Đánh giá định kì trong giáo dục 6 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐÁNH GIÁ GIỮA KÌ I MÔN NGỮ VĂN 10 BẰNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN HỌC TẬP... Kết hợp được cả 2 phương pháp đánh giá này sẽ giúp ngườ
Trang 1SÁNG KIẾN
ĐÁNH GIÁ GIỮA KỲ I MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10 BẰNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN “VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA” TẠI TRƯỜNG THPT ĐẶNG THÚC HỨA
Lĩnh vực: Ngữ Văn
Năm thực hiện: 2022 - 2023
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT ĐẶNG THÚC HỨA
ĐÁNH GIÁ GIỮA KỲ I MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10 BẰNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN “VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA” TẠI TRƯỜNG THPT ĐẶNG THÚC HỨA
Lĩnh vực: Ngữ Văn
Tác giả: Trần Quốc Dũng Năm thực hiện: 2022 – 2023
Số ĐT: 0972 060 168
Trang 33.2 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5.2 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những luận điểm cần bảo vệ của đề tài 4
8 Đóng góp mới của đề tài 4
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1 Đánh giá trong giáo dục 4
2 Đánh giá định kì trong giáo dục 6
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐÁNH GIÁ GIỮA KÌ I MÔN NGỮ
VĂN 10 BẰNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN HỌC TẬP
Trang 42 Xác định mục tiêu của dự án 13
III LỰA CHỌN THIẾT KẾ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ 18
IV THỰC HIỆN KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 26
V PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 28
VI GIẢI THÍCH VÀ PHẢN HỒI KẾT QUẢ KIỂM TRA,
ĐÁNH GIÁ
29
1 Công bố kết quả dự án bằng điểm số 29
2 Giáo viên giải thích về kết quả thu được 30
3 Giáo viên nhận xét về sự tiến bộ của HS trong quá trình
thực hiện dự án
31
4 Học sinh phản hồi kết quả đánh giá của giáo viên 31
5 Thống nhất cuối cùng giữa GV và HS về kết quả dự án 31
VII SỬ DỤNG KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TRONG PHÁT
2 Nội dung và phương pháp khảo sát 37
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 41
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
GD - ĐT Giáo dục – Đào tạo PPDH Phương pháp dạy học THPT Trung học phổ thông
GDPT Giáo dục phổ thông
Trang 6sơ học tập (hồ sơ tiến bộ) của HS Kết hợp được cả 2 phương pháp đánh giá này sẽ giúp người kiểm tra (Giáo viên, các cấp quản lí) và người được kiểm tra (HS) có được kết quả đánh giá khách quan, chính xác, khuyến khích được tiềm năng của người học; khơi dậy được trong các em hứng thú học tập, có ý thức sửa sai và mong muốn được sửa sai để có kết quả như mong muốn
Việc kiểm tra, đánh giá cho HS theo thông tư 22/2021 – TT BGD & ĐT về đánh giá HS trong khi dạy học rõ ràng là rất cần thiết Nhưng trên thực tế dạy học nhiều giáo viên THPT vẫn chưa chú trọng đúng mức vấn đề này, chưa quan tâm đến việc đánh giá HS Giáo viên THPT hầu như chỉ kiểm tra đánh giá HS theo phương pháp cũ qua bài kiểm tra Hậu quả của việc này là HS thiếu hứng thú và không có động lực phấn đấu điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển phẩm chất, năng lực HS Đặc biệt không thể vận dụng những kiến thức đã học để ứng dụng vào những tình huống của thực tế đời sống Việc đánh giá HS chỉ thật sự có ý nghĩa khi HS rèn luyện được kĩ năng và nâng cao được năng lực cho mình, vì vậy việc đánh giá HS bằng kết
quả dự án mới giúp HS phát phát huy được phẩm chất và năng lực một cách hiệu quả
Trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực, hoạt động dạy học và đánh giá luôn song hành cùng nhau Điều này sẽ giúp cho giáo viên đánh giá HS từ nhiều nguồn với các hình thức khác nhau, trong đó HS cũng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Đánh giá sự tiến bộ của HS nhằm động viên và có những điều chỉnh để HS phát triển tốt hơn
Qua thực tiễn dạy học, chúng tôi thấy được rằng, phương pháp dạy học dự án là một trong những phương pháp cấp thiết để đạt được yêu cầu đánh giá mới của Chương trình giáo dục Phổ thông năm 2018 Góp phần đánh giá đúng năng lực phẩm
chất của HS Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá giữa kì I môn Ngữ văn khối 10 bằng kết quả thực hiện dự án “Vẻ đẹp của thơ ca” tại trường THPT Đặng Thúc Hứa.” làm đề tài nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đưa ra giải pháp thực hiện đánh giá định kì cho HS khối 10 khi học môn Ngữ văn bằng kết quả thực hiện dự án học tập và xây dựng bộ công cụ đánh giá tối ưu nhất
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài của mình tại ba trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Cụ thể đó là HS khối 10: Gồm các lớp 10A1, 10C1, Trường THPT Đặng Thúc Hứa; Các lớp 10A1, 10C1 Trường THPT Đặng Thai Mai; Các lớp 10A, 10C Trường THPT Nguyễn Sỹ Sách
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá giữa kì I môn Ngữ văn khối 10 bằng kết quả thực hiện dự án “Vẻ đẹp của thơ ca” tại trường THPT Đặng Thúc Hứa
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi này thì đề tài có thể:
- Được áp dụng để triển khai đánh giá định kì cho tất cả các HS ở các khối lớp nhằm phát triển năng lực HS ở cấp THPT
Dùng làm cơ sở để đánh giá định kì bằng các các phương pháp khác ngoài bài kiểm tra định kì hoặc bằng kết quả thực hiện dự án (như đề tài đã nghiên cứu)
Ứng dụng để phát triển thành mô hình sách tham khảo cho giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào 03 nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu lí luận; Khảo sát, đánh giá thực trạng; Đề xuất giải pháp
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu:
Giải pháp đánh giá định kì cho HS THPT được thể hiện như thế nào trong dạy học dự án môn Ngữ văn 10
Bộ công cụ dùng để thực hiện đánh giá định kì nhằm đảm bảo phát triển phẩm chất, năng lực HS lớp 10 THPT
Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên, HS khi thực hiện đánh giá định
kì bằng kết quả thực hiện dự án học tập
- Về thời gian nghiên cứu: Trong năm học 2022 – 2023
Trang 8TT Thời gian Nội dung công việc Sản phẩm
- Dạy thử nghiệm ở các lớp 10A1, 10C1
- Kiểm tra đối chứng giữa các lớp 10A1, 10C1 (dạy học theo dự án) và các lớp 10C5, 10D2 (các lớp dạy bình thường)
- Đánh giá HS theo các tiêu chí đặt ra ban đầu Sử dụng kết quả đánh giá dự án làm kết quả kiểm tra định kì (giữa kì 1) cho HS lớp 10A1, 10C1
- Thống kê các kết quả thử nghiệm
- Sử dụng kết quả thực hiện
dự án làm điểm đánh giá giữa
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu: Các tài liệu tập huấn
chuyên môn của Bộ giáo dục & đào tạo, tài liệu giáo dục thường xuyên, một số sách báo chuyên ngành của nhiều tác giả, một số trang web giáo dục… nhằm thu thập thông tin, số liệu liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: được sử dụng để xử lý các số liệu
phục vụ mục đích nghiên cứu thực trạng đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT để từ đó áp dụng hiệu quả vào việc sử dụng kết quả đánh giá dự án làm kết quả đánh giá kiểm tra định kì của HS
Phương pháp quan sát: Quan sát khoa học là phương pháp tri giác đối tượng
một cách có hệ thống để thu thập thông tin
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Để khẳng định kết quả của đề tài chúng
tôi đã thực nghiệm sư phạm với lớp thực nghiệm và lớp không thực nghiệm và lấy đó
là cơ sở để đánh giá thái độ, ý thức, kiến thức học tập của các em HS Chính đó là kết
quả đánh giá, khẳng định tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu
Trang 9Phương pháp điều tra, khảo sát: nhằm phục vụ cho nghiên cứu đề tài chúng
tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng các cuộc nói chuyện dưới dạng hỏi đáp trực tiếp và lấy phiếu thăm dò của giáo viên và HS lớp 10 về hiệu quả của việc áp
dụng phương pháp đánh giá giữa kì I bằng phương pháp dự án
7 Những luận điểm cần bảo vệ của đề tài
- Lựa chọn, thiết kế công cụ đánh giá
- Các giải pháp thực hiện kiểm tra, đánh giá
8 Đóng góp mới của đề tài
Tìm ra một hướng đi mới góp phần dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS
Đưa ra được một số giải pháp nhằm đánh giá chính xác năng lực của HS
Đề tài giúp HS ngoài việc đánh giá năng lực về thơ ca còn đánh giá được kỹ năng giao tiếp, kĩ năng mềm, biết vận dụng, giải quyết các tình huống xảy ra trong thực tế đời sống
Cung cấp cho giáo viên có thêm công cụ và phương pháp dạy học phát triển năng lực HS hiệu quả
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1 Đánh giá trong giáo dục
1.1 Khái niệm
Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp, và diễn giải thông tin
về đối tượng cần đánh giá (ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS; kế hoạch dạy học; chính sách giáo dục), qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về đối tượng
1.2 Mục đích đánh giá
Giúp GV điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong quá trình dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS nhằm động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn của HS để hướng dẫn, giúp đỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS
Giúp HS có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ
Giúp cha mẹ HS tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS; tích cực hợp tác với nhà trường
Trang 10 Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục
Trang 112 Đánh giá định kì trong giáo dục
Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Quy trình kiểm tra đánh giá định kì trong giáo dục được thể hiện qua sơ đồ sau:
3 Dạy học dự án
3.1 Khái niệm dạy học dự án
Có nhiều khái niệm khác nhau về phương pháp dạy học dự án (DHDA): Theo K.Frey, học giả hàng đầu về dạy học dự án của Cộng hòa Liên bang Đức thì: Dạy học theo dự án (Project Based Learning - PBL) là một hình thức của hoạt động học tập trong đó nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được Còn theo định nghĩa của
Bộ Giáo dục Singapore thì: “Học theo dự án (Project work) là hoạt động học tập
Trang 12nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống”
3.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống
Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân
Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành
- Định hướng sản phẩm: Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch
lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành
3.3 Tiến trình thực hiện DHDA
Dạy hoc theo dự án theo 5 giai đoạn
Quyết định chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: GV và HS cùng nhau
đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống
Xây dựng kế hoạch thực hiện: Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định
những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm
Thực hiện dự án: Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và
hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: kết quả thực hiện dự án có thể được
viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội
Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như
kinh nghiệm đạt được
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực
tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án
4 Đánh giá định kì bằng dự án học tập
Đánh giá định kì bằng phương pháp dự án là một trong những hình thức đánh giá mới trong dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực HS Theo đó, giáo viên sẽ sử dụng kết quả dự án học tập để làm kết quả đánh giá định kì của HS
Trang 13Đánh giá bằng dự án học tập là giáo viên đang tiến hành đánh giá HS bằng cả 2 phương pháp: đánh giá qua hồ sơ học tập và đánh giá qua sản phẩm học tập
Đánh giá qua hồ sơ học tập:
Phương pháp đánh giá hồ sơ học tập là phương pháp đánh giá thông qua tài liệu, minh chứng cho sự tiến bộ của HS
Đánh giá qua hồ sơ học tập của HS không đơn thuần là đánh giá số lượng, chất lượng của “vở ghi chép” và “vở bài tập” mà cần xây dựng nội dung hồ sơ tổng thể, đa dạng nhằm mục đích đánh giá khả năng tự học, tự rèn luyện của HS; đảm bảo độ giá trị, tính khách quan, công bằng trong kiểm tra, đánh giá
Các loại hồ sơ học tập:
Hồ sơ tiến bộ: Bao gồm bài tập, sản phẩm, bài kiểm tra… phiếu đánh giá của
GV, bạn học thể hiện sự ghi nhận về sự tiến bộ của HS
Hồ sơ quá trình: Hồ sơ theo dõi quá trình học tập: vở ghi chép, ghi chú những
nội dung đã học/chưa học được…
Hồ sơ mục tiêu: Người học tự xây dựng mục tiêu, nhìn nhận đối chiếu phân
tích kết quả học tập của nhiều môn với nhau, tự đánh giá về khả năng học tập (tốt/ kém đi), môn nào còn hạn chế, xây dựng kế hoạch cải thiện
Hồ sơ thành tích: Thu thập các thành tích nổi trội (giấy khen, bảng điểm, bài
kiểm tra đạt điểm tốt…)
Đánh giá qua sản phẩm học tập: Đánh giá qua sản phẩm học tập là phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS khi những kết qủa ấy được thể hiện bằng cách sản phẩm như bản báo cáo bằng word, bản Powerpoint, 1 kịch bản có sự đóng vai Như vậy, sản phẩm là các bài làm hoàn chỉnh, được HS thể hiện qua việc xây dựng, sáng tạo, thể hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách có hiệu quả Các tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm là rất đa dạng Đánh giá sản phẩm được dựa trên ngữ cảnh cụ thể của hiện thực và có các dạng sản phẩm học tập của người học Thông qua các sản phẩm học tập đó, GV có thể đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của người học
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Cơ sở thực tiễn
Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với đó là đổi mới phương pháp dạy học
và đổi mới kiểm tra đánh giá đã thể hiện sự quyết tâm cải cách, đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục
Để có một cách đánh giá khách quan, phản ánh đúng phẩm chất, năng lực người học thì phải có phương pháp đánh giá và công cụ đánh giá khách quan, hiệu quả Chương trình giáo dục Phổ thông mới 2018 đã có nhiều thay đổi trong cách kiểm tra đánh giá thường xuyên cũng như định kì Sự thay đổi đó bắt đầu từ thay đổi nội
Trang 14học tập, đánh giá vì người học, đánh giá là người học Đây là xu hướng hiện đại chung trên toàn thế giới
Hiện có rất nhiều phương pháp đánh giá khác nhau, trong đó đánh giá bằng dự
án học tập là một trong những phương pháp mang lại khá nhiều kết quả khả ưu Thông qua phương pháp đánh giá này, người đánh giá có thể sử dụng cả phương pháp đánh giá qua hồ sơ (đánh quá quá trình, đánh giá sự tiến bộ của người học) và cả đánh giá sản phẩm Hơn nữa, đánh giá bằng dự án học tập sẽ phát huy được tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng và phát triển phẩm chất, năng lực của người học Từ đó, ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới phương pháp dạy học, người giáo viên phải biết lựa chọn
và sử dụng những phương pháp và hình thức dạy học thích hợp: Thích hợp với đặc thù môn học, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là phù hợp với nội dung bài học và đối tượng HS
Với nhiều ưu điểm lớn như vậy nên phương pháp đánh giá HS bằng phương pháp dạy học dự án (DHTDA) đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng
2 Thực trạng và nguyên nhân
2.1 Thực trạng:
Tuy nhiên với nhiều giáo viên Ngữ văn, phương pháp đánh giá định kì bằng dạy học theo dự án vẫn còn khá mới mẻ, việc áp dụng phương pháp đánh giá này vào đánh giá kết quả định kì cho HS vẫn còn rất nhiều nghi ngại (cho cả các nhà quản lí
và cả giáo viên dạy) Việc này xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:
2.2 Nguyên nhân
2.2.1 Thứ nhất, nhóm nguyên nhân chủ quan:
Về phía giáo viên: Chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, nhiều giáo viên
chưa thấy rõ lợi ích to lớn của việc đánh giá định kì bằng phương pháp dự án Hơn nữa, nhiều giáo viên chưa nắm vững nguyên tắc, phương pháp, hình thức thiết kế và
tổ chức dạy học theo dự án Việc thiết kế các bảng kiểm, các thang Rubics đánh giá định tính, định lượng…còn rất khó khăn Nó phụ thuộc rất lớn vào trình độ của giáo viên, phương pháp hướng dẫn HS Bên cạnh đó còn có một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề dạy học, ngại đổi mới, cho rằng việc đánh giá định kì bằng phương pháp dự án phải tốn nhiều thời gian, thậm chí là kinh phí; chi bằng cứ làm theo cách đánh giá truyền thống từ xưa tới nay bằng ma trận, ra đề, kiểm tra, chấm bài
và vào điểm… đơn giản, gọn nhẹ
Về phía HS: Nhiều HS không thích học môn Ngữ văn hoặc coi môn Ngữ văn chỉ
là môn phụ Kĩ năng vi tính, khả năng tìm kiếm thông tin bằng các công cụ tìm kiếm,
Trang 15kĩ năng sử dụng các phần mềm khi xây dựng các bài Oral Presentional … vẫn còn rất hạn chế Vì vậy mà tình trạng học chống đối hoặc không hợp tác với giáo viên trong
quá trình học diễn ra khá phổ biến
2.2.2 Thứ hai, nhóm nguyên nhân khách quan:
Do khó khăn về cơ sở vật chất như bàn ghế chưa đồng bộ, không cơ động, lớp học chật chội, đặc biệt là đồ dùng, phương tiện dạy học Ngữ văn ở các trường THPT còn thiếu thốn gây trở ngại lớn cho việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhất là phương pháp dạy học theo dự án (DHDA) Mặt khác, các cấp quản lí cũng có một số nghi ngại khi phải trừ các HS ở các lớp sử dụng kết quả thực hiện dự án làm điểm định kì, không tham gia vào kì thi chung của toàn khối
Từ những cơ sở thực tế như trên, chúng tôi quyết tâm thực hiện Đổi mới mẫu về đánh giá định kì bằng phương pháp dự án tại 2 lớp khối 10 là lớp 10A1 và lớp 10C1 Đây là 2 lớp có trình độ HS khác nhau: Lớp 10A1 HS tốt hơn, lớp 10C1 có năng lực
HS non hơn Từ đó, đối sánh với các lớp còn lại trong khối Sau khi kì đánh giá kết thúc sẽ rút ra được những điểm tốt, điểm hạn chế của phương pháp đánh giá này Từ
đó, làm cơ sở cho việc đánh giá cho môn Ngữ văn và các môn học khác tại trường THPT Đặng Thúc Hứa nói riêng, các trường khác nói chung trong các năm học tới, khi Chương trình GDPT 2018 được thực hiện đại trà ở khối lớp 10,11, 12
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐÁNH GIÁ GIỮA KÌ I MÔN NGỮ VĂN 10 BẰNG
Căn cứ để đánh giá kết quả giáo dục của HS là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất
và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn Ngữ văn
Cụ thể, tính đến giữa học kì I khối 10, các em cần đạt được các yêu cầu sau:
Về kiến thức: Trình bày được các kiến thức cơ bản về vẻ đẹp của thơ ca: - Phân
tích và đánh giá được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ như từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, đối, nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình)
- Liên hệ để thấy được một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm thơ thuộc hai nền văn hoá khác nhau
Trang 16- Viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm thơ
- Biết thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ
- Biết nuôi dưỡng đời sống tâm hồn phong phú, có khả năng rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống
Về năng lực: Các em biết tìm tòi, cài đặt, sử dụng một số phần mềm làm công cụ
hỗ trợ cho việc xây dựng sản phẩm làm việc nhóm như Power Point, Xmind, Edraw Mind Map, Padlet Biết cách tìm thông tin phục vụ nội dung các em làm dự án từ các công cụ tìm kiếm khác nhau như Google, Violet.vn, moit.gov.vn và một số công cụ khác…
Về phẩm chất: Thông qua đánh giá giữa kì I, các em HS lớp 10 sẽ có những dự
định riêng trên con đường lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của mình Từ đó, các
em đặt ra mục tiêu cụ thể cho kế hoạch thực hiện ước mơ nghề nghiệp của mình trong
2 năm sắp tới
Bên cạnh đánh giá kiến thức, cần tăng cường đánh giá các kĩ năng của HS như: làm việc với sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, quan sát, thu thập, xử lí và hệ thống hoá thông tin, sử dụng các dụng cụ học tập ngoài trời, sử dụng công nghệ và thông tin truyền thông trong học tập Chú trọng đánh giá khả năng vận dụng tri thức vào những tình huống cụ thể khi các em thực hiện dự án “Vẻ đẹp của thơ ca”
Người đánh giá ở đây vừa bao gồm đánh giá của giáo viên, đánh giá của bản thân
HS, đánh giá giữa các HS/ nhóm HS với nhau
5 Về sử dụng kết quả đánh giá
Thông qua kết quả đánh giá định tính và định lượng khi thực hiện dự án “Vẻ đẹp của thơ ca” (qua các phiếu đánh giá theo tiêu chí (rubics), sản phẩm làm việc nhóm, qua hồ sơ học tập của HS) để tổng hợp đánh giá chung về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của các em Từ đó, GV sẽ sử dụng kết quả này làm kết quả đánh giá giữa ḱ I năm học 2022 – 2023 cho HS 2 lớp 10A1 và 10C1
II XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá ở đây chính là xây dựng kế hoạch thực hiện
dự án Cụ thể như sau:
Trang 171 Lựa chọn dự án
Căn cứ để lựa chọn dự án: Dựa vào nội dung dạy học từ đầu học kì I đến giữa học
Kì I ở bài 2 “Vẻ đẹp của thơ ca” có các nội dung:
+ Tiết 12: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản
+ Tiết 13: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản
+ Tiết 14: Thu hứng (Cảm xúc mùa thu – Đỗ Phủ)
+ Tiết 15: Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử)
+ Tiết 16: Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử)
+ Tiết 17: Bản hòa âm ngôn từ trong tiếng thu của Lưu Trọng Lư (Chu Văn Sơn) + Tiết 18: Thực hành tiếng Việt
+ Tiết 19: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ
+ Tiết 20: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ
+ Tiết 21: Nói và nghe: Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ
+ Tiết 22: đọc Cánh đồng – Ngân Hoa
+ Tiết 23: Kiểm tra đánh giá giữa kì I
+ Tiết 24: Kiểm tra đánh giá giữa kì I
Trong các nội dung trên thì nội dung phù hợp cho các em thực hiện dự án là từ tiết
12 tới tiết 22 Những tiết học này sẽ xoay quanh các vấn đề về vẻ đẹp của thơ ca và được tiến hành trong 11 tiết học Nội dung kiến thức và thời gian phù hợp để chúng tôi hướng dẫn HS tiến hành thực hiện dự án học tập
Chọn tên dự án: “Vẻ đẹp của thơ ca”
Xác định thời gian thực hiện dự án: Dự án được tiến hành trong vòng 5 tuần
(tương ứng với thời gian 4 tuần dạy học và 2 tiết kiểm tra giữa kì; mỗi tuần 3 tiết ở
trên lớp) Cụ thể thời gian được phân bổ như sau:
Tuần 1: GV giới thiệu dự án, tiến hành phân nhóm HS, giao nội dung thực hiện
và các tài liệu liên quan Các tài liệu này sẽ được đẩy lên Padlet để tất cả HS có thể lên đây lấy và nộp tài liệu Các nhóm tiến hành chọn nhóm trưởng, thư kí Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho các thành viên nhóm mình Các thành viên tiến hành thu thập, lựa chọn và xử lí thông tin về nội dung mình được giao, sau đó nộp về nhóm trưởng Nhóm trưởng và các thành viên sẽ xây dựng sản phẩm (bản Powerpoint, tranh ảnh Kịch bản…) và nộp lên Padlet để GV kiểm tra Trong quá trình này, các nhóm sẽ lập các nhóm zalo để các thành viên trong nhóm trao đổi, GV theo dõi và chỉnh sửa một số nội dung giúp các em đi đúng hướng Thư kí của nhóm ghi lại nhật kí công việc của nhóm, thái độ và kết quả làm việc của mỗi thành viên trong nhóm Các thành viên ghi nhật kí công việc vào sổ nhật kí của mình
Trang 18 Tuần 2: Nhóm 1 và nhóm 2 trình bày sản phẩm Các nhóm khác theo dõi, bổ sung, phản biện
Tuần 3: Nhóm 3, 4 trình bày sản phẩm Các nhóm khác theo dõi, bổ sung, phản biện
Tuần 4: Các nhóm và các thành viên hoàn thành Phiếu đánh giá (theo mẫu GV cung cấp) và nộp về GV GV cùng HS sẽ tiến hành tổng hợp kết quả đánh giá
Tuần 5: GV sẽ công bố kết quả đánh giá dự án trước HS, giải thích lại cách đánh giá Sau đó, GV lắng nghe ý kiến phản hồi của các em và giải đáp những thắc mắc Khi các em không có ý kiến gì nữa thì thầy trò sẽ tiến hành phân tích những mặt làm được, chưa làm được của lớp khi thực hiện dự án Rút ra những bài học kinh nghiệm cho các lần thực hiện dự án sau
- Nhận biết được lỗi dùng từ và lỗi về trật tự từ, biết cách sửa những lỗi đó
- Viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm thơ
- Biết thuyết trình (giới thiệu, đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ
b Về năng lực: Các em biết tìm tòi, cài đặt, sử dụng một số phần mềm làm công
cụ hỗ trợ cho việc xây dựng sản phẩm làm việc nhóm như Power Point, Xmind, Edraw Mind Map, Padlet Biết cách tìm thông tin phục vụ nội dung các em làm dự
án từ các công cụ tìm kiếm khác nhau như Google, Violet.vn, moit.gov.vn và một số công cụ khác…
c Về phẩm chất: Thông qua đánh giá giữa kì I, các em biết nuôi dưỡng đời sống tâm hồn phong phú, có khả năng rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống Từ đó, các
em đặt ra mục tiêu cụ thể cho kế hoạch thực hiện ước mơ nghề nghiệp của mình trong
2 năm sắp tới
Trên cơ sở đó, chúng tôi đã định hướng cho HS thực hiện dự án với các nội dung
cụ thể như sau:
Nhóm 1: Thực hiện nội dung “Tìm hiểu về thơ và thơ trữ tình” (Chú ý: Nội
dung “Tri thức Ngữ văn”) Chúng tôi đã đưa cho các em phiếu định hướng học tập như sau (Phiếu này được đưa lên Padlet ngay sau khi giao nhiệm vụ cho HS):
Trang 19Nhiệm vụ: Dựa vào kiến thức của bài 2 “Vẻ đẹp của thơ ca” kết hợp với kiến
thức các em tìm hiểu được từ các nguồn khác nhau, trả lời các câu hỏi dưới đây
Trang 20Hình thức trình bày của nhóm 1 là trình chiếu Powerpoint.
Nhóm 2: Thực hiện nội dung “chùm thơ hai – cư (haiku) Nhật Bản” Hình thức trình bày sản phẩm dự án của các em bằng phương pháp đóng vai Chúng tôi đề xuất phiếu định hướng học tập cho nhóm như sau:
PHIẾU HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG SỐ 2
Tìm hiểu về chùm thơ hai – cư (haiku) Nhật Bản
Tên nhóm:……….………… Nhóm trưởng: ………
Các thành viên của nhóm:
……… …
……… …
………
Nhiệm vụ: Dựa vào kiến thức văn bản 1, 2, 3: “Chùm thơ hai – cư (haiku) Nhật Bản”
kết hợp với kiến thức các em tìm hiểu được từ các nguồn khác nhau, trả lời các câu hỏi dưới đây:
Trang 21Thầy khuyến khích các em sử dụng phương pháp đóng vai (phân vai) để trình bày nội dung này Trên cơ sở nội dung dự án, các em viết thành kịch bản, chọn diễn viên,
MC, đạo diễn để thể hiện Diễn viên sẽ gồm 4 bạn (mỗi bạn thể hiện 1 vai tác giả và một nội dung thơ), Kết thúc dự án, các em nộp sản phẩm (Kịch bản được viết trên giấy A4) nộp lên Padlet
Nhóm 3: Thực hiện nội dung văn bản 4 “Thu hứng” (Cảm xúc mùa thu) - Đỗ
Phủ” Hình thức trình bày báo cáo của các em là trình chiếu bài thuyết trình
PowerPoint Chúng tôi đưa ra phiếu định hướng học tập cho các em như sau:
PHIẾU HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG SỐ 3
Tìm hiểu về Thu hứng – Đõ Phủ
Tên nhóm:……… … Nhóm trưởng: ……… Các thành viên của nhóm:
……… ………
………
Nhiệm vụ: Dựa vào kiến thức văn bản 4 “Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) - Đỗ Phủ”
kết hợp với kiến thức các em tìm hiểu được từ các nguồn khác nhau, trả lời các câu hỏi dưới đây:
Trang 22Nhóm 4: Thực hiện nội dung văn bản 5 Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử Chúng
tôi định hướng cách trình bày báo cáo sản phẩm dự án của các em bằng phương pháp triển lãm tranh Phiếu định hướng cho nhóm 4 được chúng tôi đưa ra như sau:
PHIẾU HỌC TẬP ĐỊNH HƯỚNG SỐ 4
Tìm hiểu về văn bản 5 Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử
Tên nhóm:……… …… … Nhóm trưởng: ……… …… Các thành viên của nhóm:
……… ……
………
Nhiệm vụ: Dựa vào kiến thức văn bản 5 “Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử” kết hợp
với kiến thức các em tìm hiểu được từ các nguồn khác nhau, trả lời các câu hỏi dưới đây:
Trang 24Yêu cầu HS vẽ tranh, làm báo tường về các tác giả thơ mới: Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng
Lư Trình bày triển lãm phòng tranh
III LỰA CHỌN, THIẾT KẾ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ
Công cụ được dùng để đánh giá quá trình thực hiện dự án “Vẻ đẹp của thi ca” của HS là các PHIẾU ĐÁNH GIÁ THEO TIÊU CHÍ (RUBICS)
Cơ sở để xây dựng các phiếu đánh giá theo tiêu chí là dựa vào yêu cầu cần đạt về kiến thức, năng lực, phẩm chất của HS theo định hướng phát triển năng lực của khung chương trình; hồ sơ học tập của HS và Sản phẩm học tập của HS
Hồ sơ học tập của HS: Bao gồm sổ ghi nhật kí công việc của nhóm và các thành
viên trong nhóm Sổ theo dõi của GV về tiến trình làm việc của các nhóm, các HS trong lớp (chủ yếu thông qua kênh Zalo và các tiết học trên lớp) Hồ sơ học tập của
HS sẽ bao gồm các loại hồ sơ sau:
Sổ theo dõi dự án/ sổ nhật kí (Do nhóm trưởng và cá nhân HS thực hiện)
Biên bản phân công nhiệm vụ/ kế hoạch cá nhân (Do nhóm trưởng và cá nhân
HS thực hiện)
Biên bản thảo luận quá trình thực hiện (Thư kí của nhóm thực hiện)
Phiếu đánh giá tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân (Nhóm trưởng thực hiện)
Sổ theo dõi tiến trình làm việc của nhóm và cá nhân HS do GV thực hiện (Thông qua kênh Zalo của từng nhóm (Do nhóm lập, GV có tham gia); Thông qua kênh Padlet (GV lập, HS tham gia); Thông qua quan sát của GV trên lớp)
Sản phẩm học tập của HS: Bao gồm sản phẩm dự án mà nhóm được giao:
Bản báo cáo Word tối đa 20 trang / Có ảnh minh hoạ;
Bản trình chiếu để báo cáo (Power Point) tối đa 35 slide/ có bản thuyết minh/ Trình bày tối đa 15 phút
Các bức tranh ảnh tự vẽ, báo tường
Trang 25 Bài kiểm tra 15 phút bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan (Do GV biên soạn, vừa dùng làm cơ sở đánh giá kết quả HS, vừa dùng làm kết quả đối chiếu thực nghiệm sư phạm)
Dựa trên các cơ sở trên, chúng tôi đưa ra 07 phiếu đánh giá HS theo tiêu chí (Rubics) như sau:
PHIẾU SỐ 1: ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN CHO NHÓM
Giáo viên đánh giá: ……… Nhóm được đánh giá:………… Lớp: ………… Trường THPT Đặng Thúc Hứa Nội dung : ……….………
Tiêu chí đánh giá Điểm tối đa Điểm đánh giá Nhận xét
4 Kĩ năng trình bày sản phẩm 3.0
- Trình bày hấp dẫn, lôi cuốn,
ngôn ngữ lưu loát
- Trả lời phản biện tốt
- Đảm bảo thời gian
1.0 1.0 1.0
Trang 26PHIẾU SỐ 2: ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM GIỮA CÁC NHÓM
Kĩ năng trình bày/trả lời/ biểu diễn
4 10
Đầy đủ các nội dung chính, bổ sung và cập nhật kiến thức, phù hợp với mục tiêu dự án
Làm việc khoa học, phân công
rõ ràng, các thành viên tham gia tích cực
Hình thức độc đáo, bố cục hợp lí, màu sắc sinh động…
Ngôn ngữ lưu loát, thu hút, phản biện tốt…
(5.0đ) ( 1.5đ) (2.0đ) (1.5đ) Đánh
giá
3 7.5
Đầy đủ các nội dung chính, bổ sung và cập nhật kiến thức nhưng có một
số nội dung chưa phù hợp với mục tiêu
dự án
Làm việc khoa học, phân công
rõ ràng, phần lớn thành viên tham gia tích cực, 1 số thành viên tham gia nhưng chưa tích cực
H́nh thức thông dụng,
bố cục hợp lí, màu sắc hài hoà…
Ngôn ngữ lưu loát nhưng chưa thật thu hút, phản biện khá tốt…
(4.0đ) ( 1.0đ) (1.5đ) (1.0đ) Đánh
giá
2 5.0
Thiếu 1 số nội dung chính, bổ sung và cập nhật kiến thức,
có 1 số nội dung chưa phù hợp với mục tiêu dự án
Làm việc khoa học, phân công nhưng chưa rõ ràng, 1 số thành viên chưa tham gia hoạt động nhóm
Hình thức thông dụng,
bố cục khá hợp lí, màu sắc chưa hài hoà …
Ngôn ngữ lưu loát nhưng chưa thu hút, trả lời phản biện có nhiều chỗ chưa phù hợp …
(3.0đ) ( 0.5đ) (1.0đ) (0.5đ)
Trang 27Đánh
giá
1 2.5
Thiếu 1 số nội dung chính, bổ sung và chưa cập nhật kiến thức mới
Chỉ có 1 số thành viên tham gia thực hiện, nhiều thành viên chưa hoạt động nhóm
Hình thức thông dụng,
bố cục chưa hợp lí, màu sắc chưa sinh động …
Ngôn ngữ chưa lưu loát, chưa thu hút, không trả lời được các câu hỏi phản biện
…
(1.5đ) ( 0.25đ) (0.5đ) (0.25đ) Đánh
giá
Tổng điểm
Điểm trung
bình
PHIẾU SỐ 3: ĐÁNH GIÁ LẪN NHAU CỦA HS TRONG NHÓM
Họ và tên người đánh giá:……… ……… Nhóm: ……… Lớp: ……… Trường THPT Đặng Thúc Hứa Thang điểm: Tốt (9-10 điểm), Khá (7-8 điểm), Trung bình (5-6 điểm), Yếu (0-4
điểm)
TT Họ và tên
Nội dung đánh giá
Tổng điểm
Điểm trung bình
Tinh thần trách nhiệm
Kĩ năng làm việc nhóm
Kĩ năng thu thập, chọn lọc kiến thức
Kĩ năng vận dụng kiến thức
Tính sáng tạo
1
2
Trang 28PHIẾU SỐ 4: TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA HS
Họ và tên người tự đánh giá: ……… ………
Nhóm: ……… Lớp: …… …… Trường THPT Đặng Thúc Hứa
TT Tiêu chí đánh giá
Điểm đánh giá
Tốt (9-10 điểm)
Khá (7-8 điểm)
Trung bình (5-6 điểm)
Yếu (0-4 điểm)
Trang 29TT
Họ và Tên
Tinh thần trách nhiệm
Kĩ năng làm việc
Tính sáng tạo, khả năng CNTT
Tính hợp tác
Tính phản biện
“Nhật
kí dự án”
Khúc khuỷu ruột dê ổ gà ổ chó
Đường dẫn con đi suốt tuổi thơ mình
Nhiều gai góc nhưng cũng đầy hoa cỏ
Vui rập rờn theo những cánh bướm xinh…
Mười cây số bốn mùa chân xuôi ngược
Manh áo nghèo mưa nắng bạc tóc hoe
Trang 30Không ngăn nổi hồn nhiên chim sáo hót
Chiều vô tư ngõ đom đóm lập lòe
Ôi! Thương quá cái thời cơm cõng củ
Lén nhìn con cạo rá mẹ thở dài
Bữa cháo bữa rau qua ngày giáp hạt
Túc tắc rồi con cũng lớn như ai
Thêm một tuổi là con thêm một lớp
Bước dài hơn, đi đứng chững chạc hơn
Con đường cũ mở ra nhiều lối mới
Cánh bướm xưa vẫn bay lượn chập chờn
Mê lộ đời lắm ngả ngang ngả dọc
Chợt xênh xang chợt heo hút dặm mòn
Đường đi học vẫn là đường đẹp nhất
Sớm muộn về vẫn có mẹ chờ con !
18.02.2003
(Trích Từ khi có phượng, Nguyễn Ngọc Hưng, NXB Hội nhà văn, 2005, tr.7-8)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1 Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì?
A Phong cách ngôn ngữ chính luận B Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
C Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật D Phong cách ngôn ngữ khoa học
Câu 2 Từ “khúc khuỷu” thuộc từ loại nào?
A Danh từ B Động từ
C Trạng từ D Tính từ
Câu 3 Những hình ảnh nào gợi lên vẻ đẹp thơ mộng của con đường đi học?
A Đầy hoa cỏ, ổ gà ổ chó B Đầy hoa cỏ, những cánh bướm xinh
C Đầy hoa cỏ, khúc khuỷu D Những cánh bướm xinh, ổ gà ổ chó
Câu 4 Ý nào sau đây không thể hiện đúng hoàn cảnh sống của tác giả trong bài thơ?
A Cơ cực, manh áo nghèo B Thiếu thốn, cơm cõng củ
C Cơ cực, thiếu tình thương D Nghèo khổ, bữa cháo bữa rau
Câu 5 Trong kí ức của tác giả, con đường đi học hiện lên như thế nào?
A Khó khăn, thơ mộng B Khúc khuỷu, huy hoàng
C Gai góc, khúc khuỷu D Thơ mộng, huy hoàng
Câu 6 Câu thơ “Không ngăn nổi hồn nhiên chim sáo hót” gợi ra hình ảnh một cậu bé
Trang 31A nhanh nhẹn như chim sáo B đang nhảy chân sáo
C hồn nhiên, vô tư D lạc quan, ca hát
Câu 7 Ý nào khái quát nội dung chính của văn bản ?
A Kí ức về con đường đi học đầy gian khổ nhưng thơ mộng
B Kí ức tuổi thơ gian khó gắn với con đường đi học và người mẹ tảo tần
C Kí ức về những ngày gian khổ và người mẹ tảo tần
D Kí ức về tuổi thơ hồn nhiên, tinh nghịch bên mẹ
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 8 Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu thơ “Ôi !
Thương quá cái thời cơm cõng củ”
Câu 9 Nhận xét về tình cảm, thái độ của tác giả đối với con đường đi học thể hiện
trong bài thơ
Câu 10 Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của anh/chị về con đường đi học của mình
PHIẾU SỐ 7: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN CỦA HS
Giáo viên đánh giá:……… ………
HS
Đánh giá của
GV cho nhóm
Đánh giá giữa các nhóm
Đánh giá giữa các thành viên trong nhóm
Tự đánh giá của
HS
Đánh giá của
GV cho từng
HS
Bài kiểm tra 15 phút
Trang 32Với : Đ 2 : Điểm đánh giá của nhóm; n: số thành viên của nhóm; a i :
điểm do HS chấm trên phiếu số 3
Đ4: Điểm do HS tự đánh giá ở phiếu số 4
Đ5: Điểm GV đánh giá cho từng HS ở phiếu số 5
Đ6: Điểm kiểm tra 15 phút của HS thực hiện ở phiếu số 6
IV THỰC HIỆN KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1 Thực hiện kiểm tra
Thực hiện kiểm tra, đánh giá là khâu trình bày sản phẩm dự án của HS GV cùng
với các HS ở nhóm khác quan sát, hướng dẫn, truy vấn, chuẩn hoá kiến thức
Sau khi HS thực hiện dự án, hoàn thiện sản phẩm dự án, Giáo viên hướng dẫn các nhóm trình bày sản phẩm của mình Theo kế hoạch, các nhóm 1, 3 sẽ trình bày sản phẩm dự án bằng bản trình chiếu Powerpoint; nhóm 2 thực hiện dự án bằng phương pháp đóng vai riêng nhóm 4 sẽ thực hiện dự án bằng phương pháp triển lãm phòng
tranh
Với dự án “Vẻ đẹp của thơ ca”, chúng tôi hướng dẫn HS trình bày báo cáo như sau:
Phần 1: Giới thiệu về nhóm và dự án
Giới thiệu tên dự án
Giới thiệu các thành viên tham gia dự án
Hình thức giới thiệu có thể thông qua video clip hoặc trình chiếu PowerPoint
Phần 2: Báo cáo sản phẩm
Trang 33 Nhóm báo cáo sản phẩm nhóm đã thực hiện Phương pháp thể hiện theo kế hoạch thầy trò đã đề ra ngay ở tiết đầu tiên
Sau khi nhóm trình bày xong, giáo viên và các thành viên ở các nhóm khác sẽ nhận xét, truy vấn một số nội dung Sau đó Giáo viên sẽ chuẩn hoá kiến thức
Phần 3: Chuẩn hoá sản phẩm và nộp lại lên Padlet
Sau khi kết thúc báo cáo và sự góp ý, bổ sung của thầy và các bạn, yêu cầu nhóm
về chỉnh sửa lại nội dung bài thuyết trình Sau đó gửi lại lên Padlet (bản đã sửa) để các thành viên trong lớp lấy làm nguồn tài liệu Thầy cũng thông báo có thể sẽ dùng sản phẩm đó làm nguồn tài liệu cho các bạn lớp khác hoặc các em khoá sau
2 Thực hiện đánh giá
Sau khi các nhóm trình bày xong kết quả thực hiện sản phẩm dự án của nhóm mình, Giáo viên và HS cả lớp sẽ tiến hành bước đánh giá sản phẩm Cơ sở để đánh giá là dựa vào 6 phiếu tiêu chí (Từ phiếu số 1 đến phiếu số 6) đã trình bày ở mục III
“Công cụ kiểm tra, đánh giá” Tất cả các bước này được thực hiện ở Tiết 4 của dự án Thứ tự thực hiện được chúng tôi tiến hành như sau:
a Bước 1: Thực hiện đánh giá phiếu số 6 (Bài kiểm tra 15 phút)
Bước này được thực hiện trong thời gian 15 phút Giáo viên chuẩn bị đề phô tô 15 phút, phiếu trả lời (Loại phiếu trả lời trắc nghiệm chấm bằng phần mềm TNMaker Pro) và phát cho HS làm Hết thời gian, GV thu lại phiếu trả lời và đề thi (Tránh trường hợp các lớp đối chứng biết đề trước) Bước chấm bài được giáo viên thực hiện
ở nhà
b Bước 2: Thực hiện đánh giá phiếu số 2 (Đánh giá sản phẩm giữa các nhóm)
Sau khi cho HS làm bài kiếm tra 15 phút, GV phát cho mỗi nhóm 3 phiếu số 2 Yêu cầu các thành viên nhóm ngồi lại với nhau (cách ngồi giống như các em làm việc nhóm) để thảo luận đánh giá 3 nhóm còn lại Trong quá trình các em đánh giá, GV theo dõi thái độ hợp tác của các thành viên mỗi nhóm, HS nào thờ ơ với công việc của nhóm thì GV chấn chỉnh ngay
c Bước 3: Thực hiện đánh giá phiếu số 3 (Đánh giá giữa các thành viên trong nhóm)
Ở bước này chúng tôi đã yêu cầu các nhóm trưởng cùng với thư kí của nhóm dựa vào cuốn “Nhật kí dự án” và những quan sát của các em trong quá trình thực hiện dự
án thực hiện đánh giá phiếu số 3 (Phiếu dự bị) Thời gian trên lớp, nhóm trưởng sẽ thông báo kết quả đánh giá và giải trình vì sao Nếu thành viên nào trong nhóm có ý kiến thì cả nhóm sẽ xem xét đánh giá lại Sau khi thống nhất sẽ ghi kết quả vào phiếu chính thức và nộp cho giáo viên
Trang 34Đây là công việc đánh giá cuối cùng của các em HS Các em căn cứ vào những tiêu chí mà giáo viên đã đưa ra trong phiếu, căn cứ vào những việc mà mình đã làm trong suốt thời gian thực hiện dự án để tự đánh giá bản thân mình Từ đó, bản thân mỗi em sẽ biết được mình mạnh ở khâu nào, yếu ở khâu nào, thái độ làm việc của mình ra sao? Đã tốt chưa? Nếu chưa tốt thì lí do tại sao? Từ đó các em có ý thức sửa chữa, khắc phục
e Bước 5 Giáo viên thực hiện đánh giá phiếu số 1 (Đánh giá nhóm) và phiếu số 5 (Đánh giá từng HS trong lớp)
Trên cơ sở theo dõi HS từ đầu dự án tới nay, GV có thể hoàn thành phiếu đánh giá
số 1 và phiếu đánh giá số 5 ở nhà Đánh giá của GV hoàn toàn độc lập với đánh giá của HS trên lớp Có thể nói, đánh giá của GV đóng vai trò quan trọng nhất trong tất cả các loại đánh giá Điều này đòi hỏi sự quan sát tỉ mỉ, minh chứng xác thực về bản thân mỗi HS, mỗi nhóm học tập Nếu không sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa các HS và gây những ra những khúc mắc trong lòng HS
V PHÂN TÍCH, XỬ LÍ KẾT QUẢ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
Công việc thực hiện ở bước “phân tích, xử lí kết quả kiểm tra, đánh giá” được giáo viên tổng hợp ở nhà
Phương pháp đánh giá ở dự án này là phương pháp định lượng bằng các phiếu tiêu chí (Từ phiếu số 1 đến phiếu số 6)
Công cụ giúp giáo viên xử lí được công việc này bao gồm:
Phần mềm TNMaker Pro giúp giáo viên xử lí chấm bài kiểm tra trắc nghiệm
15 phút được nhanh chóng và dễ dàng hơn Sau khi chấm xong, GV nhập dữ liệu điểm vào file Excel
Phần mềm Excel phiên bản 2016 Đây là công cụ hữu hiệu giúp giáo viên
thực hiện nhanh nhất, chính xác nhất Phiếu số 7 Trong quá trình xử lí số liệu cho dự
án “Vẻ đẹp của thơ ca” chúng tôi sử dụng Excel để xử lí kết quả cho cột Đ2 và cột
Đ7 Ở cột Đ2 chúng tôi sử dụng hàm AVERAGE (Hàm tính giá trị trung bình) Ở cột
Đ7 chúng tôi áp dụng công thức tính như sau:
Đ7 = ROUND((D5+E5+F5+G5+H5*2+I5)/7;1)
Ví dụ, chúng tôi thực hiện xử lí kết quả thực hiện dự án cho HS nhóm 1 lớp 10A1 như sau:
Trang 35Đtb Điểm trung bình của HS sau khi thực hiện dự án
XỬ LÍ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN "VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA" NHÓM 1 LỚP 10A1
VI: GIẢI THÍCH VÀ PHẢN HỒI KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ
Giải thích và phản hồi kết quả đánh giá là bước cuối cùng trong quá trình thực hiện
dự án học tập “Vẻ đẹp của thơ ca” ở các lớp 10A1 và 10C1 trường THPT Đặng Thúc Hứa Nội dung này được chúng tôi tiến hành trong tiết học cuối cùng (Tiết 11) của dự
án Các nội dung chủ yếu của tiết học (Nội dung chủ yếu của Giải thích và phản hồi kết quả đánh giá) như sau: