nâng cao khả năng hợp tác và giao tiếp của HS
Ví dụ dưới đây là bài đánh giá của nhóm 2 về bài làm của nhóm 3 với đề tài
“Những giá trị của sử thi Ê đê đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Ê- đê” như sau:
Bảng đánh giá nhóm 3 Ngày:
Chủ đề: Viết văn nghị luận báo cáo nghiên cứu về một vấn đề
Đề tài: Những giá trị của sử thi Ê đê đối với đời sống văn hóa tinh thần của
người dân Ê- đê
Nhóm thực hiện đánh giá: Nhóm 2
Ưu điểm Hạn chế Biện pháp khắc
phục
Bài học kinh nghiệm
Có nhiều chi tiết
Cần xem lại các sai sót ngữ pháp, chính tả và câu trình bày để bài báo cáo trở nên chuyên nghiệp hơn
Cần rèn luyện kỹ năng viết văn để truyền tải được câu chuyện một cách chuyên nghiệp hơn
Trang 38Nên phát triển thêm các tình tiết chưa được trình bày đầy
đủ để bài thi trở nên hấp dẫn hơn
Cần nắm vững kiến thức về sử thi để có thể phát triển tình tiết và nhân vật tốt hơn
Cần sắp xếp thời gian hợp lý để có thể tìm hiểu kỹ hơn về tình tiết và nhân vật trong sử thi
Cần phân bổ thời gian hợp lý để có thể hoàn thành bài thi một cách tốt nhất
Sau khi áp dụng biện pháp này, HS đã trở nên tích cực, chủ động Mỗi nhóm đều làm việc hết mình, tìm hiểu, tham khảo về bài báo cáo của nhóm bạn Các em cũng đã có những phần tranh luận rất kịch tích bảo vệ thành quả làm việc của nhóm mình Các cuộc tranh luận đều được diễn ra trên nguyên tắc tôn trọng và phát triển vấn đề Qua đó, mỗi nhóm cũng đã có thể hoàn thiện bài làm của nhóm mình một cách hoàn chỉnh hơn
* Điểm mới của biện pháp:
Điểm mới của biện pháp nằm ở việc tạo điều kiện cho HS tự nhận xét và đánh giá chép bài của các thành viên khác trong lớp Thông qua đánh giá các bài viết này, các em có thể tự chia sẻ quan điểm của mình Đồng thời, hoạt động này cũng
sẽ giúp GV nắm được mức độ hiểu và áp dụng kiến thức của HS qua việc đánh giá bài của các nhóm bạn Thêm vào đó, GV cũng dễ dàng hướng dẫn các em cách đánh giá phù hợp, để HS có thể tiếp tục phát triển cũng như đưa ra những thay đổi, sửa chữa cụ thể đối với bài của mình, học hỏi ưu điểm từ bài viết của nhóm bạn và sửa chữa các lỗi tương tự đang mắc phải trong bài của mình (nếu có)
2.6 Áp dụng kỹ năng chia sẻ và lắng nghe tích cực trong quá trình các nhóm trình bày trước lớp
* Mục tiêu của biện pháp:
Biện pháp được xây dựng nhằm giúp HS trau dồi kỹ năng giao tiếp, hỗ trợ các thành viên trong nhóm cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả và tạo ra một môi trường học tập tích cực Qua biện pháp này, HS sẽ học được cách lắng nghe tích cực và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả Các em sẽ biết cách truyền đạt thông tin và ý tưởng của mình một cách rõ ràng, dễ hiểu để đạt được sự đồng tình từ các thành viên khác trong nhóm Ngoài ra, biện pháp này còn giúp tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mà HS cảm thấy thoải mái để chia sẻ ý kiến
Trang 39của mình và học tập từ nhau Việc tạo ra một môi trường học tập tích cực có thể giúp các em cảm thấy tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động học tập, tăng cường tinh thần đồng đội giữa các thành viên trong nhóm
* Cách thức thực hiện:
Sau khi các nhóm đã hoàn thành phần thảo luận nhóm, để có thể đánh giá được chất lượng nội dung mà HS đã thực hiện, tôi cho các nhóm trình bày kết quả của nhóm mình trước lớp Trong quá trình trình bày, các nhóm cần áp dụng kỹ năng chia sẻ và lắng nghe tích cực để đảm bảo rằng mọi thành viên trong nhóm đều tham gia và đóng góp ý kiến
+ Bước 1: Các nhóm trình bày phần đánh giá bài viết trước lớp
Mỗi nhóm sẽ cử đại diện một thành viên trình bày những đánh giá mà nhóm mình đã ghi nhận được sau khi đọc bài viết của nhóm bạn Các em có thể ghi chú lại những ưu điểm, nhược điểm mà nhóm mình đã nhận xét được lên bảng, trình bày và đưa ra nhận định, dẫn chứng cụ thể Gv và các nhóm còn lại sẽ lắng nghe Đây cũng là cách giúp học sinh rèn luyện kỹ năng chia sẻ và lắng nghe của mình Bởi việc lắng nghe ở đây không chỉ dừng lại ở việc nghe những gì nhóm bạn trình bày mà còn phải tập trung để hiểu và phân tích các vấn đề mà nhóm bạn đang nói,
từ đó có thể hiểu bài sâu hơn, đưa ra các câu hỏi cũng như nhận xét
Hình 15: Hình ảnh GV và HS chăm chú lắng nghe phần trình bày của các nhóm
Mỗi nhóm sẽ có 3 phút để trình bày phần đánh giá của mình trước lớp Các đại diện của nhóm sẽ phải trình bày nội dung một cách rõ ràng, dễ hiểu và thuyết phục để tất cả mọi người trong lớp có thể hiểu và đồng ý với quan điểm của mình Qua phần trình bày này, HS sẽ có cơ hội để tìm hiểu và học hỏi kỹ năng thuyết trình, kinh nghiệm từ các nhóm khác, từ đó nâng cao khả năng phân tích, đánh giá
và viết bài của mình Ngoài ra, phần trình bày cũng giúp tăng tính tương tác và giao lưu giữa các nhóm trong lớp học Bên cạnh đó, trong quá trình nhận xét các nhóm cần sử dụng ngôn ngữ tích cực để truyền đạt thông điệp của mình và cần tôn trọng người khác, đưa ra nhận xét một cách lịch sự và văn minh
Trang 40+ Bước 2: Các nhóm bảo vệ bài viết của nhóm mình
Sau khi các nhóm trình bày đánh giá chéo, các nhóm sẽ ghi nhận và tiến hành tranh luận, bảo vệ bài viết của nhóm mình nếu nhóm bạn nhận xét chưa đúng Trong quá trình tranh luận, những câu hỏi và bình luận sẽ được đưa ra để thảo luận
và tìm ra những giải pháp hợp lý nhất Các nhóm sẽ cố gắng giải thích và bảo vệ những ý kiến và quan điểm của mình bằng những dẫn chứng cụ thể, chứng minh rằng những đánh giá của các nhóm khác là chưa chính xác hoặc thiếu sót Tuy nhiên, việc phản biện cần phải đảm bảo tính khách quan, tôn trọng quan điểm của người khác và đưa ra các bằng chứng để chứng minh quan điểm của mình, giúp cho người khác hiểu rõ hơn về quan điểm của nhóm
Từ đó, các nhóm sẽ tìm ra những giải pháp hợp lý để khắc phục những thiếu sót trong bài viết của mình Việc tranh luận và bảo vệ bài viết sẽ giúp cho các em
có cơ hội rèn luyện kỹ năng thuyết trình, lập luận, đồng thời hiểu rõ hơn về những sai sót trong bài viết của mình, biết cách để khắc phục chúng Tranh luận cũng giúp cho các nhóm học tập và trau dồi kiến thức, hiểu rõ hơn về chủ đề mình đang học Mỗi nhóm sẽ có 3 phút để tranh luận và đặt câu hỏi, nhờ đó HS sẽ phải tập trung và trình bày ý kiến của mình một cách súc tích, rõ ràng
+ Bước 3: Giáo viên nhận xét, đưa ra kết luận và chấm điểm cho mỗi nhóm
Sau khi đã nghe các nhóm trình bày đánh giá cũng như bảo vệ báo cáo của nhóm mình, tôi tiến hành nhận xét chung về phần trình bày, cách đánh giá của các nhóm, đồng thời đánh giá chi tiết hơn về bài báo cáo của nhóm và đưa ra các gợi ý, đánh giá về hướng sửa mà nhóm đánh giá đã đề xuất
Sau khi áp dụng giải pháp, học sinh đã tích cực và thoải mái hơn trong việc chia sẻ ý kiến của mình với mọi người Đồng thời, các em cũng đã có thể đưa ra được các nhận xét khách quan và chính xác hơn
Hình 16: Bầu không khí tích cực của lớp học sau mỗi lần các nhóm thuyết trình