1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào việc giảng dạy lịch sử việt nam giai đoạn 1919 1954 trong chương trình lịch sử 12

76 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Skkn 2023) Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào việc giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1954 trong chương trình lịch sử 12
Tác giả Nguyễn Thị Miền, Nguyễn Thị Hằng Soa
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Duy Trinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ÁP DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀO VIỆC GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 - 1954 TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ 12 NHẰM P

Trang 1

1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÁP DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀO

VIỆC GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

1919 - 1954 TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH

Trang 2

2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÁP DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀO

VIỆC GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

1919 - 1954 TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT CHO HỌC SINH

Lĩnh vực: Lịch sử

Nhóm tác giả:

1 Nguyễn Thị Miền - Tổ KHXH ĐT: 0915111347

2 Nguyễn Thị Hằng Soa - Tổ KHXH ĐT: 0982698797

Năm học: 2022 - 2023

Trang 4

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, thời gian nghiên cứu 2

1.2.1 Khái niệm “năng lực”, “phát triển năng lực” và “phẩm chất” 7

1.2.2 Các năng lực, phẩm chất chung cần hình thành cho học sinh 8

1.2.3 Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy

học lịch sử ở trường THPT

8

1.3 Vai trò của việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển

năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

2.3 Thực trạng quan niệm, nhận thức của giáo viên và học sinh về việc

đổi mới phương pháp dạy học

Trang 5

5

Chương II Phương pháp thực hiện dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn

1919 – 1954 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực

và phẩm chất cho học sinh

15

1.1 Khái quát nội dung “Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1954” 15 1.2 Xác định những tiết dạy học sẽ thực hiện mô hình “Lớp học đảo

ngược”

17

1.5 Tìm hiểu về vấn đề khó khăn mà HS sẽ gặp phải trong quá trình thực

Chương III Quy trình thực hiện dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn

1919 - 1954 theo mô hình lớp học đảo ngược

22

1.2 Khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của giải pháp đề xuất 35

1.2.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 36

1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm

1.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm

39

Trang 6

và cần vận dụng phù hợp thực tiễn Việt Nam Do vậy, chủ trương đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong các Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) và được thể chế trong Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005, sửa đổi 2009, 2010):

"phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS" (điều 28.2) Mô hình lớp

học đảo ngược sẽ mở ra những cơ hội học tập linh hoạt, tích cực, hiệu quả cho HS nói chung và dạy học bộ môn lịch sử nói riêng Nếu được triển khai rộng rãi thì đây sẽ là một mô hình dạy học hoàn toàn phù hợp và hiệu quả trong thời đại công nghệ số ngày nay

Xuất phát từ thực trạng dạy học nói chung và dạy học môn Lịch sử nói riêng ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi thấy đa số các giáo viên chưa cập nhật và chưa ứng dụng các phương pháp, các mô hình dạy học mới vào thực tế bài dạy một cách có hiệu quả, một số giáo viên còn giảng dạy theo lối truyền thống, học sinh lĩnh hội kiến thức một cách thụ động Một số giáo viên khác mặc dù có nhận thức đúng về việc đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học để đáp ứng yêu cầu đổi mới, nhưng họ lại hiểu sai cách làm nên còn hời hợt, đối phó,vì vậy hiệu quả chưa cao Xuất phát từ ý nghĩa của việc dạy học lịch sử theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS: Nghị quyết 29 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa

XI về đổi mới căn bản , toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực

và phẩm chất người học” [4; tr.120] Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện cần có nhận thức đúng đắn về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS GV cần có những biện pháp trong việc ứng dụng phương tiện kỹ thuật, đặc biệt là sử dụng các mô hình mới trong DHLS Trên cơ sở đó, không những tích cực hóa hoạt động nhận thức bằng trí tuệ

Trang 7

7

của HS mà còn rèn luyện năng lực tự học, năng lực tái hiện lại sự kiện, hiện tượng

LS và đặc biệt là năng lực thực hành Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực HS trong đó việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học đóng một vai trò quan trọng góp phần to lớn vào hoàn thành mục tiêu môn học Giúp HS nắm được những tri thức khoa học cơ bản, rèn luyện kỹ năng học tập, nâng cao phẩm chất đạo đức để đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống Qua đó, khắc phục tình trạng truyền thụ tri thức “ một chiều” của

GV cũng như hạn chế tình trạng trông chờ GV “ đọc” cho ghi chép của HS

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào việc giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-

1954 trong chương trình Lịch sử 12 nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh” với mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm, hiểu biết của mình tới

đồng nghiệp, áp dụng vào thực tiễn dạy học để nâng cao chất lượng bộ môn

Chúng tôi khẳng định đề tài là hoàn toàn mới, đáp ứng được yêu cầu tổng kết, đúc rút kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử 12 nói riêng và dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông nói chung

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Đề tài nhằm mục đích cung cấp một số cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học, đưa ra một mô hình dạy học đã ứng dụng để thay đổi trạng thái học tập cho học sinh 12 thông qua việc học tập nói chung và bộ môn Lịch sử nói riêng Đồng thời, cung cấp một số kinh nghiệm của bản thân trong việc sử dụng một

mô hình dạy học mới trong DHLS nói chung và DHLS Việt Nam giai đoạn 1919 -

1954 nói riêng nhằm phát triển năng lực HS

3 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là áp dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử 12 “Việt Nam từ 1919 đến năm 1954” - lớp 12 THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

8

Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu việc áp dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử “Việt Nam từ 1919 đến 1954”- lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở các lớp khối 12

3.3.Thời gian nghiên cứu đề tài

Năm học 2022-2023

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp:

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu tài liệu về mô hình LHĐN; các chủ trương của Đảng và Nhà

nước về đổi mới giáo dục phổ thông …

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm

5 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu đề tài

Đề tài có những đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:

- Phân tích, làm rõ và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về mô hình “Lớp học đảo ngược” Đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh, đặc biệt là năng lực tự học

- Đánh giá được thực trạng dạy học của bộ môn lịch sử và thực trạng việc áp dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh THPT

- Hệ thống hóa một cách cụ thể quy trình để áp dụng mô hình LHĐN trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1954 theo mô hình LHĐN phù hợp với đối tượng người học

- Đóng góp thêm với các đồng nghiệp dạy bộ môn Lịch sử nói chung về mô hình dạy học mới trong dạy học Lịch sử nhằm phát huy năng lực, phẩm chất cho

HS hiện nay

Trang 9

1.1.1 Khái niệm Lớp học đảo ngược

Lớp học đảo ngược có tên tiếng Anh là Flipped Classroom Đây là mô

hình học tập ngược lại với mô hình học tập truyền thống Lớp học đảo ngược là mô hình học tập, trong đó người học xem bài giảng (đa số là các đoạn video thu lại bài giảng của người dạy) và nghiên cứu tài liệu do người dạy cung cấp để hiểu nội dung bài học trước khi đến lớp Thời gian học tập tại lớp sẽ được sử dụng cho các hoạt động thảo luận, giải quyết vấn đề, thực hành và nâng cao kiến thức về nội dung bài học Theo cách hiểu đơn giản, lớp học đảo ngược là đảo ngược quá trình học truyền thống, tức là HS sẽ nghe giảng tại nhà và việc làm bài tập, thực hành,

ứng dụng được thực hiện trên lớp

1.1.2 Mô hình Lớp học đảo ngược

Mô hình LHĐN là một phương thức dạy học theo mô hình kết hợp Mô hình này đã khai thác triệt để những ưu điểm của công nghệ thông tin và góp phần giải quyết được những hạn chế của mô hình dạy học truyền thống bằng cách “đảo ngược” quá trình dạy học so với mô hình dạy học truyền thống Sự “đảo ngược” ở đây được hiểu là sự thay đổi với các dụng ý và chiến lược sư phạm thể hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trước đây của người dạy và người học Trong mô hình lớp học đảo ngược, các hoạt động “Học ở lớp, làm bài tập ở nhà” (trong mô hình lớp học truyền thống) được chuyển thành các hoạt động tự học ở nhà qua video bài giảng, học trực tuyến, nghiên cứu bài học qua Internet và khi đến lớp người học sẽ làm bài tập, trao đổi, chia sẻ các nội dung của bài học, giải quyết các vấn đề, tình huống do GV đặt ra

1.1.3 So sánh mô hình Lớp học truyền thống với Lớp học đảo ngược

Trang 10

10

Khi so sánh giữa hai mô hình, có thể nhận thấy sự khác biệt cơ bản trong việc

tổ chức các hoạt động trong và ngoài lớp học giữa mô hình lớp học đảo ngược và lớp học truyền thống

Lớp học truyền thống - GV hướng dẫn

- GV đánh giá

- HS ghi chép

- HS làm theo hướng dẫn của GV

- HS làm bài tập về nhà Lớp học đảo ngược - GV chia sẻ bài giảng,

tài liệu, sách, video, trang web, cho HS nghiên cứu tại nhà

- GV hướng dẫn, tổ chức thảo luận, và chốt các nội dung bài học trên lớp

- HS hiểu sâu hơn các khái niệm, ứng dụng và có sự kết nối với nội dung đã tạo

ra khi thảo luận tại lớp

- HS nhận được sự hỗ trợ khi cần thiết

Ở lớp học truyền thống, học sinh đến trường ngồi nghe giảng bài thụ động

và hình thức này được giới chuyên môn gọi là Low thinking Sau đó các em về nhà làm bài tập và quá trình làm bài tập sẽ khó khăn nếu học sinh không hiểu bài Như vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mới thuộc người thầy, và theo thang tư duy Bloom thì nhiệm vụ này chỉ ở những bậc thấp (tức là “Biết” và “Hiểu”) Còn nhiệm vụ của học sinh là làm bài tập vận dụng và nhiệm vụ này thuộc bậc cao của thang tư duy (bao gồm “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Tổng hợp” và “Đánh giá”)

Trang 11

11

Với LHĐN, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy (thông qua những giáo án đã được giáo viên chuẩn bị trước cùng thông tin do học sinh tự tìm kiếm), nhiệm vụ của học sinh là tự học kiến thức mới này và làm bài tập mức thấp ở nhà Sau đó vào lớp các em được giáo viên tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau Các bài tập bậc cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của giáo viên và các bạn cùng nhóm Cách học này đòi hỏi học sinh phải dùng

nhiều đến hoạt động trí não nên được gọi là “High thinking” Như vậy những

nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò

LHĐN chuyển sự hướng dẫn học tập sang mô hình lấy người học làm trung tâm, trong đó thời gian lên lớp được sử dụng để khám phá sâu hơn các nội dung bài học Với 6 cấp độ học tập trong thang Bloom, trong lớp học đảo ngược, học sinh sẽ chú trọng nhớ và hiểu ngoài lớp học Khi đến lớp, giáo viên sẽ chú trọng giúp học sinh ứng dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo Điều này ngược lại với lớp học truyền thống rất chú trọng giúp người học hiểu và nhớ lý thuyết tại lớp

1.1.4 Cách tổ chức mô hình lớp học đảo ngược

- Bước 1: Lựa chọn nội dung dạy học thích hợp

- Bước 2: GV thiết kế các bài giảng, video, share các tài liệu tham khảo trên mạng

- Bước 3: HS xem bài giảng, tài liệu, video ở nhà

- Bước 4: Lên lớp HS thực hành, thảo luận, trao đổi với nhau và với GV trên lớp

1.1.5 Ưu điểm và hạn chế của mô hình Lớp học đảo ngược

a Ưu điểm:

- GV đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của HS nên có nhiều thời gian để theo dõi quan sát hoạt động của HS, có điều kiện tập trung cho nhiều đối tượng HS khác nhau nhất là các đối tượng cần nhiều sự hỗ trợ hơn so với

các bạn

- Phát triển kỹ năng tự học và tính kỷ luật cho học sinh Học sinh chủ động, tích cực trong việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề, khám phá, lĩnh hội kiến thức để có thể tiến tới các cấp độ cao trong tư duy

- Tăng cường khả năng tương tác, tương tác ngang hàng giữa các HS với nhau Học sinh không phải học một mình mà có sự kết nối, tương tác, hỗ trực trực tiếp từ giáo viên và bạn bè Học sinh có nhiều thời gian để học với giáo viên hơn

- HS tự quyết định tốc độ học phù hợp, có thể tua nhanh hoặc xem lại nhiều lần khi chưa hiểu, qua đó làm chủ việc học của mình

- HS có cơ hội để phát triển kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình trước đám

đông, đặt câu hỏi phản biện,… Đồng thời, mô hình này tạo ra môi trường học tập sát với học sinh, phù hợp với mọi trình độ, giúp việc học hiệu quả và có ý nghĩa hơn HS tiếp thu tốt hơn có thể được chuyển tiếp đến các chương trình học cao hơn

mà không ảnh hưởng gì đến các bạn còn lại

Trang 12

12

- Học sinh có thêm thời gian và dễ dàng áp dụng kiến thức vào trong thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- Hỗ trợ các HS vắng mặt nhờ các bài học luôn trực tuyến và được lưu trữ lại

- Phụ huynh có nhiều cơ hội hỗ trợ cho HS chuẩn bị bài tốt hơn trong thời gian tự học ở nhà

- Một số bài giảng trong video kém thú vị, hấp dẫn Một số em không bắt kịp việc sử dụng công nghệ sẽ không theo kịp các bạn cùng lớp Bên cạnh đó, một số học sinh tiếp thu chậm, không có khả năng tự học sẽ gặp khó khăn khi phải tự học tại nhà Điều này có thể dẫn đến việc các học sinh này thiếu kiến thức nền tảng và khó khăn trong việc khám phá thêm kiến thức

- Người học dễ sa vào việc lạm dụng các thiết bị điện tử, dẫn đến việc: một

số bạn sao nhãng trong lớp học, dễ mất thông tin (do virus, trộm)

- Học trên mạng dễ bị gián đoạn bởi tin báo trên các trang mạng xã hội khi đang học; Nhiều em mất dần sự sáng tạo do ỷ lại vào những thứ đã có sẵn

- Trong quá trình thực hiện, giáo viên cần biết lựa chọn, cân đối những tiết học theo mô hình đảo ngược cho phù hợp để tránh tình trạng quá tải và gây nhàm chán cho học sinh

Những phân tích trên cho thấy, mô hình LHĐN chỉ phù hợp với một số bài học chứ không thể áp dụng tràn lan nên cần phải sử dụng các phương tiện học tập phù hợp Ngoài ra, vai trò của GV trong việc thiết kế bài giảng, điều hướng, hỗ trợ HS trong các hoạt động nhóm trên lớp cũng rất quan trọng, quyết định sự thành công của mô hình

1.2 Khái niệm về phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh trong dạy học lịch sử

1.2.1 Khái niệm “năng lực”, “phát triển năng lực” và “phẩm chất”

Trong tài liệu “Một số vấn đề về đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (5-2005) cho rằng “Năng lực là

tổ hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một người với những phẩm chất (giá trị) riêng của mình, cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh nhất định Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc, có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau Năng lực của cá nhân được đánh giá qua tính chất và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống” [4; tr.45]

Trang 13

13

“Phát triển năng lực” được hiểu là làm cho các thuộc tính tâm lí, những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm của cá nhân,,… được bộc lộ rõ ràng, được thực hành, rèn luyện và hoàn thiện ở mức cao hơn so với trước Sự phát triển năng lực được thể hiện rõ nét qua các hoạt động vì hoạt động là một phương thức cơ bản để phát triển năng lực Các năng lực chung và kể cả những năng lực chuyên biệt được phát triển khi con người tổ chức các hoạt động và hoàn thành nó một cách xuất sắc Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục

1.2.2 Các năng lực, phẩm chất chung cần hình thành cho học sinh

- Các chuyên gia nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong tài liệu “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực học sinh, môn lịch sử cấp THPT” [3; tr.47-48] đã xác định những năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS trong quá trình dạy học của mỗi môn học, những năng lực thiết yếu của con người để con người có thể thích ứng với xã hội Đó là:

+ Năng lực tự học

+ Năng lực giải quyết vấn đề

+ Năng lực tư duy

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực hợp tác

+ Năng lực sử dụng CNTT- truyền thông

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ

+ Năng lực tính toán

- Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ban hành kèm theo thông tư

số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo, các biểu hiện về phẩm chất cần đạt của HS trung học phổ thông:

Trang 14

14

trung tâm Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào vai trò giáo dục ở trường PT Hiện nay, Việt Nam đang trên con đường đổi mới phát triển kinh tế- xã hội, vậy nên tất yếu dẫn đến sự đòi hỏi cao về nhu cầu nhân lực, đội ngũ lao động

có chất lượng Do đó, cuộc chạy đua trong giáo dục giữa các quốc gia luôn hướng đến mục tiêu là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện, có đầy đủ các năng lực để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi cần phải có những giải pháp tích cực trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng, làm cho HS có thể phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu vấn đề từ đó chiếm lĩnh tri thức, giải quyết được các vấn đề trong học tập cũng như trong thực

tế cuộc sống đặt ra HS phải tự mình chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động thông qua hoạt động tự giác, tích cực của người học Căn cứ vào các năng lực chung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định, căn cứ vào nhu cầu của xã hội cũng như mục tiêu, đặc trưng bộ môn, hoạt động DHLS ở trường PT cần hình thành và phát triển các năng lực sau cho học sinh:

Năng lực tái hiện lịch sử: bao gồm hoạt động tri giác tài liệu, đồ dùng trực quan (xử lí thông tin); hình dung tưởng tượng lại sự kiện để có biểu tượng LS; nhớ lại những gì đã tri giác được

Năng lực tư duy: bao gồm tư duy biện chứng thể hiện ở các thao tác phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,… và tư duy LS thông qua nội dung các vấn đề quan điểm LS, “chân lý bao giờ cũng cụ thể”; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập,…

Năng lực đánh giá :bao gồm việc tìm ra ý nghĩa, rút ra bài học kinh nghiệm của các sự kiện, hiện tượng LS, đánh giá những đóng góp, mặt tiến bộ hay phản động của nhân vật LS, vai trò của quần chúng, tác dụng của những cải tiến trong lao động, sản xuất,…

Năng lực thực hành: bao gồm thực hành bộ môn như sử dụng bản đồ, sơ đồ, bản biểu,… vận dụng những kiến thức cũ để hiểu kiến thức mới và liên hệ và vận dụng kiến thức LS vào thực tiễn cuộc sống

Năng lực giải quyết vấn đề: bao gồm các hoạt động phát hiện vấn đề ( như hiểu được tình huống học tập, phát hiện và nêu lên được vấn đề cần giải quyết), giải quyết vấn đề (lựa chọn phương án giải quyết vấn đề phù hợp, tái hiện kiến thức đã học, lựa chọn sự kiện, nội dung sự kiện cần sử dụng để giải quyết vấn đề,…); Trình bày vấn đề (biết hình thành dàn ý của vấn đề cần trình bày, sử dụng ngôn ngữ phù hợp để trình bày, có thể sử dụng các hình thức như trình bày bằng miệng, hay viết,…),…

Năng lực tự học lịch sử, đó là những hoạt động độc lập của HS; Khi rèn luyện các năng lực trên, như tự làm việc với sách giáo khoa ở trên lớp hay ở nhà,

tự làm việc với các tài liệu tham khảo, tự vận dụng các thao tác tư duy, tự đánh giá

sự kiện, hiện tượng, nhân vật LS, tự ghi chép khi nghe giảng, tự học với đồ dùng trực quan, giải quyết vấn đề và trình bày vấn đề, tự ôn tập, kiểm tra đánh giá,…

Trang 15

15

Mỗi một năng lực trên đều hội tụ ba yếu tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ thực

hiện Các năng lực hình thành trong mối quan hệ đan xen và hỗ trợ nhau

1.3 Vai trò của việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Lịch sử góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả học tập, giúp rèn luyện, phát triển tư duy cũng như các phẩm chất và kỹ năng cho HS

Qua mô hình học tập này, ở giai đoạn trước giờ học lên lớp, HS đã được tiếp cận nội dung bài học thông qua bài giảng và các tài liệu GV chia sẻ Ở giai đoạn này đã phát triển kỹ năng tự học và tính kỷ luật cho học sinh Học sinh chủ động, tích cực trong việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề, khám phá, lĩnh hội kiến thức để có thể tiến tới các cấp độ cao trong tư duy

Qua các tiết học, hình thành sự tương tác tích cực giữa GV và HS, giữa HS

và HS, các kiến thức không bị gói gọn trong những bài học khô khan, nhàm chán,

HS có hứng thú hơn đối với môn học, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự học của các em

HS có cơ hội để phát triển kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình trước đám

đông, đặt câu hỏi phản biện,…

Môi trường học tập linh hoạt Học sinh có thể tự lựa chọn địa điểm, thời gian, cách thức, tốc độ học tập phù hợp với bản thân Cung cấp nội dung dạy học

có định hướng giúp tối ưu thời gian học tập cho học sinh

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Tình hình thực tế dạy học trong bối cảnh thời đại mới

Hiện nay, việc nghiên cứu đổi mới hoạt động dạy học nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng ở các nhà trường đang được các chuyên gia, các nhà giáo dục và trực tiếp các GV trong các nhà trường quan tâm, tích cực hưởng ứng tham gia Mọi người đều nhận thấy trong lớp học truyền thống, GV phải dành phần lớn thời gian trên lớp để giúp người học nắm được những kiến thức, kỹ năng mới, sau đó người học làm bài tập, thực hành tại lớp, được giao bài tập về nhà để củng cố, hoàn thiện tri thức đã tiếp nhận được Việc làm như vậy chưa thực sự tạo cho người học tính chủ động, tích cực và có nhiều hứng thú trong học tập

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ thì việc dạy học kết hợp sử dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy quá trình học tập bên ngoài lớp học là một xu thế đã và đang ngày càng phổ biến trong giáo dục

trên thế giới

2.2 Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp giáo dục hiện đại trong dạy học

Trong quá trình dạy học, chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề dạy học cái gì, mà cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề dạy học như thế nào, nhất là học bằng

Trang 16

16

cách nào cho hiệu nghiệm Nghị quyết đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy

và học… Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên,

để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề…” Như vậy việc

nghiên cứu phương pháp dạy học và áp dung phương pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt Như Lep Lanđao đã khẳng định: “Phương pháp quan trọng hơn phát minh”

Trong chiến lược đổi mới toàn diện ngành giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa quyết định Các phương pháp dạy học tích cực được áp dụng ngày càng nhiều và đều có mục tiêu là phát huy năng lực nhận thức, độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của người học Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược – Flipped classroom là một trong những phương pháp dạy học tích cực, hiện đại và đáp ứng được các yêu cầu nêu trên Mô hình này giúp học sinh phát huy và rèn luyện năng lực tự học, tính chủ động của chính bản thân mà không còn thụ động trong quá trình khám phá tri thức

Việc đổi mới phương pháp dạy học để từ đó mà lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học như tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tin, kết hợp giữa mô hình lớp học truyền thống với các mô hình dạy học mở, dạy học trực tuyến phù hợp với tình hình mới, đáp ứng mục tiêu giáo dục mới, khơi gợi và khuyến khích người học tự khẳng định nhu cầu và năng lực của bản thân, đồng thời rèn cho người học thói quen và khả năng tự học, tích cực phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã được tích luỹ vào cuộc sống Vì vậy, việc sử dụng các mô hình dạy học hiện đại sẽ góp phần tạo tiền đề để phát triển toàn diện nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế

2.3 Thực trạng quan niệm, nhận thức của giáo viên và học sinh về việc đổi mới phương pháp dạy học

Phần lớn GV Lịch sử ở trường phổ thông là những người yêu nghề, nhận thức được tầm quan trọng của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh Do vậy, họ biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức

tổ chức, phương pháp, phương tiện dạy học cũng như kiểm tra đánh giá Các trường phổ thông tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, hội giảng, thi GV dạy giỏi, viết sáng kiến kinh nghiệm, thi HS giỏi Những hoạt động chuyên môn đó đã góp phần tác động tích cực đến hoạt động dạy học trong môn học

Tuy nhiên những biểu hiện tích cực trên chưa được diễn ra thường xuyên mà chỉ tập trung ở một số trường chuyên, hay chỉ tập trung vào các kỳ thi, hội thi giảng hoặc các đợt kiểm tra, thanh tra các cấp chứ chưa thực sự chuyển biến trong từng ý thức của GV và cán bộ quản lý giáo dục GV thường chọn phương pháp thuyết trình kết hợp sử dụng câu hỏi, bài tập, hướng dẫn học sinh phương pháp tự

Trang 17

17

học Việc sử dụng sử dụng máy tính, máy chiếu,ti vi hỗ trợ trình chiếu nhằm tăng tính trực quan cho bài dạy hay các hoạt động nhóm, dự án học tập nhằm tăng tính tích cực, chủ động của HS lại chưa được GV lựa chọn triển khai thường xuyên và hiệu quả

Thực trạng HS chưa yêu thích môn Lịch sử là do nhiều nguyên nhân trong

đó một phần là do cách dạy của GV Mặt hạn chế nặng nề nhất của giáo dục môn Lịch sử là phần lớn học sinh không thích môn Lịch sử, coi đó là môn học của các

sự kiện và năm tháng và của trí nhớ, khô khan, nhàm chán Do vậy, HS mong muốn GV tổ chức giờ học Lịch sử sinh động hơn, hướng dẫn phương pháp học phù hợp Số ít HS cho rằng Lịch sử là môn học thuộc có thể tự học được, dễ học, dễ đạt điểm giỏi ; hoặc ngược lại các HS khác lại thấy đây là môn khó học, khó đạt điểm giỏi Sự khác biệt trong quan niệm của HS thể hiện sự phân hóa về khả năng tự học của HS

2.4 Thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT

Để có một cái nhìn khách quan, cụ thể về thực tiễn trong DHLS ở trường THPT nói chung, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát ở những nội dung sau:

2.4.1 Khảo sát HS

Đối tượng là HS các lớp 12 tại trường sở tại:

a Về thái độ học tập của học sinh: Để đánh giá thực trạng này, chúng tôi

khảo sát theo các nội dung sau:

- Tích cực chủ động lĩnh hội kiến thức mới trong giờ học

- Hoàn thành các nhiệm vụ học tập do GV yêu cầu

- Thường xuyên chuẩn bị bài ở nhà

- Tích cực tìm kiếm tài liệu đọc thêm để mở rộng kiến thức

- Thờ ơ, không hứng thú với môn học

Kết quả thu được cho thấy: việc chuẩn bị bài ở nhà và tích cực tìm kiếm tài liệu để mở rộng kiến thức của HS rất hạn chế, chỉ chiếm 9% HS tích cực, chú ý nghe giảng, tham gia trao đổi, thảo luận chiếm lĩnh kiến thức mới trong các giờ học cũng khá khiêm tốn, chỉ chiếm 15,3% Đặc biệt, có tới 28% HS có thái độ thờ

ở, không hứng thú với môn học Đa số HS sẽ hoàn thành các nhiệm vụ học tập nếu

GV yêu cầu (71,4%) Thực trạng này sẽ giúp GV các trường có kế hoạch đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học bộ môn để đưa các kiến thức bộ môn gần gũi với HS, giúp phát triển năng lực, phẩm chất cho HS

b Về mức độ các năng lực của học sinh: Để đánh giá thực trạng này, chúng

tôi dựa trên các năng lực chủ yếu của HS, gồm:

- Thu thập và xử lí thông tin về các sự kiện lịch sử;

- Tái hiện các sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động

- Đánh giá các sự kiện theo quan điểm lịch sử

Trang 18

c Về mức độ yêu thích bộ môn Lịch sử của học sinh:

Qua khảo sát tại trường THPT: Sự yêu thích môn học của HS rất khiêm tốn Mức độ Rất thích chỉ chiếm 7%, mức độ Thích chiếm 16% Đa số HS được hỏi đánh giá ở mức độ Bình thường (49%) và có 28% HS không thích thậm chí còn chán ghét môn Lịch sử Điều này cũng đặt ra GV bộ môn Lịch sử ở trường THPT nói riêng và GV bộ môn Lịch sử trên cả nước nói chung cần phải làm thế nào để

HS yêu thích và có hứng thú khi học tập bộ môn, qua đó có thể nâng cao được chất lượng dạy học

d Về ứng dụng CNTT, truyền thông trong học tập Lịch sử ở trường THPT

Phân tích số liệu khảo sát những hoạt động hàng ngày trên Internet của HS cho thấy có gần 75% HS thường xuyên truy cập Internet để đọc tin tức, xem phim ảnh giải trí, chơi game Có 90% HS thường xuyên trao đổi email, facebook, tán gẫu với bạn bè HS sử dụng Internet phục vụ cho học tập rất hạn chế: cụ thể chỉ có 10% HS tra cứu tài liệu học tập trên Internet; 16% HS tham gia các khóa học trực tuyến; 59% HS chưa bao giờ sử dụng Internet tìm các tài liệu để mở rộng hiểu biết, tìm hiểu những hiện tượng thực tế liên quan đến vấn đề đang học Hầu như giải trí, giao lưu bạn bè là mục tiêu chính khi HS sử dụng Internet

Như vậy,qua khảo sát HS tại trường sở tại ở những nội dung trên, chúng tôi thấy việc phát triển các năng lực, phẩm chất bộ môn Lịch sử ở HS 12 còn yếu Học sinh không thích học Lịch sử coi đây là môn học phụ không quan trọng, không có đam mê, học đối phó, ý thức học tập chưa tốt Đa số HS đều sử dụng Intenet, đều

có các sản phẩm công nghệ hỗ trợ cho việc dạy học mô hình lớp học đảo ngược nhưng phần lớn HS sử dụng Internet không phải cho mục đích học tập mà chỉ là giao lưu bạn bè, giải trí Khả năng tự học ở nhà của học sinh cũng rất hạn chế

2.4.2 Khảo sát GV

Đồng thời, chúng tôi đã tiến hành dự giờ GV tại trường sở tại và điều tra, khảo sát GV ở các trường trên địa bàn phụ cận Thông qua xử lí các thông tin, số liệu từ điều tra, khảo sát, chúng tôi nhận thấy:

Trang 19

19

+ Hầu hết GV đều cho rằng việc áp dụng mô hình LHĐN trong dạy DHLS

là rất cần thiết Các GV đều cho rằng, việc sử dụng mô hình dạy học mới sẽ góp phần rất lớn trong việc gây hứng thú cho HS trong học tập bộ môn, đem lại sự mới

mẻ trong phương pháp dạy học của GV, góp phần phát huy tính tích cực, phát triển năng lực của HS

+ Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng cũng như vai trò, ý nghĩa của việc

sử dụng mô hình LHĐN nhưng nhiều GV còn lúng túng trong áp dụng mô hình này theo hướng phát triển năng lực HS Thậm chí một số GV ít quan tâm sử dụng

mô hình dạy học mới trong dạy học bộ môn do điều kiện thiết bị dạy học và còn gây mất thời gian,tốn nhiều công sức của GV, khó đảm bảo kế hoạch dạy học

+ Qua quan sát và dự giờ một số tiết học của các GV bộ môn chúng tôi thấy rằng, các GV rất ít sử dụng mô hình LHĐN trong DHLS Phần lớn GV vẫn giảng dạy theo kiểu truyền thống Một số GV còn khó khăn trong việc tiếp cận, ứng dụng CNTT, sử dụng các phần mềm dạy học Đây là trở ngại lớn đối với GV khi áp dụng mô hình LHĐN trên lớp học Vì mô hình này sẽ thật sự hiệu quả với sự hỗ trợ của CNTT

+ Một vài GV có sử dụng mô hình này trong các hoạt động ngoại khóa và trong thao giảng

+ Khi được hỏi về việc áp dụng mô hình LHĐN theo hướng phát triển năng lực HS, GV còn lúng túng khi đưa ra các biện pháp cụ thể Các GV được hỏi đều cho rằng cần áp dụng mô hình LHĐN nhưng tùy thuộc vào từng nội dung bài học

và phải đảm bảo các nguyên tắc DHLS ở trường THPT Như vậy, hầu hết GV dạy

LS ở trường THPT đều thấy được sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng mô hình dạy học mới trong DHLS ở trường THPT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của DHLS và phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS hiện nay Tuy nhiên, từ thực tiễn cho thấy việc sử dụng mô hình LHĐN trong DHLS ở trường PT còn rất hạn chế

2.4.3 Khảo sát về cơ sở vật chất của nhà trường THPT

Qua khảo sát thực trạng cơ cở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học tại trường sở tại chúng tôi thấy: Trong những năm qua, nhà trường đã rất chú trọng trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc dạy

và học như: sửa sang phòng học, thay mới bàn ghế, mua sắm máy chiếu, Tivi, lắp đặt phòng học thông minh, kết nối Internet, xây dựng thư viện xanh Đây chính là điều kiện thuận lợi để GV có thể thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương pháp

và hình thức tổ chức dạy học theo hướng hiện đại, phù hợp tình hình mới Bên cạnh đó, nhà trường cũng tổ chức đa dạng hóa các hình thức dạy học như dạy học trên lớp, câu lạc bộ, ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, trải nghiệm thực tế , đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, tăng cường tập huấn, trao đổi, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm qua việc tổ chức các sinh hoạt chuyên môn cụm trường trong Huyện

Trang 20

20

và các vùng phụ cận.Tuy nhiên cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ dạy học vẫn còn hạn chế, thiếu, chưa đồng bộ ( kết nối mạng )

Như vậy, qua trao đổi, thăm dò ý kiến GV và HS cũng như khảo sát thực

trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học ở trường PT có thể thấy: Mặc dù hiện nay điều kiện tiếp cận với mô hình mới trong DHLS là không quá khó khăn như trước đây nhưng GV vẫn chưa thực sự có biện pháp sử dụng mô hình này một cách khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn và theo định hướng phát triển năng lực của học sinh.Vì thế những vấn đề này sẽ được tìm hiểu và giải quyết trong chương II và III

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1954 THEO MÔ HÌNH “LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT CHO HS

1 XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

1.1 Khái quát nội dung “Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1954”

Chương trình Lịch sử lớp 12 (Chương trình chuẩn) gồm có 2 phần:

Phần một: Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000

Phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 Trong phần này, có

5 chương tương ứng với các giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1919 - 1930, 1930 -

1945, 1945 - 1954, 1954 - 1975 và 1975 - 2000 Trong đó, “Việt Nam từ 1919 đến năm 1954” là giai đoạn có vị trí quan trọng trong chương trình bao gồm 3 chương: I,II,III và giai đoạn này cũng chiếm nhiều thời lượng dạy học nhất cũng như chiếm phần lớn câu hỏi trắc nghiệm trong nội dung thi tốt nghiệp của HS 12 Giai đoạn lịch sử này phản ánh thời kì tiếp theo của Lịch sử Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi năm 1954 Chương I,II,III “Việt Nam từ 1919 đến năm 1954” gồm có 9 bài :

Bài 12 Phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919 -

1925

Bài 13 Phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1925 -

1930

Bài 14 Phong trào cách mạng 1930 - 1935

Bài 15 Phong trào dân chủ 1936 - 1939

Bài 16 Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939

- 1945) Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

Bài 17 Nước VNDCCH từ sau ngày 2 - 9 - 1945 đến trước ngày 19 - 12 -

1946

Trang 21

Các bài trên phản ánh những sự kiện cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn

1919 - 1954 như sau: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 ở Việt Nam, kinh tế xã hội Việt Nam có

sự chuyển biến, phân hóa sâu sắc Các giai cấp mới xuất hiện dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa đã tham gia vào các phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam Trong những năm 20 của thế kỷ XX phong trào yêu nước Việt Nam có

sự tồn tại của 2 khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản cùng với sự xuất hiện của các tổ chức yêu nước và cách mạng Đầu những năm 30 của TKXX, với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái chấm dứt vai trò của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng với tư cách là chính đảng yêu nước và cách mạng trong phong trào dân tộc, dân chử ở Việt Nam; sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt

sự khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo ở Việt Nam

Thời kì 1930 - 1945: Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929

- 1933, thực dân Pháp tăng cường đàn áp bóc lột nhân dân Đông Dương làm bùng

nổ phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh Đầu những năm 30 của thế kỉ XX, chủ nghĩa phát xít lên nắm quyền ở Đức, Italia, Nhật Bản, nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới 2 Ở Việt Nam dấy lên phong trào đấu tranh dân chủ công khai 1936 - 1939 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương Năm 1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng cộng sản Đông Dương có sự chuyển hướng trong đấu tranh: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước chủ trì hội nghị trung ương Đảng VIII (5/1941), tích cực chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũa trang giành chính quyền; trực tiếp lãnh đạo cách mạng tháng Tám thành công

Thời kì 1945 - 1954: Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nhà nước non trẻ gặp muôn vàn khó khăn thử thách , dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ Tịch chúng ta đã giữ vững được chính quyền, chống giặc đói, giặc dốt, ngoại xâm và nội phản (1945 - 1946) Từ 1945 -

1954 nhân dân ta tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ thắng lợi qua các chiến dịch quân sự từ Việt Bắc thu đông 1947 đến biên giới thu đông

1950, cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 - 1954 , đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ và kết thúc bằng việc kí hiệp định Giơnevơ1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược

Trang 22

22

1.2 Xác định những tiết dạy học sẽ thực hiện mô hình “Lớp học đảo ngược”

Trong giai đoạn lịch sử 1919 - 1954 với thời lượng 9 bài học (nhiều bài học

có số tiết từ 2 - 3,4 tiết) chúng tôi lựa chọn một số bài học nằm trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954 để áp dụng mô hình lớp học đảo ngược:

Bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950)

Bài 19 Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 - 1953)

Bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 - 1954) Với nội dung giai đoạn này chúng ta cũng có thể sử dụng mô hình LHĐN vào dạy học chủ đề: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1954)

1.3 Xác định mục tiêu cần đạt

Mục tiêu của bài học bao gồm các mặt: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng bộ môn (các năng lực nhận thức, thực hành, tư duy) và hình thành thái độ (tư tưởng, tình cảm, đạo đức) Việc xác định mục tiêu của bài học phải đảm bảo sự thống nhất giữa các mặt về kiến thức, kỹ năng, thái độ của bài học, của toàn bộ chương trình, khoá trình; phù hợp với khả năng nhận thức của HS cũng như điều kiện dạy học của mỗi địa phương,…Việc xác định đúng mục tiêu của bài học sẽ giúp cho việc áp dụng mô hình LHĐN có hiệu quả

Bài Mục tiêu cần đạt Bài 18 Những năm đầu

của cuộc kháng chiến toàn

quốc chống thực dân

Pháp (1946 - 1950)

1 Năng lực

- Năng lực tìm hiểu lịch sử: Biết cách sưu tầm và

sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946 – 1950 Trình bày được:

+ Hoàn cảnh bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp

+ Diễn biến chính, kết quả và ý nghĩa của cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16, chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947, chiến dịch Biên giới thu đông 1950

- Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử: Thông qua

các nguồn sử liệu đã khai thác và xử lý để làm rõ : + Nguyên nhân bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp

+ Phân tích đường lối toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 23

- Năng lực giao tiếp và hợp tác: thông qua hoạt

động trao đổi học tập và báo cáo sản phẩm học tập;

giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua liên hệ

thực tiễn của bản thân, địa phương

Bài 19 Bước phát triển

của cuộc kháng chiến toàn

quốc chống thực dân

Pháp (1951 - 1953)

1 Năng lực

- Năng lực tìm hiểu lịch sử: Biết cách sưu tầm và

sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu lịch sử Việt Nam giai đoạn 1951 – 1953 Trình bày được:

+ Âm mưu và hành động của Pháp - Mĩ sau chiến dịch Biêngiới thu đông 1950

+ Nét chính của kế hoạch Đờ Lát đơ Tatxinhi

+ Nội dung ý nghĩa của Đại hội Đảng toàn quốc lần II

+ Kết quả đã đạt được trong công cuộc xây dựng hậu phương về mọi mặt từ năm 1951 đến năm

1952,

- Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử: Thông qua

các nguồn sử liệu đã khai thác và xử lý để làm rõ :

Trang 24

24

+ ý nghĩa và tác dụng của việc xây dựng hậu phương đối với cuộc kháng chiến nói chung, với chiến trường nói riêng

+ Bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Pháp trong những năm 1951 – 1953

- Năng lực giải quyết vấn đề : vận dụng những kiến

thức đã học để giải thích các vấn đề lịch sử liên quan đến các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong giai đoạn tiếp theo Góp phần phát triển năng lực sử dụng tư liệu lịch sử, giải thích, đánh giá lịch

sử và vận dụng kiến thức lịch sử vào đời sống

- Năng lực giao tiếp và hợp tác: thông qua hoạt

động trao đổi học tập và báo cáo sản phẩm học tập;

giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua liên hệ

thực tiễn của bản thân, địa phương

Bài 20 Cuộc kháng chiến

toàn quốc chống thực dân

Pháp kết thúc (1953 -

1954)

1 Năng lực

- Năng lực tìm hiểu lịch sử: Biết cách sưu tầm và

sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu lịch sử Việt Nam giai đoạn 1953 – 1954 Trình bày được âm mưu và hành động mới của Pháp- Mĩ trong kế hoạch Nava; những diễn biến chính về cuộc tiến công chiến lược đông – xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện biên Phủ 1954 ; Nêu được nội dung cơ bản hiệp định Giơnevơ về Đông Dương,nêu được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954)

- Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử: Thông qua

các nguồn sử liệu đã khai thác và xử lý để làm rõ : + Phân tích được chủ trương của Đảng và Chính phủ Ta trong đông - xuân 1953-1954, chiến dịch

Trang 25

25

Điện Biên Phủ 1954 và rút ra được ý nghĩa của cuộc Tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953-

1954, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954

+ Phân tích và rút ra ý nghĩa lịch sử và hạn chế của hiệp định Giơnevơ về Đông Dương

- Năng lực giải quyết vấn đề : vận dụng những kiến

thức đã học để giải thích các vấn đề lịch sử liên quan đến các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong giai đoạn tiếp theo Góp phần phát triển năng lực sử dụng tư liệu lịch sử, giải thích, đánh giá lịch

sử và vận dụng kiến thức lịch sử vào đời sống

- Năng lực giao tiếp và hợp tác: thông qua hoạt

động trao đổi học tập và báo cáo sản phẩm học tập;

giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua liên hệ

thực tiễn của bản thân, địa phương

1.4 Thiết bị dạy học và học liệu:

- Tài liệu học tập từ slide bài giảng, bài giảng tóm tắt, video, các website

- Máy tính, máy chiếu, tivi, điện thoại,

- SGK, Thiết kế bài học, câu hỏi và bài tập kiểm tra, đánh giá, Phiếu học tập

- Kế hoạch phân công nhiệm vụ cho HS

- Sử dụng phần mềm Google Drive để chia sẻ kiến thức và khảo sát GV và

Trang 26

- Với LHĐN, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy (thông qua những bài giảng đã được GV chuẩn bị trước cùng thông tin do HS tự tìm kiếm dưới sự hướng dẫn của GV) Ngoài ra, vai trò của GV trong việc thiết kế bài giảng, điều hướng, hỗ trợ HS trong các hoạt động học tập trên lớp cũng rất quan trọng, quyết định sự thành công của mô hình

- Nguyên tắc của phương pháp dạy học theo mô hình LHĐN là học sinh tự tìm hiểu nội dung của bài học ở nhà, có thể qua các nguồn kiến thức trên tài liệu, sách giáo khoa hoặc qua Internet Sau đó, học sinh sẽ tương tác cùng giáo viên và các bạn trên lớp để củng cố nội dung kiến thức sau quá trình tự tìm tòi, khám phá, trải nghiệm bài học ở nhà Do vậy, để áp dụng có hiệu quả mô hình này, yêu cầu đối với HS:

+ Tăng cường tính tự học, tự nghiên cứu, tự giác trong học tập Chủ động trong học lý thuyết trên các nền tảng ứng dụng CNTT và tích cực tham gia các hoạt động trên lớp do GV thiết kế biên soạn như làm việc theo cặp, theo nhóm thực hành

+ HS cần chủ động trao đổi với GV về những khó khăn trở ngại khi tham gia vào mô hình lớp học đảo ngược

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là điều kiện quan trọng để triển khai mô hình LHĐN Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, HS rất dễ tiếp cận các nguồn kiến thức mới (Internet, sách báo, truyền thông, ), không chỉ gói gọn trong sách giáo khoa Các công cụ có các chức năng tạo cơ hội cho người học có thể thảo luận, trao đổi và tương tác trong và ngoài lớp học Các học liệu có thể được trình bày đa dạng, phù hợp với phong cách học, phương thức học khác nhau (ví dụ: văn bản, video, âm thanh, đa phương tiện…) Nhờ một số chức năng của công cụ công nghệ, việc thu thập dữ liệu sự tiến bộ và thành tích học tập của người học, dự báo các khó khăn, thách thức đối với người học cũng được cung

cấp

- Mô hình LHĐN chỉ phù hợp với một số bài học chứ không thể áp dụng đại trà, tràn lan nên cần phải sử dụng các phương tiện học tập phù hợp

Trang 27

27

CHƯƠNG III QUY TRÌNH THỰC HIỆN DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 - 1954 THEO MÔ HÌNH “LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC” 1.1 CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN MÔ HÌNH LHĐN

1.1.1 Trước khi đến lớp

Theo mô hình lớp học truyền thống, khi chuẩn bị bài trước khi đến lớp, công việc HS thường làm chỉ đơn giản là trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa Các kiến thức liên quan đến bài học chưa được HS chủ động tìm hiểu, tích lũy Trong

mô hình lớp học đảo ngược, đây là bước quan trọng trong việc hình thành kiến

thức cơ bản cho HS

a Nhiệm vụ của GV

Giáo viên cần dành thời gian (tiết học liền trước khi bài học theo mô hình lớp học đảo ngược diễn ra) dặn dò các em tham gia nhóm lớp ở zalo để nhận nhiệm vụ Chia lớp học thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 10 – 12 em, phổ biến cách hoạt động nhóm

Bước 1: Xây dựng bài giảng hoặc cung cấp và chia sẻ bài giảng cho HS tự

đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ( 1946 - 1950)

dịch Việt Bắc 1947 và chiến dịch Biên giới thu đông 1950

kháng chiến 19/12/1946

1947

thu đông – Bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Pháp

Khi dạy về bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc, GV thiết kế bài giảng và GV cung cấp cho học sinh một số đường link để tham khảo thêm các tài liệu học tập trên mạng:

Trang 28

28

chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc ( 1953 - 1954)

Phủ 1954

trong chiến dịch Điên Biên Phủ 1954

Phủ - lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương

bài học và nghệ thuật thắng từng bước

Bước 3: GV hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung bài học

Khác với sự hướng dẫn trực tiếp của GV ở lớp học theo phương pháp dạy học truyền thống; trong mô hình LHĐN, HS phải tự học ở nhà với tài liệu và bài giảng mà GV cung cấp Đây là hình thức tự học có hướng dẫn gián tiếp Để HS chủ động, tự lên kế hoạch nhằm hoàn thành nhiệm vụ học, tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học của mình thì GV cần cung cấp cho HS phiếu hướng dẫn tự học ở nhà Phiếu hướng dẫn tự học là những hướng dẫn gián tiếp của GV, chứa những tình huống dạy học để HS tự học, giúp định hướng, hỗ trợ HS phát triển khả năng tự làm việc với tài liệu Thông thường:

- GV thiết kế phiếu học tập: Câu hỏi ở cấp độ nhận biết, thông hiểu Phiếu học tập dùng để hướng dẫn học sinh trả lời những câu hỏi gợi mở, giúp học sinh tự khám phá, tự tìm hiểu và nhận thức lịch sử Các câu hỏi có thể được sử dụng dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm trực tiếp hoặc câu hỏi tự luận, tạo cơ hội cho học sinh viết ra những suy nghĩ của mình Trên cơ sở các phiếu học tập giáo viên có thể thu thập để đánh giá thường xuyên trong suốt tiến trình học tập

Ví dụ:

+ Bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950) Khi dạy học về nội dung I Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, GV thiết kế phiếu học tập:

Trang 29

Tiêu chí Nội dung

Trang 30

30

Phiếu học tập số 1

Họ và tên: ……….Lớp:

Khoanh vào đáp án đúng

Câu 1 Sau 8 năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,đến năm 1953

thực dân Pháp lâm vào hoàn cảnh nào?

A Bước đầu gặp những khó khăn về tài chính

B Vùng chiếm đóng ngày càng mở rộng

C Thiệt hại ngày càng lớn, bị động về chiến lược

D Phụ thuộc hoàn toàn vào Mĩ

Câu 2 Bước vào đông - xuân 1953 - 1954, Pháp hi vọng giành thắng lợi quyết

định ở Việt Nam bằng kế hoạch nào?

A Rơve B Đờ Lát đờ Tátxinhi C Nava D Đờ Caxtơri Câu 3 Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam (1945 – 1954), thực dân Pháp thực hiện

kế hoạch Nava nhằm

A giữ vững thế chủ động trên chiến trường B kết thúc chiến tranh trong danh

dự

C cứu nguy cho quân Pháp ở Nam Trung Bộ

D tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến

Câu 4 Từ thu - đông 1953, Nava tập trung quân đông nhất ở khu vực nào của

Đông Dương?

A Đồng bằng Bắc Bộ B Tây Bắc

C Thượng Lào D Bắc Trung Bộ

- Giao nhiệm vụ cho các nhóm (từ 10 đến 12 em)

Ví dụ:

+ Khi dạy bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ( 1946 - 1950) ở mục IV Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên giới thu đông 1950, GV chia lớp thành 4 nhóm, HS chuẩn bị nội dung ở nhà và cử đại diện thuyết trình trên lớp

* Nhóm 1,3 : Tìm hiểu về những khó khăn, thuận lợi của Ta vào đầu 1950 Chủ trương của Đảng Ta trong hoàn cảnh lịch sử đó?

* Nhóm 2,4: Trình bày diễn biến, kết quả, ý nghĩa của chiến dịch Biên giới thu đông 1950

+ Khi dạy bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc

Trang 31

31

( 1953 - 1954) ở mục 2 (II) Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 GV chia lớp thành 4 nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm chuẩn bị ở nhà :

* Nhóm 1,3:

Tìm hiểu về chủ trương của Ta trong đông xuân 1953 - 1954

Hoàn thành về các cuộc tiến công chiến lược của ta trong đông xuân 1953- 1954 theo mẫu sau:

Tên chiến dịch Thời gian Kết quả

* Nhóm 2,4: Thuyết trình trên lược đồ về các cuộc tiến công chiến lược của

ta trong đông xuân 1953- 1954

- GV chuẩn bị các câu hỏi để thảo luận trên lớp: Câu hỏi thảo luận trên lớp

là những câu hỏi ở cấp độ cao

Ví dụ

+ Khi dạy bài 18, mục 2(I) Đường lối toàn quốc kháng chiến, GV có thể yêu cầu HS hoàn thành sơ đồ tư duy

Trang 32

+ Bước 4: Theo dõi sự chuẩn bị của HS

- GV theo dõi quá trình HS nghiên cứu, trao đổi, thảo luận bài ở nhà

- GV yêu cầu HS chia sẻ tiến trình thực hiện, những khó khăn gặp phải

- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới của HS qua việc:

+ Thu phiếu học tập

+ Yêu cầu HS gửi sản phẩm vào Zalo hoặc Mail, palet… trước buổi học

*/ Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc đan xen trong quá trình dạy bài mới

b Nhiệm vụ của HS:

Bước 1: Nghiên cứu tài liệu

-Truy cập hệ thống dữ liệu học tập bằng cách vào các đường link mà GV đã gửi

- Xem Video bài giảng

- Nghiên cứu nội dung các bài học

Bước 2: Nhận và thực hiện nhiệm vụ

- Các thành viên trong lớp thực hiện các nhiệm vụ mà GV đã hướng dẫn ở tiết trước

- Nhóm trưởng nhận nội dung thảo luận nhóm từ GV

- Nhóm trưởng tương tác với các thành viên trong nhóm qua nhóm Zalo, Mesenger hoặc phòng zoom

- Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm cùng thực hiện( minh họa ở phụ lục)

- HS làm việc theo nhóm và tương tác với nhau trong quá trình chuẩn bị nội dung học tập

Bước 3: Chuẩn bị nội dung

- Tự học, tự nghiên cứu kiến thức mới qua các video bài giảng, qua tài liệu

- Soạn bài; Làm bài tập mức thấp ở nhà ( hoàn thành các yêu cầu học tập GV)

- Thực hiện nhiệm vụ mà nhóm giao

Trang 33

Chủ trì tổ chức hoạt động thảo luận, trao đổi các nội dung bài học

Bước 1 Tổ chức hoạt động khởi động

- Mục tiêu: HS biết được các nội dung cơ bản của bài học cần đạt được, tạo tâm thế cho HS đi vào tìm hiểu bài mới

- Nội dung: HS chơi trò chơi ô chữ, quan sát video về các nhân vật lịch sử, các trận đánh ….nêu cảm nhận

- Sản phẩm: Câu trả lời, cảm nhận khi xem video

- GV nhận xét, đánh giá GV : Dẫn vào bài mới…

* Ví dụ:

- Khi dạy bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946 -1950, GV có thể tổ chức hoạt động khởi động cho HS bằng cách tổ chức trò chơi “ Thử tài là nhiếp ảnh gia”

+ GV phổ biến luật chơi: Trong thời gian 1 phút, HS quan sát bức ảnh và đặt tên cho bức ảnh

Trang 34

34

+ HS quan sát nội dung bức ảnh và tiến hành đặt tên cho bức ảnh

+ Sản phẩm: tên bức ảnh là “ Cảm tử quân Hà Nội ôm bom ba càng tấn công

xe tăng Pháp”

+ GV dẫn dắt vào bài mới

- Khi dạy bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết

thúc,GV có thể khởi động như sau

+ GV chuyển giao nhiệm vụ:

Tổ chức cho học sinh chơi "ai nhanh hơn", thông qua đoạn video ngắn

diện được chiến thắng trong lịch sử thông qua trả lời câu hỏi: Những hình ảnh trong đoạn video gợi em nghĩ đến chiến thắng nào trong lịch sử dân tộc? Em biết

gì về chiến thắng trên?

+ HS xem Video, làm việc cá nhân để trả lời các câu hỏi

+ GV gọi HS nhanh nhất lên trả lời câu hỏi

+ GV nhận xét, đưa đáp án:

Sản phẩm : Nội dung của đoạn video trên là chiến thắng lịch sử Điện Biên

Phủ 1954

+ GV nhận xét và dẫn vào bài mới…

Bước 2 Kiểm tra, đánh giá về quá trình, kết quả chuẩn bị các nhiệm vụ học tập ở nhà của học sinh

Đây là hoạt động tự học ở nhà,vì vậy GV lựa chọn ở một em bất kỳ trình bày, thuyết trình nội dung giáo viên yêu cầu HS đã chuẩn bị ở nhà HS được chỉ định sẽ thuyết trình nội dung tự chuẩn bị của nhóm mình Sản phẩm học tập là phiếu hướng dẫn tự học hay bài thuyết trình Power Point, video thuyết trình…của học sinh được chiếu lên bảng cho chính học sinh đó và cả lớp quan sát Sau khi một nhóm trình bày sản phẩm học tập thì các nhóm khác có thể đưa ra câu hỏi cho

Trang 35

35

nhóm trình bày giải trình Như vậy nhiệm vụ này một lần nữa giúp học sinh tương tác với kiến thức vừa học, tương tác với nhau Học sinh chỉ có thể nêu câu hỏi tốt, phù hợp khi đã nắm chắc kiến thức bài học

Trước khi HS các nhóm trình bày, GV phát phiếu đánh giá cho các nhóm để học sinh đánh giá sản phẩm học tập của nhau GV đưa ra các tiêu chí đánh giá theo tiêu chí Rubic

1 Nội dung(giới thiệu đầy đủ, chính xác, làm rõ đặc

4 Khác (tinh thần làm việc nhóm, kĩ thuật báo cáo “5

xin”, nhận xét 321, đảm bảo về mặt thời gian, trả lời

câu hỏi

10

Bước 3 Giải đáp thắc mắc của học sinh và kết luận các vấn đề chính của bài

dạy, hệ thống hóa kiến thức mới

GV chiếu bảng chuẩn kiến thức của các sản phẩm học tập Với bảng trình chiếu này học sinh sẽ nhận ra những thiếu sót trong quá trình tư duy để hoàn thiện kỹ năng này Trong bước này giáo viên cũng đồng thời giải đáp những thắc mắc của học sinh và đưa thêm các kiến thức chuyên sâu vào

Ví dụ: Khi dạy bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ( 1946 - 1950), ở nội dung 2(I) Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng, GV chốt lại ở nội dung toàn quốc kháng chiến: toàn dân, toàn diện,trường kỳ, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế Sau đó, GV có thể sử dụng sơ dồ tư duy để phân tích sâu hơn về Đường lối toàn quốc kháng chiến

Trang 36

36

- Khi dạy bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc

(1953 -1953), khi dạy học về nội dung 1(II) Cuộc tiến công chiến lược đông – xuân 1953 – 1954, sau khi học sinh các nhóm trình bày, GV chốt kiến thức:

1 Cuộc Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 -1954

a Chủ trương của ta

- Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc địch phải bị động phân tán lực lượng đối phó

b Diễn biến - kết quả:

Tên

chiến

dịch

Thời gian

Kết quả

Tây Bắc 12-1953 Giải phóng Lai Châu, pháp buộc phải điều quân chi viện

cho Điện Biên Phủ Trung

Nguyên

2-1954 Giải phóng toàn tỉnh Kon Tum, uy hiếp Plâycu

Sau đó, GV cho HS thảo luận tại lớp để tìm ra những kiến thức sâu hơn: Tác dụng của những cuộc tiến công của ta trong đông – xuân 1953 – 1954? Vì sao nói với cuộc tấn công đông – xuân 1953 – 1954 của ta kế hoạch Nava bước đầu phá sản?

Bước 4 Tổ chức hoạt động luyện tập

- Giáo viên giao cho học sinh các nhiệm vụ học tập

- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để giải quyết các nhiệm vụ học tập

- Giáo viên chốt lại các kiến thức củng cố, mở rộng

* Ví dụ: Khi dạy bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950), GV tổ chức củng cố kiến thức cho HS theo hình thức: trả lời các câu hỏi trắc nghiệm- Luật chơi: Mỗi HS được lựa chọn 1 câu hỏi bất kỳ trong gói 5 câu hỏi Nếu trả lời đúng, HS được bốc thăm 1 phần quà may mắn, nếu trả lời sai quyền trả lời sẽ chuyển sang cho bạn khác

Trang 37

- Nếu trả lời sai, câu trả lời đó sẽ được

nhường quyền trả lời cho bạn khác

+ Khi dạy bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp kết thúc, GV

tổ chức trò chơi “chuyền bóng” để củng cố nội dung bài học hoặc tổ chức cho HS chơi trò chơi “Ô chữ bí mật” để tìm ra từ khóa là: Võ Nguyên Giáp

Lưu ý: Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp, GV cần quan sát, tìm hiểu, hỗ trợ những HS gặp khó khăn trong quá trình tiếp thu kiến thức (nguyên nhân là do trình độ tiếp nhận kiến thức của các HS sẽ khác nhau)

1.1.2.2 Nhiệm vụ của HS

- Trình bày những nội dung GV yêu cầu (Sản phẩm là những nội dung đã chuẩn bị ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV: phiếu học tập, bài thuyết trình của nhóm… );

Trang 38

38

(Xem phần phụ lục 3)

- Thảo luận nhóm, trao đổi với nhau và với GV

- Đề xuất những băn khoăn, vướng mắc

1.1.3 Sau giờ lên lớp

Vận dụng, kết nối, mở rộng,

Mục tiêu: Học sinh vận dụng các kiến thức đã học để thực hiện các nhiệm

vụ trong thực tiễn

1.1.3.1 Nhiệm vụ của GV

- Hỗ trợ, trao đổi, giải đáp thắc mắc của HS về nội dung đã học

- Kiểm tra, đánh giá việc tiếp nhận kiến thức, kỹ năng của HS

Đánh giá các sản phẩm: Nếu sản phẩm là bài viết của cá nhân HS thì GV chấm và trả kết quả về cho HS Nếu sản phẩm của cả nhóm thì GV hướng dẫn HS

tự đánh giá

- Giáo viên giao cho học sinh các nhiệm vụ học tập:

Các bài tập sau giờ học trên lớp là những bài tập nâng cao (mức độ sáng tạo trong thang tư duy Bloom)

- Giáo viên đánh giá học sinh

1.1.3.2 Nhiệm vụ của HS

- Thảo luận, trao đổi và thực hiện các nhiệm vụ của GV giao

- Học sinh tự đánh giá chéo qua các tiêu chí GV đưa ra

Ví dụ minh họa:

* Khi dạy bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950), GV tổ chức hoạt động vận dụng, mở rộng bằng bài tập nhận thức:

Trước tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của các thế hệ cha anh trong

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở giai đoạn đầu toàn quốc kháng chiến:

Em hãy viết một bài luận, trình bày suy nghĩ của mình về vai trò và trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay trong công cuộc xây dựng , phát triển và bảo vệ tổ quốc?

* Khi dạy bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc

(1953 - 1954)

- Mục tiêu: Nhằm vận dụng kiến thức mới mà học sih đã được lĩnh hội để giải quyết những vấn đề mới trong học tập và thực tiễn Tác động của Chiến thắng Đông Xuân năm 1953-1954 và Điện Biên Phủ 1954 như thế nào đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam giai đoạn sau Rút ra bài học gì cho học tập và cuộc sống của bản thân

Ngày đăng: 27/07/2023, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w