Hién trang 6 nhiém nguồn nước mặt ở Việt Nam Đối với các lưu vực sông, ô nhiễm chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều đoạn sông, tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu.. Có nơi, ô nhiễm đã
Trang 1
Đánh giá chất lượng nước khu vực Bồn Hồ trường đại học Nông Nghiệp
Hà Nội phục vụ cho mục đích vui chơi giải trí
Trang 2
PHAN I MO DAU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội trên địa bàn huyện Gia Lâm được đánh giá là trường đại học có cảnh quan đẹp và diện tích rộng nhất trong cả nước Khu Bốn Hồ ở trung tâm là điểm nhấn trong kiến trúc của trường, là nơi thư giãn, nghỉ ngơi của sinh viên và người dân xung quanh trường
Tuy nhiên hiện nay, khu vực bốn hồ đang có những dấu hiệu bị ô nhiễm và
làm ảnh hưởng tới cảnh quan trong trường Để có những thông tin chính xác về
hiện trạng chất lượng nước hồ và có những biện pháp kịp thời chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng nước khu vực Bồn Hồ trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội phục vụ cho mục đích vui chơi giải tri”
1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
Trang 3PHAN II TONG QUAN TAI LIEU 2.1 Hién trang 6 nhiém nguồn nước mặt ở Việt Nam
Đối với các lưu vực sông, ô nhiễm chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều đoạn sông, tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu Có nơi, ô nhiễm đã ở mức nghiêm trọng, điển hình như vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại khu vực hạ lưu các sông và hệ thống hồ ao, kênh mương và các sông nhỏ trong khu vực nội
thành, nội thị
Tuy nhiên mức độ ô nhiễm còn phụ thuộc vào yếu tố thủy văn của dòng chảy Mức độ ô nhiễm cũng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đề về các sông giảm Ngoài ra, mức độ ô nhiễm nước còn phụ thuộc mạnh vào hiệu quả kiểm soát các nguồn thải đồ vào nguồn nước Thực tế hiện nay, do các nguồn thải
đồ vào lưu vực sông hầu như chưa được kiểm soát làm cho vấn để ô nhiễm nước mặt đang ngày càng trở nên nghiêm trọng
Nhìn chung, các đoạn sông chảy qua các khu đô thị, khu vực tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng, sau khi tiếp nhận các nguồn nước thải chưa qua xử lý của các cơ sở sản xuất thì chất lượng nước thường giảm sút đáng kể Theo kết quả quan trắc các hệ thống sông chính trên cả nước, nhiều chất
ô nhiễm trong nước có nồng độ vượt quá quy chuẩn cho phép, đao động từ 1,5 đến
3 lần Tình trạng ô nhiễm này đã kéo dài trong nhiều năm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của dân cư và làm mất mỹ quan các khu vực
Hiện nay hầu hết các hồ, ao, kênh rạch và các sông trong khu vực nội thành các thành phố đều bị ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức quy chuẩn cho phép,
nhiều nơi đã trở thành kênh nước thải Vấn đề ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm hữu co, nhiều hồ trong nội thành bị phú dưỡng, nước hồ có màu đen và bốc mùi hôi, gây
Trang 4mat mỹ quan đô thi Kết quả quan trắc cho thấy một số nơi các thông số còn vượt quá QCVN 08: 2008/BTNMT loại B2
2.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt tại Việt Nam
Tình trạng nhiều khu công nghiệp, nhà máy, khu đô thị xả nước thải chưa
qua xử lý xuống hệ thống sông, hồ đã gây ô nhiễm nguồn nước trên diện rộng dẫn
đến nhiều vùng có nước nhưng không sử dụng được vì bị ô nhiễm
Tại mỗi lưu vực sông, theo tình hình phát triển kinh tế xã hội trong khu vực,
tỉ lệ đóng góp lượng thải ô nhiễm nước của các ngành có là khác nhau Tuy nhiên,
áp lực nước thải chủ yếu từ các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt
2.2.1.Hoạt động công nghiệp
Nước thải từ hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp và khu công nghiệp là nguồn gây áp lực lớn nhất đến môi trường nước mặt lục địa Năm 2009, ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các khu công nghiệp thuộc các vùng kinh tế trọng điểm là : vùng KTTĐ bắc bộ có lượng nước thải là 155055 mỶ/ ngày, vùng KTTĐ miền trung có lượng nước thải là 58808 mỶ/ ngày, vùng
KTTĐ phía Nam có lượng nước thải là 4313400 mỶ/ ngày, vùng KTTĐ đồng bằng
sông cửu long có lượng nước thải là 13700mỶ/ ngày.( Nguồn: Trung tâm Công nghệ Môi trường, 2009, TCMT, 2010)
Mỗi ngành sản xuất có đặc trưng nước thải khác nhau Nước thải từ ngành
cơ khí, luyện kim chứa nhiều kim loại nặng, dầu mỡ khoáng; nước thải ngành dệt nhuộm, giấy chứa nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ khó phân hủy và chất tạo màu; nước thải ngành thực phẩm chứa nhiều chất rắn lơ lửng và đặc biệt là chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, chất đinh dưỡng như hợp chất Nitơ, phốt pho
Trang 52.2.2 Hoạt động nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, chủ yếu để phục vụ tưới lúa và hoa màu Vì vậy tính tổng lượng nước thải chảy ra nguồn nước mặt thì lưu lượng nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhất
Việc sử dụng hóa chất BVTV và phân bón hóa học bất hợp lý trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu làm ô nhiễm nguồn nước Trung bình 20-30% thuốc BVTV và phân bón không được cây trồng tiếp nhận sẽ theo nước mưa và nước tưới đo quá trình rửa trôi đi vào nguồn nước mặt và tích lũy trong đất, nước ngầm dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Đây là hiện tượng phổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là hai châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long
2.2.3 Nước thải đô thị chưa qua xử lý
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư các đô thị ngày càng tăng nhanh do tăng dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị Hiện nay, hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Ở các đô thị đã có một sỐ trạm xử lý
nước thải sinh hoạt tập trung thì tỉ lệ nước được xử lý còn rất thấp so với yêu cầu
Nước thải sinh hoạt trong khu dân cư, các khu du lịch và nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp chưa qua xử lý là nguyên nhân chính làm ô nhiễm hệ thống các thủy vực nội đô và ven đô ở nước ta.
Trang 6Bảng 1: Uốc tính lưu lượng và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước
thải sinh hoạt đô thị qua các năm
Năm Lưu lượng nước thải sinh Tông tải lượng các chât ( kg/ ngày)
2.3.1.Ô nhiễm nước sông
Hà Nội được mệnh danh là thành phố của các sông hồ, có nhiều dòng sông
chảy qua Môi trường nước sông đang chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế xã hội như: sự ra đời hàng loạt các khu đô thị, các khu công nghiệp cùng vơí các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và chat thải bệnh vện, các khu dân cư đông đúc, các làng nghề Nước thải ô nhiễm của các hoạt động đó hầu như chưa được
xử lý và đồ thăng ra sông, hồ đã làm chất lượng môi trường nước sông biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và xu thế bị ô nhiễm mỗi ngày một tang cao
Các sông nội thị (4 con sông thoát nước phía nam) và sông Cầu Bây (Gia
Lâm): tiếp nhận khoảng 700.000m”/ngày đêm nước thải đô thị và sản xuấ Chất
lượng nước ở hầu hết các con sông nội thành hà Nội ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng ( BODS sông Tô lịch vượt 7,13 lần, sông Kim Ngưu vượt 6,64 lần, sông Sét
vượt 2,84 lần, sông Lừ vượt 5,28 lần ) và xu thế tiếp tục bị ô nhiễm đo nước thải
chưa được xử lý và đồ thăng ra sông Dự kiến đến năm 2020 mức ô nhiễm moi trường nước của các sông nội thành Hà Nội sẽ tăng gấp 2 lần nếu không có giải pháp hiệu quả
Nước Sông Hồng: Kết quả phân tích chất lượng nước Sông Hồng tại thành phố Hà Nội cho thấy, chất lượng nước Sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội các chỉ
6
Trang 7tiêu quan trắc đều đạt TCVN 5942-1995 (loại B) ngoại trừ chi tiéu BODs, COD, NH,', Coliform va dầu mỡ khoáng tại hạ lưu mương thoát nước của trạm bơm Yên Sở, vị trí cầu Long Biên (do nước thải từ chợ Long Biên và từ khu dân cư tập trung) Kết quả này cho thấy nước Sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội chưa bị ảnh hưởng lớn bởi nước thải công nghiệp, sinh hoạt của thành phố xả vào qua trạm bơm Yên Sở Hơn nữa Sông Hồng có lưu lượng lớn, khả năng tự pha loãng cao nên đã tự làm sạch lượng nước của thành phố xả vào sông
Nước Sông Nhuệ: Sông Nhuệ có tổng chiều đài là 74 km, bề rộng trung bình từ 30-40m Chất lượng nước sông không đạt tiêu chuẩn do hàm lượng nitrit vẫn rất cao (từ 0,88 đến 1mg/I), BOD cao trên mức tiêu chuẩn cho phép với chất lượng nước loại A Như vậy chất lượng nước sông khi chảy ra khỏi Hà Nội (địa phận tỉnh Hà Tây cũ) vẫn không đạt tiêu chuẩn cho phép trong phục vụ sinh hoạt, mới chỉ đạt ở mức tiêu chuẩn cho phép đối với nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Nước Sông Đáy: Chất lượng nước sông Đáy thay đổi thất thường, phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước các kênh, mương, sông nhánh dồn vào trên suốt chiều dài của sông Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra ô nhiễm nguồn nước sông Đáy và từ đó dẫn đến làm giảm chất lượng môi trường sống trên toàn lưu vực Nguyên nhân chủ yếu là do dòng chính sông Đáy phải tiếp nhận rất nhiều nguồn nước thải, từ nước thải sản xuất đến nước thải sinh hoạt trên phạm vi rộng Chất lượng nước sông Đáy đang bị ô nhiễm bởi các thành phần hữu cơ và vô cơ như COD vượt tiêu chuẩn cho phép 3,54 lần, BOD: vượt 3,2 lần
Nước Sông Bùi: Sông Bùi bắt nguồn từ Thuỷ Xuân Tiên (Chương Mỹ) đến
Ba Thá (Ứng Hoà) hợp lưu với sông Đáy Nước sông Bùi bị ô nhiễm do nước thải
sản xuất và sinh hoạt từ thị xã Hoà Bình đồ về.
Trang 8Nước Sông Tích: Chất lượng nước sông Tích bắt đầu có đấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng Một số chỉ tiêu phân tích như BOD; vượt 1,05 lần, Fe
vượt 1,41 lần
2.3.2 Ô nhiễm nước các hỗ
Trên địa bàn Hà Nội có tổng số 156 hồ các hồ nội thành có độ sâu trung
bình 2-3m, có khả năng tự làm sạch khá lớn Tuy nhiên có một số hồ bị ô nhiễm nặng vì phải trực tiếp nhận nước thải xả vào Cao độ đáy hồ dần dần bị nâng lên đo lớp bùn bị lắng đọng tích luỹ dần, đạt tới chiều dày 0,5-1m Diện tích hồ bị thu hẹp dần, điển hình là các hồ Văn Chương, Linh Quang và hồ Giám
Các hồ ở đầu hệ thống thoát nước do phải tiếp nhận trực tiếp nước thải nên
bị nhiễm bẩn nặng, thường ở mức độ polyxaprophit và a- mezoxaprophit, điển hình là các hồ Văn Chương, Giám, Linh Quang, Ngọc Khánh, Trúc Bạch ở
vùng đầu hồ, BOD; thường lớn trên 40-50mg/1, DO <2mg/1 Vùng giữa hồ BOD:: 20-30mg/1; DO thấp dưới 5mg/1
Một số hồ có mức độ ô nhiễm thuộc loại b- mezoxaprophit, như hồ Giảng
Võ, Thành Công, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn Những hồ này, ở giữa hồ thường có
BOD: : 15-20mg/I ; DO : 5-7mg/I
Các Hồ Hoàn Kiếm, Thủ Lệ, Đống Đa đo lượng nước thải xả vào ít, dung
tích hồ lại khá lớn nên mức độ ô nhiễm thuộc loại Oligoxaprophit
Hồ Tây có diện tích mặt nước lớn (446 ha) và có lượng nước thải xả vào không đáng kể, nên phần lớn chất lượng nước hồ ở vùng Oligoxaprophit (ở giữa
hồ BOD: từ 15-20mg/1, DO >6mg/I) Nhưng ở vùng ven bờ, đặc biệt là khu vực
gần cống xả từ hồ Trúc Bạch sang, BOD: có thời điểm đạt tới 25-28mg/l
Các hồ ở ngoại thành (hồ Yên Sở, Linh Đàm, Hạ Đình, Pháp Vân ) thường được sử dụng để nuôi cá Do việc bơm trực tiếp nước thải từ các sông
mương vào nên vùng đầu hồ thường có BOD: lớn (trên 30mg/1), hàm lượng
NH¿' từ 5-15mg/l Trong hồ, nước thải được pha loãng để làm giảm lượng BOD; va NH¿” đồng thời làm tăng DO nhằm đạt chất lượng nước nuôi cá
Trang 9PHAN III DOI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHAP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nước mặt khu vực bốn hồ của trường đại học Nông Nghiệp Hà
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực bốn hồ thuộc khuôn viên trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2/10/2011 đến 20/11/2011
3.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định áp lực tới chất lượng nước bốn hồ thuộc trường đại học nông
nghiệp Hà Nội
Đánh giá hiện trạng chất lượng nước hồ trong thời gian nghiên cứu qua một
số các thong sé ly héa: pH, EC, DO, NH,", PO,*, BODs, COD
Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn thải tới chất lượng nước bồn hồ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu thông tin thứ cấp phục vụ
cho nghiên cứu
Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Gia Lâm như dân
số, kinh tế, lượng mưa, lượng bốc hơi được thu thập từ Internet.
Trang 10Những thông tin về hệ thống cống dẫn thoát nước khu vực bốn hồ, chế độ cấp thoạt nước, hệ thống thủy thực vật trong hồ được thu thập thông qua khảo sát thực tế, điều tra thực địa
Thông số thiết kế: chu vi, diện tích mặt nước, điện tích được che phủ cỏ,
diện tích đường bê tông tại khu vực hồ được xác định bằng cách đo đạc trên Google Earth và đo đạc thực tế
Những thông tin về áp lực của quán nước Bồn Hồ tới chất lượng nước hồ thông qua điều tra, phòng vấn trực tiếp nhân viên của quán
3.4.2 Phương pháp, vị trí và tần suất lấp mẫu
Phương pháp lấy mẫu: Mẫu nước phân tích được lấy theo phương pháp lấy
mẫu nước mặt đảm bảo TCVN 5996-1995 đối với nước ao, hồ, sông, rạch
VỊ trái lấy mẫu: Lấy 4 mẫu nước, tại mỗi hồ lấy một mẫu Để mẫu nước đảm bảo tính đại điện và đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu, mẫu nước được lay bang
phương pháp lấy mẫu hỗn hợp (Lấy nhiều mẫu nước vòng quanh hồ, các mẫu nước
được lấy cách đều nhau (lấy cột đèn làm mốc) sau đó trộn chung các mẫu nước lại
và lấy một mẫu dé dai diện cho tính chất của nước hồ)
Tần suất lấy mẫu: do thời gian thực hiện quan trắc có hạn nên nhóm tiến
hành lấy mẫu 2 lần
Lần 1: Khoảng 9h-10h30 ngày 16/10/2011
Lần 2: Khoảng 9h-10h30 ngày 6/11/2011
10
Trang 11Sơ đồ hệ thống cống thông và cống chảy tràn tại khu vực bốn hồ: T=! Chú Thích
Nước chảy tràn
Nước chảy
từ đường
3.4.3 Phương pháp phân tích
Mẫu nước mặt lấy về được xác định các thông SỐ Sau:
Thông số ẩo nhanh:
— pH, DO được đo bằng máy đo Horiba
— EC dugc do bang may
Thong số chất lượng nước:
— COD được xác định bằng phương pháp chuẩn độ lượng dư K;Cr;O; sử dung mudi Mohr
— NH,’ duoc xdc định bang phuong phap so mau Indophenol
— PO,* duoc xac dinh bang phuong phap Oniani
11
Trang 12Phương pháp xác định lượng nước Imwa chảy tràn
Lượng nước mưa chảy tràn được xác định theo công thức:
Q=C.i.A Trong đó:
Q: Lưu lượng nước chảy tràn (m4) C: Hệ số chảy tràn
I: Cuong d6 mua (mm/ gid) A: Diện tích lưu vực mm/giờ
12