1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) dạy học dự án văn bản huyện đường kết hợp với hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh lớp 10 trường thpt cờ đỏ

60 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Dự Án Văn Bản Huyện Đường Kết Hợp Với Hoạt Động Trải Nghiệm, Hướng Nghiệp Góp Phần Phát Triển Năng Lực, Phẩm Chất Cho Học Sinh Lớp 10 Trường THPT Cờ Đỏ
Tác giả Trần Thị Hương, Hồ Vĩnh Dương, Chu Song Hào
Trường học Trường THPT Cờ Đỏ
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết và quy trình vận dụng DHDA kết hợp với trải nghiệm hướng nghiệp, có thể dễ dàng nhận thấy hoàn toàn có khả năng vận dụng được DHDA kết hợp với trải nghiệm h

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

DẠY HỌC DỰ ÁN VĂN BẢN HUYỆN ĐƯỜNG KẾT HỢP VỚI HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT CHO HỌC

SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CỜ ĐỎ

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CỜ ĐỎ

LĨNH VỰC: NGỮ VĂN

Tác giả: Trần Thị Hương

Hồ Vĩnh Dương Chu Song Hào

Thời gian thực hiện: Năm học 2022 - 2023

Số điện thoại: 0982071910

Nghĩa Đàn, tháng 04 năm 2023

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Tổng quan và điểm mới của đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 3

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

5.3 Phương pháp thống kê toán học 3

6 Kế hoạch nghiên cứu 4

PHẦN II NỘI DUNG 5

1 Cơ sở lí luận 5

1.1 Dạy học dự án 5

1.1.1 Khái niệm dự án và phương pháp dạy học dự án 5

1.1.2 Đặc điểm của dạy học dự án 5

1.1.3 Quy trình tổ chức dạy học dự án 6

1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án 7

1.2 Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 8

1.2.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 8

1.2.2 Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 8

1.2.3 Nội dung tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 8

1.2.4 Một số phương thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp chủ yếu 9

1.3 Sự kết hợp giữa phương pháp dạy học dự án và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 9

2 Cơ sở thực tiễn 10

2.1 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 10

2.2 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GDPT 2018 ở trường trung học phổ thông Cờ Đỏ 10

3 Tổ chức dạy học dự án văn bản Huyện đường kết hợp với hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh 13

3.1 Bước 1: Xác định nội dung kiến thức có thể hình thành dự án kết hợp với hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp 13

3.2 Bước 2: Xây dựng ý tưởng và quyết định chủ đề 13

3.3 Bước 3: Lập kế hoạch thực hiện 14

3.4 Bước 4: Thực hiện dự án 17

3.5 Bước 5: Trình bày sản phẩm 20

3.6 Bước 6: Đánh giá, rút kinh nghiệm, bước đầu định hướng nghề nghiệp 36

Trang 4

4 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất trong

sáng kiến 38

4.1 Mục đích khảo sát 38

4.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 38

4.2.1 Nội dung khảo sát 38

4.2.2 Phương pháp khảo sát và thang đánh giá 38

4.3 Đối tượng khảo sát 38

4.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất trong sáng kiến 39

4.4.1 Sự cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất 39

4.4.2 Tính khả thi của các giải pháp đề xuất 39

5 Kết quả thực nghiệm đề tài 40

5.1 Về thái độ, hiệu quả, cảm nhận của học sinh 40

5.2 Về phẩm chất và năng lực hình thành qua chủ đề 41

5.3 Kết quả học lực của các lớp thực nghiệm và đối chứng 43

PHẦN III KẾT LUẬN 47

1 Quá trình nghiên cứu 47

2 Ý nghĩa của đề tài 47

3 Phạm vi, mức độ ứng dụng của đề tài 47

4 Hướng phát triển của đề tài 47

5 Kiến nghị và đề xuất 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 51

Trang 5

5 Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp HĐTNHN

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng

Bảng 1 Đánh giá hoạt động nhóm 36

Bảng 2 Tiêu chí đánh giá nội dung 36

Bảng 3 Tiêu chí đánh giá hình thức sản phẩm 37

Bảng 4 Tiêu chí đánh giá, xếp loại 37

Bảng 5 Tổng hợp các đối tượng khảo sát 38

Bảng 6 Đánh giá sự cấp thiết của các giải pháp đề xuất 39

Bảng 7 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 39

Bảng 8 Mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia các hoạt động của chủ đề 40

Bảng 9 Mức độ hiệu quả của học sinh khi tham gia các hoạt động của chủ đề 40

Bảng 10 Phẩm chất được hình thành qua các hoạt động của chủ đề 42

Bảng 11 Năng lực chung được hình thành qua các hoạt động của dự án 42

Bảng 12 Năng lực đặc thù của môn Ngữ văn được hình thành qua các hoạt động của dự án 42

Bảng 13 Năng lực của hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp được hình thành qua các hoạt động của dự án 42

Bảng 14: Kết quả học lực kì I môn Ngữ văn của các lớp TN và ĐC 43

Bảng 15: Thống kê điểm bài kiểm tra của các lớp thực nghiệm 43

Bảng 16: Thống kê điểm bài kiểm tra của các lớp đối chứng 44

Bảng 17: Thống kê các điểm số Xi của bài kiểm tra 44

Bảng 18: Phân phối tần suất điểm của phương án thực nghiệm và đối chứng 44

Biểu Biểu đồ 1 Phân bố điểm của phương án thực nghiệm và đối chứng 44

Biểu đồ 2 Phân bố tần suất điểm của phương án thực nghiệm và đối chứng 45

Trang 7

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

Mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông theo Nghị quyết số

29-NQ/TW là “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng

hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học” Hội nhập quốc tế cùng với sự bùng nổ của khoa học công nghệ đã

tạo cơ hội thúc đẩy giáo dục phát triển và cũng đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đảm bảo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng bởi đầu ra của nhà trường là thị trường lao động

Đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018;

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh” Điều đó đặt ra bài toán thách thức cho quá

trình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho tất cả các nước trên thế giới Theo xu

hướng này, ở nước ta đổi mới phương pháp dạy họ nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng đã trở thành một yêu cầu vừa hiển nhiên vừa bức thiết không chỉ với các Ban ngành quản lí giáo dục mà còn riêng với từng cá nhân giáo viên đang trực tiếp tham gia việc giảng dạy

Thực tế cho thấy: lý luận về đổi mới phương pháp và các phương pháp dạy học (PPDH) mới rất đa dạng, khoa học, sát thực song khi áp dụng vì điều kiện khách quan lẫn chủ quan, có nhiều PPDH chưa áp dụng được hoặc áp dụng đạt hiệu quả không cao Điều đó dẫn đến bối cảnh chung của Việt Nam hiện nay là rất nhiều giáo viên (GV) còn lúng túng trong việc xác định một PPDH Ngữ văn nhằm gây được nhiều hứng thú cho học sinh (HS) và tích cực hóa hoạt động học tập của

HS Thực trạng nhiều HS phổ thông hiện nay không thích học Văn, chán học văn,

sợ học Văn, xem nhẹ môn Văn vẫn còn là vấn đề khá phổ biến Đặc biệt phần lớn các em không xác định được học để làm gì, và cần lựa chọn ngành, nghề gì cho phù hợp với năng lực, năng khiếu và đam mê của bản thân

Dạy học dự án - một phương pháp dạy học tích cực được rất nhiều nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Đức, Đan Mạch,… quan tâm và có nhiều công trình giá trị về lý luận cũng như thực tiễn đối với phương pháp này Dạy học dự án có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học và phù hợp với lộ trình tiến tới định hướng thay thế dần chương trình dạy học định hướng nội dung bằng chương trình dạy học định hướng năng lực Nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn

Trang 8

bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp

Vì thế, dạy học dự án (DHDA) đã thể hiện được quan điểm nổi bật của mình trong

việc hướng tới các mục tiêu của giáo dục hiện đại mà UNESCO đề xướng: “Học

để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Với đặc điểm

này, việc đưa DHDA kết hợp với trải nghiệm hướng nghiệp vào tổ chức dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng sẽ là một trong những phương hướng góp phần đào tạo con người toàn diện phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế cũng như đáp ứng được đòi hỏi của xã hội tri thức

Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết và quy trình vận dụng DHDA kết hợp với trải nghiệm hướng nghiệp, có thể dễ dàng nhận thấy hoàn toàn có khả năng vận dụng được DHDA kết hợp với trải nghiệm hướng nghiệp vào thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập; tạo được hứng thú cho HS và góp phần đa dạng hóa các PPDH Với việc có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong cách dạy, cách học của GV

và HS; đem lại cho giờ học Ngữ văn một không khí học tập mới, DHDA kết hợp

với trải nghiệm hướng nghiệp đã trở thành một trong những PPDH “làm cho GV

chỉ cần dạy ít mà HS học được nhiều và làm cho nhà trường bớt sự nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn”

Với định hướng phát triển năng lực, phẩm chất, lấy học sinh làm trung tâm

và những hiểu biết nhất định của mình về đổi mới Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018, để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo; tăng thêm khả năng hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh; góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Cờ Đỏ Chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:

“Dạy học dự án văn bản Huyện đường kết hợp với hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Cờ Đỏ”

3 Tổng quan và điểm mới của đề tài

Dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức

Trang 9

Với định hướng phát triển năng lực, lấy học sinh làm trung tâm, chúng tôi

chú trọng xây dựng văn bản Huyện đường trong chương trình Ngữ văn lớp 10 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống với thời lượng 3 tiết học trong 2 tuần theo

phương pháp dạy học dự án kết hợp với hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh Điểm nổi bật của đề tài là việc tổ chức các hoạt động phong phú cho học sinh theo từng giai đoạn của dự án Mỗi giai đoạn được xây dựng với những bài học trong đó GV chỉ đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, còn HS được giao toàn quyền

tự tìm hiểu kiến thức nền, tạo sản phẩm, giới thiệu sản phẩm, tự kiểm tra, đánh giá dưới sự hướng dẫn của giáo viên; tăng cường thực hành trải nghiệm của học sinh, vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề trong học tập, trong cuộc sống và trải nghiệm thực hành, từ đó hình thành được năng lực, phẩm chất cần thiết, đặc biệt là bước đầu định hướng được nghề nghiệp trong tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu văn bản Huyện đường trong chương Ngữ văn lớp 10 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống với thời lượng 3 tiết học được thực

hiện trong 2 tuần theo phương pháp dạy học dự án kết hợp với hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh

- Học sinh lớp 10, Trường THPT Cờ Đỏ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ

sở lý luận của đề tài như: Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng

cơ sở thực tiễn của đề tài như:

- Phương pháp điều tra;

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;

- Phương pháp so sánh, đối chiếu;

- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý, phân tích các số liệu, các kết quả điều tra và các kết quả thực nghiệm

Trang 10

6 Kế hoạch nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng, tổng hợp số liệu thực tế

- Tập hợp tài liệu

- Thống kê và xử lý số liệu

- Kết quả thử nghiệm

4 Từ 16/12/2022

Đến 08/03/2023

- Viết báo cáo sáng kiến

- Xin ý kiến đồng nghiệp

- Bản báo cáo sáng kiến

- Tập hợp ý kiến đóng góp

5 Từ 08/03/2023

Đến 15/04/2023

Hoàn thiện báo cáo sáng

Trang 11

PHẦN II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

1.1 Dạy học dự án

1.1.1 Khái niệm dự án và phương pháp dạy học dự án

- Dự án (Project): Thuật ngữ “dự án” được hiểu là một đề án, dự thảo hay kế hoạch cần thực hiện để đạt mục đích đặt ra Khái niệm dự án được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội và được

sử dụng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo như một phương pháp hay hình thức dạy học

- Dạy học theo dự án được hiểu là một phương pháp hay hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết

và thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện

1.1.2 Đặc điểm của dạy học dự án

Trong các tài liệu về DHDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:

+ Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống

của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ

dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

+ Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung

học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

+ Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực

hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

+ Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp

giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và

tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả

Trang 12

năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

+ Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,

trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính

xã hội

+ Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm

được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

1.1.3 Quy trình tổ chức dạy học dự án

Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế nhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn Sau đây, chúng tôi xin trình bày các giai đoạn của dạy học theo dự án theo 5 giai đoạn

- Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án

Giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự

án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát

từ phía HS Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến

- Giai đoạn 2: Xác định đề cương, xây dựng kế hoạch thực hiện

Trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

- Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

Trang 13

- Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội

- Giai đoạn 5: Đánh giá dự án:

GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng

có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc

+ Phát triển khả năng sáng tạo;

+ Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;

+ Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

+ Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

+ Phát triển năng lực đánh giá

Trang 14

+ DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp

Tóm lại DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy

và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học

1.2 Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

1.2.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường

và nghề nghiệp tương lai

Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12; ở cấp tiểu học được gọi là Hoạt động trải nghiệm, ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông được gọi

là Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của học sinh trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường tự nhiên và nghề nghiệp; được triển khai qua bốn mạch nội dung hoạt động chính: Hoạt động hướng vào bản thân, Hoạt động hướng

đến xã hội, Hoạt động hướng đến tự nhiên và Hoạt động hướng nghiệp

1.2.2 Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động trải nghiệm sẽ tạo cơ hội cho học sinh huy động, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học, lĩnh vực giáo dục khác nhau để có thể trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội Đồng thời giúp học sinh có cơ hội

để tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp Với ba mục tiêu cơ bản của hoạt động trải nghiệm:

- Năng lực thích ứng với cuộc sống;

- Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động;

- Năng lực định hướng nghề nghiệp

1.2.3 Nội dung tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Có 4 mạch nội dung hoạt động trải nghiệm:

Trang 15

- Hoạt động hướng vào bản thân: khám phá bản thân và rèn luyện bản thân

- Hoạt động hướng đến xã hội: chăm sóc gia đình, xây dựng nhà trường và cộng đồng

- Hoạt động hướng đến tự nhiên: tìm hiểu và bảo tồn cảnh quan thiên nhiên; tìm hiểu và bảo vệ môi trường

- Hoạt động hướng nghiệp: tìm hiểu nghề nghiệp; rèn luyện phẩm chất, năng lực phù hợp với định hướng nghề nghiệp; lựa chọn hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch học tập theo định hướng nghề nghiệp

1.2.4 Một số phương thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp chủ yếu

- Phương thức khám phá: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm thế giới tự nhiên, thực tế cuộc sống và công việc, giúp học sinh khám phá những điều mới lạ, tìm hiểu, phát hiện vấn đề từ môi trường xung quanh, bồi dưỡng những cảm xúc tích cực và tình yêu quê hương đất nước Nhóm phương thức tổ chức này bao gồm các hoạt động tham quan, cắm trại, thực địa và các phương thức tương tự khác

- Phương thức thể nghiệm, tương tác: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho học sinh giao lưu, tác nghiệp và thể nghiệm ý tưởng như diễn đàn, đóng kịch, hội thảo, hội thi, trò chơi và các phương thức tương tự khác

- Phương thức cống hiến: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho học sinh mang lại những giá trị xã hội bằng những đóng góp và cống hiến thực tế của mình thông qua các hoạt động tình nguyện nhân đạo, lao động công ích, tuyên truyền và các phương thức tương tự khác

- Phương thức nghiên cứu: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho học sinh tham gia các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học nhờ cảm hứng từ những trải nghiệm thực tế, qua đó đề xuất những biện pháp giải quyết vấn đề một cách khoa học Nhóm hình thức tổ chức này bao gồm các hoạt động khảo sát, điều tra, làm dự

án nghiên cứu, sáng tạo công nghệ, nghệ thuật và các phương thức tương tự khác

1.3 Sự kết hợp giữa phương pháp dạy học dự án và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Bằng nhiều hình thức khác nhau như: cho học sinh đóng vai, diễn tích trò trên lớp cũng như tổ chức sân khấu hóa trước toàn trường tác phẩm văn học…

Sự kết hợp giữa phương pháp dạy học theo dự án và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp sẽ tạo ra môi trường học tập mới mẻ, tích cực, gây hứng thú cho người học Góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường

và xã hội, khám phá và trải nghiệm Tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng sáng tạo vào thực tế cuộc sống giúp học sinh được thực hành trải nghiệm các nghề nghiệp trong tương lai

Trang 16

Dạy học theo dự án kết hợp với hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là một cách tiếp cận kiến thức có vận dụng thực tiễn, trải nghiệm trong quá trình học, phù hợp với định hướng phát triển năng lực, phẩm chất, đảm bảo giáo dục, đào tạo toàn diện trong giai đoạn hiện nay

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông

Học văn theo kiểu đối phó, chép văn mẫu, những giờ dạy và học văn khô khan chỉ đọc chép… là những thực trạng đáng buồn trong dạy và học môn Ngữ văn hiện nay ở trường phổ thông Đặc biệt vấn đề trăn trở của xã hội cũng như các chuyên gia giáo dục hiện nay là vì sao nhiều học sinh không còn mặn mà với môn Ngữ văn Do đó, đã đến lúc cần phải thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về cách dạy

và học môn Ngữ văn trong trường phổ thông

2.2 Thực trạng dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GDPT 2018 ở

trường trung học phổ thông Cờ Đỏ

Năm học 2022 - 2023 là năm đầu tiên áp dụng Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 nên cả GV và HS còn bỡ ngỡ, lúng túng khi thực hiện những bài học Đối với môn Ngữ văn, việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào bài giảng cũng gặp không ít khó khăn, đặc biệt là PPDHDA nó đòi hỏi GV và

HS phải đầu tư nhiều công sức, thời gian để thực hiện

Việc áp dụng PPDHDA ở trường THPT Cờ Đỏ trong môn Ngữ văn chưa nhiều Điều này xuất phát từ cả giáo viên và học sinh:

- Về phía giáo viên: Để thực hiện một bài dạy sử dụng PPDHDA kết hợp HĐTNHN cho HS, giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu các tài liệu; thiết kế các hoạt động; giao nhiệm vụ cho HS thực hiện ở nhà; chuẩn bị các phương tiện, thiết bị dạy học đi kèm; trên lớp GV phải tổ chức các hoạt động để học sinh trình bày sản phẩm các dự án đã chuẩn bị ở nhà; đánh giá nhận xét mức

độ hoàn thành các dự án của học sinh… các công đoạn chuẩn bị cho bài dạy rất công phu, mất nhiều thời gian, tốn kém nên nhiều GV không muốn đầu tư

- Về phía học sinh: Phần lớn HS của nhà trường có năng lực học tập ở mức trung bình nên khi được giao nhiệm vụ thực hiện dự án các em đều gặp khó khăn Việc thực hiện được một dự án đòi hỏi HS phải dày công chuẩn bị, tập trung trí tuệ, công sức và thời gian để làm được một sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của

GV đã giao vì thế nhiều em ngại khó, có tư tưởng né tránh nhiệm vụ Công việc thực hiện các nhiệm vụ học tập theo dự án ở nhà cũng như trên lớp chủ yếu đều do các em có năng lực khá hơn làm Do vậy, khi triển khai thực hiện PPDHDA chưa thu hút được đông đảo HS tham gia

Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc DHDA kết hợp với hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp (HĐTNHN) đối với môn Ngữ văn, chúng tôi đã tiến hành điều tra về việc nhận thức của 50 GV các môn trong trường trung học phổ thông

Trang 17

Cờ Đỏ Kết quả thể hiện qua bảng sau:

1 Thầy/cô đã từng được học (tập huấn) về PPDHDA và

HĐTNHN trong Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018

2 Thầy/cô hãy cho biết mức độ cần thiết của DHDA và

HĐTNHN trong Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018

3 Thầy/cô hãy cho biết mức độ sẵn sàng của DHDA và

HĐTNHN trong Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018

5 Vì sao chưa thực hiện DHDA kết hợp với HĐTNHN?

- Đầu tư nhiều công sức, thời gian

Trang 18

Nội dung khảo sát Kết quả Tỉ lệ %

7 Thầy/cô có đồng ý kiến thức được truyền tải bằng hoạt

động DHDA kết hợp với HĐTNHN gần gũi với thực tiễn mà

học sinh đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi

Qua khảo sát thực tế, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất: Hầu hết GV đã được học, tập huấn về phương pháp DHDA, trải nghiệm hướng nghiệp tuy nhiên chưa được áp dụng vào việc dạy học hàng ngày

Thứ hai: Phương pháp DHDA kết hợp với HĐTNHN chưa được sử dụng nhiều trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường trên địa bàn huyện vì giáo viên ngại khó khăn, chưa đủ tự tin hoặc thờ ơ với phương pháp DHDA kết hợp với HĐTNHN Có thể do GV chưa nắm được bản chất vấn đề hoặc chưa chú trọng đổi mới phương pháp dạy học

Thứ ba: Khi dạy văn bản Huyện đường trong chương trình Ngữ văn 10

THPT, các thầy/cô chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, các phương pháp dạy học hiện đại chưa được vận dụng và phát huy

Thứ tư: Việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá chưa được thực hiện

khi dạy học văn bản Huyện đường Chủ yếu giáo viên tổ chức đánh giá học sinh

qua bài viết, chưa đánh giá hết năng lực học sinh và vì thế chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của người học

Thứ năm: Việc dạy học theo tổ chức các hoạt động cho HS là một nội dung được ưu tiên hàng đầu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 Cùng với đó GV và HS được khuyến khích sử dụng linh hoạt các phương tiện, công nghệ dạy học để phát huy tính chủ động tích cực trong dạy và học

Như vậy, thực tiễn dạy học tại địa phương cho thấy việc vận dụng PPDHDA

kết hợp trải nghiệm hướng nghiệp (TNHN) vào dạy học văn bản Huyện đường là

hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Trang 19

3 Tổ chức dạy học dự án văn bản Huyện đường kết hợp với hoạt

động trải nghiệm, hướng nghiệp góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh

3.1 Bước 1: Xác định nội dung kiến thức có thể hình thành dự án kết hợp với hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp

- Một số yếu tố của văn bản tuồng như: khái niệm; nguồn gốc, lịch sử hình thành; phân loại; đề tài, nội dung; làn điệu, ca nhạc; tính vô danh, tích truyện, sắc trên mặt nạ tuồng, nhân vật, lời thoại, hát tuồng, múa tuồng; phương thức lưu truyền; tính tượng trưng ước lệ…

- Những lời thoại cho thấy sự tương đồng về bản chất, thủ đoạn giữa các nhân vật ở huyện đường, từ tri huyện đến đề lại là lính lệ

- Sự hô ứng nhịp nhàng trong lời thoại giữa hai nhân vật tri huyện và đề lại

- Lời tự giới thiệu (qua hình thức nói lối) của nhân vật tri huyện với lời tự giới thiệu thường gặp trong đời sống

- Thái độ và cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn “cửa quan”

- Các giá trị đạo đức, văn hóa đặt ra từ văn bản

- Ý nghĩa hay tác động của văn bản thông tin đã đọc đối với bản thân

- Thái độ trân trọng đối với những di sản nghệ thuật quý báu mà ông cha truyền lại

- Kiến thức về nghề nghiệp trong tương lai

3.2 Bước 2: Xây dựng ý tưởng và quyết định chủ đề

- Tạo điều kiện để HS lựa chọn, đề xuất ý tưởng dự án, quyết định tên đề tài, xác định mục tiêu dự án

- Gợi ý cho HS một số đề tài để thực hiện dự án kết hợp TNHN:

+ Nghệ thuật tuồng - Giá trị di sản văn hóa cần gìn giữ

+ Đặc sắc ngôn ngữ trong Huyện đường (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến) + Sắc trên mặt nạ tuồng

+ Công lí trong đời sống

- Chia nhóm để hoạt động Khi chia nhóm, GV phải đảm bảo mỗi nhóm có

Trang 20

những HS sử dụng thành thạo công nghệ thông tin; có HS giỏi, khá, trung bình hoặc yếu, kém; đặc biệt là những HS có cùng sở thích, năng khiếu và định hướng nghề nghiệp

+ Nhóm 1: Nghệ thuật Tuồng - Giá trị di sản văn hóa cần gìn giữ

+ Nhóm 2: Đặc sắc ngôn ngữ trong Huyện đường (Trích tuồng Nghêu Sò

Ốc Hến)

+ Nhóm 3: Sắc trên mặt nạ tuồng

+ Nhóm 4: Công lí trong đời sống

3.3 Bước 3: Lập kế hoạch thực hiện

* Giáo viên:

- Xác định mục tiêu dự án: GV xác định mục tiêu của dự án trên cơ sở

chuẩn kiến thức, kĩ năng và các phẩm chất, năng lực hướng tới khi dạy học văn

bản Huyện đường:

+ Kiến thức: Giúp HS nhận biết và phân tích được một số đặc điểm của

tuồng dân gian thể hiện qua đoạn trích trên các phương diện: đề tài, tích truyện, nhân vật, lời thoại (tính vô danh và phương thức lưu truyền đã được nhắc đến trong phẩn Tri thức ngữ văn); cảm nhận được ý vị hài hước, châm biếm của cảnh tuồng

Huyện đường; nêu được ý nghĩa hay tác động của văn bản thông tin đã đọc đối với

bản thân

+ Kĩ năng: Quản lí thời gian; giao tiếp và ứng xử; hợp tác và chia sẽ; đặt

mục tiêu; tự nhận thức và đánh giá…

+ Năng lực

.Năng lực chung: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự quản bản thân,

năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác

.Năng lực riêng biệt: Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản;

trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về văn bản Huyện đường; hợp tác khi

trao đổi, thảo luận về thành tựu nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản; phân tích,

so sánh đặc điểm nghệ thuật của văn bản với các văn bản khác có cùng chủ đề; cảm thụ văn học để đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại; ngôn ngữ để viết kết nối đọc; tự chủ và tự học: học sinh tự học, tự hoàn thiện kiến thức nền trong bộ câu hỏi định hướng; giao tiếp và hợp tác: xác định được trách nhiệm và hoạt động của bản thân; tổ chức và thuyết phục người khác khi thuyết trình; đánh giá hoạt động

Trang 21

hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo: học sinh nhận ra ý tưởng mới, phát hiện và làm rõ vấn đề, hình thành và triển khai ý tưởng mới, đề xuất, lựa chọn giải pháp, thiết kế và tổ chức hoạt động; sử dụng công cụ công nghệ thông tin: thiết kế bài thuyết trình trên powerpoint, báo cáo trên bản Word, cộng tác Online,… quay Video, chụp ảnh,… tìm kiếm, tổng hợp và lưu trữ thông tin,… trên Internet; định hướng nghề nghiệp của bản thân qua các hoạt động học tập và trải nghiệm

+ Phẩm chất: Chăm chỉ: tích cực tìm tòi và sáng tạo trong học tập, có ý chí

vượt qua khó khăn để đạt kết quả tốt trong học tập, chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai; trung thực; có trách nhiệm cao với bản thân và tập thể sẵn sàng chịu trách nhiệm về những lời nói và hành động của bản thân; nhân ái: biết yêu thương, nhận thức và hành động theo lẽ phải; yêu nước: chủ động, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc

+ Thái độ: Trân trọng đối với những di sản nghệ thuật quý báu mà ông cha

truyền lại

- Xây dựng nội dung công việc:

+ Giao nhiệm vụ cho các nhóm thực hiện, hướng dẫn HS lập bảng kế hoạch

dự án theo mẫu ở Phụ lục 2

+ Yêu cầu chung:

.Mỗi tổ sơ đồ hóa các nội dung phân công trên giấy A3, A2, A0…

.Khuyến khích vẽ hình ảnh minh họa, thiết kế bằng powerpoint

.Cử đại diện lên trình bày trong buổi báo cáo

- Thời gian học tập: Thuộc chương trình chính khóa

- Thời lượng dự án, kết hợp trải nghiệm hướng nghiệp: Dự án nhỏ, thực

hiện trong 3 tiết học, được bố trí như sau:

1 Tiết 1 (45’)

- Lập nhóm, phân công nhiệm vụ

- Chọn nội dung nghiên cứu kiến thức nền

- Trả lời câu hỏi định hướng

- Tìm tài liệu và thông tin liên quan

Tại phòng học

2 1 buổi Cá nhân tự tìm hiểu nghiên cứu theo sự phân

công của nhóm trưởng

Tại nhà học sinh

Trang 22

TT Thời gian Nhiệm vụ chủ yếu Địa điểm

- Tài liệu:

+ Sách giáo khoa Ngữ văn 10 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống

+ Bộ câu hỏi định hướng do giáo viên biên soạn, phiếu học tập và các nguồn thông tin trên Internet

+ GV xác định các tài liệu liên quan để hướng dẫn HS khai thác Có thể là tài liệu bản cứng, có thể khai thác trên các trang mạng hoặc khai thác từ cộng đồng Chú ý khai thác tài liệu về di sản văn hóa phi vật thể

- Các công cụ hỗ trợ: Máy ảnh, máy quay phim, micrô, bút, giấy, máy tính

kết nối mạng Internet, tranh ảnh, Sticker các loại, điện thoại, máy chiếu, giấy Ao, bút dạ, nam châm,… Các dụng cụ, thiết bị cần thiết dùng trong quá trình thực nghiệm của dự án

- Các hỗ trợ khác: liên hệ với Ban Giám hiệu nhà trường, các giáo viên có

kinh nghiệm, hiểu biết về nghệ thuật tuồng, hội phụ huynh, phụ huynh, Đoàn thanh niên để đảm bảo an toàn, tạo điều kiện cho HS trong quá trình thực hiện dự án

- Phương pháp dạy học: Dạy học theo dự án, cùng các kỹ thuật các mảnh

ghép (Jigsaw), sơ đồ tư duy (Mindmap), phòng tranh, đóng vai…

- Kinh phí: Mua giấy A0, màu vẽ, thuê trang phục, đạo cụ…

- Địa điểm tổ chức: Trên lớp, sân trường, ở nhà học sinh…

- Quy định sản phẩm mà dự án phải đạt được: Đúng thời gian quy định;

đúng với yêu cầu đặt ra; đảm bảo cả hai phương diện nội dung và hình thức, sản phẩm gắn với thực tiễn (GV gửi bảng tiêu chí cụ thể cho HS trước lúc tiến hành

dự án)

*Học sinh:

Cùng giáo viên lên kế hoạch, thống nhất các tiêu chí đánh giá sản phẩm Một sản phẩm báo cáo dự án tiêu biểu bao gồm:

Trang 23

SẢN PHẨM DỰ ÁN

1 Tên dự án (1slide)

2 Thông tin cơ sở (thành viên, đơn vị, thời gian thực hiện…) (1 slide)

3 Mục tiêu dự án (vấn đề nghiên cứu) (1 slide)

4 Phương pháp nghiên cứu (1 slide)

5 Các hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, các dữ liệu, bàn luận, phân tích… (tuỳ thuộc dự án nghiên cứu, khoảng 12-15 slides)

6 Kết luận (1-2 slide)

7 Nhìn lại quá trình học tập (1-2 slide)

8 Tài liệu tham khảo (1-2 slide)

- Cung cấp cho học sinh các tài liệu hỗ trợ thêm và hướng dẫn cách tìm kiếm, xử lí các thông tin liên quan đến dự án này

- Kịp thời hỗ trợ những vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án cho HS Đưa ra những lời khuyên cần thiết để các nhóm có thể hoạt động hiệu quả nhất

- Nhắc nhở học sinh về tiến độ thực hiện dự án để học sinh tập trung và không bị sao nhãng

- Hướng dẫn HS thiết kế dự án, xây Fanpage: giới thiệu, quy trình, lan tỏa sản phẩm

- Đưa ra những lời khuyên cần thiết để các nhóm có thể hoạt động hiệu quả

nhất Liên hệ các nghệ sĩ, chuyên gia, GV có kinh nghiệm…

- Đưa ra bộ câu hỏi định hướng cho các nhóm:

Trang 24

BỘ CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG

2 Tuồng được chia thành mấy loại?

3 Hãy cho biết đề tài, nội dung của tuồng?

4 Trong tuồng có những đạo cụ gì? Nhạc cụ của tuồng có

âm thanh ra sao?

5 Tính tượng trưng, ước lệ của tuồng được thể hiện trên những phương diện nào? (Gợi ý: Diễn viên, hát tuồng, múa

8 Sau khi tìm hiểu về nghệ thuật tuồng, em có cảm nhận gì

về loại hình nghệ thuật này?

1 Vai trò, vị trí của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học?

2 Trong văn bản Huyện đường, tác giả dân gian đã sử dụng

những hình thức ngôn ngữ nào?

3 Phần xưng danh của tri huyện có gì đặc biệt? Qua đó giúp người đọc, người xem hiểu về con người ông ta như thế nào? Hãy so sánh lời tự giới thiệu đó của một nhân vật

cụ thể trong tuồng với những lời tự giới thiệu thường gặp trong đời sống để rút ra nhận xét cần thiết

4 Liệt kê những lời thoại cho thấy sự tương đồng về bản chất, thủ đoạn giữa các nhân vật ở huyện đường, từ tri huyện đến đề lại và lính lệ? Qua đó em hiểu như thế nào về thái độ và cách nhìn nhận của người xưa với chốn “cửa quan”?

5 Sau khi tìm hiểu đặc sắc ngôn ngữ trong văn bản Huyện

đường, em có đánh giá gì về vai trò của ngôn ngữ trong

kịch bản tuồng?

3 Sắc trên mặt

nạ tuồng

1 Có mấy loại mặt nạ tuồng?

2 Tuồng Việt Nam thường sử dụng loại mặt nạ nào?

3 Những quy định và ý nghĩa về sắc trên mặt nạ tuồng?

Trang 25

TT Dự án Câu hỏi riêng cho mỗi dự án

4 Bố cục cơ bản trong mặt nạ tuồng?

5 Dựa vào lí thuyết về mặt nạ tuồng kết hợp với tính cách mỗi nhân vật, em hãy vẽ lại các mặt nạ của các nhân vật

trong văn bản Huyện đường? Nêu ý nghĩa của mỗi mặt nạ?

thành công văn bản Huyện đường, các em cần làm gì?

3 Sau khi thực hiện dự án, các em rút ra được nội dung ý nghĩa của văn bản là gì? Thái độ của nhân dân đối với chốn

“cửa quyền” trong Huyện đường?

- Giao phiếu nhật ký hoạt động của nhóm cho học sinh

- Lưu ý HS là kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn

- Đưa ra các nguyên tắc làm việc nhóm khi thực hiện dự án

*Học sinh:

- Cử ra nhóm trưởng là người điều phối chung, trực tiếp phân công nhiệm

vụ, đánh giá, ghi nhận thái độ hoạt động của các thành viên

- Luôn có một bạn quản lý thời gian: thông báo thời gian ở các hoạt động, nhắc nhở nhóm khi sắp hết giờ,…

- Luôn có một bạn thư ký ghi chép vào phiếu hoạt động chung của nhóm

- Tất cả các thành viên đều phải tham gia vào việc thảo luận, tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm, báo cáo,…

- Tham khảo các tài liệu từ mạng xã hội, sách tham khảo

Trang 26

- Thảo luận, thống nhất nội dung và trình bày dự án

- Sơ đồ hóa nội dung trình bày hiệu quả

- Nộp sản phẩm cho GV trước ngày báo cáo sản phẩm ít nhất hai ngày

- Cử đại diện nhóm trình bày dự án trước lớp

- Viết bản thu hoạch sau khi thực hiện dự án

- Lập sổ theo dõi dự án bao gồm những thông tin sau:

2 Ý tưởng ban đầu

3 Phiếu thu nhập dữ liệu

4 Biên bản thảo luận

5 Nhìn lại quá trình thực hiện dự án

6 Phản hồi của giáo viên

3.5 Bước 5: Trình bày sản phẩm

*Giáo viên:

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án: giáo viên tổ chức buổi ra mắt và giới thiệu sản phẩm của dự án

- Giới thiệu mục đích và ý nghĩa của dự án

- Lưu ý cho HS các yêu cầu phải thực hiện trong buổi báo cáo kết quả dự án

- Mời những giáo viên có hiểu biết, kinh nghiệm đến để thẩm định và đánh giá quá trình thuyết trình giới thiệu ra mắt sản phẩm của học sinh

* Học sinh:

- Tổ chức trình bày dự án dưới sự dẫn dắt của lớp trưởng

- Mỗi nhóm cử một người lên trình bày sản phẩm của nhóm

- Các nhóm lần lượt lên báo cáo sản phẩm: Bài trình bày đa phương tiện trên PowerPoint, sơ đồ Mindmap…

- Các nhóm lần lượt trình bày theo thứ tự được phân công:

Trang 27

+ Nhóm 1: Nghệ thuật tuồng - Giá trị di sản văn hóa cần gì giữ

Tuồng là một bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo của dân tộc Việt Nam từng có một thời kỳ hoàng kim với những vở diễn được đông đảo khán giả đón xem Tuy nhiên, cùng chung số phận với những loại hình nghệ thuật khác như ca trù, chèo, cải lương… tuồng đang đứng trước nguy cơ mai một

Tuồng còn gọi là hát bội, hát bộ một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền, được hình thành trên cơ sở ca, vũ, nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam Ngôn ngữ của tuồng là văn chương bác học kết hợp nhuần nhuyễn văn chữ Hán với văn chữ nôm Theo một số tư liệu thì tuồng ảnh hưởng của hí khúc (Trung Quốc) do quân lính nhà Nguyên bị giữ làm tù binh dưới thời nhà Trần (thế kỷ 13) biểu diễn Nhưng tuồng Việt Nam có nét riêng của nó Lúc đầu, tuồng chỉ xuất hiện ở miền Bắc, sau đó theo binh lính chúa Nguyễn vào Đàng Trong và phát triển cực thịnh ở đó

Kho tàng các vở diễn tuồng cổ ước có đến vài trăm nhưng lâu dần bị thất lạc phần lớn, trong đó có thể kể vài vở đặc trưng như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng, Trưng nữ vương… Tuồng đã trở thành vốn quý của sân khấu truyền thống và mãi mãi là viên ngọc trong kho tàng văn hoá của dân tộc

Nguồn gốc, lịch sử hình thành của tuồng

Nguồn gốc và lịch sử phát triển của nghệ thuật tuồng, cũng như của nghệ thuật sân khấu cổ đại Việt Nam nói chung hiện nay vẫn còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu lâu dài Vẫn còn rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về thời điểm ra đời của loại hình nghệ thuật sân khấu này

Nhà nghiên cứu Hồ Lãng cho rằng tuồng chỉ có thể có từ thế kỷ thứ 18

(trong bài “Để tìm hiểu về lịch sử tuồng” đăng trong tạp chí “Nghiên cứu văn học”

số 1 năm 1971) Nhà nghiên cứu Văn Tân thì lại định nghĩa chữ “tuồng” trong “Từ

điển tiếng Việt” như sau: “Nghệ thuật sân khấu cổ của Trung Quốc, truyền vào Việt Nam”

Giáo sư Phan Huy Lê có quan điểm: “Về nghệ thuật sân khấu thì thế kỷ 15,

tuồng và chèo khá phát triển” Vấn đề nguồn gốc của tuồng và chèo lâu nay vẫn có

nhiều kiến giải khác nhau, nhưng theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật gần đây thì tuồng và chèo là những nghệ thuật cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ rất sớm Đến cuối thế kỷ 18 tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh mọi mặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn Trong thế kỷ 19, tuồng đã

có một giai đoạn phát triển cực thịnh trong lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật này

Tuồng và chèo là những nghệ thuật sân khấu kết hợp ca kịch với vũ đạo, mang nhiều bản sắc dân tộc

Đặc điểm của tuồng

Thông thường để có một vở diễn ra mắt công chúng, trước hết phải có kịch

Trang 28

bản, đạo diễn và một dàn diễn viên có tay nghề Đặc biệt đối với tuồng đòi hỏi phải

có những đào kép chính thật xuất sắc và kịch bản phải hay mới thu hút được người xem, cho dù khán giả chỉ là những người dân bình thường hay là các vị quan viên chức sắc Trong nghệ thuật biểu diễn tuồng, từng động tác diễn xuất, từng câu chữ,

ca từ của người diễn viên khi thể hiện đều được bình phẩm ngay bởi tiếng trống chầu đặt trước khán giả

Người cầm chầu là một chức sắc trong làng hay là một vị quan viên hiểu biết

về nghệ thuật tuồng, nếu người diễn viên biểu diễn sơ suất thì người cầm chầu gõ lên tang trống để cảnh cáo, còn khi diễn xuất đạt thì tiếng trống chầu lại cất lên với nhịp độ khác nhau tùy thuộc vào nghệ thuật diễn của từng diễn viên, và khi tiếng trống chầu liên tục cất lên để tán thưởng thì đồng thời đây cũng chính là lúc khán giả ném tiền lên sân khấu để thưởng cho diễn viên vì thế nên diễn viên hát tuồng ngày xưa không bao giờ dám khinh xuất khi biểu diễn Đặc biệt là khi tuồng được các vua quan phong kiến đưa vào phục vụ ở triều đình thì đòi hỏi trình độ diễn viên cho đến nội dung vở diễn đều phải được nâng cao hơn về mặt nghệ thuật, thủ pháp

và ca từ

Phân loại tuồng

Có lúc người ta phân loại thành tuồng thầy (mẫu mực), tuồng ngự (cho vua xem), tuồng cung đình (diễn trong hoàng cung), tuồng pho (nhiều hồi diễn nhiều đêm), tuồng đồ (phóng tác, không có trong sử sách), tuồng tân thời (chuyển thể từ các tiểu thuyết) Nhưng tựu chung có thể chia làm hai loại tuồng kinh điển và tuồng dân gian Ngày nay có ba lưu phái tuồng: Bắc Bộ, Nam Bộ và Trung Bộ Tuồng Trung Bộ phong phú và mang màu sắc dân tộc hơn cả Bình Định là cái nôi của tuồng, trở thành đất tuồng với các tên tiêu biểu sau này: Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh…

Đề tài, nội dung của tuồng

Khác với các loại hình sân khấu khác như chèo, cải lương… Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của tuồng Lực lượng chính nghĩa, trong những tình huống gian khổ, hiểm nguy, đã chiến đấu vô cùng dũng cảm với một tín niệm sắt đá, thủy chung, với một khát vọng rất lớn Họ chiến đấu cho một lý tưởng tuyệt đối (phục nghiệp cho dòng vua cũ) và bằng một lòng trung thành vô hạn độ Cuộc chiến đấu của họ đã diễn ra đầy khí thế hào hùng, gây xúc cảm thẩm mỹ mạnh mẽ Có thể nói, tuồng là sân khấu của những người anh hùng Trong những hoàn cảnh đầy mâu thuẫn và xung đột bạo liệt bi ai các nhân vật chính diện của tuồng đã vươn lên thoát khỏi sự chế ngự của hoàn cảnh, hành động một cách dũng cảm, anh hùng, trở thành một tấm gương, một bài học cho người đời ngưỡng mộ noi theo

Tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử mà tuồng có nhiều loại chủ đề khác nhau,

Trang 29

nhưng chủ đề tồn tại khá lâu và chiếm được cảm tình của người xem là “phò vua diệt nguỵ”

Về nội dung: Nói chung là đi vào đề tài cung đình, nhưng không phải chỉ phản ánh những sự kiện trong cung đình mà là bao gồm cả những chuyện xảy ra trong quan hệ, chủ yếu là quan hệ chính trị, giữa các phe phái phong kiến nói chung

Về cấu trúc kịch bản: Kịch bản loại tuồng đều xây dựng theo dòng kịch tự

sự phương Đông Câu chuyện được trình bày có đầu có đuôi và theo trật tự thời gian phát triển của nó Về mặt này nó giống như những câu chuyện cổ tích dân gian Kịch bản được viết dưới dạng là kể một câu chuyện đã xảy ra (chứ không phải dưới dạng câu chuyện đương xảy ra) Như vậy, về mặt này nó tương ứng với loại tiểu thuyết chương hồi thời cổ

Làn điệu, ca nhạc của tuồng

Âm nhạc trong tuồng đóng một vị trí vô cùng quan trọng, có sức thu hút kỳ

lạ, thôi thúc mọi người đến xem hát Dàn nhạc tuồng chủ yếu làm nhiệm vụ hỗ trợ cho biểu diễn của diễn viên

Ngoài việc đệm cho hát, cho múa, cho các hiệu quả sân khấu như phong ba bão tố, chiến trận sa trường, đăng đàn bái tướng, âm nhạc trong sân khấu tuồng còn thể hiện tình cảm nhân vật trong các lớp diễn không lời và còn làm cầu nối của thế giới nội tâm nhân vật tới khán giả

Trong dàn nhạc tuồng gồm có bộ gõ: (trống, thanh la, mõ ), bộ hơi (kèn, sáo, chủ yếu là kèn); bộ dây (nhị, cò, hồ, đại, tiểu ) bộ gảy (tam, tứ, nguyệt, tranh )

Trong đó, nhạc cụ trống luôn luôn làm nhiệm vụ dẫn dắt, mở đầu cho mọi tình huống sân khấu Từ “điểm” cho nhân vật ra, vào hay khởi đầu cho câu nói, điệu hát của vai diễn đều phải theo trình tự là: Trống, tiếp đến dàn nhạc diễn tấu rồi mới đến diễn viên nói hoặc hát tuỳ theo nhân vật Nguyên tắc này được vận dụng cho tất cả các vai diễn, vở diễn của tuồng truyền thống

Tính tượng trưng, ước lệ của nghệ thuật tuồng

Tuồng thuộc dòng sân khấu tự sự phương Đông Phương thức phản ánh đã

đẻ ra thủ pháp và phương tiện biểu diễn tuồng Trong quá trình tái hiện cuộc sống tuồng không có xu hướng tả thực mà chú trọng lột tả cái thần Tả thần là biện pháp nhằm lột tả cái cốt lõi cơ bản, không đi sâu vào những chi tiết vụn vặt khi những chi tiết ấy không gây được hiệu quả nghệ thuật Để lột tả được cái thần của nhân vật tuồng dùng thủ pháp khoa trương cách điệu Tất cả những lời nói, động tác hình thể sự đi lại trên sân khấu tuồng đều được khoa trương và cách điệu để trở thành những điệu hát, điệu nói, điệu múa có nguyên tắc và niêm luật cụ thể

Tuồng có một hệ thống những điệu hát và những hình thức múa cơ bản mang tính chất mô hình Về múa, chúng ta thấy có những quy tắc cụ thể được kiến lập, như: đi theo hình chữ nhất (-), ngồi để chân hình chữ đinh (J) Hoặc có những

Trang 30

quy tắc có tính chất hình thức biểu đạt tính cách nhân vật như: Nhân vật thanh nữ ngồi thì hai bàn chân chồng nối nhau, gót chân này để lên đầu bàn chân kia và hai gối khép sít vào nhau; phụ nữ có thai ngồi để hở hai gối; vai nịnh thường vuốt râu bằng cách tỉa từng sợi một…

Người diễn viên tuồng sử dụng vũ đạo (múa), hệ thống nói lối bài bản, làn điệu (hát) là hai phương tiện chính để lột tả tính cách, tâm trạng của nhân vật để cho khán giả thấy được, hiểu được Người diễn viên tuồng căn cứ vào hoàn cảnh

và tính cách nhân vật mà vận dụng linh hoạt những mô hình hát, múa cho phù hợp Đặc trưng của khoa trương cách điệu còn được thể hiện trong âm nhạc, hoá trang,

sự hình thành các kiểu mặt nạ hoá trang chủ yếu là sự khoa trương cách điệu đường nét, nếp nhăn trên khuôn mặt người Quá trình khoa trương cách điệu trong tuồng đều theo luật chi phối của luật âm dương Diễn viên hoá trang thường theo một số “mẫu” chung, vai trung mặt đỏ râu dài, vai nịnh mặt rằn râu ngắn… Nam diễn viên gọi là “kép”, có kép văn, kép võ, kép rừng… Khi vào vai lão có lão văn, lão võ, lão tiều, lão chài… Nữ diễn viên gọi là “đào”, có đào chiến, đào lẳng…

Nghệ thuật tuồng, với cách hoá trang tạo diện mạo cho nhân vật, không có gì

là tả chân, mà hoàn toàn tượng trưng Người diễn viên, ngoài khả năng ca xướng,

vũ đạo, diễn xuất, còn phải biết vẽ mặt mình, khi thủ bất cứ vai nào Nhờ những gương mặt được hoá trang, khán giả biết ngay tâm lý, tính cách, giai cấp xã hội của nhân vật, khi mới vừa thấy diễn viên bước ra sân khấu Ví dụ như: Màu đỏ son hay

đỏ ngân là tượng trưng cho người anh hùng, trung trinh tiết liệt, có thể kể đến những nhân vật như Quan Công, Cao Hoài Đức, Địch Thanh… Nếu gương mặt được đánh nền là màu trắng mốc, thì đích thị là kẻ gian thần dua nịnh, chẳng hạn như Bàng Hồng, Đổng Trác, Tào Tháo… Màu đen thì lại tượng trưng cho những người chất phác, bộc trực, nóng nảy, nhưng ngay thẳng và chân thực, đó là Trương Phi, Trịnh Ân, Uất Trì Cung… Người có tuổi, kẻ bần dân như lão chài, lão tiều thì mặt cũng có màu sắc biểu trưng: màu xám dợt Tương tự, màu xanh được dùng cho khuôn mặt của những người mưu mô xảo quyệt, lũ yêu ma như Ngô Tôn Quyền, Cáp Tô Văn…

Cùng với khoa trương cách điệu, tuồng còn dùng thủ pháp biểu trưng ước lệ nghĩa là thủ pháp lấy chi tiết để thay cho toàn thể cuốn hút khán giả cùng tham gia vào sự tưởng tượng và sáng tạo của người diễn viên Không gian và thời gian được gói gọn trong những câu hát, động tác múa với những đạo cụ thô sơ… nhờ đó mà khán giả có thể tưởng tượng ra núi, sông, sáng sớm, chiều hôm, trận mạc, đi ngựa, xuống thuyền…

Khác với sân khấu hiện thực tâm lý, tuồng rất ít bài trí sân khấu, không cần đến trang trí mỹ thuật phông màn cầu kỳ Không gian sân khấu thường được bỏ trống, người diễn viên xuất hiện thì không gian, thời gian cũng xuất hiện Nhân vật hành động trong không gian, thời gian nào thì sân khấu là không gian, thời gian đó Thuở trước các gánh hát tuồng chỉ cần chỉ có một chiếc chiếu trải giữa sân đình và đôi ba cái hòm gỗ đựng đạo cụ phục trang vậy mà họ vẫn diễn tả được không gian

Ngày đăng: 27/07/2023, 07:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w