1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) ứng dụng cntt trong tổ chức dạy học theo mô hình 5e bài “phản ứng oxi hóa – khử” – hóa học 10 thpt

96 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy học theo mô hình 5E bài “Phản ứng oxi hóa – khử” – Hóa học 10 THPT
Tác giả Trần Thu Đông, Nguyễn Thị Tứ
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Đô Lương 2
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022 - 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn phát triển các phẩm chất năng lực của học sinh cũng như đào tạo ra các thế hệ học trò năng động, sáng tạo, bản lĩnh, có năng lực làm việc hợp tác, giải quyết các vấn đề tro

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 2

Trang 3

Nội dung Trang

1.2.1 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực và

vận dụng mô hình 5E trong dạy học Hóa học ở các trường THPT 11

1.2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường

1.2.3 Thực trạng thái độ học tập và sự tương tác của học sinh trong dạy

Chương 2 Vận dụng quy trình dạy học theo mô hình 5E kết hợp

ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phần Phản ứng oxi

hóa khử

16

Trang 4

2.1 Xây dựng quy trình dạy học theo mô hình 5E nhằm phát triển năng

2.2 Giới thiệu các chức năng của phần mềm Class Point 21

2.2.2 Công cụ tạo các bài thi trắc nghiệm, trò chơi tương tác với người

2.2.3 Ứng dụng phần mềm ClassPoint trong các giai đoạn của mô hình

2.3 Ứng dụng phầm mềm Class Point trong tổ chức dạy học theo mô

hình 5E bài Phản ứng oxi hóa khử - Hóa học 10 THPT 32 2.3.1 Vị trí đặc điểm bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10 32 2.3.2 Định hướng các năng lực hình thành cho học sinh trong dạy học

2.3.3 Thiết kế hoạt động dạy học ứng dụng công nghệ thông tin theo

2.4 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 40

2.4.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp

Trang 6

Nội dung Viết tắt

Trang 7

Trong thời đại 4.0, việc ứng dụng CNTT trong lĩnh vực giảng dạy đang là vấn

đề hấp dẫn có tính thời sự của nhiều trường và nhiều giáo viên Tuy nhiên hiện nay

đa phần giáo viên chỉ ứng dụng CNTT để trình chiếu kiến thức một cách đơn điệu nên quá trình học tập học sinh ít hợp tác, thiếu tập trung vào bài học, cảm thấy nhàm chán dẫn đến chất lượng không cao Để đáp ứng tương tác trong giảng dạy thì chúng

tôi đã tìm đến phần mềm ClassPoint Đây là một công cụ tương tác mạnh mẽ tích

hợp vào Microsoft PowerPoint giúp giáo viên không cần sử dụng quá nhiều phần mềm trong một tiết học mà vẫn đảm bảo yếu tố trình chiếu và tương tác với học sinh, nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học

Bộ môn Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm lại mang tính trừu tượng cao, đòi hỏi người học phải hiểu bản chất tận gốc rễ của các lý thuyết cơ bản thì học sinh mới học tốt được Cho nên giáo viên các môn học thực nghiệm nói chung, Hóa học nói riêng phải thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy Có rất nhiều mô hình, giải pháp được các nhà nghiên cứu đề xuất Đặc biệt “Thuyết kiến tạo nhận thức” được nhắc đến nhiều với quan điểm xây dựng kiến thức mới dựa trên kiến thức cũ hoặc trải nghiệm được biết trước đó được nhiều nhà nghiên cứu, tìm hiểu Và quan điểm của thuyết kiến tạo nhận thức là: Học tập là quá trình cá nhân tự hình thành tri thức cho mình, đó là quá trình cá nhân tổ chức các hoạt động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng sơ đồ nhận thức Mô hình dạy học dựa trên thuyết kiến tạo nhận thức để xây dựng các giai đoạn học tập đã ra đời, áp dụng rộng rãi trên các nước phát triển đó là mô hình dạy học 5E

Mô hình dạy học 5E là mô hình dạy học gồm 5 bước được viết tắt bằng 5 chữ

E bao gồm: Engage (Gắn kết), Explore (Khảo sát), Explain (Giải thích), laborate (Củng cố) và Evaluate (Đánh giá) Trong mô hình dạy học 5E, giáo viên là người hết sức linh động biết kích thích, gây hứng thú, tạo động cơ cho các em học tập Còn

Trang 8

học sinh là người tham gia trực tiếp vào các tình huống, làm việc với dụng cụ, thực hành, thu thập thông tin Học sinh khám phá nội dung học tập thông qua việc giải quyết vấn đề, khám phá khoa học, quan sát, thực hành, giải thích, củng cố ,đánh giá Dạy học theo mô hình 5E đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay là phát triển năng lực hợp tác, năng lực tự chủ tự học, năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo

Bằng trải nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học môn hóa học chúng tôi thấy mô hình 5E rất phù hợp để giảng dạy một số chủ đề trong chương trình Hóa học THPT và hiệu quả được nâng cao rõ rệt khi sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình triển khai Với mong muốn phát triển các phẩm chất năng lực của học sinh cũng như đào tạo ra các thế hệ học trò năng động, sáng tạo, bản lĩnh, có năng lực

làm việc hợp tác, giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, chúng tôi chọn đề tài “Ứng

dụng CNTT trong tổ chức dạy học theo mô hình 5E bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10 THPT”

2 Mục đích nghiên cứu

- Xác định những yếu tố tích cực của chu trình dạy học 5E phù hợp với mục tiêu dạy học môn Hóa

- Đề tài nghiên cứu, thiết kế và sử dụng công nghệ thông tin trong tổ chức dạy

học theo mô hình 5E vào dạy học bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10

- Đề tài nghiên cứu phần mềm ClassPoint trong dạy học nhằm đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS

- Thông qua đề tài giúp bồi dưỡng thêm kiến thức để đổi mới phương pháp dạy học theo công nghệ giáo dục hiện đại

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Điều tra thực trạng đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng CNTT trong dạy học, thực trạng dạy học theo mô hình 5E tại địa bàn công tác

- Điều tra thực trạng học tập của học sinh THPT trong học tập bộ môn Hóa học

ở trường THPT

- Nghiên cứu quy trình vận dụng dạy học theo mô hình 5E nói chung và trong môn Hóa học nói riêng

- Cách ứng dụng phần mềm ClassPoint trong dạy học theo mô hình 5E

- Xây dựng tiến trình dạy học bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10 theo mô hình 5E có ứng dụng phần mềm “ClassPoint”

Trang 9

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài

trong việc nâng cao hiệu quả dạy học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Mô hình dạy học 5E nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trường THPT Đô Lương 2

- Ứng dụng phần mềm ClassPoint trong dạy học

- Năng lực chuyên biệt cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học môn Hóa học trong chương trình giáo dục phổ thông mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp phân loại tài liệu, phân tích tài liệu, đọc ghi chép, và tóm tắt tài liệu khoa học

- Phương pháp điều tra: Phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng để phát hiện các qui luật phân bố các đặc điểm của đối tượng

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp tận dụng trí tuệ của đội ngũ những người có chuyên môn để xem xét nhận định bản chất của đối tượng, khám phá một giải pháp tận dụng

- Phương pháp nghiên cứu quan sát các sản phẩm hoạt động của học sinh: Phương pháp khoa học sử dụng tri giác thu thập thông tin từ đối tượng

- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp

Trang 10

- Thiết kế các dạng hoạt động học tập theo mô hình 5E và ứng dụng phần mềm

ClassPoint trong dạy học bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10 theo hướng

phát triển năng lực cho học sinh

- Xây dựng các rubic đánh giá năng lực của học sinh khi tham gia học tập theo

mô hình 5E

- Kết quả nghiên cứu đề tài vừa cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn, vừa trở thành tài liệu tham khảo trong việc đổi mới PPDH theo định hướng PTNL hiện nay đối với môn Hóa học nói riêng và các môn học nói chung

Trang 11

PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Cơ sở lí luận về hình thức tổ chức dạy học theo mô hình 5E

1.1.1.1 Khái niệm về tổ chức dạy học theo mô hình 5E

Mô hình dạy học 5E, được phát triển vào năm 1987 bởi tiến sĩ Rodger W Bybee

và các cộng sự trong tổ chức giáo dục Nghiên cứu Chương trình Khoa học Sinh học, thúc đẩy học tập hợp tác, tích cực trong đó học sinh làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề và điều tra các khái niệm mới bằng cách đặt câu hỏi, quan sát, phân tích và đưa ra kết luận

5E là thuật ngữ viết tắt của 5 từ bắt đầu bằng chữ E trong tiếng Anh: Engage (gắn kết), Explore (Khảo sát), Explain (Giải thích), Elaborate (Củng cố) và Evaluate (Đánh giá)

Mô hình dạy học 5E là mô hình dạy học gồm 5 giai đoạn: gắn kết, khảo sát, giải thích, củng cố và đánh giá Năm giai đoạn được xây dựng dựa trên thuyết kiến tạo nhận thức của quá trình học, theo đó học sinh xây dựng các kiến thức mới dựa trên các kiến thức hoặc trải nghiệm đã biết trước đó

1.1.1.2 Đặc điểm của mô hình dạy học 5E

Đây là quy trình gồm 5 bước như sau:

Bước 1: Gắn kết (Engage): Trong giai đoạn đầu của chu kỳ học tập, giáo viên

tìm hiểu nhanh về kiến thức đã biết của học sinh Để kích thích sự tích cực, chủ động của HS khi tìm hiểu về một nội dung học tập GV phải chuẩn bị trước các đồ dùng học tập tạo sự chú ý hứng thú tìm tòi khám phá ở học sinh: Ví dụ như chuẩn bị các tranh ảnh, các đoạn phim các thí nghiệm, mẫu vật, bộ câu hỏi định hướng, bài tập tình huống, bảng biểu, số liệu thực tế, các hiện tượng thực tế có liên quan trực tiếp tới nội dung học tập để HS có thể khám phá và tìm hiểu được nội dung học tập một cách dễ dàng và lý thú

Giai đoạn này cho phép học sinh gắn kết, liên hệ với các trải nghiệm và quan sát thực tế mà các em đã trải qua Trong bước này các khái niệm mới cũng sẽ được giới thiệu cho các em học sinh

Bước 2: Khảo sát (Explore):Trong giai đoạn này học sinh chủ động khám phá

các khái niệm mới thông qua các trải nghiệm học tập cụ thể Giáo viên cung cấp những kiến thức hoặc trải nghiệm mang tính cơ bản, nền tảng, dựa vào đó các kiến thức mới có thể bắt đầu Khi đã có trong tay những đồ dùng dụng cụ học tập, GV phải hướng dẫn HS khảo sát tức là bắt tay vào tìm hiểu những vấn đề có liên quan tới nội dung học tập: Có thể là việc quan sát tranh, phim ảnh hay làm thí nghiệm giải bài tập tình huống, trả lời câu hỏi, phân tích các số liệu các hiện tượng thực tế vận

Trang 12

dụng những kiến thức đã học, những thực tế đã biết và những gợi ý của thầy để hiểu đúng những vấn đề của nội dung học tập

Bước 3: Giải thích (Explain):Khi đã có những chính kiến riêng của mình HS

chủ động thảo luận nhóm để có thể giải thích những băn khoăn thắc mắc của mình, của bạn để hiểu rõ hơn và đúng đắn nhất vấn đề của nội dung học tập và xây dựng

thành các định nghĩa, khái niệm, quy luật, quá trình

Bước 4: Phát biểu (Elaborate): Sau khi tìm hiểu nội dung học tập để có thể

ghi nhớ, khắc sâu kiến thức GV hướng dẫn cho HS phát biểu vấn đề, ý kiến, nhận định của bản thân, của nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tế giải quyết các vấn đề liên quan hay phân tích tổng hợp sâu chuỗi các vấn đề với nhau phát biểu một mô hình hay một quy trình công nghệ mới dựa vào kiến thức đã thu nhận từ nội dung

học tập

Bước 5: Đánh giá (Evaluation): Khi HS đã được cử phát biểu ý kiến của mình,

GV nên để các HS khác đánh giá, bổ sung cho bạn học từ những sai lầm của bạn sau

đó GV là người cuối cùng chốt đáp án và định hướng cho HS những đường hướng, cách thức học tập ở các nội dung tiếp theo Giai đoạn này nhằm mục đích ghi nhận kết quả và điều chỉnh cho các bài học tiếp theo

1.1.1.3 Ưu điểm của mô hình dạy học 5E

Đối với các chương trình giáo dục nhất là đối với các bộ môn khoa học tự

nhiên mô hình 5E trở thành một công cụ hữu hiệu giúp cho cả người học và người

dạy đều cảm thấy tiếp nhận bài học có tính hệ thống, liền mạch, có cơ hội phát triển theo tâm lý tự khám phá và kiến tạo kiến thức cụ thể như sau:

- Hiệu quả mô hình 5E đối với học sinh:

+ Khi được học theo mô hình 5E các học sinh cảm thấy dễ nhớ các kiến thức

- Hiệu quả mô hình 5E đối với giáo viên:

+ Mô hình 5E còn giúp cho giáo viên chuẩn bị bài giảng trở nên đơn giản hơn

và có tính hệ thống hơn, giúp tạo được những hoạt động đa dạng cho học sinh trải nghiệm

Trang 13

+ Điều đó có nghĩa là mô hình này thúc đẩy triết lý lấy học sinh làm trung tâm Vai trò của giáo viên chính là tạo ra môi trường học tập trải nghiệm giúp học sinh từng bước khám phá kiến thức mới dựa trên các kiến thức đã biết trước đó

+ Mô hình 5E cũng giúp giáo viên cảm thấy hào hứng với bài dạy, các nội dung

được triển khai được dễ dàng và thuận lợi hơn, đặc biệt tránh được các tình huống như bỏ sót kiến thức hay các hoạt động trải nghiệm

+ Mô hình 5E mang lại cho giáo viên một cách nhìn hệ thống và toàn diện, giúp

ích trong việc triển khai các nội dung đa dạng khác nhau

+ Mô hình 5E giúp cho giáo viên tìm được trọng tâm của bài học và dẫn dắt

học sinh tiến hành được các bước một cách có hệ thống

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về dạy học phát triển năng lực cho học sinh

1.1.2.1 Khái niệm về dạy học phát triển năng lực

Dạy học phát triển năng lực là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình này Trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc

một giai đoạn (hay một quá trình) dạy học

1.1.2.1.1 Đặc điểm về dạy học phát triển năng lực

- Đặc điểm về mục tiêu: Chú trọng hình thành phẩm chất và năng lực thông qua việc hình thành kiến thức, kỹ năng, mục tiêu dạy học được mô tả chi tiết và có thể

đo lượng và đánh giá được Dạy học để biết cách làm việc và giải quyết vấn đề

- Đặc điểm về nội dung dạy học: Nội dung được lựa chọn nhằm đạt được các mục tiêu năng lực đầu ra Chú trọng các yêu cầu để học sinh có thể linh hoạt vận dụng vào mọi tình huống Chú trọng các kỹ năng thực hành, vận dụng vào thực tiễn Nội dung chương trình dạy học có tính mở tạo điều kiện để người dạy và người học

- Đặc điểm về không gian dạy học: Không gian dạy học có tính linh hoạt, tạo không khí cởi mở, thân thiện trong lớp học

- Đặc điểm về đánh giá: Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả “đầu ra”, quan tâm tới sự tiến bộ của người học Chú trọng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào

Trang 14

thực tiễn Ngoài ra 1 đặc điểm quan trọng trong đánh gia đó là: người học được tham gia vào quá trình đánh giá, nâng cao năng lực phản biện, một phẩm chất quan trọng của con người thời kỳ hiện đại

- Đặc điểm về sản phẩm giáo dục:

+ Tri thức người học có được là khả năng áp dụng vào thực tiễn

+ Phát huy khá năng tự tìm tòi, khám phá vừ ứng dụng nên người học không bị phụ thuộc vào học liệu

+ Người học trở thành những con người tự tin năng động và có năng lực Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là xác định và đo lường được “năng lực” đầu ra của học sinh Dựa trên mức độ làm chủ kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh trong quá trình học tập

1.1.2.2 Định hướng phát triển năng lực chung cho học sinh trong chương trình GDPT 2018

Năng lực chung: Đây là những năng lực cơ bản nhất, thiết yếu, cốt lõi, và là

nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống, trong lao động nghề nghiệp Theo chương trình GDPT 2018 ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT yêu cầu phát triển các năng lực chung đó là:

- Năng lực tự chủ và tự học: Tự lực, tự khẳng định, tự điều chỉnh thích ứng Tự học , tự hoàn thiện Định hướng nghề nghiệp

- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp, hợp tác

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Phát hiện, hình thành và triển khai ý tưởng mới Đề xuất lựa chọn giải pháp thiết kế và tổ chức hoạt động Tư duy độc lập

- Năng lực tin học

Phẩm chất chủ yếu được hình thành và phát triển ở HS đó là: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

1.1.2.3 Định hướng phát triển các năng lực đặc thù trong môn Hóa học THPT

Cũng theo chương trình GDPT 2018 và Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐTthì chương trình Hóa học THPT hình thành cho học sinh các năng lực, phẩm chất chung thông qua các năng lực chuyên biệt của bộ môn như sau:

1.1.2.3.1 Nhận thức Hóa học

- Năng lực nhận thức hóa học được thể hiện qua khả năng nhận thức được các kiến thức cơ sở về cấu tạo chất, các quá trình hóa học, các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng, một số chất hóa học cơ bản và chuyển hóa hóa học, một số ứng dụng của hóa học trong đời sống và sản xuất

Trang 15

- Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình Hóa học

- Trình bày được các hiện tượng, quá trình Hóa học; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình Hóa học bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập

- Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình

- Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận

- Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân

1.1.2.3.2 Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Hóa học

- Được thể hiện qua khả năng quan sát dự đoán kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống

- Đề xuất vấn đề liên quan đến Hóa học: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề, dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất

- Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu

- Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích; lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu

- Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết

- Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm…, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục

- Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp

1.1.2.3.3 Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học

Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học trong một số trường hợp đơn giản, biểu hiện cụ thể là:

Trang 16

- Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn Mô tả, dự đoán , giải thích hiện tượng, giải quyết vấn đề một cách khoa học

- Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn

- Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới

- Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững

1.1.3 Giới thiệu tính năng mới của phần mềm ClassPoint trong dạy học

- ClassPoint là một công cụ được tích hợp vào Microsoft PowerPoint nhằm tạo

ra các câu hỏi trực tiếp và có tính tương tác mạnh mẽ ngay trên slide bài giảng giúp giáo viên xây dựng sự tương tác trực tiếp mạnh mẽ với học sinh nhằm cải thiện chất lượng truyền đạt Đây là một trong những công cụ phù hợp để giáo viên tăng cường việc ứng dụng CNTT trong dạy học

- Ứng dụng không chỉ chạy các slide PowerPoint thông thường mà còn cho phép người tham gia tương tác trực tiếp trên slide, ngoài ra còn giúp GV thu thập các câu trả lời trực tiếp và lưu dữ liệu như điểm số của học sinh theo thứ tự thời gian

trong các tệp riêng biệt

- Ngoài chức năng như một công cụ đố vui các câu hỏi trắc nghiệm giống như Kahoot, Quizz, thì nó có còn có nhiều dạng tương tác khác tối ưu hơn như các câu trả lời tự luận, vẽ hình, uploat ảnh, bảng trắng…

- Nó đáp ứng yêu cầu dạy học môn Hóa học: thí nghiệm ảo, hình ảnh, bảng trắng, bài tập trắc nghiệm, tự luận…Chỉ trong một nốt nhạc bài dạy Hóa học trở thành bài giảng tương tác tuyệt vời

Ảnh minh họa chức năng của Classpoint

- Tính năng ưu việt của Classpoint được tích hợp trong PowerPoint

Khác với PowerPoint muốn học sinh tương tác được thì giáo viên phải dùng các hiệu ứng còn học sinh tương tác bằng cách trả lời vấn đáp hoặc nêu đáp án trong các hộp chát chủ yếu dùng câu hỏi trắc nghiệm, các bài tự luận không thực hiện được Còn ClassPoint chỉ cần câu hỏi tương tác ở nhóm công cụ tạo tương tác, học sinh nhập mã code hoặc quét QR, trả lời câu hỏi bằng cách ghi âm đáp án, tải ảnh, nối, vẽ…trực tiếp lên slide câu hỏi ở điện thoại ClassPoint có chức năng xuất bài giảng share pdf

Trang 17

1.2 Cơ sở thực tiễn

dụng mô hình 5E trong dạy học Hóa học ở các trường THPT

Khảo sát 41 giáo viên trường THPT Đô Lương 2 trên địa bàn công tác về việc vận dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực ở trường THPT chúng tôi thu được kết quả sau:

(Link khảo sát:

https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSdGbxncFNBkbzl5PqUUDgmnMTfC0

wdSKI_8jEg0IWIBnBtkcg/viewform)

Qua khảo sát cho thấy giáo viên đa số đều đã học hỏi cũng như thích nghi với việc dạy học phát triển năng lực cho học sinh theo chương trình 2018 Các phương pháp dạy học mà giáo viên hay sử dụng hiện nay là: dạy học theo góc, dạy học theo trạm, tổ chức hoạt động trải nghiệm… Đây là những phương pháp đã được tập huấn trong chương trình bồi dưỡng thường xuyên hiện nay

Để nâng cao hiệu quả giáo dục theo yêu cầu của dạy học phát triển năng lực thì giáo viên phải tích cực học tập trao đổi kinh nghiệm ở các đồng nghiệp, học hỏi các phương pháp, mô hình dạy học hay trên thế giới

Mô hình dạy học 5E mang lại hiệu quả tích cực trong việc dạy và học giúp học sinh dễ nhớ kiến thức và bài học hơn Dạy học theo mô hình 5E giúp giảm thời lượng dạy và học lý thuyết, thay vào đó là các hoạt động trải nghiệm, thực hành và sáng tạo 5E là một mô hình dạy học được áp dụng nhiều đối với các nước có nền giáo dục phát triển Đây là mô hình dạy học đáp ứng tất cả các yêu cầu của dạy học phát

Trang 18

triển năng lực nhất là đối với các bộ môn tự nhiên như Vật lí, Sinh học, Hóa học nhưng giáo viên còn ít áp dụng mô hình này, thậm chí còn có GV chưa biết tới mô hình dạy học 5E

1.2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường THPT

Khảo sát 41 giáo viên đang giảng dạy tại trường THPT Đô Lương 2 - huyện Đô Lương về việc sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học để tăng hứng thú và khả năng

tương tác cho học sinh chúng tôi thu được kết quả sau:(link khảo sát

https://docs.google.com/forms/d/1MixezVMx4kNgonRYo_m_wCA3aK9cSSjVZ6km YmD-ouU/edit#responses

Trang 20

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học là một xu thế tất yếu của thời đại.Tốc độ thay đổi của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến cách mọi người sống, làm việc và giải trí trên toàn thế giới Các công nghệ mới đã và đang phát triển thách thức quá trình dạy học truyền thống Qua số liệu điều tra cho thấy, CNTT ngày càng phát triển, giáo dục đang chuyển mình với công nghệ 4.0 Giáo viên ai cũng biết đến một số công cụ hỗ trợ hoạt động dạy học và khai thác cũng như sử dụng nó trong quá trình dạy học Với 100% giáo viên biết sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học thông dụng như Youtube, PowerPoint là các công cụ trình chiếu kiến thức Trong giai đoạn dạy học trực tuyến các giáo viên không ngừng tìm kiếm và sử dụng các phần mềm hỗ trợ để tương tác với học sinh trong quá trình dạy học trực tuyến cũng như trực tiếp và sẵn sàng bỏ kinh phí để trải nghiệm Công cụ ClassPoint là một công cụ tối giản đáp ứng được các yêu cầu trong dạy học trực tiếp cũng như trực tuyến nhưng nó chưa được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến như PowerPoint

1.2.3 Thực trạng thái độ học tập và sự tương tác của HS trong DH ở trường THPT hiện nay

Khảo sát 90 HS tại 2 lớp khối 10 ở trường THPT Đô Lương 2 cho thấy thái

độ và sự tương của HS khi học tập được thể hiện rõ qua 2 bảng sau:

Bảng 1: Thái độ học tập của học sinh

Thái độ tương tác của HS trong hoạt

động học tập

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Bảng 2: Tỉ lệ tương tác của HS trong DH trực tuyến, trực tiếp

Theo đó 40 % HS được khảo sát cảm thấy hứng thú và rất hứng thú trong các hoạt động học tập Tuy nhiên, có 22,2% HS được khảo sát cảm thấy thờ ơ, không

Trang 21

thích, thậm chí chán nản trong học tập Sự tương tác với giáo viên trong các hoạt động học tập cũng không cao: 15,6% số HS được khảo sát thường xuyên liên tục tương tác, số còn lại chỉ tham gia, hoặc tham gia khi bắt buộc và 6,7% chưa bao giờ tương tác với giáo viên Cũng theo số liệu phiếu điều tra có 16% các em tự tin trình bày phát biểu ý kiến thảo luận trước lớp, 20% HS thấy rằng các em có kĩ năng hoạt động nhóm tốt Nhưng có tới 85,5 % mong muốn của các em khi tham gia học tập

là được tự làm thí nghiệm, được chơi các trò chơi trong học tập và được tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm Một con số cao bất ngờ đó là 88 % HS nhận định kĩ năng ứng dụng CNTT của các em trong học tập tốt và khá tốt

- Giáo viên luôn không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng và nâng cao chuẩn đầu ra

- Học sinh thích được tương tác, thảo luận nhóm với bạn bè, được làm thí nghiệm, được tương tác với giáo viên Nhất được tương tác với bạn bè, giáo viên bằng các ứng dụng CNTT

- Học sinh có năng lực ứng dụng CNTT và hứng thú với các giờ học có ứng dụng CNTT

Như vậy qua tìm hiểu cơ sở lí luận cũng như điều tra thực tế để dạy học hiệu quả giáo viên cần đổi mới PPDH, cần hướng tới cho các em thực hành thí nghiệm, phát biểu ý kiến bản thân trước lớp, tự khám phá và xây dựng tri thức và hơn hết phát huy thế mạnh của các em là ứng dụng CNTT vào các giờ học Chúng tôi nhận thấy rằng “Ứng dụng CNTT với phần mềm ClassPoint trong dạy học theo mô hình 5E” là một đề tài hoàn toàn khả thi và có hiệu quả cao trong giảng dạy Nó không những hiệu quả khi dạy học trực tiếp mà còn có thể áp dụng và có hiệu quả cao trong

dạy học trực tuyến

Trang 22

Chương 2 Vận dụng quy trình dạy học theo mô hình 5E kết hợp ứng dụng

công nghệ thông tin trong dạy học phần Phản ứng oxi hóa khử

2.1 Xây dựng quy trình dạy học theo mô hình 5E nhằm phát triển năng lực trong dạy học Hóa học THPT

Chúng ta đã biết “Năng lực là tập hợp toàn bộ các kỹ năng, kiến thức, khả năng, hành vi của một người có thể đáp ứng đối với một công việc nhất định nào đó

và thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” Cùng với đặc thù chung của bộ môn Hóa học là môn khoa học thực tiễn, có nhiều định luật được rút ra từ thí nghiệm cũng như ứng dụng các định luật trong đời sống hàng ngày Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng tiến trình dạy học theo mô hình 5E có các quan điểm chính như sau:

- Một là: tuân thủ đúng các trình tự của các pha (giai đoạn) trong mô hình 5E Không nên nhảy cóc, bỏ qua hay tự thay đổi các bước trong mô hình dạy học 5E vì

sẽ ảnh hưởng đến quá trình dạy học, học sinh sẽ thấy khó hiểu, thiếu mạch lạc và sự gắn kết giữa các nội dung

- Hai là: sử dụng phiếu học tập trong quá trình giảng dạy để đảm bảo về mặt thời gian

- Ba là: các kiến thức lý thuyết và thí nghiệm mà học sinh có thể tự tìm hiểu được ở nhà nên đưa vào phần hoạt động mở rộng

- Bốn là: linh hoạt trong các hình thức đánh giá Đánh giá khác nhau sẽ thu hút học sinh tạo ra nhiều tình huống khác nhau giúp các em phát triển năng khiếu và tư duy sáng tạo

- Năm là: sử dụng các công cụ hỗ trợ như phòng máy, máy chiếu, các thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm đơn giản… Trong phạm vi của đề tài chúng tôi tổ chức khai thác và sử dụng phần mềm ClassPoint trong quá trình dạy học

- Sáu là: chú ý đến việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Các tiến trình phải bám sát đến việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Mỗi giai đoạn phải trả lời được câu hỏi: “Giai đoạn này có khả năng hình thành và phát triển được các năng lực nào?”

Cụ thể, mô hình 5E theo định hướng phát triển năng lực sẽ có các đặc điểm chính như sau:

- Giai đoạn gắn kết (E1): Gắn kết là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình

học tập, có kích thích được hứng thú học tập ở học sinh hay không là do giai đoạn này quyết định Gắn kết ở đây là gắn kết giữa học sinh và bài học, tạo động cơ học tập cho học sinh Thông thường có 2 tình huống thường áp dụng trong giai đoạn này là: xuất phát từ lỗ hổng kiến thức để hoàn thiện kiến thức hoặc xuất phát từ quan niệm sai để có một kiến thức hoàn chỉnh và chính xác Bên cạnh đó, một số hoạt động tập thể, trò chơi …cũng góp phần thành công trong giai đoạn này Để kích thích sự tích cực, chủ động của HS khi tìm hiểu về một nội dung học tập GV phải chuẩn bị trước các đồ dùng học tập tạo sự chú ý hứng thú tìm tòi khám phá ở học

Trang 23

sinh: Ví dụ như chuẩn bị các tranh ảnh, các đoạn phim các thí nghiệm, mẫu vật, bộ câu hỏi định hướng, bài tập tình huống, bảng biểu, số liệu thực tế, các hiện tượng thực tế có liên quan trực tiếp tới nội dung học tập để HS có thể khám phá và tìm hiểu được nội dung học tập một cách dễ dàng và lý thú.Trong giai đoạn gắn kết HS được ôn lại kiến thức cũ và từ kiến thức cũ xây dựng những nhận định giả thuyết giả thuyết mới Như vậy để tiếp nhận được vấn đề các em phải ôn lại kiến thức đã học, liên hệ nhiều kiến thức với nhau Khi giáo viên thường xuyên tổ chức hoạt động này các em sẽ hình thành được thói quen, năng lực tực tự học ở nhà Khi tiếp nhận vấn

đề mới các em phải không ngừng đặt câu hỏi tại sao lại như thế? Tại sao kiến thức

cũ mà các em đã được học không giải quyết được vấn đề mới?… Để trả lời những câu hỏi, những thắc mắc các em phải tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc Đây chính là bước khởi đầu để rèn luyện thói quen tích cực khám phá, tìm tòi mọi lúc, mọi nơi và trong mọi trường hợp với nhiều đối tượng

khác nhau

- Giai đoạn khảo sát (E2): Giai đoạn này có nhiều cơ hội cho học sinh rèn luyện

các năng lực như: quan sát, tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Hóa học; giải quyết vấn đề và sáng tạo… Để làm được điều này, giáo viên để học sinh được chủ động khám phá các khái niệm mới thông qua các trải nghiệm học tập cụ thể Giáo viên cung cấp những cơ hội (kiến thức, những trải nghiệm cơ bản và nển tàng) dựa vào đó các kiến thức mới có thể được bắt đầu xây dựng): Khi đã có trong tay những

đồ dùng dụng cụ học tập, GV phải hướng dẫn HS khảo sát tức là bắt tay vào tìm hiểu những vấn đề có liên quan tới nội dung học tập: Có thể là việc quan sát tranh, phim ảnh hay làm thí nghiệm giải bài tập tình huống, trả lời câu hỏi, phân tích các số liệu các hiện tượng thực tế vận dụng những kiến thức đã học, những thực tế đã biết và

những gợi ý của thầy để hiểu đúng những vấn đề của nội dung học tập Học sinh sẽ

trực tiếp khám phá và thao tác trên các thí nghiệm hoặc học cụ đã được chuẩn bị sẵn Giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện các hoạt động đa dạng như quan sát,

làm thí nghiệm, thiết kế hay thu thập số liệu

Ngoài ra, giai đoạn E2 là giai đoạn làm việc nhóm, khi làm việc nhóm hiệu quả

sẽ tác động tốt đến nhân cách cũng như năng lực của chính HS đó bao gồm: biết cách cùng nhau suy nghĩ, biết lắng nghe quan điểm của người khác, biết cách tự điều chỉnh bản thân, biết cách tranh luận và thuyết phục cũng như học cách tôn trọng người khác Hình thành, tích lũy cho các em kinh nghiệm làm việc nhóm, hợp tác nhóm

Thông qua thảo luận nhóm HS biết cách tự thể hiện mình, bộc lộ suy nghĩ của bản thân đồng thời nuôi dưỡng sự tự tin và sáng tạo Qua trao đổi, thảo luận GV kịp thời phát hiện được lỗi sai, thiếu sót của các em trong quá trình tư duy, lập luận để kịp thời chấn chỉnh, rèn luyện cho HS cách tư duy khoa học đồng thời cũng hướng dẫn cả cách diễn đạt, trình bày vấn đề Do đó, HS không chỉ học từ thầy cô mà còn học từ bạn, từ tài liệu sách vở, từ việc đúc rút kinh nghiệm của bản thân

Trang 24

Để giai đoạn này đạt hiệu quả, phiếu học tập là một yếu tố cần thiết Thay vì giáo viên trực tiếp hướng dẫn các thao tác thí nghiệm, giáo viên để học sinh dựa vào phiếu học tập để tự trao đổi và tìm ra cách thức thực hiện thí nghiệm

- Giai đoạn giải thích (E3): Giáo viên tạo cơ hội cho học sinh giải thích các hiện

tượng, kết quả thí nghiệm…được thực hiện ở pha E2 bằng các kiến thức của các em Sau đó giáo viên phân tích và đưa ra các kết luận khoa học chính xác Tuyệt đối trong giai đoạn này không làm theo chiều ngược lại, vì nếu làm như vậy sẽ làm mất

đi năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề của các em Và cũng trong giai đoạn này, giáo viên sẽ giới thiệu các thuật ngữ mới, khái niệm mới, công thức mới, giúp học sinh kết nối và thấy được sự liên hệ với trải nghiệm trước đó Khi đã có những chính kiến riêng của mình HS chủ động thảo luận nhóm để có thể giải thích những băn khoăn thắc mắc của mình, của bạn để hiểu rõ hơn và đúng đắn nhất vấn đề của nội dung học tập và xây dựng thành các định nghĩa, khái niệm, quy luật, quá trình Kiến thức ban đầu qua quá trình làm việc nhóm của HS có thể chưa hoàn toàn chính xác

vì vậy để các em nhận ra điểm sai lệch của bản thân, để các em chiếm lĩnh được kiến thức một cách chính xác thì GV phải để cho HS bộc lộ sản phẩm tự học của mình thông qua quá trình giải thích, phản biện để các em được chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau Trong quá trình diễn đạt (lập luận) và đặt câu hỏi (phản biện) học sinh sẽ

tự soi xét lại sản phẩm mới học được của mình từ đó bổ sung, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về cách học, cách diễn đạt Như vậy giai đoạn E3 phát triển cho học sinh

năng lực giao tiếp hợp tác cũng như năng lực ngôn ngữ…

- Giai đoạn củng cố (E4): Ở giai đoạn này giáo viên tập trung cho học sinh có

được không gian áp những gì đã học được Tạo cơ hội cho việc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học vào các tình huống cụ thể.Sau khi tìm hiểu nội dung học tập để có thể ghi nhớ, khắc sâu kiến thức GV hướng dẫn cho HS phát biểu vấn đề, ý kiến, nhận định của bản thân, của nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tế giải quyết các vấn đề liên quan hay phân tích tổng hợp sâu chuỗi các vấn đề với nhau phát biểu một mô hình hay một quy trình công nghệ mới dựa vào kiến thức

đã thu nhận từ nội dung học tập Cụ thể, giáo viên giúp học sinh thực hành và vận

dụng các kiến thức đã học được ở bước giải thích, giúp học sinh đào sâu hơn các hiểu biết, khéo léo hơn các kỹ năng, và có thể áp dụng được trong những tình huống

và hoàn cảnh đa dạng khác nhau Nếu chủ đề được lựa chọn có khả năng mở rộng cho các chủ đề sau, giáo viên có thể yêu cầu học sinh trình bày phương án giải quyết hay dự đoán để củng cố kiến thức mới và chuẩn bị cho các chủ đề bài học tiếp theo

Và đặc biệt, các vấn đề gợi mở ở giai đoạn E1 phải được giải quyết ở giai đoạn này

để tạo sự thuyết phục cho học sinh

- Giai đoạn đánh giá (E5): Giai đoạn đánh giá nhằm hai mục đích là ghi nhận

kết quả và điều chỉnh cho các bài học tiếp theo Giáo viên ghi nhận các kết quả về việc hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh sau bài học

Và bên cạnh đó phải có các điều chỉnh thích hợp với đối tượng học sinh của mình trong các bài học tiếp theo Giai đoạn đánh giá không nhất thiết là giai đoạn cuối

Trang 25

trong tiến trình, chúng ta có thể đánh giá thông qua quá trình học của học sinh Giáo viên quan sát học sinh thông qua các hoạt động nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn để xem sự tương tác trong quá trình học Giáo viên không nên cố định một phương pháp đánh giá khuôn mẫu mà luôn linh hoạt trong việc đánh giá Hoặc GV để các HS khác đánh giá, bổ sung cho bạn học từ những sai lầm của bạn sau đó GV là người cuối cùng chốt đáp án và định hướng cho HS những đường hướng, cách thức học tập ở các nội

dung tiếp theo

Như vậy chúng tôi tóm tắt hoạt động theo mô hình 5E áp dụng trong dạy học bộ môn Hóa học như sau

Tạo hứng thú học tập cho HS bằng cách

- Kích thích tính

tò mò ở HS + Xuất phát từ sai lầm của HS

+ Xuất phát từ lỗ hổng

- Tổ chức cho HS các trò chơi học tập như rung chuông vàng, Kahoot, quizz,

- Cho cả lớp xe một trích đoạn phim hoặc một bản nhạc liên quan đến bài học

- Tiến hành các bài kiểm tra ngắn đầu giờ để kết nối với bài học trước

- Sử dụng các câu hỏi liên quan đến các hiện tượng, ứng dụng của bài học mới trong cuộc sống

- GV chia lớp thành các nhóm học tập và tiến hành các hoạt động với dụng cụ thí nghiệm đã được chuẩn bị như: thiết kế phương án thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, thu thập số liệu

- GV tiến hành thí nghiệm và yêu cầu các nhóm HS quan sát, ghi nhận số liệu và rút ra nhận xét

- GV minh họa thí nghiệm thông qua các video chương trình mô phỏng và yêu cầu

HS quan sát, ghi nhận…

Trang 26

- GV chia nhóm để HS giải quyết một vấn đề học tập (một bài toán, một tình huống) đòi hỏi những kiến thức và kĩ năng mới

- GV xây dựng những tình huống trái ngược về khái niệm để thúc đẩy HS tranh luận, trao đổi ý kiến với nhau

Hỗ trợ HS trong quá trình trải nghiệm

- Cung cấp những kiến thức hoặc trải nghiệm cơ bản, nền tảng, từ đó các kiến thức mới có thể được hình thành

- Sử dụng các câu hỏi để chuyển hướng khám phá của HS khi cần thiết

- Giúp đỡ HS trong quá trình khảo sát nhưng chỉ đóng vai trò là người tư vấn, không vội kết luận hoặc đánh giá kết quả của HS

kĩ năng của bản thân

- Sử dụng các câu hỏi để chuyển hướng khám phá của HS khi cần thiết

- Giúp đỡ HS trong quá trình khảo sát nhưng chỉ đóng vai trò là người tư vấn, không vội kết luận hoặc đánh giá kết quả của HS

- GV hỏi các nhóm sau khi tiến hành thí nghiệm thấy có hiện tượng gì xảy ra hoặc thí nghiệm đó có thể trả lời được câu hỏi ban đầu hay không?

GV kết luận, chính xác hóa lại các kiến thức khoa học

GV hướng dẫn học sinh tổng hợp kiến thức mới

- Gv có thể giới thiệu các công thức, khái niệm, sơ đồ mới để hệ thống lại các kiến thức mà HS đã khám phá ở bước trước đó

- GV sử dụng video, phần mềm chuyên dụng, phim hoặc tài liệu khoa học để cung cấp thông tin khoa học cho HS

- GV sử dụng các câu chuyện lịch sử để đưa ra kết luận

Củng cố (E4) Tạo cơ hội cho

HS áp dụng các

- GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi, vấn đề nêu

ra ở đầu bài

Trang 27

Tạo cơ hội cho HS

áp dụng kiến thức

tự mình xây dựng

kiến thức đã lĩnh hội được vào giải quyết các vấn đề học tập và cuộc sống

Tạo điều kiện cho học sinh được trình bày miêu tả, phân tích các trải nghiệm

- GV đưa ra bài tập tìm điểm giống và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hoặc cho trò chơi thử thách, giúp HS vận dụng ngay các kiến thức vừa học

- Sử dụng hệ thống bài tập định tính, định lượng, thực tế,… trong phiếu học tập

để HS áp dụng ngay

GV mở rộng nội dung bài học cho

HS:

- Giới thiệu các ứng dụng thí nghiệm liên quan;

- Giao và hướng dẫn thực hiện các bài tập hoạt động

ở nhà

- Gợi mở các vấn

đề liên quan đến bài học tiếp theo

- GV giới thiệu các sản phẩm học tập đã chuẩn bị sẵn cho HS và yêu cầu các em tiến hành chế tạo thử nghiệm ở nhà (có phần hướng dẫn cụ thể trong phiếu học tập)

- Giới thiệu một số kiến thức liên quan đến nội dung bài học đã được chuẩn bị trước trong phiếu học tập

- Giao một số nhiệm vụ học tập về việc ứng dụng kiến thức vừa học đến HS

- GV đánh giá HS;

- Đặt các câu hỏi mở để HS có cơ hội giải thích hoặc trình bày: Bạn biết gì về chủ đề vừa học? Bạn có dữ liệu gì để chứng minh,…?

- Sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá đã chuẩn bị sẵn để các em tiến hành đánh giá lẫn nhau hay tự đánh giá

2.2 Giới thiệu các chức năng phần mềm ClassPoint

2.2.1 Chức năng tạo phòng học online

Trang 28

Bình thường giáo viên chỉ trình chiếu bài giảng PowerPoint trực tiếp trên lớp học cho học sinh quan sát, hoặc khi dạy online thì giáo viên có thể chia sẻ cho học sinh quan sát nội dung bài học bằng cách chia sẻ màn hình trên các phần mềm nhúng Zoom, Class room… nhưng khi cài ClassPoint thì bây giờ giáo viên có thể tạo một lớp học trên PowerPoint mà không cần nhúng trong bất kì phần mềm nào nữa cụ thể

các bước tạo phòng học như sau:

Bước 1: Chuẩn bị toàn bộ dữ liệu, slide cần trình chiếu (Ở bước này giáo viên

không phải soạn bài giảng mới trên ClassPoint mà ClassPoint đã tích hợp trên

PowerPoint nên giáo viên chỉ cần mở một bài giảng PowerPoint sẵn có của mình) Bước 2: Nhấn vào phần Slide Show bên góc phải dưới cùng của bài (đây chính

là chức năng trình chiếu khi mở PowerPoint) để tạo 1 lớp học

Trang 29

Mã QR của lớp học

Cách 2: Học sinh truy cập vào link ClassPoint.app/join sau đó dùng mã lớp (Class code) ở góc trên bên phải do giáo viên cung cấp nhập vào phần Class Code > Nhập tên của bạn vào phần Your Name > Nhấn Join

Truy cập vào giao diện ClassPoint trên web

Nhập mã lớp và tên của bạn > Nhấn Join để vào lớp Như vậy sau khi đăng nhập và tạo lớp học thành công giáo viên đã biến bài giảng trình chiếu PowerPoint bình thường thành một lớp học Trên màn hình điện thoại của học sinh hiển thị bài giảng PowerPoint của giáo viên

2.2.2 Công cụ tạo các bài thi trắc nghiệm, trò chơi tương tác với người tham gia phòng học

- Sau khi cài đặt phần mềm ClassPoint thì phần mềm sẽ tự động tích hợp trên PowerPoint và có biểu tượng Inknoe ClassPoint nằm trên thanh công cụ của PowerPoint như sau:

Trang 30

- Lúc này khi mở bài giảng PowerPoint và kích vào biểu tượng Inknoe Claspoint giáo viên sẽ thấy xuất hiện các chế độ như sau

- Đây chính là các dạng tương tác mà giáo viên có thể lựa chọn đó là:

Dạng 1 Câu hỏi dạng Multiple Choice (Câu hỏi trắc nghiệm có hoặc 1 đáp án đúng hoặc nhiều đáp án đúng)

Dạng tương tác này giống như trên các phần mềm tương tác Kahoot, Quizz đó

là người chơi tham gia trả lời câu hỏi trắc nghiệm, sau khi thời gian kết thúc bảng kết quả sẽ hiện ra kết quả của người tham gia và sắp xếp theo thứ tự thời gian, điểm

số Để một câu hỏi trắc nghiệm bình thường trên slide trở thành câu hỏi tương tác

GV cần làm theo các bước:

Bước 1: Ở giao diện slide trình chiếu có câu hỏi mà giáo viên muốn học sinh tương tác > Chọn tab Inknoe ClassPoint > Bạn Click vào Multiple Choice thì câu

hỏi của bạn trở thành dạng tương tác

Chọn tab Inknoe ClassPoint > Bạn Click vào Multiple Choice

Bước 2: Hộp thoại hiện ra bên trái > Bạn chọn các lựa chọn sau:

Trang 31

- Allow selecting multiple choices: Có cho phép học sinh chọn nhiều câu trả

lời hay không? nếu có thì chọn các đáp án đúng tại ô bên cạnh

- Has correct answer: Câu hỏi này có câu trả lời nào đúng hay không? Nếu có

hãy chọn đáp áp đúng ở ô bên cạnh

- Competition mode: Chế độ thi đấu: Chế độ này cho GV kết quả theo bảng

xếp hạng thứ tự người trả lời đúng và nhanh nhất

Bảng hộp thoại các lựa chọn trả lời trắc nghiệm

Bước 3: Tiếp đến bạn chọn các thiết lập cho câu hỏi trắc nghiệm trong đó: trong phần “ Play Options” ở hộp thoại

+ Start question with slide: Bắt đầu câu hỏi khi mở slide

+ Minimize result window after question starts: Thu nhỏ bảng kết quả khi

bắt đầu câu hỏi

+ Close submission after : Kết thúc câu hỏi sau bao nhiêu phút

Bước 4: Bạn thực hiện trình chiếu > Và click vào hộp thoại đã tạo để hiển thị

câu hỏi trắc nghiệm

Thực hiện trình chiếu và click vào hộp thoại trắc nghiệm đã tạo

Trang 32

Bước 5: Lúc này màn hình điện thoại của học sinh sẽ có giao diện như sau

Giao diện trả lời câu hỏi trên màn hình của học sinh

- Khi đó học trả lời câu hỏi tương tác trên điện thoại

- Kết quả đúng sẽ hiển thị ở bảng kết quả như hình 12

- Giáo viên có thể tùy chọn xem đáp án của bất kì HS nào

- Nếu giáo viên chọn chế độ đối kháng thì lúc này trên màn hình sẽ hiển thị bảng kết của thành tích xếp theo thứ tự của HS

Giáo viên có thể chọn tải kết quả về trang trình chiếu lưu lại nếu muốn lấy đó làm căn cứ đánh giá

Phần kết quả các đáp án được hiển thị trong bảng Result

Trang 33

Dạng 2 Word Cloud (Câu hỏi và trả lời đám mây)

- GV mở câu hỏi kích vào biểu tượng ClassPoint và chọn hình đám mây Khi đó trên câu hỏi sẽ xuất hiện hình đám mây như hình:

Câu hỏi dạng đám mây Word Cloud

- Học sinh sẽ nhập các câu trả lời ngắn: câu trả lời dạng này thường là những câu hỏi khảo sát, đáp án ngắn gọn thông thường có hoặc không, hoặc là các công thức ngắn gọn

- Các câu trả lời sẽ được hiện lên dưới dạng đám mây, Các đáp án giống nhau

và nhiều nhất sẽ được trình bày chữ to hơn.Thông thường Gv nên chọn câu hỏinhư một dạng câu hỏi mang tính chất khảo sát hoặc xuất phát từ sự sai lầm khi ứng dụng kiến thức cũ, gây sự tranh cãi để kích thích học sinh tiếp nhận vấn đề bài mới Cũng như các dạng câu hỏi khác, Gv có thể xem đáp án của HS bất kì cũng như lưu lại phần kết quả câu

Dạng 3 Dạng Short answer ( Câu trả lời ngắn) Hoàn toàn giống với 2 dạng câu

hỏi trên GV chỉ cần kích biểu tượng Inknoe ClassPoint và chọn Short answer thì câu hỏi bình thường của giáo viên đã chuyển thành câu hỏi tương tác Dạng câu hỏi này cho phép học sinh nhập các câu trả bằng văn bản dưới dạng ngắn gọn, thời gian tối

đa 5 phút Dạng này phù hợp với dạng câu hỏi dưới hình thức kể tên, nhận xét ngắn Lúc này màn hình của giáo viên và HS hiển thị:

Màn hình của giáo viên khi học sinh trả lời - Màn hình Hình HS

Trang 34

Dạng 4 Slie Drawing: Dạng câu hỏi này cho phép người học dùng công cụ

bút vẽ để vẽ trực tiếp trên bảng trắng: Dạng câu hỏi này có thể áp dụng cho các câu hỏi liên quan tới vẽ đồ thị, vẽ hình ảnh một sản phẩm nào đó

Hình ảnh câu trả lời dạng Drawing

Dạng 5: Image Uploat: Cho phép người học tải và uploat ảnh nào lên màn

hình chiếu Như vậy học sinh có thể chụp ảnh và uploat ảnh giải một bài tập hay nội dung thảo luận nhóm, sơ đồ tư duy…

3.4.2.3 Công cụ thăm dò ý kiến và gọi tên ngẫu nhiên

- Nó nằm ngay trên thanh công cụ ClassPoint ở chế độ trình chiếu

Công cụ thăm dò và gọi tên ngẫu nhiên

- GV có thể sử dụng khi có câu hỏi đặc biệt cần hỏi hoặc khi GV muốn thu thập phản hồi nhanh từ HS ClassPoint cung cấp 2 loại survey chính thường được dùng là Đúng – Sai, Có – Không Các tùy chọn này sẽ được gửi đến HS

và có thể cho GV phản hồi tức thì Giáo viên có thể sửa theo ý muốn công cụ thăm dò

Trang 35

- Mỗi học sinh được kết nối có tên của họ đằng sau một trong những hộp được

sắp xếp ngẫu nhiên

Hộp tên của người tham gia lớp học

- Khi GV muốn chọn một hoặc nhiều học sinh để trả lời câu hỏi của mình, chỉ cần nhấp vào một hộp để hiển thị tên đằng sau nó GV có thể sử dụng công cụ này

để tạo thêm hứng thú cho lớp học của mình và chắc chắn sẽ giúp cho học sinh tập

trung hơn trong giờ học Nếu GV muốn xáo trộn tên của học sinh và bắt đầu lại, chỉ

cần nhấp vào “Reset”.+

Chúng tôi tóm tắt lại quy trình sử dụng ClassPoint như sau:

Bước 1: Cài đặt ClassPoint

Bước 2: Tạo bài giảng: Soạn như bài giảng trên PowerPoint và Soạn câu hỏi tương tác ở nhóm công cụ tương tác ở hình trên

Bước 3: Trình chiếu bài giảng

- GV kích vào inknore ClassPoint, chọn nút trình chiếu PowerPoint

- HS đăng nhập vào ClassPoint và điền mã code hoặc quét mã QR

- Trong quá trình chiếu, nhấp chuột vào nút câu hỏi và HS sẽ đưa ra các câu trả lời

- Xem phản hồi của HS được ghi nhận trực tiếp hoặc xem sau ghi kết thúc Như vậy ClassPoint biến 1 câu hỏi bình thường trên PowerPoint thành các câu hỏi tương tác với chỉ 1 cú Click chuột Đây là chức năng đặc biệt và tối ưu nhất của Class- Point Thông thường khi giảng dạy, nhất là trong giảng dạy trực tuyến, để tương tác với học sinh thì giáo viên cần trình chiếu bài dạy trên power- point trên nền tảng Zoom và khi muốn tương tác với Hs thì phải đồng thời mở thêm phần mềm khác như Kahoot, Azota, Quizzi, Blooket… Để thực hiện một tiết dạy, nhất là dạy Online giáo viên cần soạn giáo án điện tử PowerPoint, soạn thêm bộ câu hỏi tương tác trên các phần mềm khác Việc làm như vậy vô cùng tốn thời gian và công sức, hơn nữa khi học trực tuyến học sinh thường dùng điện thoại, các em phải mở một lúc nhiều cửa sổ mới có thể vừa học vừa tương tác ảnh hưởng tới hiệu quả học tập

Trang 36

Đôi lúc chỉ cần sơ ý thì các em sẽ thoát ra khỏi lớp học hoặc phần mềm tương tác Đến với ClassPoint, giáo viên và học sinh không phải làm nhiều thao tác phức tạp như vậy Khi soạn bài thì trên bài PowerPoint của giáo viên cơ bản đã có các câu hỏi Lúc này chỉ cần 1 click chuột chọn chế độ tương tác thì giáo viên đã biến một câu hỏi thông thường thành câu hỏi tương tác Không chỉ một dạng câu hỏi mà có nhiều dạng câu hỏi giáo viên có thể lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích giảng dạy, chế độ thi đấu, gọi tên ngẫu nhiện sẽ biến một bài giảng Power - point bình thường thành một giờ học hiệu quả và thú vị

2.2.3 Ứng dụng phần mềm ClassPoint trong các giai đoạn của mô hình dạy

học 5E

Như đã phân tích các bước dạy học theo mô hình 5E trong dạy học Hóa học nhằm phát triển năng lực thì không thể thiếu vai trò quan trọng của CNTT Phần mềm ClassPoint có nhiều chức năng và công cụ, tuy nhiên khi vận dụng vào trong quá trình dạy học thì chúng ta cần sử dụng các chức năng và công cụ đó một cách linh hoạt vào từng giai đoạn Tùy thuộc vào nội dung bài dạy, tùy thuộc vào năng lực hướng tới để lựa chọn công cụ thích hợp Sau đây là một số gợi ý của chúng tôi

về ứng dụng ClassPoint trong quá trình dạy học theo mô hình 5E

Giai đoạn 1: Gắn kết: Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình học tập, có

kích thích được hứng thú học tập ở học sinh hay không là do giai đoạn này quyết định Gắn kết giữa học sinh và bài học, tạo động cơ học tập cho học sinh Đúng như tên gọi của nó “Gắn kết” không những là tìm sợi dây liên kết kiến thức cũ và mới lại với nhau mà còn là sự kết nối tính đoàn kết của cả lớp học Đây là bước tạo tâm thế cho học sinh sẵn sàng cho một giờ học và đi tìm kiến thức mới Tuy biết rằng nó quan trọng nhưng nhiều giáo viên thường bỏ qua giai đoạn này Đa phần các giáo viên đều không đầu tư, hoặc không chú trọng Theo chúng tôi, để bước đầu thành công trong giai đoạn này, giáo viên cần phải làm cho không khí lớp học vui vẻ, có

sự tò mò, kích thích các em Giáo viên cần một sợi dây liên kết để học sinh có thể liên hệ kiến thức cũ và đề xuất vấn đề mới Rất nhiều giáo viên muốn làm các trò chơi tương tác nhưng lại tốn thời gian, không thành thạo về mặt tin học, công nghệ Khi sử dụng ClassPoint, trong giai đoạn này giáo viên có thể lựa chọn dạng câu hỏi như: Câu hỏi dạng Multiple Choice dưới dạng đối kháng để phần kiểm tra bài cũ trở thành một trò chơi cạnh tranh lành mạnh tạo không khí sôi động đầu giờ học, hoặc

sử dụng Word Cloud khi muốn tạo sự tương phản các ý kiến thăm dò của các em ý

kiến, dạng Slie Drawing đối với câu hỏi dưới dạng nối đáp án đúng với nội dung và đặt chế độ thi đấu Giáo viên có thể lựa chọn chơi cá nhân khi muốn nhiều em được tương tác hoặc chơi theo nhóm để ptăng sự đoàn kết đối với các em Như vậy trong giai đoạn này học sinh vừa có thể ôn lại kiến thức cũ và tạo niềm vui và sự kích thích cho các em Ngoài ra, giáo viên có thể chọn chức năng gọi ngẫu nhiên trong ClassPoint ngay sau khi các em lựa chọn đáp án, với tính năng gọi ngẫu nhiên sẽ làm cho học sinh hồi hộp chờ đợi và tránh tình trạng học sinh đoán đáp án

Giai đoạn 2: Khảo sát Trong giai đoạn này học sinh sẽ cùng nhau tiến hành

Trang 37

thí nghiệm, đo số liệu cũng như xử lí số liệu thí nghiệm để đưa ra nhận xét đánh giá

và hình thành kiến thức nội dung bài học hoặc để phát triển kỹ năng Để lấy số liệu

các nhóm được khách quan, giáo viên có thể ứng dụng tính năng Image Uploat để

HS uploat ảnh các bước tiến hành thí nghiệm và kết quả thí nghiệm hay nội dung phiếu học tập của các em Khi giáo viên cài đặt thời gian thì đồng hồ thời gian hiện lên trên trang trình chiếu để các em có thể phân bố thời gian hợp lí trong các hoạt động của mình Sau khi tiến hành thí nghiệm, các nhóm sẽ đồng loạt nhấn chức năng

Image Uploat của ClassPoint để nạp lại kết quả về số liệu cũng như các kết luận thu

được trong quá trình làm thí nghiệm Khi các em nạp bài, trên màn hình máy tính của giáo viên hiện lên ảnh của các nhóm, giáo viên có thể biết được nhóm nào nạp trước, nhóm nào nạp sau, cũng như tránh tình trạng một nhóm lên báo cáo thì nhóm khác thay đổi số liệu hoặc copy số liệu, nhận xét Giáo viên có thể tùy chọn một ảnh bất kì phóng to trên màn hình chiếu Như vậy với tính năng này khi tổ chức các hoạt động nhóm, học sinh không phải chuẩn bị bảng phụ, bút dạ hay các vật dụng khác, đem lại khách quan, sự hiệu quả trong quá trình tổ chức dạy học

Giai đoạn 3: Giải thích: Sau khi tiến hành làm thí nghiệm và rút ra kết quả

của hoạt động nhóm trong giai đoạn 2 thì lúc này một nhóm sẽ lên báo cáo số liệu

cũng như giải thích các kết quả thu được.Với tính năng chú thích và Sile Drawing

trên ClassPoint các nhóm có thể dễ dàng khoanh đỏ, dùng kí hiệu riêng để chú thích cho phần giải thích thêm hấp dẫn, ngoài ra các nhóm khác cũng có thể đánh dấu những phần còn sai, chưa hài lòng ngay trực tiếp trên màn hình điện thoại của mình khi nhóm khác báo cáo Kết hợp cùng với tính năng gọi tên ngẫu nhiên thì giáo viên

sẽ kiểm soát và quản lí được học sinh trong quá trình nhóm khác báo cáo Với phương pháp hỗ trợ cho học sinh tự tìm kiếm câu giải thích, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi mở để dẫn dắt, gợi ý các em tìm ra đáp án Như vậy đòi hỏi các em phải tập trung, lắng nghe, cũng như tìm hiểu, nhận thức được vấn đề thảo luận mới có thể đưa ra được nhận xét và chú thích trên màn hình

Giai đoạn 4: Củng cố: Sau khi hình thành kiến thức mới thì ở giai đoạn này

đa phần giáo viên sẽ lựa chọn các câu hỏi hình thức trắc nghiệm để cho học sinh vận dụng, củng cố lại kiến thức vừa học Nếu tiết nào giáo viên cũng dùng hình thức đó

mà không có sự cải tiến sẽ gây sự nhàm chán đối với các em, các em sẽ đánh lụi, đoán đáp án cho xong việc Tuy nhiên phần mềm ClassPoint có tới 5 dạng câu hỏi

và tùy chỉnh chế độ chơi như thi đấu sẽ khắc phục được các nhược điểm trên Tùy thuộc vào nội dung bài học và mục đích của mình thì giáo viên có thể tùy chọn các dạng câu hỏi một cách linh hoạt

Giai đoạn 5: Đánh giá: Là giai đoạn cung cấp cho giáo viên xác định xem

người học có đạt được sự hiểu biết về các khái niệm và kiến thức hay không Đánh giá không nhất thiết là phải kiểm tra bằng bài kiểm tra, hay trả lời các câu hỏi trắc nghiệm Để hình thành và phát triển được năng lực cho học sinh theo chúng tôi nên đánh giá sản phẩm học tập của học sinh trong một tiết học Đó có thể là đánh giá quá trình làm thí nghiệm, quá trình xử lí số liệu, đánh giá một bài thuyết trình, một sản

Trang 38

phẩm Stem hay cũng có thể là đánh giá tinh thần học tập của các nhóm để các em

có thể tích lũy được kinh nghiệm cho bản thân, để các em phát huy được tốt các năng lực riêng của bản thân Giờ đây trong hoạt động đánh giá không phải giáo viên là người cầm cân nảy mực mà phải để cho các em tự đánh giá Để có sự cân bằng khách quan trong quá trình đánh giá thì giáo viên cần xây dựng rubic đánh giá theo các tiêu chí và cho các nhóm đánh giá lẫn nhau Với tính năng khảo sát, Dạng Short answer của Class Poin, các em có thể đánh giá các hoạt động học tập ngay trên điện thoại của mình và kết quả sẽ hiển thị luôn sau khi khảo sát Như vậy các em sẽ thấy sự công bằng và khách quan trong quá trình này Một khi có sự tin tưởng các em sẽ luôn nổ lực hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ học tập trong các giờ học Theo chúng tôi, quá trình đánh giá nên linh hoạt tùy vào các hoạt động học tập chứ không phải là ở cuối giờ học

Trên đây là những gợi ý của chúng tôi khi áp dụng phần mềm ClassPoint trong

tổ chức dạy học theo mô hình 5E Tuy nhiên, tùy vào tình hình thực tế trong các giai đoạn học tập cũng như mục đích của mình thì giáo viên có thế ứng dụng một cách linh hoạt các chức năng của ClassPoint, cũng như sử dụng phần mềm một cách có hiệu quả nhất

2.3 Ứng dụng phần mềm ClassPoint trong tổ chức dạy học theo mô hình 5E bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10 THPT

2.3.1 Vị trí đặc điểm bài “Phản ứng Oxi hóa – Khử” – Hóa học 10

“Phản ứng Oxi hóa – Khử” thuộc chương 4 Hóa 10 Nó là cơ sở và nền tảng

để nghiên cứu các phần kiến thức khác tiếp theo Vì vậy bài này có tầm quan trọng nhất định Những định luật của chúng đều rút ra từ thực nghiệm, và các kiến thức của chương đều gần gũi và gắn liền với nhiều hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày

và trong kĩ thuật

PHẢN ỨNG OXI HÓA KHỬ (Thời lượng : 4 tiết)

Tiết 58 Số oxi hóa

Tiết 59 Phản ứng oxi hóa - khử

Tiết 60 Lập phương trình phản ứng oxi hóa - khử

Tiết 61 Ý nghĩa phản ứng oxi hóa - khử

2.3.2 Định hướng các năng lực hình thành cho học sinh trong dạy học bài

“Phản ứng Oxi hóa – Khử”

Chủ đề “Phản ứng Oxi hóa – Khử” hình thành và phát triển ở học sinh năng

lực Hóa học với những biểu hiện sau:

* Về năng lực chung

- Năng lực tự chủ và tự học:

Trang 39

+ HS tiếp cận học liệu và tự học tập trên học liệu; phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm, tự quyết định cách thu thập dữ liệu, tự đánh giá về quá trình và thực hiện nhiệm vụ

+ Chủ động, tích cực tìm hiểu về phản ứng oxi hoá - khử, các ứng dụng và vai trò của phản ứng oxi hoá - khử

- Năng lực giao tiếp và hợp tác:

+ Phân công và thực hiện được các nhiệm vụ trong nhóm học online qua các nền tảng zalo, messenger (biết trình bày, lắng nghe, quản lí nhóm )

+ Hoạt động nhóm và cặp đôi theo đúng yêu cầu của GV, đảm bảo cácthành viên trong nhóm đều được tham gia và trình bày báo cáo; Sử dụng ngôn ngữ hoá học để diễn đạt về phản ứng oxi hoá - khử

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo:

+ Chủ động đề ra kế hoạch, cách thức thu thập dữ liệu về tính chất của các chất, cách thức xử lí các vấn đề phát sinh một cách sáng tạo nhằm đạt được kết quả tốt nhất + Thảo luận với các thành viên trong nhóm, liên hệ thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề trong bài học và cuộc sống

- Năng lực tin học: Thông qua hướng dẫn HS hợp tác trong môi trường số qua nhóm

Zalo/Messenger; Sử dụng một số phần mềm như Canva, Capcut… làm video đưa lên mạng xã hội như tiktok/youtobe

Về năng lực hóa học

- Nhận thức hoá học: Nêu được khái niệm và xác định được số oxi hoá của nguyên

tử các nguyên tố trong hợp chất; nêu được khái niệm về phản ứng oxi hoá - khử và

ý nghĩa của phản ứng oxi hoá - khử; mô tả được một số phản ứng oxi hoá - khử quan trọng gắn liền với cuộc sống; cân bằng được phản ứng oxi hoá - khử bảng phưong pháp thăng bằng electron

- Tìm hiểu thế giói tự nhiên dưới góc độ hoá học: Tiến hành được thí nghiệm

về phản ứng oxi hoá - khử

- Vận dụng kiến thức, kì năng đã học: Tìm hiểu, đưa ra được ví dụ về phản ứng oxi hoá - khử và rút ra kết luận về vai trò của phản ứng oxi hoá - khử trong cuộc sống

Về phẩm chất

- Nhân ái: Giáo dục lòng nhân ái, biết chia sẻ với người yếu hơn mình

-Trung thực: Khuyến khích HS nói lên chính kiến của mình trong hoạt động nhóm,

trong đánh giá để tự hoàn thiện bản thân Trung thực trong báo cáo kết quả thực hành, trong đánh giá,

Trang 40

- Trách nhiệm: Có trách nhiệm với môn học, với bản thân và các bạn trong nhóm

để hoàn thành các nhiệm vụ được giao Có trách nhiệm với cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng lối sống lành mạnh, thân thiện với môi trường, lên án các hành vi gây ô nhiễm môi trường

- Yêu nước: Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, yêu cộng đồng và làm những việc thiết

Trong phần nội dung chúng tôi chỉ giới thiệu một kế hoạch bài dạy vận dụng

mô hình dạy học 5E vào dạy học tiết ‘‘Số oxi hóa ’’ Các kế hoạch dạy học ở những tiết khác trong chương‘‘Phản ứng oxi hóa - khử’’ chúng tôi xin phép chuyển sang

phụ lục 1

KẾ HOẠCH BÀI DẠY 1:

Tiết PPCT: 58 SỐ OXI HÓA

I MỤC TIÊU BÀI DẠY

- Giải quyết vấn đề: Thảo luận với các thành viên trong nhóm, liên hệ thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề trong bài học và cuộc sống

- Cẩn thận, trung thực và thực hiện an toàn trong quá trình làm việc nhóm

- Có niềm say mê, hứng thú với việc học tập

- Tham gia tích cực hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm

Ngày đăng: 27/07/2023, 07:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w