Môn Lĩnh vực : Ngữ văn Tên đề tài: Xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.. Từ những
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Số điện thoại: 0365 950 910
Nghệ An – 2023
Trang 312 1 Yêu cầu đổi mới trong giáo dục theo hướng phát triển phẩm
chất, năng lực người học
7
14 3 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực 11
18 1 Thực trạng xây dựng kế họach bài dạy Ngữ văn ở trường
THPT
15
18 2 Thực trạng xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại
Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 ở trường THPT
Phan Thúc Trực nói triêng và ở một số trường THPT trên địa
15
Trang 4bàn huyện Yên Thành, Nghệ An nói chung
20 Chương III Một số giải pháp tạo hứng thú viết kí để phát triển
phẩm chất, năng lực cho học sinh lớp 12
25 5 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng sử dụng phiếu đánh
giá phẩm chất, năng lực trong kiểm tra đánh giá học sinh
39
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/Ký hiệu Cụm từ đầy đủ
Trang 6Môn (Lĩnh vực) : Ngữ văn
Tên đề tài: Xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong
chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
mà còn là những áng văn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại
Xã hội ngày càng phát triển, chúng ta ngày càng được đi nhiều, được giao lưu tiếp xúc nhiều Với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ, đi đến đâu, làm gì…chúng
ta cũng đều ghi lại được kỉ niệm của mình Vì thế, trên mạng xã hội thường xuyên đăng tải những hình ảnh đẹp về thiên nhiên, đất nước và con người, nhất là vào các mùa du lịch và dịp lễ hội Những hình ảnh ấy nhanh chóng nhận được sự phản hồi của mọi người qua các bình luận nhưng rồi nó nhanh chóng bị chôn vùi trước sự hối hả và xô bồ của cuộc sống Vậy tại sao chúng ta không ghi chép những cảm xúc đẹp ấy thành những trang văn, trang thơ vì biết đâu đó lại là những tác phẩm
“để đời” như “Người lái đò sông Đà”của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Đây là một câu hỏi lớn, đặt ra vấn đề
phát triển phẩm chất, năng lực của con người
Con người, đặc biệt là giới trẻ hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phẩm chất, năng lực mới Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiều hoạt động đổi mới giáo dục chú trọng vào dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Đặc biệt chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã, đang và sẽ tiếp tục được triển khai thực hiện là minh chứng cho sự đổi mới một cách mạnh mẽ, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Sự đổi mới kịp thời, đúng đắn, phù hợp và tất yếu này sẽ đáp ứng được yêu cầu của xã hội Trong xu thế chung, đổi mới dạy học môn Ngữ văn càng được quan tâm chú trọng nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Dạy học theo chủ đề đã, đang
và sẽ là một mô hình dạy học hiệu quả trong việc phát huy phẩm chất, năng lực học sinh Bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát với những vấn đề gắn liền thực tiễn, việc học của học sinh thực sự có giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyện được nhiêu kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống Đó là việc
“thổi hơi thở” của cuộc sống vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng
“cuộc sống thật” trong các bài học
Trong quá trình dạy học, bản thân tôi có nhiều băn khoăn, trăn trở và nghiên cứu về kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 Đây là một chủ đề
Trang 7quan trọng trong chương trình nhưng cũng là một chủ đề khó với cả giáo viên và học sinh Trong khi đó các tài liệu hướng dẫn, tài liêu tham tham khảo chủ yếu hướng vào nội dung, kiến thức còn chưa có định hướng một cách thỏa đáng để phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Vì vậy, tôi luôn tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu, và thể nghiệm để xây dựng kế hoạch bài dạy theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Đó là làm thế nào qua bài học khơi dậy được những rung cảm của các em về thiên nhiên, đất nước và con người để từ đó mỗi học sinh có khả năng thể hiện những cảm xúc, tình cảm của mình một cách dễ dàng và hiệu quả nhất
Từ những lí do trên tôi đã đúc rút đề tài sáng kiến: Xây dựng kế hoạch bài
dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác lập kế hoạch dạy học chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình
Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
- Giúp học sinh biết cách đọc- hiểu một tác phẩm hoặc một đoạn trích kí hiện đại theo đặc trưng thể loại
- Để học sinh biết vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận để làm bài văn nghị luận về kí và viết được những bài kí có chất lượng
- Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu và niềm tự hào về thiên nhiên, quê hương đất nước, con người
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 12 trường THPT Phan Thúc Trực và một số trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Chủ đề kí hiện đại Việt Nam
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính
khả thi thì đề tài “Xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong
chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” sẽ tạo ra một hiệu ứng tốt trong dạy học Đó là vừa phát huy được phẩm
chất, năng lực của học sinh vừa làm phong phú đời sống tinh thần của con người
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận
Khảo sát, đánh giá thực trạng
Đề xuất các giải pháp
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 8- Về nội dung: Đề tài tập trung tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tạo hứng thú viết kí cho học sinh căn cứ trên những cơ sở sau:
+ Đề tài được xây dựng căn cứ theo năng lực của học sinh lớp 12 ở trường
THPT Phan Thúc Trực nói riêng và học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Yên Thành
nói chung
+ Đề tài được xây dựng căn cứ theo các tài liệu định hướng và hướng dẫn
xây dựng kế hoạch bài dạy của chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình
+ Năm học 2019 – 2020 tiến hành khảo sát thực tế ở một số trường THPT
trên địa bàn huyện Yên Thành
+ Năm học 2020 -2021 đúc rút kinh nghiệm, tìm kiếm giải pháp và hoàn thành kế hoạch bài dạy
+ Từ năm học 2021-2022 và năm học 2022 -2023 triển khai áp dụng ở Trường THPT Phan Thúc Trực và một số trường THPT ở huyện Yên Thành
6 Phương pháp nghiên cứu
1 Nghiên cứu lý thuyết dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
2 Khảo sát thực tế dạy học chủ đề kí hiện đại Việt Nam tại trường THPT Phan Thúc Trực và một số trường THPT khác ở Nghệ An
7 Những luận điểm cần bảo vệ của đề tài
7.1.Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng sức hấp dẫn của thể loại: Dạy học theo đặc trưng thể loại là yêu cầu quan trọng của môn Ngữ văn nói chung và đối với thể loại kí nói riêng Với những thể loại như thơ, truyện ngắn…học sinh đã quen thuộc, đã được biết nhiều, học nhiều còn kí là thể loại xuất hiện rất ít ỏi trong chương trình THPT (Chương trình Ngữ văn 11 có văn bản kí trung đại “Vào phủ chúa Trịnh”- trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác”, phân phối chương trình
1 tiết) Vì vậy, khi dạy học chủ đề kí Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12, giáo viên cần chú trọng vào đặc trưng thể loại để giúp học sinh nắm vững
và hiểu rõ hơn về kí Không chỉ thế, giáo viên còn là người truyền đến cho học sinh vẻ đẹp và sức hấp dẫn của kí để các em có tình yêu và khát vọng được phóng bút thể nghiệm Từ hiểu được đặc trưng của thể loại thì các em sẽ dễ dàng hơn trong việc cảm nhận và khám phá tác phẩm Và quan trọng hơn, học sinh sẽ viết được những bài kí có chất lượng
7.2 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng niềm vui của hoạt động trải nghiệm: Hoạt động trải nghiệm sẽ tạo cơ hội cho học sinh huy động, tổng hợp kiến
Trang 9thức, kỹ năng của các môn học, các lĩnh vực giáo dục khác nhau để có thể trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội Đồng thời giúp các em có
cơ hội để tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp Đây là hoạt động mang lại nhiều niềm vui và sự háo hức cho học sinh Đối với dạy học về chủ đề kí, hoạt động trải nghiệm càng cần thiết để phát triển phảm chất, năng lực học sinh Tuy nhiên, tất cả các hoạt động này phải sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục
7.3.Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng sự kì diệu của công nghệ thông tin:Xã hội ngày càng phát, đời sống con người ngày càng cao Phương tiện hiện đại phục vụ và hỗ trợ chúng ta hầu như mọi lúc mọi nơi Trong hoạt dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần to lớn trong việc phát huy phẩm chất, năng lực học sinh và nâng cao chất lượng dạy học Khi dạy học chủ đề kí Việt Nam hiện đại, công nghệ thông tin sẽ
hỗ trợ giáo viên và học sinh trong việc khám phá tác phẩm cũng như sáng tạo tác phẩm Bởi vì, sông Đà và sông Hương là những nơi khá xa xôi, chúng ta rất ít người (kể cả giáo viên) có cơ hội trải nghiệm thực tế Trong điều kiện, hoàn cảnh
ấy thì chính công nghệ thông tin sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sinh động hơn về đối tượng phản ánh của các bài kí Hay trong những trải nghiệm thực tế, chính những phương tiện hiện đại của công nghệ thông tin sẽ giúp ghi lại những hình ảnh, những khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người để khi cần thiết sử dụng trong viết kí chúng ta có thể chiêm ngưỡng lại
7.4 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng giá trị của dạy học dự án: Do
thời lượng chương trình hạn hẹp nên không thể đủ thời gian để giáo viên và học sinh tổ chức một cách thoải mái các hoạt động dạy học trên lớp được Vì vậy dạy học dự án là phương pháp tối ưu nhất Dự án mà giáo viên thiết kế cho học sinh ở
chủ đề kí hiện đại Việt Nam là:
+ Thuyết trình về nội dung và nghệ thuật của một bài kí hiện đại Việt Nam + Viết bài kí về một danh thắng ở địa phương em
Những dự án này sẽ khá khó khăn vất vả nhưng với những năng lực sẵn có kết hợp với những hoạt động trải nghiệm thú vị và sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin thì chắc chắn học sinh lớp 12 sẽ thực hiện tốt Đây là cơ hội cho các em
tự tìm hiểu, tự khám phá để giải quyết vấn đề và sáng tạo nên những tác phẩm của chính mình Như vậy, giá trị to lớn mà dạy học dự án mang lại chính là phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
8 Điểm mới của đề tài
Trên cơ sở những căn cứ xây dựng kết hợp với quan điểm kế thừa, học tập các
kế hoạch bài dạy đã có, đề tài này cố gắng phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế đối với đối tượng học sinh của mình để vận dụng linh hoạt, hiệu
quả Với quan điểm đó, đề tài “Xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng
lực học sinh” có một số điểm mới như sau:
Trang 108.1 Đề tài đã xây dựng được một chủ đề dạy học khoa học
Cách dạy học theo từng bài riêng lẻ hoặc chủ đề quá nhỏ hẹp với một thời lượng cố định của các kế hoạch bài dạy đã có của chủ đề kí Việt Nam hiện đạt thì
sẽ không phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh Vì vậy đề tài “Xây dựng
kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” đã xây dựng một chủ đề dạy
học rộng lớn hơn, khoa học và phù hợp hơn để phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh với thời lượng 8 tiết gồm 4 bài :
+ Bài “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân
+ Bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
+ Bài “Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận”
+ Bài “Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận”
8.2 Đề tài chú trọng phát triển năng lực viết kí cho học sinh
- Trong cấu trúc đề thi của lớp 12 hiện nay, câu 2 của phần II (Phần làm văn) là phân tích, cảm nhận một đoạn văn bản hoặc một vấn đề của đoạn văn bản trong tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn 12 Như vậy khi đề ra về kí hiện đại Việt
Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (bài “Người lái đò sông Đà”- Nguyễn Tuân
và bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông”- Hoàng Phủ Ngọc Tường) cũng sẽ là phân
tích, cảm nhận một đoạn văn hoặc một vấn đề trong đoạn văn của tác phẩm Vì vậy trong quá trình dạy – học giáo viên cần phát triển năng lực viết văn nghị luận cho học sinh
- Không chỉ trong kiểm tra thi cử, trong thực tế cuộc sống có biết bao điều chúng ta phải viết Đứng trước một danh thắng kì vĩ, một công trình kiến tạo tuyệt tác hay một vẻ đẹp tuyệt mỹ của con người…chúng ta không thể không rung động Nhưng điều quan trọng là làm cách nào để lan truyền những cảm xúc ấy đến với mọi người để nhân lên tình yêu, niềm tự hào Vì vậy phải viết, viết những trang văn, trang thơ lấp lánh Do đó cần phải học tập cách viết từ Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhiều nhà văn, nhà thơ khác nữa Đề tài này sẽ đưa ra các giải pháp tạo hứng thú viết kí cho học sinh để các em biết vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận làm bài văn nghị luận về chủ đề kí và viết các bài kí đạt hiệu quả cao
8.3 Đề tài xây dựng phiếu đánh giá phẩm chất năng lực trong kiểm tra đánh giá học sinh
- Trong quá trình giảng dạy, dường như do quá chú trọng vào kiến thức bài học nên việc đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh chưa có tiêu chí rõ ràng mà còn qua loa, sơ sài Sau khi học sinh trả lời câu hỏi hoặc trình bày sản phẩm giáo
viên thường đưa ra các câu hỏi: Ai làm tốt hơn? Nhóm nào đạt điểm cao hơn? Em bình chọn cho đội nào? Và hình thức trả lời cho những câu hỏi ấy có thể bằng cách
cho điểm, có thể bằng nhận xét miệng hay bằng giơ tay đếm số cuối Cách đánh
Trang 11giá như thế còn cảm tính chung chung qua cảm nhận chủ quan, thiếu căn cứ và cơ
sở khoa học Chính điều đó đã đánh mất đi hứng thú và cơ hội phát triển năng lực đánh giá của học sinh Và kéo theo đó là một loạt các năng lực khác cũng bị hạn chế phát triển Bởi vì đánh giá và tự đánh giá luôn đi với nhau Mỗi lần đánh giá cũng là mỗi lần được nhìn nhận lại chính mình Khi biết đánh giá chính xác đối tượng là khi năng lực của người đánh giá đã phát triển rất tốt.Và phát triển được năng lực toàn diện của người học là mục đích hướng tới của dạy học ngày nay
- Đề tài này sẽ xây dựng phiếu đánh giá phẩm chất năng lực học sinh với những tiêu chí khoa học, rõ ràng để sử dụng trong kiểm tra đánh giá nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Như vậy, mục đích của đề tài “Xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” là xây dựng chủ đề dạy học phù hợp để phát huy và phát triển
được phẩm chất, của học sinh Đó năng lực giải quyết vấn đề (viết được những bài văn phân tích về đoạn văn của văn bản trong các đề kiểm tra thi cử đạt kết quả cao)
và phát triển được năng lực sáng tạo (viết được những đoạn văn, bài văn như tùy bút, bút kí, hồi kí…hấp dẫn) Khi các năng lực cốt lõi của học sinh được phát huy
và phát triển thì những phẩm chất tốt đẹp trong các em cũng được khơi gơi, sống dậy và phát triển mạnh mẽ Đó chính là mục đích mà đổi mới giáo dục đang hướng đến
Đề tài này là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được cá nhân, tập thể và công trình giáo dục nào công bố Đề tài được tổ chuyên môn đánh giá cao và hội đồng khoa học cấp trường ghi nhận, đề xuất xét sáng kiến dạy học cấp Nghành năm học 2022-2023
Trang 12PHẦN II NỘI DUNG Chương I Cơ sở lí luận của đề tài
1 Yêu cầu đổi mới trong giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng
11 năm 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Và ngày 27 tháng 3 năm
2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề
án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.”
Triển khai Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Công văn số 5555/BGĐT-GDTH ngày 8/10/2014 của Bộ giáo dục và đào tạo đã hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ Trung tâm GDTX qua mạng Đồng thời nhiều tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực học sinh môn Ngữ văn THPT (2014) Bộ Giáo dục Đào tạo đã được triển khai đến các địa phương và đến với giáo viên
Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn THPT (ban hành kèm theo) Thông tư số 32/2018/TT-BGD ĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ghi rõ: Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân
để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới
Gần đây nhất, Công văn số 5512/BGĐT ngày 18/12/2021 của Bộ giáo dục Đào tạo đã hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Trong đó có hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch bài dạy đối với giáo viên
Trang 13Sở giáo dục đào tạo Nghệ An đã có nhiều văn bản Hướng dẫn nhiệm vụ Giáo dục Trung học từ các năm 2017 đến 2021 đều nhấn mạnh nội dung, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trên đây là những văn bản định hướng, hướng dẫn cho giáo viên nắm được yêu cầu đổi mới dạy học Đồng thời, giúp giáo viên hiểu được: để đổi mới dạy học một trong những khâu cần người giáo viên thực hiện một cách nghiêm túc đó là xây dựng kế hoạch bài dạy Xây dựng kế hoạch dạy học cẩn thận, tốt sẽ giúp cho tiết dạy đạt hiệu quả cao và đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh
2 Kế hoạch bài dạy
Modun 4 chương trình tập huấn bồi dưỡng giáo viên phổ thông và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông, ở nội dung 4: “xây dựng kế hoạch bài dạy” đã chỉ rõ:
2.1 Quan niệm về kế hoạch bài dạy
- Kế hoạch bài dạy là kịch bản lên lớp của giáo viên với đối tượng học sinh
và nội dung cụ thể trong một thời gian, không gian nhất định trong đó thể hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, thiết bị dạy học và học liệu, những hoạt động cụ thể của giáo viên và học sinh, cách thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với yêu cầu cần
đạt về năng lực, phẩm chất tương ứng trong chương trình môn học
- Xây dựng kế hoạch bài dạy thuộc giai đoạn chuẩn bị lên lớp và có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự thành công của bài dạy
2.2 Vai trò của kế hoạch bài dạy
- Kế hoạch bài dạy giúp thiết lập môi trường dạy học phù hợp thông qua việc xác định và quyết định trước mục tiêu bài dạy, các chiến lược giảng dạy, phương pháp, kĩ thuật dạy học và các phương tiện hỗ trợ để các nhiệm vụ được diễn ra theo kế hoạch nên đảm bảo cho các mục tiêu đề ra được thực hiện có hiệu
quả
- Kế hoạch bài dạy giúp định hướng tâm lí giảng dạy của giáo viên Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, những yếu tố liên quan đến học sinh như sở thích, năng khiếu, nhu cầu và năng lực của học sinh được giáo viên lưu ý cân nhắc Với kế hoạch được chuẩn bị trước thì giáo viên hình dung rõ ràng sự liên hệ giữa đặc trưng học sinh và nội dung bài dạy nên giáo viên sẽ tự tin hơn trong tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh
- Kế hoạch bài dạy giúp giới hạn được các yếu tố liên quan đến chủ đề giảng dạy thông qua việc lựa chọn những vấn đề liên quan đến bài học một cách rõ ràng,
có giới hạn để tổ chức các hoạt động phù hợp
- Kế hoạch bài dạy sử dụng hiệu quả kiến thức đã có của học sinh Khi sử dụng kế hoạch bài dạy, giáo viên sẽ phát triển kiến thức mới trên cơ sở những kiến thức đã có của học sinh nên học sinh sẽ thuận lợi trong việc tiếp nhận kiến thức mới để phát triển năng lực bản thân Kế hoạch bài dạy cũng giúp giáo viên tạo sự
Trang 14kết nối hợp lí, giữa kế hoạch bài dạy này với kế hoạch bài dạy khác về nội dung, phương pháp, cách thức đánh giá nhằm tạo sự kết nối liên tục giữa các bài học để đạt được mục đích của toàn bộ chương trình
- Kế hoạch bài dạy còn giúp phát triển các kĩ năng dạy học của giáo viên Khi xây dựng kế hoạch bài dạy giáo viên phải định hướng các vấn đề liên quan đến hoạt động dạy học như xác định mục tiêu, thiết kế các hoạt động học tập từ đó xác định được cách thức hoạt động và tương tác với học sinh trên lớp học Thông qua việc chuẩn bị cho những điều đó và qua cac bài dạy thì giáo viên sẽ phát triển kĩ năng dạy học
- Kế hoạch bài dạy giúp giáo viên sử dụng hiệu quả thời gian trên lớp học Khi xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên sẽ cân đối thời gian cho các hoạt động
và hướng đến nâng cao hiệu quả giảng dạy Giáo viên sẽ nhận thức được điều gì, khi nào và mức độ của các nhiệm vụ được thực hiện trên lớp học để đưa học sinh
hướng vào các nhiệm vụ một cách liên tục phù hợp
2.3 Yêu cầu của kế hoạch bài dạy
- Kế hoạch bài dạy phải được chuẩn bị cẩn thận nhưng linh hoạt, có thể thay đổi như một sự phát triển của bài dạy phù hợp với đối tượng học sinh khác nhau
Vì vậy giáo viên phải nghiên cứu kĩ đối tượng học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường, dự kiến các tình huống xảy ra và cách xử lý phù hợp
- Kế hoạch bài dạy phải đảm bảo sự phù hợp của chuỗi hoạt động Kế hoạch bài dạy được tổ chức theo chuỗi hoạt động phù hợp từ khởi động, hình thành kiến thức mới, luyện tập đến vận dụng cần phù hợp với mục tiêu, nội dung của bài dạy
đã được xác định Giáo viên cần xác định kết hợp các thiết bị dạy học, học liệu, các phương tiện đánh giá ở mỗi hoạt động
- Kế hoạch bài dạy phải bám sát các phương pháp và kĩ thuật dạy học Khi xây dựng các hoạt động, giáo viên cần triển khai các bước thực hiện bám sát các cách thức thực hiện của các phương pháp và các kĩ thuật dạy học Điều này đảm bảo các hoạt động sẽ được triển khai khoa học, rõ ràng, phù hợp các phương pháp
để đi từ triển khai đến kết luận một cách hiệu quả và lôgic
- Kế hoạch bài dạy phải đảm bảo sự tham gia tích cực của học sinh Cần thiết kế các hoạt động dạy học theo hướng sử dụng các phương pháp tích cực, chú trọng hoạt động học của học sinh Giáo viên cần đưa ra các nhiệm vụ cho học sinh một cách phù hợp phù hợp
- Kế hoạch bài dạy phải tránh sự đơn điệu Giáo viên không cần thiết sử dụng quá nhiều phương pháp nhưng cũng không nên sử dụng chỉ một phương pháp cho một bài học hoặc từ bài này sang bài khác Nên kết hợp nhiều phương pháp trong một hoạt động để đa dạng trong sản phẩm của học sinh
2.4 Cấu trúc kế hoạch bài dạy
- Thực ra không có và cũng không nên qui định cứng nhắc về mẫu kế hoạch bài dạy Tùy theo bối cảnh dạy học, giáo viên cần chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong việc thiết kế, tổ chức hướng dẫn học sinh học tập môn Ngữ văn Tuy nhiên
Trang 15để đảm bảo dạy học phát triển năng lực học sinh, khi xây dựng kế hoạch dạy học môn Ngữ văn cần lưu ý:
+ Kế hoạch bài dạy phải hướng đến cụ thể hóa mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực, đến các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh giá các mục tiêu đã đặt ra
+ Kế hoạc bài dạy ưu tiên sử dụng các hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
+ Cần xác định rõ các hoạt động của học sinh
- Mẫu kế hoạch bài dạy thao khảo:
Trường… Họ và tên giáo viên
II THIẾT BỊ DẠY HỌC/HỌC LIỆU
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Tên hoạt động ( Thời gian dự kiến)
1 Mục tiêu: Cụ thể hóa mục tiêu về PC và NL
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
IV PHỤ LỤC
V RÚT KING NGHIỆM BÀI HỌC
2.5 Cách thức xây dựng kế hoạch bài dạy
- Bước 1: Xác định mục tiêu kế hoạch bài dạy
- Bước 2: Xác định chuỗi hoạt động học của kế hoạch bài dạy
- Bước 3: Xây dựng các hoạt động cụ thể
- Bước 4: Hoàn thiện kế hoạch bài dạy
Trang 162.6 Phân tích đánh giá kế hoạch bài dạy
- Tiêu chí 1: Mức độ phù hợp của các hoạt động học với mục tiêu, nội dung
và phương pháp dạy học được sử dụng
- Tiêu chí 2: Mức độ rõ ràng của mục tiêu, nội dung, kĩ thuật tổ chwcsvaf sản phẩm cần đạt được của mỗi nhiệm vụ
- Tiêu chí 3: Mức độ phù hợp của thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng
để tổ chức các hoạt động học của học sinh
- Tiêu chí 4: Mức độ hợp lí của phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình
tổ chức hoạt động học của học sinh
Tóm lại, bất kì hoạt động học tập nào cũng phải bảo đảm rõ về mục tiêu, nội dung và sản phẩm hoạt động mà người học phải hoàn thành Vì vậy, khi xây dựng
kế hoạch bài dạy giáo viên phải "hình dung" rõ về "kịch bản" để tổ chức dạy học, trong đó các "Câu hỏi/Lệnh" giao cho học sinh khai thác ngữ liệu, hình ảnh trong sách giáo khoa, học liệu hoặc sử dụng thiết bị dạy học phải rõ ràng, cụ thể
3 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực
3.1 Khái niệm:
- Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con
người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu của học sinh THPT: yêu nước, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
- Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện
một hoạt động nào đó Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc
điểm của môn học đó tạo nên
+ Yêu cầu cần đạt về năng lực chung của học sinh: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
+ Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Ngữ văn ở cấp trung học
phổ thông: năng lực ngôn ngữ , năng lực văn học
3.2 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực: là phương pháp tích tụ dần
dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì để hiểu các văn bản và tạo lập các văn bản
+ Không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập
Trang 17những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
+ Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học)
4 Dạy học theo chủ đề
4.1 Khái niệm: Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc trong các học phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp
từ những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung bài học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn
4.2 So sánh dạy học theo chủ đề và dạy học theo từng bài, tiết ở SGK
Dạy học theo cách tiếp cận
truyền thống hiện nay
Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ
có mối liên hệ tuyến tính (một chiều
theo thiết kế chương trình học)
Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau
Kết thúc một chương học, học sinh
không có một tổng thể kiến thức mới
mà có kiến thức từng phần riêng biệt
Kết thúc một chủ đề học sinh có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong sách
Trang 18hoặc có hệ thống kiến thức liên hệ
tuyến tính theo trật tự các bài học
giáo khoa
Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà
người học đang sống do sự chậm cập
nhật của nội dung sách giáo khoa
Kiến thức gần gũi với thức tiễn mà học sinh đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề
Kiến thức thu được sau khi học
Không thể hướng tới nhiều mục tiêu
nhân văn quan trọng như: rèn luyện
các kĩ năng sống và làm việc: giao
tiếp, hợp tác, quản lý, điều hành, ra
quyết định…
Có thề hướng tới, bồi dưỡng các kĩ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác
Hiện nay, thay cho việc dạy học được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, đã lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp để phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
5 Khái quát về thể kí
5.1 Khái niệm
- Theo những nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học, kí là thể loại văn
học có đặc điểm “tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu” và
“Nhà văn viết kí luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống
được phản ánh trong tác phẩm” [20, tr 137]
- Còn các tác giả của “Từ điển tiếng Việt” thì cho rằng, kí là loại “thể văn tự
sự có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất”[48, tr 501]
Có thể nói, đây là những khái quát rất cụ thể về đặc trưng cơ bản của thể loại này
5.2 Kí văn học
- Là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào hiện thực đời sống Đó là những sáng tác văn học theo sát các vấn đề thời sự nóng hổi mang ý nghĩa xã hội rộng lớn Mặt khác, kí văn học còn là sự biểu hiện của những giá trị nhân sinh, là thông tin về sự thực của những quan niệm, tư tưởng Nội dung đặc thù của kí đã chứa đựng trong bản thân nó cơ sở để “thông tin sự thực” chuyển thành “thông tin thẩm mĩ” và những dòng chữ ghi việc có thể phát triển thành tác phẩm văn chương
Trang 19- Ngôn từ trong tác phẩm kí chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả - người chứng kiến và tái hiện các hiện tượng đời sống Đồng thời, tác giả luôn là người đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ của các nhân vật khác
So với ngôn từ nghệ thuật của các thể loại khác, ngôn từ nghệ thuật của kí luôn có
xu hướng mở rộng, thừa nhận, dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí thường rất linh hoạt về giọng điệu Kí thường không chỉ trần thuật, mà cùng với trần thuật là phân tích, khái quát ý nghĩa của các hiện tượng đời sống được đề cập, phản ánh trong tác phẩm Trước hết, ngôn từ nghệ thuật của kí hướng vào miêu tả phong tục qua những đặc điểm môi trường hoặc những nét tính cách tiêu biểu của cuộc sống Vì thế nó vừa cụ thể, sinh động, đậm chất đời thường, vừa khái quát Đặc điểm phổ biến này của các tiểu loại
kí thường biểu hiện rõ nhất ở phóng sự, kí sự
- Do hướng tới những phạm vi thông tin và nhận thức, kí cũng đa dạng về kiểu loại và kết cấu Các thể và biến thể của kí hình thành một cách tự nhiên trong quá trình vận động của lịch sử văn học Theo đó, người ta chia kí thành hai nhóm lớn Nhóm thứ nhất thiên về tự sự gồm các thể chính như kí sự, phóng sự, nhật kí Nhóm thứ hai nghiêng về trữ tình với các thể chính như: tùy bút, bút kí, tản văn Như vậy, có rất nhiều công văn, nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về việc xây dựng kế hoạch bài dạy Điểm chung của các văn bản trên là hướng đến dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Đó là những cơ sở lí
luận chính xác, khoa học, vững chắc và thuyết phục để xây dựng đề tài: Xây dựng
kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Trang 20Chương II Cơ sở thực tiễn của đề tài
1 Thực trạng xây dựng kế họach bài dạy Ngữ văn ở trường THPT
Từ khi có công văn 5555 ngày 08/10/2014 của Bộ GDDT và nhất là từ khi ban hành công văn 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Bộ GDĐT thì giáo viên chúng ta khá băn khoăn lo lắng và luôn tìm tòi thể nghiệm để xây dựng kế hoạch bài dạy theo đúng yêu cầu Cho đến nay, “công cuộc” xây dựng
kế hoạch bài dạy theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh vẫn đang
là khó khăn lớn của giáo viên Vì đã quá quen thuộc với cách xây dựng kế hoạch bài dạy truyền thống nên việc chuyển sang thực hiện theo mô hình mới còn nhiều
bỡ ngỡ, ngập ngừng Giáo viên THPT vẫn đang trong quá trình làm quen, tìm tòi, thể nghiệm nên thật sự chưa có nhiều kế hoạch bài dạy phù hợp Thế nhưng, năm học 2022-2023, chương trình giáo dục phổ thông mới được thực hiện ở lớp 10 THPT thì bắt buộc chúng ta phải thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch bài dạy theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Vì vậy, hơn bao giờ hết, việc xây dựng kế họach bài dạy phù hợp rất đáng được quan tâm
2 Thực trạng xây dựng kế hoạch bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 ở trường THPT Phan Thúc Trực nói triêng và ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành, Nghệ An nói chung
2.1 Một số khảo sát:
- Về chương trình và sách giáo khoa: Chương trình dạy học hiện hành của
Bộ giáo dục và đào tạo, của Sở giáo dục và đào tạo Nghệ An và của tổ Ngữ văn trường THPT Phan Thúc Trực, các bài kí hiện đại Việt Nam được sắp xếp ở cuối học kì 1, Ngữ văn 12 với thời lượng ít ỏi:
+ Bài “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân trang 185, SGK Ngữ văn
12, tập 1, NXBGDVN phân phối 3 tiết (tiết 56,57,58)
+ Bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường trang
197, SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXBGDVN phân phối 2 tiết (60,61)
- Về sách giáo viên và một số tài liệu tham khảo khác :
+ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, tập 1, NXB Đại học quốc gia Hà Nội + Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn chương qua hệ thống phiếu học tập lớp 12, tập 1, NXB ĐHSP, năm 2019
+ Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông – những con đường khám phá, tập 3, Nhà xuất bản giáo dục
Các tài liệu đang định hướng một cách mờ nhạt và chung chung và nặng về truyền tải kiến thức
- Về cấu trúc của đề thi tốt nghiệp: Trong cấu trúc đề thi của lớp 12 hiện
nay, câu 2 của phần II (Phần làm văn) yêu cầu phân tích, cảm nhận một đoạn văn bản hoặc một vấn đề của đoạn văn bản trong tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ
văn 12 Như vậy các bài kí hiện đại Việt Nam (bài “Người lái đò sông Đà”- Nguyễn Tuân và bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông”- Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Trang 21cũng nằm trong phạm vi của đề thi, cũng sẽ là phân tích, cảm nhận một đoạn văn
hoặc một vấn đề trong đoạn văn của tác phẩm
- Về thực tế cuộc sống: Xã hội ngày càng phát triển, chúng ta ngày càng
được đi nhiều, được giao lưu tiếp xúc nhiều Với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ,
đi đến đâu, làm gì…chúng ta cũng đều ghi lại được hình ảnh và kỉ niệm của mình
Vì thế, trên mạng xã hội thường xuyên đăng tải những hình ảnh đẹp về thiên nhiên, đất nước và con người, nhất là vào các mùa du lịch và dịp lễ hội Những hình ảnh
ấy nhanh chóng nhận được sự phản hồi của mọi người qua các bình luận nhưng rồi
nó nhanh chóng bị chôn vùi trước sự hối hả và xô bồ của cuộc sống Vậy tại sao chúng ta không ghi chép những cảm xúc đẹp ấy thành những trang văn, trang thơ
vì biết đâu đó lại là những tác phẩm “để đời” như “Người lái đò sông Đà”của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường?
Đây là một câu hỏi lớn, đặt ra vấn đề phát triển phẩm chất, năng lực của con người
2.2 Thực tế xây dựng kế hoạch bài dạy :
- Trong quá trình dạy học, giáo viên chúng ta đã cố gắng tìm tòi, đổi mới phương pháp để xây dựng một kế hoạch bài dạy phù hợp nhằm phát huy phẩm chất, năng lực của học sinh Thế nhưng, tôi nhận thấy thực tế xây dựng kế hoạch
bài dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam hiện nay thường là:
+ Tách riêng từng bài
+ Theo chủ đề thì cũng chỉ có 2 bài: “Người lái đò sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
- Cách xây dựng kế hoạch bài dạy như thế sẽ tồn tại một số vấn đề:
2.2.1 Hạn chế về thời gian: Kí là chủ đề mới và khó đối với cả giáo viên và
học sinh Dung lượng bài học khá lớn, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực cao
nhưng chỉ với 5 tiết học trên lớp thì không thể đáp ứng được yêu cầu của bài học
2.2.2 Nặng về truyền tải kiến thức: Trong kế hoạch bài học đang tập trung
khám phá hình tượng, đối tượng phản ánh mà chưa chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
2.2.3 Chú trọng hình thức: kế hoạch bài dạy đã sử dụng kết hợp các
phương pháp và kỉ thuật dạy học để tổ chức các hoạt động cho học sinh như thảo luận nhóm, phiếu học tập nhưng còn mang tính hình thức chứ chưa thật sự mang lại hiệu quả trong việc phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
2.2.4 Chưa bám sát vào cấu trúc đề thi: Trong cấu trúc đề thi môn Ngữ văn
của lớp 12 hiện nay, câu 2 của phần II (Phần làm văn) yêu cầu phân tích, cảm nhận một đoạn văn bản hoặc một vấn đề của đoạn văn bản trong tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn 12 Như vậy khi đề ra về chủ đề kí cũng sẽ là phân tích, cảm nhận một đoạn văn hoặc một vấn đề trong đoạn văn của tác phẩm Thế nhưng trong kế hoạch bài dạy chưa có hoạt động tổ chức cho học sinh thực hiện và rèn luyện với cấu trúc đề thi Do đó học sinh sẽ rất khó khăn trong việc làm bài thi
2.2.5 Chưa chú trọng rèn luyện và phát triển năng lực viết kí cho học sinh:
Không chỉ trong kiểm tra thi cử, trong thực tế cuộc sống có biết bao điều chúng ta
Trang 22phải viết Đứng trước một danh thắng kì vĩ, một công trình kiến tạo tuyệt tác hay một vẻ đẹp tuyệt mỹ của con người…chúng ta không thể không rung động Nhưng điều quan trọng là làm cách nào để lan truyền những cảm xúc ấy đến với mọi người để nhân lên tình yêu, niềm tự hào Qua các bài học, học sinh cần phải học tập cách viết từ Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhiều nhà văn, nhà thơ khác nữa để viết những trang văn, trang thơ lấp lánh, những bài kí (bút kí, hồi kí, nhật kí, ) hấp dẫn, lôi cuốn lòng người Thế nhưng các kế hoạch bài học về kí chưa chú trọng rèn luyện và phát triển năng lực viết kí cho học sinh
2.2.6 Chưa xây dựng được tiêu chí kiểm tra đánh giá phù hợp: Trong quá trình
dạy học chúng ta đặt ra rất nhiều yêu cầu đối với học sinh Sau khi học sinh thực hiện yêu cầu, nếu giáo viên có cách đánh giá khoa học, chính xác thì học sinh sẽ hứng thú và biết nhận ra được ưu điểm, nhược điểm của mình để có hướng khắc phục và phát huy Thế nhưng, trong kế hoạch bài dạy các bài kí cũng như trong
thực tế dạy học bài “Người lái đò sông Đà”của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường chưa xây dựng được tiêu chí kiểm
tra đánh giá phù hợp Giáo viên thường đánh giá bằng nhận xét, bằng cho điểm Đó mới chỉ là sự đánh giá chung chung, cảm tính và học sinh khó rút ra được kinh nghiệm cho bản Thậm chí, nếu không có tiêu chí đánh giá khoa học, học sinh sẽ
có tâm lý hoang mang, không thuyết phục Chính điều này sẽ làm mất đi hứng thú của các em đối với môn học
Những hạn chế trên của kế hoạch xây dựng bài dạy “Người lái đò sông Đà”của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã để lại những hậu quả đáng tiếc Học sinh không còn hứng thú với bài
học, môn học, không phát huy và phát triển được những phẩm chất, năng lực cần thiết Điều đó được biểu hiện qua bảng khảo sát sau:
Bảng 1: Bảng khảo sát mức độ hứng thú với các tác phẩm kí (bài “Người lái đò
sông Đà” - Nguyễn Tuân và bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” - Hoàng Phủ
Ngọc Tường) của học sinh một số lớp 12 năm học 2021 -2022
Trang 23Bảng 2: Bảng khảo sát chất lượng của học sinh một số lớp 12 năm học 2021-2022
có kiến thức và quan trọng hơn nữa là không có năng lực để viết bài văn nghị luận
về kí trong các đề kiểm tra Và một khi đã như vậy thì năng lực sáng tạo một bài kí
là quá xa vời Đứng trước thực tế đó, giáo viên chúng ta cần phải có các giải pháp
cụ thể để khơi gợi hứng thú của học sinh về kí Đối với việc rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận về kí nói riêng trong các đề kiểm tra, thi
cử, đã có nhiều sáng kiến đề cập Ở đề tài này, tôi xin đưa ra một số giải pháp tạo hứng thú viết kí để từ đó phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh lớp 12
Trang 24
Chương III Một số giải pháp tạo hứng thú viết kí để phát triển phẩm chất,
năng lực cho học sinh lớp 12
1 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng sức hấp dẫn của thể loại
Dạy học theo đặc trưng thể loại là yêu cầu quan trọng của môn Ngữ văn nói chung và đối với thể loại kí nói riêng Với những thể loại như thơ, truyện ngắn…học sinh đã quen thuộc, đã được biết nhiều, học nhiều còn kí là thể loại xuất hiện rất ít ỏi trong chương trình THPT (Chương trình Ngữ văn 11 có văn bản kí trung đại “Vào phủ chúa Trịnh”- trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác”, phân phối chương trình 1 tiết) Vì vậy, khi dạy học chủ đề kí Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12, giáo viên cần chú trọng vào đặc trưng thể loại để giúp học sinh nắm vững và hiểu rõ hơn về kí Sau đó giáo viên giúp học sinh tìm
hiểu về tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường để minh họa sinh động về thể loại
1 1 Khái quát về kí
- Khái niệm: Kí là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như hồi kí, bút kí, du kí, nhật kí, tùy bút…”( Theo từ điển Thuật ngữ văn học)
- Đặc điểm: Kí tôn trọng sự thật khách quan, nhà văn viết kí phải đảm bảo được tính xác thực của đời sống Bên cạch đó, trong sáng tạo nghệ cần hư cấu, từ truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài đến kịch thơ ca và ngay cả kí cũng thế Tuy nhiên hư cấu trong kí phải đảm bảo tính chân thực trong cách thể hiện
- Đặc trưng của kí:
+ Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, đòi hỏi sự trung thực, chính xác Người viết kí thường quan tâm, tôn trọng những sự kiện xã hội, lịch sử, những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong đời sống Người viết kí miêu tả thực tại tinh thần của sử học Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành, có thời gian, địa điểm, hành động và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh gợi không khí
+ Tác giả kí khéo léo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tư tưởng, cảm thụ, nhận xét, đánh giá Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện suy tưởng nhận xét chân thực, tường minh của nhà văn trước sự việc Cái thú
vị của kí là những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện đối tượng Vì vậy sức hấp dẫn của kí là khả năng tái hiện sự thật một cách sinh độngcủa tác giả Kí chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những liên tưởng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc sống Điều đó làm nên cái đẹp của tác phẩm kí
Trang 25+ Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là chất chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả Cho nên sức hấp dẫn cuả kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi ấy ( thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo)
1.2 Sự khác biệt giữa tuỳ bút và bút kí:
+ Nét nổi bật của tuỳ bút là tính chủ quan, chất trữ tình đậm Nhân vạt chính
là cái tôi của nhà văn Qua ghi chép những con người và sự kiện cụ thể, có thực nhà văn chú trọng bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại
+ Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào
+ Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Tây Bắc giai đoạn kiến thiết, xây dựng
Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong kí “Người lái đò sông Đà”
+ Vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa, lịch sử Huế trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
– Chủ đề: Qua phản ánh sự thật đời sống để bộc lộ những cảm xúc, cảm
nghĩ, suy tư của cái tôi trữ tình về hiện thực khách quan
+ “Người lái đò sông Đà”: qua hình tượng dòng sông và người lái đò nhà
văn tìm kiếm, khẳng định ngợi ca chất vàng thiên nhiên và “thứ vàng 10” trong tâm hồn người lao động Tây Bắc trong ở đại mới
+ “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”: qua hình tượng sông Hương nhà văn
khẳng định, tự hào, tôn vinh giá trị văn hóa, lịch sử Huế đồng thời thể hiện tình yêu da diết với quê hương
1.3.2 Về nghệ thuật:
– Kết cấu: Tổ chức sắp xếp sự việc, hình ảnh, nhân vật theo liên tưởng,
tưởng tượng phóng túng đa chiều không bị ràng buộc bởi những quy phạm chặt chẽ Vì thế kết cấu kí có sự đan cài giữa mạch tự sự và mạch suy tư, suy tưởng, cảm xúc
Trang 26+ “Người lái đò sông Đà” kể về con sông Đà và cuộc chiến đấu của người
lái đò với sông Đà nhưng nhà văn kể theo những liên tưởng phóng túng của một cái tôi tài hoa uyên bác
+ “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”: đan xen giữa những miêu tả, liên tưởng
về hành trình và vẻ đẹp sông Hương là những câu chuyện vừa có thật vừa nhuốm màu huyền thoại
– Ngôn ngữ:
+ Giàu hình ảnh, giàu liên tưởng tưởng tượng; Mang đậm tính chủ thể, gắn
liền với cá tính sáng tạo của tác giả
+ Vận dụng rất nhiều biện pháp tu từ, đặc biệt biện pháp so sánh, nhân hóa được phát huy hết công suất, hiệu quả của chúng
– Giọng điệu: Đa thanh, linh hoạt: giọng trần thuật, giọng phân tích, giọng
trữ tình, giọng suy tưởng…nhưng phải mang dấu ấn riêng của nghệ sĩ
1.3.3 Điểm gặp gỡ:
– Đều bộc lộ cái tôi tài hoa uyên bác với cái nhìn về thiên nhiên và sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ, có một vốn tri thức lịch lãm (tuy nhiên biểu hiện cụ thể của sự tài hoa uyên bác lại khác nhau)
– Đều có ngôn ngữ giàu trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú
→ Nét gặp gỡ làm nên đặc trưng phong cách thể loại kí
1.3.4 Nét độc đáo riêng:
Nét riêng về cái nhìn, khám phá cuộc sống:
+ Nguyễn Tuân nghiêng về miêu tả, phát hiện cái đẹp va đập mạnh vào giác quan,
nghĩa là phải khác thường, đầy cá tính, hoặc đẹp tuyệt vời hoặc dữ dội, gây ấn tượng đậm nét (Con sông Đà đẹp trong cái hung bạo dữ dội, trữ tình; Người lái đò bình dị nhưng đầy chất tài hoa, nghệ sĩ – anh hùng, dũng cảm)
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường nghiêng về khám phá cái đẹp hướng nội (nghĩa là
Hoàng Phủ Ngọc Tường có xu hướng khám phá chiều sâu của đối tượng với những nghiền ngẫm, suy tư lắng sâu, đằm thắm)
Nét riêng về cách xử lí chủ đề (sáng tạo nội dung):
+ Nguyễn Tuân khám phá vẻ đẹp dòng sông và con người lao động để tìm kiếm,
Trang 27khẳng định vẻ đẹp chất vàng thiên nhiên và “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm
hồn con người lao động Tây Bắc thời đại mới
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường thông qua vẻ đẹp sông Hương để tôn vinh vẻ đẹp cốt cách văn hóa, vẻ đẹp tính cách con người Huế
Nét riêng về cách sử dụng ngôn ngữ:
+ Nguyễn Tuân huy động triệt để vốn văn hóa, kiến thức chuyên môn của nhiều
ngành (quân sự, bóng đá, thể thao, điện ảnh, điêu khắc, hội họa…) để tạo nên lớp
từ ngữ giàu có, biến hóa,điêu luyện, uyên bác; Hoàng Phủ Ngọc Tường huy động kiến thức về địa lí, lịch sử văn hóa, nghệ thuật Huế để sáng tạo nên những ngôn từ đẹp tinh tế, tao nhã, sang trọng, sâu lắng
+ Những biện pháp Nguyễn Tuân ưa dùng là những so sánh, ví von, nhân hóa phá cách, lạ lẫm,bất ngờ, cầu kì, hoa mĩ , lối văn không ngừng tác động vào cảm giác người đọc; Hoàng Phủ Ngọc Tường có thế mạnh trong những so sánh, ví von độc đáo đầy chất thi họa, thi nhạc làm nên chất trữ tình dịu ngọt, đắm say
Nét riêng trong giọng điệu:
– Giọng điệu Nguyễn Tuân là giọng kể sắc sảo, lịch lãm; Hoàng Phủ Ngọc Tường
có chất giọng vừa trữ tình, vừa chiêm nghiệm, suy tư
→ Nét độc đáo của mỗi phong cách góp phần tạo nên diện mạo phong phú của kí văn học Việt Nam hiện đại
Tóm lại, khi dạy chủ đề kí, giáo viên định hướng cho học sinh chú trọng về nghệ thuật viết kí của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường để từ đó các em học tập
và vận dụng vào bài viết của mình
Như vậy, giáo viên là người truyền đến cho học sinh vẻ đẹp và sức hấp dẫn của kí để các em có tình yêu và khát vọng được phóng bút thể nghiệm Từ hiểu được đặc trưng của thể loại thì các em sẽ dễ dàng hơn trong việc cảm nhận và khám phá tác phẩm Và quan trọng hơn, học sinh sẽ viết được những bài kí có chất lượng
2 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng niềm vui của hoạt động trải nghiệm
- Hoạt động trải nghiệm sẽ tạo cơ hội cho học sinh huy động, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học, các lĩnh vực giáo dục khác nhau để có thể trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội Đồng thời giúp các em có
cơ hội để tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp Đây là hoạt động mang lại nhiều niềm vui và sự háo hức cho học sinh Đối với dạy
Trang 28học về chủ đề kí, hoạt động trải nghiệm càng cần thiết để phát triển phảm chất, năng lực học sinh Có rất nhiều hình thức trải nghiệm:
Thứ nhất là những hình thức nhóm mang tính cống hiến (gồm các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, vì cộng đồng,…)
Thứ hai là hoạt động có tính khám phá như những chuyến đi thực địa, tham quan, dã ngoại,…
Thứ ba là hoạt động mang tính thể nghiệm, học sinh được trải nghiệm và thể nghiệm mình luôn qua các hoạt động giao lưu, đóng kịch, sân khấu hóa,…
Thứ tư là những hoạt động có tính nghiên cứu và phân hóa, như những dự
án, hoạt động nghiên cứu khoa học rồi các hoạt động câu lạc bộ có tính định hướng
có tính phân hóa,…
- Một số địa điểm hấp dẫn để học sinh trải nghiệm ở Yên Thành:
1 Động Tù Và (Đền Long Sơn – Thuỷ Quốc) ở xã Công Thành
2 Đập Vệ Vừng ở xã Đồng Thành
3 Lèn đá Bảo Nham ở xã Bảo Thành
4 Sông Vũ giang ở xã Công Thành, Khánh Thành
5 Chùa Gám (chùa Chí Linh) và Rú Gám ở xã Xuân Thành
6 Trại Cừu ở xã Sơn Thành
- Một số địa điểm có ý nghĩa ở Nghệ An
1 Khu di tích Truông Bồn
2 Khu di tích quê Bác
3 Đồi chè Thanh Chương
4 Đập Phà Lài Con Cuông
5 Thác 7 tầng ở Quỳ Châu
Khi được trải nghiệm, học sinh sẽ vô cùng thích thú, thoải mái Và điều quan trọng
là các em có thêm nhiều tri thức về thực tế cuộc sống để từ đó thêm yêu mến, tự hào về quê hương đất nước Cũng từ đó học sinh có thêm hiểu biết, thêm tư liệu để viết kí Tuy nhiên đây cũng là hoạt động khá phức tạp và thậm chí không an toàn
Vì vậy khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh thì phải thật sự cẩn trọng từ khâu chuẩn bị, lên kế hoạch, xin ý kiến nhất là những trải nghiệm thực tế ngoài khu vực trường học Tất cả các hoạt động này phải sự cho phép, hướng dẫn,
tổ chức của nhà giáo dục
11
Trang 29Chuyến trải nghiệm khu di tích Truông Bồn của đoàn viên tiêu biểu
trường THPT Phan Thúc Trực (ngày 27/11/2022)
3 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng sự kì diệu của công nghệ thông tin
Xã hội ngày càng phát, đời sống con người ngày càng cao Phương tiện hiện đại phục vụ và hỗ trợ chúng ta hầu như mọi lúc mọi nơi Trong hoạt dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần to lớn trong việc phát huy phẩm chất, năng lực học sinh và nâng cao chất lượng dạy học Khi dạy học chủ đề kí Việt Nam hiện đại, công nghệ thông tin sẽ
hỗ trợ giáo viên và học sinh trong việc khám phá tác phẩm cũng như sáng tạo tác phẩm Bởi vì, sông Đà và sông Hương là những nơi khá xa xôi, chúng ta rất ít người (kể cả giáo viên) có cơ hội trải nghiệm thực tế Trong điều kiện, hoàn cảnh
ấy thì chính công nghệ thông tin sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sinh động hơn về đối tượng phản ánh của các bài kí Hay trong những trải nghiệm thực tế, chính những phương tiện hiện đại của công nghệ thông tin sẽ giúp ghi lại những hình ảnh, những khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người để khi cần thiết sử dụng trong viết kí chúng ta có thể chiêm ngưỡng lại
Trang 30Hình dáng của sông Đà khi nhìn từ trên cao xuống
Đá bờ sông Đà dựng vách thành Sóng nước sông Đà
Trang 31Dòng chảy của sông Hương
Núi Kim Phụng
Ngã ba tuần Điện Hòn Chén
Nguyệt Biều, Lương Quá
Chùa Thiên Mụ Kim Long
Cồn Hến Bao Vinh
Trang 32Ngã ba tuần của sông Hương
Cầu Tràng Tiền của sông Hương
Trang 33Đường lên đỉnh Tù Và
Đền Long sơn thủy quốc trên đỉnh Tù Và
Trang 34Một số hình ảnh về trường THPT Phan Thúc Trực
Trang 35Một số hình ảnh về trường THPT Phan Thúc Trực
4 Tạo hứng thú viết kí cho học sinh bằng giá trị của dạy học dự án
- Do thời lượng chương trình hạn hẹp nên không thể đủ thời gian để giáo viên và học sinh tổ chức một cách thoải mái các hoạt động trên lớp học được Vì vậy dạy học dự án là phương pháp tối ưu nhất Dạy học dự án là mô hình lấy người học làm trung tâm Với phương pháp này, thầy cô đóng vai trò tham vấn, hướng dẫn và tạo ra các tình huống, các vấn đề thực tiễn còn các em học sinh sẽ chủ động, tích cực tham gia, giải quyết tình huống tạo ra các sản phẩm Thông qua dạy học
dự án, học sinh sẽ phát triển được phẩm chất, năng lực
- Dự án mà giáo viên thiết kế cho học sinh ở chủ đề kí hiện đại Việt Nam là:
Trang 36+ Thuyết trình về nội dung, nghệ thuật của bài “Người lái đò sông Đà”
(Nguyễn Tuân) và bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
+ Viết bài kí về một địa danh ở địa phương em như:
Trường THPT Phan Thúc Trực ở xã Công Thành (Nhóm 1)
Đền Long Sơn Thủy Quốc trên động Tù Và xã Công Thành (Nhóm 2)
Đập Vệ Vừng xã Đồng Thành (Nhóm 3)
Khu di tích Truông Bồn ở huyện Đô Lương (Nhóm 4)
Sản phẩm thực hiện dự án: Bài bút kí “Ai đã đặt tên trường Phan Thúc Trực”
(nhóm 1)