Tác giả Nguyễn Thị Hạnh trong bài viết “Một số cơ sở khoa học để xác định nội dung học tập trong chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông sau 2015” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dụ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Trang 2SỞ GD & ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2
Số điện thoại: 0981.408.456
Năm học: 2022 - 2023
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và địa bàn khảo sát 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản và đọc thẩm mỹ 6
1.1.2 Thơ trữ tình và dạy đọc thẩm mỹ khi dạy học thơ trữ tình 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Thực trạng tài liệu phục vụ dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 10 11
1.2.2 Thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông 15
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC ĐỌC THẨM MĨ KHI DẠY HỌC PHẦN ĐỌC BÀI 2: VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA 22
2.1 Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 22
2.1.1 Đáp ứng mục tiêu của Chương trình GDPT môn Ngữ văn (2018) phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học 22
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học 22
2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả, tính khả thi và có ý nghĩa thực tiễn 22
2.1.4 Bám sát đặc trưng của thơ trữ tình 22
2.1.5 Đảm bảo tính đặc thù của đọc thẩm mĩ thơ trữ tình 22
2.2 Một số biện pháp tổ chức đọc thẩm mỹ khi dạy phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca 23
2.2.1 Biện pháp 1: Chuẩn bị các điều kiện dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình theo
Trang 4hướng dẫn nhập cảm xúc cho giáo viên và học sinh 23
2.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động dạy học phù hợp để nuôi dưỡng và phát triển tình cảm thẩm mĩ cho học sinh .25
2.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phù hợp để khơi gợi, phát triển tình cảm thẩm mĩ cho học sinh 35
2.2.4 Biện pháp 4: Sử dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra, đánh giá nhằm phát triển kĩ năng đọc thẩm mĩ cho học sinh 37
2.3 Tính cấp thiết và khả thi của đề tài 40
2.3.1 Mục đích khảo sát 40
2.3.2 Đối tượng khảo sát 40
2.3.3 Nội dung và phương pháp khảo sát 40
2.3.4 Thười gian khảo sát 41
2.3.5 Kết quả khảo sát 41
CHƯƠNG 3 45
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 45
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 45
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 45
3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian và phương pháp thực nghiệm 45
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 45
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 45
3.2.3 Thời gian thực nghiệm 45
3.2.4 Phương pháp thực nghiệm 45
3.3 Quy trình tổ chức thực nghiệm 45
3.3.2 Công cụ thực nghiệm 45
3.4 Xây dựng giáo án thực nghiệm 46
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 46
3.5.1 Tiêu chí đánh giá 46
3.5.2 Thiết kế đề kiểm tra 46
3.5.3 Kết quả đánh giá thực nghiệm về mặt định tính 46
3.5.4 Kết quả đánh giá thực nghiệm về mặt định lượng 47
3.5.5 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm 50
Trang 5KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 52
1 Kết luận 52
1.1 Quá trình nghiên cứu 52
1.2 Ý nghĩa của đề tài 52
1.3 Tính mới mẻ của đề tài 53
1.4 Tính khoa học của đề tài 53
2 Bài học kinh nghiệm 53
3 Phạm vi ứng dụng của đề tài 53
4 Hướng phát triển của đề tài 53
5 Đề xuất, kiến nghị 54
5.1 Đối với sở Giáo dục và đào tạo 54
5.2 Đối với nhà trường 54
5.3 Đối với giáo viên 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Bước sang thế kỉ XXI, thế giới có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt
trong đó có lĩnh vực giáo dục Trong nhà trường phổ thông, hướng tiếp cận nội dung không còn phù hợp nữa Cùng với sự bùng nổ thông tin và khối tri thức nhân loại nên giáo dục không thể chỉ hướng theo nội dung mà còn phải chú ý tới cách dạy, cách học Vì vậy hơn bao giờ hết, việc đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực cho người học là mục tiêu cần thiết để giúp HS có thể tự khám phá kiến thức, tự khẳng định mình trong một cộng đồng rộng lớn, đa dạng, phức tạp, có nhiều đổi mới
và để tạo ra sự thích ứng cao trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống Yêu cầu này đã được nêu ra từ Nghị quyết số 88/2014/QH13 “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” Luật Giáo dục 2019 cũng xác định mục tiêu giáo dục “nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam , phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”
1.2 Là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và văn học, mang tính công
cụ, thẩm mĩ, nhân văn, môn Ngữ văn góp phần tạo tiền đề cho việc học tập các môn học khác Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 đã xác định mục tiêu chương trình: “Hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu: Yêu nước, nhân
ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; Bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách
và phát triển cá tính” và “Góp phần giúp HS phát triển các năng lực chung: năng lực
tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” Để từ đó HS “biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống” Như vậy, có thể thấy, môn Ngữ văn có vai trò lớn trong việc giúp HS hình thành và phát triển phẩm chất tốt đẹp cùng với các năng lực cốt lõi, năng lực chuyên môn để giúp các em
sống, học tập và làm việc hiệu quả Trong dạy học môn Ngữ văn đọc và hiểu được
xem là khâu “đột phá”, và “khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản” Điểm mới trong dạy học môn Ngữ văn theo Chương trình 2018
chính là nhằm hình thành và phát triển cho HS cách đọc, kĩ năng đọc để HS có thể đọc hiểu các văn bản cùng loại Bên cạnh đó, HS cần được bồi dưỡng giáo dục về cái đẹp, về lòng trắc ẩn cùng các giá trị nhân văn… Sử dụng phương pháp dạy đọc thẩm mĩ trong dạy học văn góp phần đạt được mục tiêu ấy Dạy đọc thẩm mĩ sẽ hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất và nhân cách của HS, trước hết là năng lực
tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc và cả những giá trị nhân văn của con người,
hướng tới các giá trị Chân - Thiện - Mĩ
1.3 Trong chương trình Ngữ văn THPT, thơ trữ tình là một trong những thể
Trang 82
loại chính của văn bản nghệ thuật, thường chiếm số lượng lớn TP và xuất hiện trong
đề thi nên hầu như các tài liệu liên quan đến dạy học môn Ngữ văn như chương trình, SGK, SGV, sách bài tập, sách tham khảo… hiện nay vẫn chủ yếu tập trung dạy đọc theo hướng cung cấp kiến thức về nội dung TP là chính Hơn nữa thơ trữ tình được xem là văn bản nghệ thuật đặc biệt bởi đặc trưng của thể loại Thơ trữ tình là tiếng nói tình cảm xuất phát từ trái tim người viết, tác động trực tiếp vào trái tim người đọc, tạo ra hiệu ứng “đồng cảm”, nói hộ tấm lòng, nghĩ suy, trăn trở của người đọc bằng nghệ thuật ngôn từ Vì vậy, nếu chỉ áp dụng đơn thuần cách đọc để cung cấp kiến thức về nội dung và hình thức của TP vào dạy học thì người đọc sẽ chỉ tiếp cận được tác phẩm ở mức độ giống như các loại văn bản thông thường khác Với TP thơ trữ tình nói riêng, rất cần có những yêu cầu đọc phù hợp, do đó trên cơ sở đọc để hiểu nội dung thì cần phải chú ý đến yêu cầu đọc để suy ngẫm, để thưởng thức, để ngộ ra, để hiểu chính mình… Đó là cách đọc hướng tới sự tác động qua lại, xuyên thấm lẫn nhau giữa hình tượng văn học và thế giới tâm hồn người đọc, tức đọc thẩm
mĩ Tuy nhiên, thực tế việc sử dụng phương pháp đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình hầu như không được chú ý và ít được giáo viên quan tâm Điều đó phần nào giảm sự hứng thú của HS trong học thơ
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu và triển khai đề tài Sử dụng phương pháp đọc thẩm mĩ nhằm nâng cao hiệu quả giờ học khi dạy học phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca (Chương trình Ngữ văn 10 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) với mong muốn nâng cao hiệu quả giờ dạy học bài 2 nói riêng và thơ trữ tình nói chung, góp phần nâng cao cảm xúc thẩm mỹ cho HS
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một trong những mục tiêu quan trọng của việc dạy học tiếng mẹ đẻ nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng là rèn luyện cho HS sử dụng thành thạo bốn kĩ năng cơ bản, đó là: nghe, nói, đọc, viết Trong bốn kĩ năng này, học càng lên cao thì kĩ năng
về “đọc” (trong đó có đọc hiểu) càng được quan tâm chú ý hơn Ở Việt Nam, thuật
ngữ “Đọc hiểu” được xuất hiện trong Chương trình, sách giáo khoa phổ thông từ năm 2000 Nó thể hiện sự đổi mới tư tưởng dạy học Ngữ văn của nước ta
Theo quan điểm của tác giả Trần Đình Sử trong bài viết “Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong dạy học TP văn chương”, thì “Dạy văn là dạy cho HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại…
Do đó, hiểu bản chất môn Văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực chủ thể của HS” Tuy nhiên từ đặc trưng của môn Ngữ văn trong nhà
trường phổ thông vừa là môn học công cụ, vừa là môn học nghệ thuật, có chức năng giáo dục thẩm mĩ, do vậy môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực cho HS, đặc biệt là năng lực đọc hiểu văn bản
Tác Tác giả Nguyễn Thanh Bình khi nói về bản chất của việc hoạt động đọc
hiểu văn bản trong môn Ngữ văn trong bài “Dạy học đọc hiểu TP văn chương theo
Trang 93
loại thể trong nhà trường THPT” đã nhấn mạnh: “Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn chương là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của TP trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản Đọc văn chương với bất kì hình thức nào cũng là một dạng thức lao động… Hoạt động đọc văn đòi hỏi người đọc trước hết phải huy động khả năng tri giác ngôn ngữ để tìm hiểu không chỉ các tầng ý nghĩa của lớp từ và câu mà còn thức tỉnh cảm xúc, khơi dậy năng lực liên tưởng, tưởng tượng để tái hiện thế giới nghệ thuật của TP”
Như vậy, có thể thấy, hoạt động đọc hiểu trong môn Ngữ văn có những điểm khác cơ bản so với hoạt động đọc hiểu ở các bộ môn khoa học khác đó là hoạt động sáng tạo mang tính thẩm mỹ hay nói cách khác đó là đọc thẩm mỹ Sự khác nhau đó thể hiện rất rõ ở việc khi đọc hiểu các bộ môn khoa học khác người đọc tập trung cơ bản vào những gì được tiếp thu thông tin, được duy trì, được “mang đi”, và được
“áp dụng” Khi đó, người đọc cần ngôn ngữ rõ ràng và dễ hiểu Ngược lại, đọc thẩm
mĩ quan tâm đến điều xảy ra trong suốt sự kiện đọc thực tế Đọc thẩm mĩ liên quan
đến trải nghiệm những gì đang đọc Khi đó, người đọc được “sống với TP” Tác giả Nguyễn Thị Hạnh trong bài viết “Một số cơ sở khoa học để xác định nội dung học tập trong chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông sau 2015” đăng trên Tạp
chí Khoa học giáo dục, số 96, tháng 3 năm 2013 đã cho rằng mục tiêu chung của
môn Ngữ văn nhằm: “Phát triển cho học sinh các kĩ năng, đọc, viết, nghe, nói tiếng Việt để HS bộc lộ được bản thân một cách chuẩn mực, sáng tạo và ấn tượng, để HS giao tiếp có hiệu quả trong các tình huống ở nhà trường và ngoài xã hội; Phát triển cho HS kĩ năng đọc truyện, đọc thơ, đọc kịch với tinh thần phê phán và sáng tạo, góp phần phát triển cho HS cảm xúc thẩm mĩ, nuôi dưỡng cho HS tinh thần tôn trọng các di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại… ” Năng lực đọc thẩm mỹ càng
quan trọng hơn khi đọc hiểu thơ trữ tình
Trong nhiều tài liệu đã có những nghiên cứu về thơ và dạy học thơ ở trường
THPT Trong cuốn Giáo trình Lí luận văn học, tác giả Trần Đình Sử phân tích khá đầy đủ khái niệm chung về thơ ca, trong đó tác giả nhấn mạnh: “Thơ là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại Thơ ra đời hầu như cùng một lúc với nhạc, họa, múa, nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật thời nguyên thủy” Lamactine thì cho rằng: Thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên Còn Nguyễn Thị Thu Hằng khẳng định: “Thơ là
sự bộc lộ trực tiếp thế giới chủ quan của con người, bao gồm cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ qua hệ thống ngôn từ giàu hình ảnh, nhịp điệu, hàm súc và cô đọng” Chính vì
vậy, trong cuốn sách “Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông” do tác giả Đỗ Ngọc Thống chủ biên đã định hướng cách đọc hiểu văn bản
thơ “Đọc văn bản thơ không chỉ có nhiệm vụ tượng thanh các con chữ mà còn tượng hình lên trong “nội quan” của người đọc thế giới hình tượng và chủ thể trữ tình - người phát ngôn, bộc bạch, thổ lộ, giãi bày trong thơ” và “người dạy phải có các cách thức khơi gợi học sinh liên tưởng, tưởng tượng, kết nối với thực tiễn và kinh
Trang 104
nghiệm của bản thân để lí giải và đồng cảm với nhân vật trữ tình” Tác giả Nguyễn
Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học TP văn chương (theo loại thể)” cũng đã trình bày một số phương pháp, biện pháp dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể, trong đó có thơ trữ tình Theo tác giả, khi dạy TP văn chương nói chung và
thơ trữ tình nói riêng phải xác định được “chất của loại trong thể” Nếu xác định sai thể loại sẽ khiến giáo viên lúng túng, tựa như “mở nhầm cửa, khiến người dạy, người học không đến được hành lang đầy châu báu”
Tóm lại, có thể thấy rằng, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hoạt động đọc hiểu văn bản, dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở trường THPT và các vấn đề liên quan Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng, chưa có công trình
nào đề cập đến các biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ khi dạy bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca (Ngữ văn 10 - Bộ sách Kết nối trí thức với cuộc sống).Việc tìm hiểu,
nghiên cứu để nâng cao hiệu quả đọc thẩm mĩ trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình
nói chung và khi dạy bài 2: Vẻ đẹp thơ ca nói riêng sẽ góp một phần quan trọng trong
dạy học môn Ngữ văn, nhất là trong bối cảnh chương trình GDPT 2018 vừa được đưa vào thực hiện như hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và địa bàn khảo sát
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề sử dụng phương pháp đọc thẩm mỹ
nhằm nâng cao hiệu quả giờ học khi dạy học phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca
(Chương trình Ngữ văn 10 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Phạm vi nghiên cứu: sử dụng phương pháp đọc thẩm mỹ nhằm nâng cao hiệu
quả giờ học khi dạy học phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca trong chương trình Ngữ
văn 10 của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
3.2 Địa bàn khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 và một số trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Quỳnh Lưu 2
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Khẳng định vai trò của đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình;
đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình nhằm phát triển năng lực đọc hiểu, phát triển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ và tư duy khoa học cho HS
- Nhiệm vụ: Xác định cơ sở khoa học của đề tài; Đề xuất một số biện pháp tổ
chức dạy đọc thẩm mỹ khi dạy đọc thơ trữ tình bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca; Tiến hành
thực nghiệm để đánh giá hiệu quả của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11- Đề tài đề xuất, bổ sung một biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ khi dạy
học phần đọc hiểu bài 2: Vẻ đẹp thơ ca nói riêng, thơ trữ tình nói chung góp phần
nâng cao năng lực đọc hiểu thơ cho HS lớp 10; thực hiện yêu cầu đổi phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của đề tài có 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2 Một số biện pháp tổ chức đọc thẩm mỹ khi dạy phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 126
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản và đọc thẩm mỹ
1.1.1.1 Đọc hiểu văn bản
Trên thực tế, thuật ngữ “Đọc hiểu” được đưa vào sử dụng trong nhà trường ở
Việt Nam gắn liền với sự thay đổi Chương trình, sách giáo khoa phổ thông của Bộ GD&ĐT từ những năm 2000 Đến nay, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về đọc
hiểu Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu văn (2014), đã khẳng định: “Đọc hiểu có liên quan tới nhiều kĩ năng nằm trong trường hành động đọc Đọc là tiền đề của hiểu Đọc và hiểu có quan hệ phụ thuộc vào nhau và phối hợp với nhau để hiểu trọn vẹn tác phẩm trong quá trình đọc” Tức là hoạt động đọc hiểu
có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản Đọc hiểu là một quá trình nhận thức phức tạp, đòi hỏi người đọc cần tham gia tích cực trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với văn bản
Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn
“Dạy học Ngữ văn theo định hướng năng lực”, đọc hiểu văn bản thực chất là: “Quá trình thực hiện cơ chế chuyển mã - từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng và biểu tượng, hình dung và cảm xúc thông qua quá trình tạo nghĩa - từ tiền đề nghĩa tín hiệu và hệ thống, khám phá vẻ đẹp nghệ thuật của ngôn ngữ và nghệ thuật cấu trúc văn bản hướng tới sự tác động tích cực giữa hiệu quả đọc hiểu đối với chủ thể nhận thức…” Quan điểm này cho thấy, đọc hiểu văn bản là một hoạt động trí tuệ, có tính
kiến tạo Đây là một hoạt động, một phương thức tiếp cận và chiếm lĩnh giá trị của văn bản nhằm phát triển năng lực cho HS
Tác giả Trịnh Thị Lan khi bàn về bản chất của hoạt động đọc hiểu lại cho rằng đọc hiểu văn bản bao gồm nhiều hành động không diễn ra cùng một lúc: Một là hành
động nhận diện ngôn ngữ của văn bản (nhận diện đủ các tín hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo ra văn bản) Tiếp theo là hành động làm rõ nghĩa của các chuỗi tín hiệu ngôn ngữ (nội dung của văn bản và ý đồ tác động của người viết đến người đọc) Cuối cùng là hành động hồi đáp lại ý kiến của người viết được nêu trong văn bản (Văn bản và dạy học đọc hiểu văn bản ở trường trung học (Vận dụng vào dạy học truyện dân gian), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội)
Ở phương diện khác, tác giả Trần Đình Sử khẳng định, một trong những lí do khiến cho HS ngại học văn, chưa rung cảm với văn, chưa chăm học văn là do chưa hiểu được cái hay của văn, cảm thấy văn “khó hiểu”, khó nắm bắt và khó cảm nhận
Do đó, nhiệm vụ hàng đầu của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu văn Trong bài viết “Đọc hiểu văn như là một khâu đột phá trong nhà trường”, tác giả Trần Đình Sử nêu rõ: “Dạy Văn là dạy cho HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để học sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận ra các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy
Trang 137
nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ ”
1.1.1.2 Đọc thẩm mĩ
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Kĩ năng đọc hiểu văn” cho rằng
“Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn bản là quá trình lao động sáng tạo, mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản” Như vậy, có thể nói mức độ cao của đọc hiểu, đó chính là
“đọc thẩm mĩ”
Theo “Đại Từ điển tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), “Thẩm mĩ”
có nghĩa là “Khả năng cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp” Cảm xúc thẩm mĩ bộc lộ
toàn bộ thế giới tâm hồn cũng như cá tính và những trải nghiệm của một con người, biểu hiện những rung động của chủ thể thẩm mĩ trước đối tượng thẩm mĩ”
Đọc thẩm mĩ là một khái niệm dựa trên quan điểm của nhà nghiên cứu Ngữ văn Hoa Kì - L Rosenblatt Theo nhà nghiên cứu đọc thẩm mĩ bao gồm quan hệ giữa
con người với thế giới tự nhiên và xã hội Theo đó, ý nghĩa của TP không chỉ mang tính khách quan và hiển thị trên trang văn bản mà nó được hiển thị thông qua cảm xúc, sự kết nối và trải nghiệm của con người Theo quan điểm của L Rosenblatt
“Đọc thẩm mĩ là một quá trình chủ động, người đọc tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm nhận của cá nhân với từng tác phẩm văn học Để tạo ra trải nghiệm sống, người đọc phải chú ý thể hiện cảm xúc, thái độ, ý tưởng, tình huống, tính cách và tình cảm
Sự kết nối và trải nghiệm này là bản chất của đọc thẩm mĩ Với đọc thẩm mĩ, đọc trở thành thứ mà ngôn từ văn bản "khuấy trộn" người đọc”
Cũng theo L Rosenblatt thì “Bản chất của cách đọc thẩm mĩ là sự “Giao thoa giữa người đọc và tác phẩm” Tức là đọc như sự giao thoa giữa TP và người đọc
quy định lẫn nhau, bổ sung cho nhau, cùng được hình thành, thay đổi và phát triển trong quá trình đọc Nhờ đọc, TP từ cuốn sách sẽ trở thành văn bản văn học và nhờ đọc, người đọc cũng sẽ phong phú hơn không chỉ về kiến thức mà còn về đời sống
tinh thần, về những phẩm chất giá trị
Đọc thẩm mĩ giữ vai trò quan trọng trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT bởi đây là một quá trình chủ động, ở đó người đọc tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm nhận cá nhân với từng TP văn học Để tạo ra trải nghiệm sống, người đọc phải chú
ý thể hiện cảm xúc, thái độ, ý tưởng, tình huống, tính cách và tình cảm Sự kết nối trải nghiệm này làm nên bản chất của đọc thẩm mĩ Chính điều này cũng góp phần
phát triển năng lực thẩm mĩ ở HS trong quá trình học Ngữ văn bởi “Phát triển năng lực văn chương cũng là phát triển năng lực người, bởi vì xét đến cùng, đời sống tinh thần chính là nơi chứa đựng nhiều nhất tính người và tâm hồn, tình cảm hay tưởng tượng là những thứ lung linh nằm trong đáy sâu của thế giới tinh thần ấy Văn chương là nhân văn, là con người” (Lê Ngọc Trà, Thế nào là “đọc hiểu” và năng
Trang 148
lực văn chương? Tạp chí Kiến thức ngày nay, Số 961, ngày 20 tháng 4 năm 2017)
1.1.2 Thơ trữ tình và dạy đọc thẩm mỹ khi dạy học thơ trữ tình
1.1.2.1 Thơ trữ tình
Thực tế cho thấy, trong nghiên cứu văn học có rất nhiều quan niệm khác nhau
về thơ Theo Từ điển Văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống qua những tâm trạng, những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu rõ ràng” Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” Cùng quan điểm trên, Tố Hữu quan niệm: “Thơ là điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu” Tác giả Vũ Nho trong bài viết Dạy học thơ ở trường Trung học phổ thông, cho rằng: “Thơ là tâm sự,
là kí thác, là tấc lòng của tác giả gửi gắm”
Bản chất của thơ trữ tình là phản ánh mọi mặt đời sống tâm hồn, giàu sức liên tưởng và tưởng tượng Nếu như ở tác phẩm tự sự, nhà văn xây dựng bức tranh về đời sống, trong đó trung tâm là nhân vật có đường đời và số phận riêng; Tác giả kịch, bằng đối thoại và độc thoại thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn và xung đột thì ở TP trữ tình, thế giới nội tâm của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp, làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Nếu thế mạnh của tiểu thuyết là chiều rộng, là sự phong phú và phức tạp thì thế mạnh của thơ trữ tình là chiều sâu, là sự chắt lọc, là kết tinh
1.1.2.2 Dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông
Từ xưa đến nay, trong Chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT, thơ trữ tình luôn chiếm một vị trí quan trọng, góp phần làm nên diện mạo của nền văn học dân tộc Thơ trữ tình là mảng thơ phong phú về thể loại, đa dạng về đề tài và luôn mới
mẻ về nội dung
Dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển phẩm chất, nhân cách, bồi đắp tâm hồn cho HS, đặc biệt là HS THPT - lứa tuổi lứa tuổi có nhiều đổi mới trong quá trình phát triển về các mặt tâm lí, sinh lí, tư duy và nhận thức Lí giải điều này, có thể thấy rằng, nói đến phẩm chất tức là nói đến những đức tính tốt đẹp của con người Nó được thể hiện ở các mức độ nhận thức, thái độ,
hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống Điểm nổi bật nhất của thơ trữ tình là chất trữ tình Do đặc trưng về loại thể, thơ trữ tình thiên về diễn tả cảm xúc, diễn tả những
rung động, sự suy tư của nhà thơ về cảnh vật, con người, về cuộc đời… Những cảm xúc, rung động ấy xét cho cùng chính là tiếng nói của hiện thực đời sống tác động vào tâm hồn nhà thơ, có tác dụng đánh thức, lay động, rung cảm tâm hồn người đọc
Đây chính là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm, gắn bó giữa con người với con người
trong xã hội
Lâu nay, khi dạy thơ trữ tình ở trường THPT, GV chủ yếu chọn cách giảng giải,
Trang 159
phân tích, bình chú cho HS nghe về cái hay, cái đẹp của TP Theo đó, HS chỉ lắng nghe, ghi chép một cách thụ động những lời GV giảng HS ít được tương tác trực tiếp với TP và hệ quả là các em rất nhanh quên, không có được những cảm xúc, rung động thực sự xuất hiện trong quá trình tiếp nhận TP Vì thế, các em không thể cảm nhận hết được cái hay, cái đẹp của TP Chương trình GDPT môn Ngữ văn (2018) yêu cầu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học đòi hỏi GV cần phải thay đổi, từ bỏ thói quen bấy lâu nay vẫn dạy học theo cách cũ,
chuyển từ cách GV nói cho HS nghe những gì mình thích, truyền cho HS hiểu những
gì mình biết sang hướng dẫn để HS tự tìm ra cái hay, cái đẹp của TP theo cách nhìn,
cách suy nghĩ, cách cảm nhận riêng của từng HS Vì vậy, rất cần thiết phải có sự
thay đổi mạnh mẽ trong quan điểm, nhận thức cũng như thay đổi về cách dạy, cách học của cả GV và HS Đọc thẩm mĩ được xem là cách đọc giúp HS khắc phục được
một phần hệ quả nêu trên
Khi sử dụng phương pháp đọc thẩm mĩ trong dạy thơ trữ tình cũng cần chú ý tới các mức độ và biểu biện của đọc thẩm mĩ Cụ thể:
1 Nhận diện các yếu tố thẩm mĩ: HS tiếp nhận các thông tin trao đổi về vẻ đẹp
của các sự vật, hiện tượng thế giới xung quanh được thể hiện trong TP ở mức độ đơn giản nhất Các yếu tố thẩm mĩ được thể hiện qua hệ thống từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệụ, cấu tứ thơ; qua hình ảnh, suy nghĩ, hành động của nhân vật trữ tình trong thơ; qua cảm xúc, tâm trạng của tác giả…
2 HS bày tỏ tình cảm thẩm mĩ của cá nhân: Khi đọc tác phẩm, HS có cảm xúc
trước các hiện tượng thẩm mĩ trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và thế giới nghệ thuật được miêu tả trong mỗi TP thơ trữ tình Đồng thời, các em bắt đầu tái hiện được cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội bằng phương tiện phù hợp
3 Khái quát giá trị thẩm mĩ: HS phân tích, đánh giá được tính thẩm mĩ, giá trị
văn hoá của các sự vật, hiện tượng được thể hiện trong thơ Ngoài ra, các em còn diễn tả được ý tưởng và cảm xúc của cá nhân về vẻ đẹp của hình ảnh, hình tượng nghệ thuật được trình bày trong TP thơ trữ tình
4 Làm chủ, lan tỏa cảm xúc thẩm mĩ: Trên cơ sở nhận thức ở mức độ khái quát
giá trị thẩm mĩ, HS nhận ra được những giá trị của bản thân qua việc cảm nhận và hiểu TP thơ; Hình thành, nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; HS biết chia sẻ với người khác về cảm xúc, thái độ, tình cảm và những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội
5 Khám phá, sáng tạo thẩm mĩ: HS đề xuất được các ý tưởng và có cảm nhận
riêng về cái đẹp sau khi học TP thơ trữ tình Từ đó, các em sáng tạo được các sản phẩm có tính thẩm mĩ mang dấu ấn cá nhân Các em hình thành được thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân thông qua việc tiếp nhận TP thơ trữ tình
Trang 16Chúng tôi đã khảo sát bằng thống kê, phiếu hỏi, trao đổi với GV trực tiếp giảng
dạy lớp 10 năm học 2022 - 2023 ở trường THPT Quỳnh Lưu 2 và một số GV dạy Ngữ văn lớp 10 ở một số trường THPT trong huyện Quỳnh Lưu; HS lớp 10 trường THPT Quỳnh Lưu 2, đồng thời khảo sát trực tiếp trên SGK Ngữ văn 10, SGV Ngữ văn 10 (Bộ sách theo chương trình GDPT 2006 của Bộ Giáo dục và đào tạo và bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) về các vấn đề sau đây:
- Thực trạng tài liệu phục vụ dạy học về đọc thẩm mĩ đối với tác phẩm thơ trữ
2 Nhận ra cái đẹp trong cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm thơ
3 Nhận ra giá trị thẩm mĩ trong nghệ thuật của tác phẩm thơ
4 Nhận ra giá trị của cá nhân người đọc từ tác phẩm thơ
Rung cảm thẩm mĩ
1 Nhận biết được cảm xúc của cá nhân xuất hiện sau khi đọc tác phẩm thơ
2 Biết bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của
cá nhân trước cái đẹp từ tác phẩm thơ
3 Có cách thức bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận cảu cá nhân
4 Kết nối cảm xúc với những trải nghiệm cá nhân sau khi đọc tác phẩm thơ
4 Chia sẻ, lan tỏa cảm xúc
Trang 17* Mục đích khảo sát: tìm hiểu thực trạng dạy và học về đọc thẩm mĩ thơ trữ
tình ở trường THPT môn Ngữ văn, từ đó có căn cứ để đề xuất các biện pháp tổ chức
dạy học cụ thể khi dạy đọc hiểu thơ ca nói chung và bài 2: Vẻ đẹp thơ ca trong
chương trình Ngữ văn lớp 10 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) nói riêng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT
* Phương pháp khảo sát
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành: Dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp với GV trực tiếp giảng dạy Ngữ văn 10 và HS lớp 10 năm học 2022 - 2023; khảo sát SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 10 (Bộ sách theo chương trình GDPT 2006 và bộ
sách Kết nối tri thức với cuộc sống) (Phiếu khảo sát ở Phụ lục 1, Phụ lục 2); giáo
án dạy Ngữ văn 10, 11, 12 của một số giáo viên năm học 2021 - 2022
Kết quả cụ thể như sau:
1.2.1 Thực trạng tài liệu phục vụ dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 10
Chúng tôi tiến hành khảo sát các tài liệu phục vụ dạy học gồm:
- SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006
- SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 10 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Giáo án dạy một số TP thơ trữ tình của giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Quỳnh Lưu 2 năm học 2021 - 2022
* Về bộ SGK Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006 và bộ SGK Ngữ văn 10 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Về cấu trúc đơn vị bài học
- Ở SGK Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006, mỗi bài học là một TP riêng biệt, các tác phẩm thơ được sắp xếp theo tiến trình thời gian ra đời và cũng tách riêng phần TP thơ nước ngoài và TP thơ Việt Nam
- Ở SGK Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức và cuộc sống, bài học được cấu trúc theo chủ đề, mỗi chủ đề gồm 4 hoạt động đọc, viết, nói và nghe Trọng tâm của mỗi bài học là các văn bản thuộc cùng một loại, thể hoặc nội dung đã được gợi mở từ nhan đề bài học Các văn bản này có mối liên hệ nhất định với nhau về nội dung và không nhất thiết phải cùng ra đời trong một thời kì hay cùng thuộc về một nền văn học
Cụ thể ở bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca phần đọc hiểu có 5 văn bản thơ trữ tình
Trang 1812
gồm: Văn bản 1,2,3: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản; Văn bản 4: Thu hứng (Cảm xúc mùa thu); Văn bản 5: Mùa xuân chín và một văn bản nghị luận: Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư
Về hệ thống câu hỏi trong SGK
Với bộ SGK Ngữ văn theo chương trình GDPT 2006, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân loại cụ thể hệ thống câu hỏi đọc hiểu được sử dụng trong các tác phẩm thơ trữ tình Số lượng câu hỏi được tính theo thứ tự ghi ở cuối bài học đối với mỗi tác phẩm thơ trong sách giáo khoa không tính theo các câu hỏi nhỏ trong một câu hỏi lớn, trong đó có tính với các bài đọc thêm Kết quả cụ thể ở 13 bài thơ trong chương trình Ngữ văn 10 là 48 câu hỏi
Ở bộ SGK Kết nối tri thức với cuộc sống, hệ thống câu hỏi được chia thành
ba phần: trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc Kết quả cụ thể ở bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca (gồm 5 văn bản thơ) là 32 câu hỏi
Chúng tôi tiến hành so sánh cụ thể hệ thống câu hỏi ở văn bản: Thu hứng (Cảm
xúc mùa thu) - Đỗ Phủ, văn bản được học ở cả hai bộ sách, kết quả cụ thể như sau:
Trong bộ SGK Ngữ văn theo chương trình GDPT 2006, phần hướng dẫn học bài gồm 3 câu hỏi:
Câu 1: Theo anh (chị), bài thơ có thể chia làm mấy phần? Vì sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của mỗi phần?
Câu 2: Nhận xét sự thay đổi của tầm nhìn từ bốn câu thơ đầu đến bốn câu thơ sau Vì sao có sự thay đổi ấy?
Câu 3: Xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau, mối
quan hệ giữa toàn bài và nhan đề Thu hứng
Ở bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, phần hướng dẫn học bài chia làm các phần:
- Trước khi đọc: gồm 2 câu hỏi
Câu 1: Bạn đã được làm quen với một số bài thơ Đường luật trong sách giáo khoa Ngữ văn cấp Trung học cơ sở Hãy chia sẻ ấn tượng của bạn về đặc điểm hình thức cũng như nội dung của những bài học thuộc thể loại này
Câu 2: Bạn đã bao giờ xa gia đình và thấy nhớ nhà? Nếu có thể, hãy chia sẻ
về những trải nghiệm ấy của bạn?
- Trong khi đọc: gồm 3 câu hỏi
Câu 1: Khung cảnh mùa thu được tái hiện trong bài thơ (màu sắc, không khí, trạng thái vận động của sự vật)
Câu 2: Hãy nhận diện phép đối trong cả nguyên tác và bản dịch nghĩa trong các cặp câu thơ 3-4 và 5-6
Trang 1913
Câu 3: Âm thanh của tiếng dao thước may áo, tiếng chày đập vải gợi ra không khí gì?
- Sau khi đọc gồm 7 câu hỏi
Câu 1: Mô tả một số đặc điểm cơ bản của thơ Đường luật (Bố cục, cách gieo
vần, luật bằng - trắc, phép đối) được thể hiện trong bài Thu hứng
Câu 2: Đối chiếu hai bản dịch thơ với nguyên văn (thông qua bản dịch nghĩa),
từ đó chỉ ra những chỗ hai bản dịch thơ có thể chưa diễn đạt hết sắc thái ý nghĩa của nguyên văn
Câu 3: Những từ ngữ và hình ảnh nào được dùng để gợi không khí cảnh thu trong bốn câu thơ đầu bài thơ? Khung cảnh mùa thu này có thể gợi cho bạn những
Câu 6: Thu hứng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt của cuộc đời Đỗ Phủ
Phải chăng tác phẩm chỉ thể hiện nỗi niềm thân phận cá nhân của nhà thơ?
Câu 7: Có ý kiến cho rằng câu thơ nào trong bài thơ cũng thể hiện cảm xúc về mùa thu, nỗi niềm tâm sự của tác giả trong mùa thu Bạn có suy nghĩ gì về ý kiến này?
Từ việc so sánh đó, chúng tôi nhận thấy rằng, hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong SGK Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006 chủ yếu tập trung dưới dạng câu hỏi nhận biết thông thường, câu hỏi thông hiểu và đánh giá khái quát chung Đây là những loại câu hỏi mang tính chất gợi mở, tập trung hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung, hình thức nghệ thuật của TP là chính Những câu hỏi này chủ yếu nhằm hướng tới phát triển nội dung bài học Các câu hỏi tự bộc lộ, hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực người học, câu hỏi yêu cầu HS phát biểu cảm xúc, nói lên suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình khi học về TP hầu như không xuất hiện và nếu có thì cũng xuất hiện với số lượng rất ít Còn ở bộ SGK Kết nối tri thức với cuộc sống, hệ thống câu hỏi đa dạng, bám sát đặc trưng thể loại và đặc biệt hệ thống câu hỏi đã nhằm hướng tới phát triển cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận, tình cảm, đánh giá của HS khi học TP (Chủ thể - Bạn đọc - HS) Đây cũng chính là những thuận lợi cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này Hệ thống câu hỏi trong SGK chính là những định hướng, nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá cho GV và HS khi tiến hành dạy
và học theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
* Về SGV và sách bài tập Ngữ văn
SGV, sách bài tập môn Ngữ văn THPT là tài liệu quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho việc dạy, học của GV và HS
Trang 2014
- SGV có vai trò hướng dẫn, định hướng cho GV trong việc tìm hiểu kiến thức, thiết kế giáo án và tổ chức quá trình dạy học SGV viên đưa ra những định hướng cụ thể về phương diện nội dung, kiến thức và cách thức tổ chức dạy học, bao gồm: 1/ Phân tích yêu cầu cần đạt, giúp GV xác định được rõ các yêu cần cần đạt; 2/ Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
- Sách bài tập cung cấp các bài tập cụ thể, giúp HS có thêm tư liệu để rèn luyện nhằm củng cố, nâng cao kiến thức đã được học trong SGK
Tuy nhiên, về cơ bản, bộ sách SGV và sách bài tập môn Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006 chỉ giới thiệu ở mức độ chung chung, chưa thực sự cụ thể Các câu hỏi định hướng được thiết kế trong SGV và sách bài tập chủ yếu là những câu hỏi nhận biết, thông hiểu, ở mức độ đơn giản và mang tính chất gợi mở là chính, chưa đi sâu vào việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực người học, đặc biệt là chưa trú trọng nhiều đến việc khơi gợi, phát triển cảm xúc, suy nghĩ, hành động của HS khi học tác phẩm thơ trữ tình Còn SGV và sách bài tập Ngữ văn 10 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, các hoạt động đã được hướng dẫn cụ thể, chú trọng phát tiển năng lực, phẩm chất HS, đặc biệt hệ thống câu hỏi trong sách bài tập Ngữ văn đã hướng tới việc khơi gợi, phát triển cảm xúc, suy nghĩ, hành động của
HS
Ví dụ: Ở bài 2: Vẻ đẹp thơ ca, sách bài tập Ngữ văn 10 có một số câu hỏi:
Ở văn bản 1: Chùm thơ hai-cư (Haiku) Nhật Bản
Câu 1: Bạn đã gặp những “thách thức” nào khi đọc, cảm nhận chùm thơ
hai-cư của Ba-sô, Chi-y-ô, Ít-sa? Vì sao những điều bạn vừa nêu có thể được gọi là
“thách thức”?
Câu 3: Khi phân tích hay phát biểu cảm nhận về các bài thơ hai-cư nói trên, thường bài viết, bài nói dài gấp nhiều lần độ dài vốn có của bài thơ Hiện tượng này gợi lên ở bạn suy nghĩ gì?
Ở văn bản 4: Thu hứng
Câu 1: Hãy nêu cảm xúc của bạn khi đọc bài thơ Thu hứng Cho biết lí do bạn
có cảm xúc như vậy?
Ở văn bản 5: Mùa xuân chín
Câu 2: Nhan đề Mùa xuân chín có thể gây nên sự chờ đợi gì ở độc giả? Theo
bạn, sự chờ đợi đó đã được tác giả đáp ứng như thế nào?
Vận dụng hệ thống câu hỏi và hướng dẫn HS sử dụng sách bài tập Ngữ văn hiệu quả cũng là cách để GV khai thác nguồn tài liệu tham khảo quý báu này
* Về thực tiễn giáo án giảng dạy của giáo viên
Chúng tôi tiến hành khảo sát một số giáo án của GV trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Quỳnh Lưu 2 năm học 2021 - 2022 Kết quả khảo sát cho
Trang 2115
thấy, mặc dù GV đã cố gắng thay đổi cách thức tổ chức giờ dạy nhưng do hình thức thi chưa thay đổi nên nhiều GV vẫn phải dạy theo hướng cung cấp kiến thức là chủ yếu và dạy với mục đích đáp ứng nhu cầu ứng thí - học để thi Vì vậy, các câu hỏi đọc hiểu phần nhiều mang tính chất gợi mở, dẫn dắt, hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của TP chưa có nhiều câu hỏi quan tâm đến thái
độ, tình cảm, cảm xúc và những suy nghĩ, hành động của HS khi học TP thơ trữ tình, tức là chưa quan tâm nhiều đến sự tác động của TP đến chủ thể người học
Như vậy, qua khảo sát thực tế có thể thấy, hầu hết các tài liệu phục vụ dạy và học môn Ngữ văn 10 ở theo chương trình GDPT 2006 chủ yếu tập trung vào việc cung cấp kiến thức cho HS, chưa quan tâm nhiều đến sự tác động qua lại giữa TP và chủ thể người đọc, tức là chưa thật sự chú ý vào việc việc khơi gợi, phát triển cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm và cách nhìn nhận, đánh giá của HS đối với cuộc sống cũng như cách nhìn nhận đối với xã hội, con người cùng những sở thích, mối quan tâm và mục tiêu cuộc sống mà các em cần hướng tới từ việc học tác phẩm thơ trữ tình Năm học 2022-2023, lớp 10 bắt đầu triển khai chương trình GDPT 2018, việc đổi mới chương trình đòi hỏi GV phải thay đổi cách dạy, đặc biệt là trong dạy các TP thơ trữ tình, và đọc thẩm mỹ là một trong số những phương pháp đó
1.2.2 Thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông
Để tìm hiểu thực trạng dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT, tôi tiến hành khảo sát 21 GV gồm (11 GV trường THPT Quỳnh Lưu 2, 3 GV trường THPT Quỳnh Lưu 1, 4 GV trường THPT Quỳnh Lưu 3, 3 GV trường THPT Nguyễn Đức Mậu) và 132 HS ở khối lớp 10 tại trường THPT Quỳnh Lưu 2
Tôi lập câu hỏi và tạo link khảo sát trên google form
Link khảo sát GV:
https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSeERo8zn4y1zpiTuFXQKZQHYbLDuPytUzcO10PRsVFMhs02Tw/viewform?usp=sf_link
Link khảo sát HS:
https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSdL4Rpoepe2ocMAL5q-s4fFW1s7aLzBwhwqlfeNyMmqnothnQ/viewform?usp=sf_link
* Ở nhóm HS
Số HS nữ chiếm gần 2/3 trên tổng số HS tham gia khảo sát Tỉ lệ HS nam chiếm
số lượng ít hơn Cụ thể như sau: HS nữ: 90 (tỉ lệ 68,2%) và 42 HS nam (tỉ lệ 31,8%) tham gia khảo sát
* Ở nhóm GV
- Về độ tuổi: Nhìn chung, các GV tham gia khảo sát có độ tuổi trên 30, trong đó:
đa số GV có độ tuổi từ 30 - 40 (13/21 GV), chiếm tỉ lệ 61,9% và hầu hết đều có trên
Trang 2216
10 năm kinh nghiệm giảng dạy, có 6 GV ở độ tuổi từ 40 - 50 chiếm tỉ lệ 28,6%; có
2 GV nào dưới 30 tuổi chiếm tỉ lệ 9,5%
Như vậy, với độ tuổi không quá trẻ so với khoảng thời gian công tác cho thấy, phần lớn các GV đã có khá nhiều kinh nghiệm và các trải nghiệm thực tế trong quá trình giảng dạy
- Về trình độ chuyên môn: Trong tổng số 21 GV dạy Ngữ văn của 04 trường
THPT tham gia khảo sát cho thấy, số GV có trình độ đại học chiếm tỉ lệ khá lớn: 66,7 % (14 GV); 1/3 số GV còn lại có trình độ thạc sĩ (08 GV)
1.2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh về đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của GV và HS về đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT, tôi khảo sát, phân tích ở 02 khía cạnh nội dung, bao
gồm: 1/ Mức độ nhận biết; 2/ Mức độ cần thiết về đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ
trữ tình ở trường THPT
a Thực trạng mức độ nhận biết của giáo viên và học sinh về đọc thẩm mĩ
Mức độ nhận biết về đọc thẩm mĩ của GV và HS được thể hiện ở các khía cạnh sau: Mức độ quan tâm, cách hiểu về khái niệm, cách hiểu về bản chất và khả năng nắm bắt được những biểu hiện cụ thể của đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình
- Trước hết, xét ở khía cạnh mức độ quan tâm của GV và HS về đọc thẩm mĩ Câu hỏi đặt ra cho GV và HS là: Thầy/Cô có quan tâm đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình không? Em có biết về đọc thẩm mĩ khi học thơ trữ tình không? Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 1.1 Mức độ quan tâm của GV và HS đến đọc thẩm mĩ
Theo số liệu ở Biểu đồ 1.1, có thể thấy mức độ quan tâm về đọc thẩm mĩ của
GV cao hơn so với mức độ quan tâm của HS Hầu hết GV được khảo sát đều cho rằng, có quan tâm đến vấn đề đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT (Có quan tâm là 14 GV chiếm tỉ lệ 66,7 % và rất quan tâm là 4 GV chiếm tỉ lệ 19%) Tuy nhiên, do mục đích dạy học chủ yếu để phục vụ kì thi THPT và xét tuyển đại học là chính, cho nên GV không chú trọng thực hiện dạy đọc thẩm mĩ đối với thơ
0 20 40 60 80
Không quan tâm Đang tìm hiểu Có quan tâm Rất quan tâm
Trang 23trả lời như nhau “Đọc thẩm mĩ là cách đọc rất xa lạ với chúng em hiện nay Chúng
em đọc chỉ để ghi nhớ kiến thức chứ không phải để hiểu và nắm rõ các chi tiết đặc sắc và ý nghĩa rút ra từ TP Chúng em chỉ cần có kiến thức về nội dung tác phẩm để tham dự kì thi tuyển sinh vào lớp 10 thôi” (Em H.T.K.L lớp 10A2 chia sẻ)
- Tiếp đến là cách hiểu về đọc thẩm mĩ của GV và HS: Câu hỏi được tôi đặt
ra là: Thầy/Cô hiểu như thế nào về đọc thẩm mĩ? Em hiểu như thế nào về đọc thẩm mĩ? Trên cơ sở các câu hỏi này, kết quả khảo sát ở biểu đồ 1.2 cho thấy, tỉ lệ GV và
HS khá tương đồng với cách hiểu: “Đọc thẩm mĩ là cách đọc quan tâm đến cái đẹp”,
tuy nhiên có sự chênh lệch ở các cách hiểu còn lại Đáng chú ý là, khi dạy và học về
đọc thẩm mĩ thì HS quan tâm đến cảm xúc của tác giả (54 HS chiếm tỉ lệ 40,9%), còn GV quan tâm đến cảm xúc của người đọc (28,6 % GV lựa chọn) trong quá trình
đọc Bên cạnh đó, có nhiều GV và HS cho rằng, đọc thẩm mĩ không chỉ có một cách
hiểu mà là sự kết hợp của các cách hiểu khác nhau, thậm chí là cả bốn cách
Biểu đồ 1.2 Cách hiểu của GV và HS về đọc thẩm mĩ
- Về bản chất của đọc thẩm mĩ: Với câu hỏi nhằm khảo sát nhận thức của
GV và HS về bản chất của đọc thẩm mĩ: Thầy/Cô cho biết, bản chất của đọc thẩm mĩ? Theo em, bản chất của đọc thẩm mĩ là gì? (Là quá trình diễn ra hành động đọc?
Là sự giao thoa giữa người đọc và tác giả? Là sự giao thoa giữa người đọc, tác giả
và TP?) Kết quả khảo sát cho thấy, có sự tương đồng khá lớn về tỉ lệ GV và HS trong các cách hiểu này Hầu hết GV và HS đều hiểu: “Bản chất của đọc thẩm mĩ là
sự giao thoa giữa người đọc, tác giả và TP” (Tỉ lệ tương ứng là hơn 95% GV (20/21
GV lựa chọn) và hơn 80% HS (106/132 HS lựa chọn)) Chỉ có gần 5% số HS cho rằng, đọc thẩm mĩ đơn thuần là quá trình diễn ra hành động đọc Các cách hiểu khác chiếm tỉ lệ thấp ở GV và HS
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Là hình thức của đọc hiểu
Là cách đọc quan tâm đến cái đẹp
Là cách đọc quan tâm đến cảm xúc tác giả
Là cách đọc quan tâm đến cảm xúc người đọc
Trang 2418
Ở góc độ các biểu hiện của đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình, số liệu
khảo sát cho thấy, phần lớn GV và HS (tỉ lệ tương ứng là 76,2% (16/21 GV lựa chọn) và 72% (95/132 HS lựa chọn)) đều cho rằng, biểu hiện của đọc thẩm mĩ là sự kết hợp của cả ba ý kiến, đó là: 1/ Biết nhận ra cái đẹp, tái hiện được cái đẹp; 2/ Biết phân tích, đánh giá được cảm xúc, ý tưởng cá nhân; 3/ Biết chia sẻ cảm xúc cá nhân Nhóm GV và HS còn lại cho rằng, chỉ cần có một biểu hiện trên thì có thể xem là đọc thẩm mĩ (xem Biểu đồ 1.3)
Biểu đồ 1.3 Ý kiến của GV và HS về biểu hiện của đọc thẩm mĩ trong dạy học
thơ trữ tình
Ở khía cạnh nhận thức về vai trò của đọc thẩm mĩ trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở trường THPT, với câu hỏi: Theo thầy/Cô, đọc thẩm mĩ có vai trò như thế nào trong dạy học thơ trữ tình? Theo em, đọc thẩm mĩ có vai trò như thế nào trong dạy học thơ trữ tình? Có hơn 70% số GV và HS (107/153 tổng số GV và HS)
nhận thấy rằng, đọc thẩm mĩ giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của TP; Giúp người đọc biết cảm nhận, suy nghĩ, nhìn nhận, đánh giá bản thân; Giúp bồi đắp tâm hồn, tình cảm, góp phần giáo dục phẩm chất, nhân cách người đọc Khoảng gần 30% số lượng GV và HS cho rằng, đọc thẩm mĩ mới chỉ đạt được một biểu hiện trên
Số lượng này ở HS cũng cao hơn GV (Xem biểu đồ 1.4)
Biểu đồ 1.4 Ý kiến của GV và HS về vai trò của đọc thẩm mĩ trong dạy học
thơ trữ tình
0 20 40 60 80 100
Giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Giúp người đọc biết cảm nhận, suy nghĩ, nhìn nhận, đánh gái bản thân Giúp bồi đắp tâm hồn, tình cảm, góp phần giáo dục phẩm chất nhân cách người
Biết nhận ra cái đẹp, tái hiện cái đẹp
Biết phân tích, đánh giá được cảm xúc, ý tưởng cá nhân
Biết chia sẻ cảm xúc cá nhân
Trang 2519
b Thực trạng đánh giá mức độ cần thiết của đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông
Về đánh giá mức độ cần thiết của đọc thẩm mĩ trong dạy học tác phẩm thơ,
kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các GV đều đồng ý với việc dạy đọc thẩm mĩ đối với TP thơ trữ tình trong môn Ngữ văn ở trường THPT là cần thiết Trong số 21 GV
tham gia khảo sát, có 8 GV cho rằng: “rất cần thiết” (38,1%), số còn lại 61,9% GV cho rằng: “cần thiết” Tỉ lệ này ở HS là 21,2% và 66,7% Phần lớn các em đều cho
rằng, đọc thẩm mĩ giúp HS hiểu rõ về TP hơn, giúp các em ghi nhớ vẻ đẹp của TP Nhóm ít HS còn lại cho thấy, không nhất thiết dạy đọc thẩm mĩ (6 HS chiếm 4,5%)
và mức độ cần thiết ít là 10 HS chiếm tỉ lệ 7,6% Kết quả chỉ ra rằng, có sự khác nhau đáng kể về ý kiến đánh giá mức độ cần thiết này trong dạy học đọc thẩm mĩ giữa GV và HS
1.2.2.2 Thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ đối với TP thơ trữ tình được tôi xem xét ở hai khía cạnh nội dung bao gồm: 1/ Những khó khăn trong việc áp dụng phương pháp đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình; 2/ Việc kiểm tra đánh giá trong dạy học thơ trữ tình
a Những khó khăn trong việc áp dụng phương pháp đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình
Câu hỏi chúng tôi đặt ra là: Khi thiết kế giáo án bài dạy thơ trữ tình, Thầy/Cô
có quan tâm chú ý đến đọc thẩm mĩ không? Thầy/Cô có thường sử dụng các biện
pháp hướng đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình không? Theo Thầy/Cô những
khó khăn gặp phải khi tiến hành dạy đọc thẩm mĩ trong dạy đọc thơ là gì?
- Về việc thiết kế giáo án: Hầu hết GV (tỉ lệ hơn 95%) cho biết, quan tâm đến đọc thẩm mĩ trong quá trình xây dựng giáo án (trong đó có quan tâm là 16 GV chiếm 76,2% và rất quan tâm là 4 GV chiếm tỉ lệ 19%), có 1 GV chiếm 4,8% số GV ít quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, về phía HS, chỉ có 51,5% số HS cho rằng GV có sự quan tâm đến đọc thẩm mĩ, 35,6% HS cho rằng GV ít quan tâm và 12.9% HS cho rằng
GV hoàn toàn không quan tâm đến đọc thẩm mĩ khi thiết kế giáo án (Xem biểu đồ 1.5)
Biểu đồ 1.5 Ý kiến của GV và HS về mức độ quan tâm khi thiết kế giáo án
dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình
0 20 40 60 80 100
Không quan tâm
Ít quan tâm Có quan tâm Rất quan tâm
Trang 2620
- Về việc áp dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ
trữ tình: Kết quả khảo sát cho thấy sự tương đồng trong câu trả lời của HS và GV
Có 18 GV (chiếm tỉ lệ 85,7%) và 87,2% HS cho rằng GV chỉ hiếm khi hoặc thỉnh thoảng sử dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ, Chỉ có 3 GV (Chiếm tỉ lệ 14,3%) thường xuyên áp dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ (Có 8,3% HS cho rằng như thế) và vẫn có 6 HS chiếm tỉ lệ 4,5% cho rằng GV không sử dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình (Xem biểu đồ 1.6)
Biểu đồ 1.6 Ý kiến của GV và HS về mức độ áp dụng các biện pháp hướng
đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình
Thực ra lí do mà GV có quan tâm đến đọc thẩm mĩ khi thiết kế giáo án nhưng
ít khi áp dụng vào dạy học một phần là vì lí do áp lực về điểm số trong thi cử, thứ hai là vì gặp một số khó khăn trong khi áp dụng
- Về những khó khăn khi áp dụng các biện pháp đọc thẩm mĩ: Kết quả khảo
sát cho hầu hết GV lựa chọn phương án khác (19 GV chiếm tỉ lệ 90,5%) và cụ thể
là theo ý kiến của các GV thì gặp tất cả các khó khăn: Lượng kiến thức bài học nhiều, thời gian trên lớp học ít, không gian lớp học (khó thể hiện cảm xúc), tâm trạng và sự chuẩn bị của GV, sự hợp tác của HS, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị nhà trường Ở HS, câu trả lời cũng tương tự có 112 HS chiếm tỉ lệ 84,8% lựa chọn phương án khác và viết cả 4 nhân tố đều ảnh hưởng) Ngoài ra HS còn nêu thêm một
số khó khăn nữa: tính cách HS, trạng thái học tập
b Thực trạng chất lượng/kết quả dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông
Để đánh giá kết quả học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình của HS, kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết GV và HS đều nhất trí rằng, có quan tâm đến suy nghĩ, cảm xúc
và hành động của HS sau khi đọc tác phẩm, tỉ lệ tương ứng là 81% ở GV và 67,4%
ở HS Yếu tố nhận thức của HS về nội dung tác phẩm ít được quan tâm nhất Yếu tố suy nghĩ, cảm xúc của HS khi đọc tác phẩm được đánh giá cao hơn so với yếu tố nhận thức của HS về các hình thức nghệ thuật (Xem biểu đồ 1.7)
0 10 20 30 40 50
Không sử dụng Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Trang 2721
Biểu đồ 1.7 Ý kiến của GV và HS về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dạy
học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình
Về mức độ định hướng phát triển phẩm chất, năng lực và bồi dưỡng tâm hồn
của HS: Câu hỏi được đặt ra là: “Theo Thầy/Cô, dạy đọc thẩm mĩ trong giờ học thơ trữ tình ở trường THPT môn Ngữ văn có thực sự hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực và bồi dưỡng tâm hồn HS không?” Với câu hỏi này, tất cả GV đều khẳng
định rằng, đọc thẩm mĩ hoàn toàn đáp ứng với định hướng trên, trong đó tỉ lệ ý kiến
về mức độ “nhiều” và “rất nhiều” tương ứng là hơn 33% và gần 29% Ý kiến từ
phía HS cho thấy, hầu hết HS (124 HS chiếm tỉ lệ 93,9%) nhất trí rằng, đọc thẩm mĩ
có hướng tới định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, bồi dưỡng tâm hồn cho HS Tuy nhiên, phần lớn ở mức có (85 HS chiếm tỉ lệ gần 64,4%) Tỉ lệ HS không thấy
sự ảnh hưởng của đọc thẩm mĩ chỉ chiếm 6,1% (8 HS lựa chọn)
Như vậy, dựa trên cơ sở kết quả thu được từ việc khảo sát thực trạng dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình, tôi nhận thấy rằng:
- Ở trường THPT, mức độ quan tâm đến đọc thẩm mĩ của GV cao hơn mức
độ quan tâm của HS Điều này được cụ thể hóa từ việc định hướng môn học, thiết
kế giáo án Tuy nhiên, không có sự khác biệt nhiều về mức độ nhận thức và nhận biết về đọc thẩm mĩ giữa GV và HS
- Tuy GV có quan tâm đến đọc thẩm mĩ nhưng do khối lượng kiến thức, cùng những khó khăn về cơ sở vật chất, không gian lớp học cũng như sự hạn chế về thời gian trên lớp học cho nên việc dạy học đọc thẩm mĩ đối với tác phẩm thơ trữ tình chưa được GV quan tâm và ít được GV thực hiện
- Nhìn chung, HS có biết đến đến đọc thẩm mĩ, song vẫn còn một số HS không quan tâm vì chưa nhận thức rõ được bản chất và vai trò, ý nghĩa của đọc thẩm mĩ trong giờ học tác phẩm thơ trữ tình Nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa có được
sự nhận thức về đọc thẩm mĩ, chưa được định hướng, chưa quan tâm và chưa có mục đích cũng như phương pháp học cụ thể khi đọc hiểu thơ trữ tình Một số em chưa yêu thích môn Văn, học Văn chỉ vì lí do là môn bắt buộc trong các môn thi tuyển sinh vào lớp 10
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Suy nghĩ, cảm xúc của HS khi học tác phẩm
Suy nghĩ, cảm xúc, hành động của HS sau khi học tác phẩm
Trang 2822
Tiểu kết chương 1
Với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình
ở trường THPT, tôi tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu một số vấn đề cơ sở lí luận về đọc thẩm mĩ: khái niệm đọc thẩm mĩ, bản chất của đọc thẩm mĩ, vai trò, ý nghĩa của đọc thẩm mĩ Bên cạnh đó, tôi còn phân tích thực tiễn dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT bằng việc khảo sát 21 GV của các trường THPT Quỳnh Lưu 1, THPT Quỳnh Lưu 2, THPT Quỳnh Lưu 3, THPT Nguyễn Đức Mậu về và 132 HS lớp 10 năm học 2022 – 2023 của trường THPT Quỳnh Lưu 2 về: Thực trạng các tài liệu phục vụ dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình; Thực trạng nhận thức của GV và HS về đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tìn; Thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù dạy đọc thẩm mĩ rất quan trọng đặc biệt để hình thành phẩm chất, năng lực cho HS theo chương trình GDPT 2018 nhưng lại chưa được GV quan tâm và sử dụng nhiều trong quá trình dạy học thơ trữ tình Đây là những cơ sở quan trong để tôi xây dựng những biện pháp tổ chức dạy đọc thẩm mĩ từ đó góp phần
thúc đẩy chất lượng dạy học phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca nói riêng và thơ trữ tình
nói chung theo hướng phát triển NL văn học và NL thẩm mĩ cho HS để nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Các biện pháp tổ chức dạy học sẽ được tôi đề xuất, lí giải và trình bày cụ thể ở chương 3 của đề tài
Trang 2923
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC ĐỌC THẨM MĨ KHI DẠY
HỌC PHẦN ĐỌC BÀI 2: VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA
2.1 Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp
2.1.1 Đáp ứng mục tiêu của Chương trình GDPT môn Ngữ văn (2018) phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học
Các biện pháp đề xuất hướng tới đáp ứng mục tiêu chung của Chương trình
GDPT môn Ngữ văn (2018) đó là:
- Góp phần hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tốt đẹp: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; Bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính cho HS
- Giúp HS phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Bên cạnh đó, các biện pháp đề xuất cần hướng tới đáp ứng mục tiêu cụ thể của Chương trình môn Ngữ văn THPT mới, đó là:
- Giúp HS mở rộng và nâng cao yêu cầu phát triển phẩm chất: Có bản lĩnh, có
cá tính, có lí tưởng, hoài bão, biết giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, có tinh thần hội nhập và ý thức công dân toàn cầu
- Phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học cho HS
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học
Các biện pháp đề xuất phải hướng tới mục tiêu cụ thể, dựa trên cơ sở lí luận và cách thức thực hiện khoa học, chặt chẽ, logic, phù hợp với điều kiện và đặc trưng môn Ngữ văn ở trường THPT
2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả, tính khả thi và có ý nghĩa thực tiễn
Các biện pháp đề xuất có tính đến hiệu quả đạt được, đồng thời:
- Tạo ra sự thống nhất, phù hợp với nguyên tắc phát triển kĩ năng đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT
- Áp dụng được và phù hợp với thực tế dạy học ở trường THPT
- Phù hợp với năng lực dạy học của GV THPT
- Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và khả năng nhận thức của HS THPT
2.1.4 Bám sát đặc trưng của thơ trữ tình
Các biện pháp đề xuất cần bám sát những đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình, đó là: Bộc lộ, giãi bày suy nghĩ, tình cảm, thái độ, cảm xúc; Bồi dưỡng, phát triển phẩm chất, nhân cách con người; …
2.1.5 Đảm bảo tính đặc thù của đọc thẩm mĩ thơ trữ tình
Các biện pháp đề xuất phải hướng tới đáp ứng tính đặc thù của đọc thẩm mĩ
Trang 3024
thơ trữ tình, đó là:
- HS được ứng đáp, phản hồi khi đọc tác phẩm: Khuyến khích và tôn trọng mức
độ phản ứng, hồi đáp của HS; Khuyến khích HS phản hồi lại câu trả lời của mình
- Giúp HS thấy được tiềm năng giao tiếp giữa các quan điểm khác nhau của từng HS
- Tạo cơ hội để HS được thảo luận, trải nghiệm và liên hệ về bản thân
- HS được kết nối bài đọc với các trải nghiệm khác
Bên cạnh đó, mỗi biện pháp đề xuất phải được gắn với thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT, gắn với thực tiễn đời sống, môi trường hiện tại của GV,
HS và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS THPT
2.2 Một số biện pháp tổ chức đọc thẩm mỹ khi dạy phần đọc bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca
Để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình, rất cần các biện pháp thiết thực, cụ thể, tác động đến đối tượng quan trọng nhất của quá trình dạy và học, đó là HS Vì vậy, trong khuôn khổ sáng kiến, tôi đã ứng dụng một số biện pháp tổ chức dạy học tác động trực tiếp đến HS nhằm nâng cao hiệu quả giờ học
2.2.1 Biện pháp 1: Chuẩn bị các điều kiện dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình theo hướng dẫn nhập cảm xúc cho giáo viên và học sinh
a Mục đích của biện pháp
Việc thực hiện tốt công tác chuẩn bị cho giờ dạy học đọc thẩm mĩ nhằm mục đích giúp GV có tâm thế chủ động, tự tin, sẵn sàng làm chủ giờ dạy Khâu chuẩn bị càng cẩn thận, chu đáo, công phu thì GV càng chủ động, tự tin khi triển khai giờ dạy
b Nội dung và cách thức thực hiện
Để chuẩn bị cho giờ dạy học hướng tới đọc thẩm mĩ thơ khi dạy bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca đạt hiệu quả, tôi đã thực hiện các công việc tương ứng với các bước sau đây:
- Bước 1: Chuẩn bị giáo án
- Bước 2: Chuẩn bị phương pháp, phương tiện, tài liệu, đồ dùng dạy học
- Bước 3: GV chuẩn bị tâm thế lên lớp, sẵn sàng cho việc thực hiện giờ dạy
* Bước 1: Chuẩn bị giáo án
Nếu Giáo án dạy học theo nội dung tập trung chủ yếu nêu các nội dung mà GV
cần truyền thụ cho HS, tập trung vào việc trang bị kiến thức, hiểu biết của GV về
một vấn đề nào đó cho HS; Giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực
tập trung vào việc hình thành và phát triển năng lực người học, nêu lên các hoạt động
mà GV cần tổ chức cho HS thực hiện để tự tìm ra kiến thức, tự hoàn thiện những
hiểu biết của chính mình, thì Giáo án hướng tới dạy học đọc thẩm mĩ được thiết kế
dựa trên tinh thần của giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học nhưng tập trung chủ yếu vào việc chú ý tới sự tác động qua lại giữa người đọc
Trang 31Ví dụ yêu cầu cần đạt khi dạy văn bản 1,2,3: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản
+ HS nhận diện được hình thức thơ hai-cư
+ HS nhận diện và đánh giá được sức hấp dẫn của thơ hai-cư nói riêng, của thơ
ca nói chung trên hai phương diện: sức gợi của hình ảnh và của hình thức ngôn từ
Trong khuôn khổ sáng kiến tôi xin được trích giáo án văn bản 5: Mùa xuân chín Giáo án được xây dựng trên tinh thần của một giáo án theo hướng dạy học phát
triển năng lực người học, trong đó tôi nhấn mạnh đến mục tiêu dạy học đọc thẩm
mĩ (Phụ lục 3)
* Bước 2: Chuẩn bị phương pháp, phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học
Ở trường THPT Quỳnh Lưu 2 tất cả các lớp đều đã được trang bị ti vi có kết nối mạng nên GV chỉ cần chuẩn bị máy tính, bút trình chiếu cùng phiếu học tập đã giao cho học sinh trước khi học văn bản Ở mỗi văn bản tôi tải về các hình ảnh, video cần thiết cho việc dạy đọc hiểu văn bản
* Bước 3: Chuẩn bị tâm thế lên lớp, sẵn sàng cho việc thực hiện giờ học
Vì xác định rõ dạy Ngữ văn là một nghệ thuật - nghệ thuật truyền cảm hứng văn học cho người học mà dạy học hướng tới đọc thẩm mĩ thơ trữ tình càng đòi hỏi tính nghệ thuật cao hơn bởi đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình là diễn tả tâm trạng và bộc lộ cảm xúc Khi dạy thơ GV phải gieo vào lòng HS được những khoái cảm thẩm
mĩ cùng với những cung bậc cảm xúc dạt dào, truyền cho HS cảm hứng văn học thông qua mỗi dòng thơ, câu chữ Vì vậy, mỗi giờ lên lớp tôi đều tạo cho mình tâm thế thoải mái, vui vẻ, hào hứng nhất, đặc biệt tôi cố gắng khơi gợi sự hào hứng đó
từ HS bằng việc tạo không khí học tập vui vẻ thoải mái từ không gian xung quanh
Trang 3226
lớp học đến sự hỏi han, hoặc một vài câu nói vui trước buổi học Có thể thấy tâm trạng của tôi khi lên lớp có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả giờ dạy và hứng thú học tập của HS
Ảnh: Không gian lớp học xanh lớp 10D3 2.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động dạy học phù hợp
để nuôi dưỡng và phát triển tình cảm thẩm mĩ cho học sinh
a Mục đích của biện pháp
Xây dựng quy trình tổ chức dạy học hướng tới đọc thẩm mĩ thơ trữ tình phù hợp sẽ giúp nuôi dưỡng, phát triển tình cảm thẩm mĩ cho HS, góp phần nâng cao
hiệu quả giờ học
b Nội dung và cách thức thực hiện
Khi thực hiện chương trình GDPT 2018, chúng ta thấy sẽ có nhiều cách khác nhau
để GV tổ chức cho HS đọc hiểu một tác phẩm văn học Trong phạm vi sáng kiến và trong khuôn khổ dạy học thơ trữ tình, tôi thiết kế quy trình tổ chức dạy học đọc thẩm
mĩ thơ trữ tình khi dạy bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca như sau:
- Hoạt động 1: Khởi động, tạo tâm thế đọc thẩm mĩ
- Hoạt động 2: Tìm hiểu các yếu tố liên quan để tạo đà cho đọc thẩm mĩ
- Hoạt động 3: Đọc, khám phá kiến thức và bộc lộ cảm xúc, tình cảm cá nhân
- Hoạt động 4: Luyện tập củng cố kiến thức và vận dụng
- Hoạt động 5: Mở rộng kiến thức và sáng tạo
* Hoạt động 1: Khởi động, tạo tâm thế đọc thẩm mĩ
Mục đích của hoạt động này nhằm thu hút sự chú ý, khơi gợi hứng thú, trí tò
Trang 3327
mò, vốn sống, kinh nghiệm đọc hiểu văn bản của HS để tạo sợi dây kết nối giữa HS
và tác phẩm thơ trữ tình Hoạt động này có thể sử dụng một số kĩ thuật dạy học như:
trò chơi, đóng vai, động não, cho HS xem video, nghe nhạc, xem tranh ảnh
Ví dụ: Khi dạy văn bản 1,2,3: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản tôi cho học sinh
chơi trò chơi giải mật thư để tìm hiểu về văn hóa Nhật Bản, sau đó dẫn vào bài mới
Ảnh : Học sinh chơi trò chơi giải mật thư
Khi dạy văn bản 4: Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) tôi chiếu cho học sinh xem
video: Những nỗi đau chiến tranh Sau đó tôi hỏi học sinh: Những nỗi đau nào các bạn vừa nhìn thấy qua video? Từ đó đánh thức cảm xúc trong các em để chuyển vào
bài mới
Ảnh: Học sinh xem video nỗi đau chiến tranh
* Hoạt động 2: Tìm hiểu các yếu tố liên quan để tạo đà cho đọc thẩm mĩ
Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS nắm bắt được các tri thức đọc hiểu
cơ bản, đồng thời trang bị cho các em những tri thức công cụ làm điểm tựa để HS sẵn sàng thâm nhập, giải mã văn bản và tìm hiểu thế giới nghệ thuật của thơ Các yếu tố liên quan là các kiến thức về: Bối cảnh xã hội, thời đại tác giả sống và sáng
Trang 3428
tác, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm, thể loại thơ… Phần này tôi thường phát phiếu học tập để HS về nhà tìm hiểu trước Sau đó tôi thu phiếu học tập bổ sung vào hồ sơ học
tập của HS
Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS nắm bắt được các tri thức đọc hiểu
cơ bản, đồng thời trang bị cho các em những tri thức công cụ làm điểm tựa để HS sẵn sàng thâm nhập, giải mã văn bản và tìm hiểu thế giới nghệ thuật của thơ Các yếu tố liên quan là các kiến thức về: Bối cảnh xã hội, thời đại tác giả sống và sáng tác, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm, thể loại thơ… Phần này tôi thường phát phiếu học tập để HS về nhà tìm hiểu trước Sau đó tôi thu phiếu học tập bổ sung vào hồ sơ học
tập của HS
Ảnh: Phiếu học tập bài Thu hứng (Cảm xúc mùa thu)
Hoạt động 3: Đọc, khám phá kiến thức và bộc lộ cảm xúc, thái độ, tình cảm
cá nhân
Đây là hoạt động trọng tâm, đặc biệt quan trọng và là hoạt động nòng cốt không thể thiếu đối với mỗi giờ dạy đọc thẩm mĩ thơ trữ tình Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm thơ trữ tình, trực tiếp thâm nhập bài học, trực tiếp khám phá những tri thức mới (nội dung, nghệ thuật) từ tác phẩm thơ trữ tình và trực tiếp thể hiện suy nghĩ, cảm nhận, thái độ, khả năng ứng đáp với tác
phẩm Hoạt động này bao gồm: Đọc, Hiểu và Cảm nhận, cụ thể như sau: 1/ Đọc văn
bản thơ; 2/ Khám phá kiến thức và bộc lộ cảm xúc, thái độ, tình cảm của người đọc
Trang 35điệu của thơ Trong quá trình đọc, chắc chắn rằng: “Những tín hiệu ngôn ngữ, những hình ảnh, chi tiết của bài thơ sẽ hiện lên tuần tự giống như cuốn phim được tráng trong nước thuốc hiện hình” ở HS
Ở hoạt động này, đầu tiên tôi hướng dẫn các em đọc trực tiếp tác phẩm, đọc kĩ, đọc sát nhiều lần ở nhà và yêu cầu mỗi HS đều phải đọc Đọc trải nghiệm thơ trữ
tình được ví như “Một cuộc thám hiểm đầu tiên vào thế giới nghệ thuật ngôn từ của thơ ca”.Tôi kiểm soát việc đọc này bằng việc kiểm tra các phiếu học tập đã giao về
nhà cho HS Trên lớp, tôi hướng dẫn các em đọc thầm để bước đầu cảm nhận hình ảnh, giai điệu của bài thơ, sau đó gọi HS đọc diễn cảm có thể ngâm nga để những
hình ảnh giai điệu đó mở ra và đọng lại trong tâm hồn người nghe Với bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử, sau khi HS đọc tôi còn học sinh nghe bản ngâm của
nghệ sĩ ưu tú Trần Thị Tuyết Bản ngâm này có sự kết hợp của hình ảnh và âm nhạc nên càng dễ dàng tác động tới cảm xúc của HS
Ảnh: Học sinh nghe ngâm thơ
Trang 3630
Việc 2: Nêu cảm nhận chung ban đầu khi đọc tác phẩm
Sau khi HS đọc và nghe đọc bài thơ, tôi sẽ đặt những câu hỏi như: Em có cảm nhận như thế nào về bài thơ? Ấn tượng của em về bài thơ là gì? Sau khi nghe bạn đọc hoặc ngâm thơ em có cảm xúc gì? Tôi luôn cố gắng tạo môi trường học tập cởi
mở, thân thiện, không gò bó, khiên cưỡng, không áp đặt HS, giúp các em nói lên được cảm nhận chung ban đầu của mình khi đọc tác phẩm thơ trữ tình một cách tự nhiên, thoải mái nhất Bởi vì những cảm nhận ban đầu này thường mang màu sắc cảm xúc cá nhân rất ấn tượng và hằn sâu trong tâm hồn HS
Tiếp theo, tôi hướng dẫn các em tìm hiểu chú thích, hiểu nghĩa của các từ ngữ thể hiện trong tác phẩm, xác định bố cục, âm điệu, giọng điệu… toát lên từ tác phẩm giúp các em có những ấn tượng ban đầu về tác phẩm và bước đầu hình dung được thế giới nghệ thuật thơ ca qua lớp lớp ngôn từ ẩn chứa trong tác phẩm
Bước 2: Phân tích, lí giải, cắt nghĩa các tầng bậc nội dung, nghệ thuật của thơ trữ tình để có những suy nghĩ, trải nghiệm cho bản thân
Sau khi tất cả HS đều được trực tiếp đọc TP thơ trữ tình, tôi tổ chức cho các em tìm hiểu nội dung và khai thác các tầng bậc ý nghĩa, các giá trị nghệ thuật đặc sắc được thể hiện qua từng đoạn, từng câu trong thơ trữ tình Với mục đích nhằm giúp các em vừa khám phá ý nghĩa của TP vừa thấy được cái hay trong nghệ thuật thể hiện của tác giả, từ đó các em hiểu tâm tư, nguyện vọng, nỗi niềm thi nhân
Với mục đích nhằm giúp các em vừa khám phá ý nghĩa của TP vừa thấy được cái hay trong nghệ thuật thể hiện của tác giả, từ đó các em hiểu tâm tư, nguyện vọng, nỗi niềm thi nhân muốn gửi gắm qua từng câu chữ, từng dòng thơ Các em sẽ soi thấy được bóng dáng của chính bản thân mình khi học đọc tác phẩm
Tôi luôn khuyến khích, động viên các em trực tiếp tham gia, đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh của nhân vật trữ tình trong TP thơ, đồng thời định hướng giúp các
em liên hệ và huy động óc suy nghĩ, trí tưởng tượng, sự hiểu biết cá nhân để khám phá, phát hiện, đề xuất những cách hiểu khác nhau về nội dung cũng như khai thác các tầng bậc ý nghĩa của thơ trữ tình Qua đó, các em thấy rõ sự tác động của thơ trữ tình đối với bản thân cả về mặt nhận thức lẫn tình cảm Từ đây, các em sẽ nói lên được tâm tư, nguyện vọng, suy nghĩ, cảm xúc của mình khi học tác phẩmTP hay các trang nhật kí, các dòng kí ức… bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm của cá nhân sau khi học TP
Với bước này tôi thực hiện các việc như sau:
Việc 1: Hướng dẫn HS nhận diện các yếu tố thẩm mĩ để tạo tiền đề cho việc
bộc lộ thái độ, cảm xúc khi tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình
Thứ nhất, tôi hướng dẫn HS nhận diện qua hệ thống từ ngữ, hình ảnh, cấu tứ,
giọng điệu được miêu tả trong thơ trữ tình HS khối 10 năm học 2022 - 2023 là học sinh khóa đầu tiên thực hiện chương trình GDPT 2018 Ở cấp THCS HS chủ yếu học để thi chuyển cấp nên rất nhiều bạn học vẹt, đọc thuộc máy móc vì vậy khi dạy tôi phải chỉ cho các em biết cách nhận diện các từ ngữ, hình ảnh, nhạc điệu, âm thanh
Trang 3731
được khắc họa trong thơ… (Đây là những đặc trưng của thơ trữ tình), trên cơ sở đó, giúp các em nhận diện và chỉ ra được các tín hiệu nghệ thuật, các từ ngữ bộc lộ tâm trạng, cảm xúc, thái độ của nhân vật trữ tình trong thơ để rồi các em cảm nhận được tâm trạng, nỗi niềm của nhà thơ
Ví dụ: Bài thơ Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) - Đỗ Phủ là những cảm nhận tinh
tế của tác giả về một bức tranh mùa thu “khác lạ” với những bức tranh mùa thu trong thơ xưa Bức tranh mùa thu cũng là hình bóng tang thương của đất nước Trung Quốc đương thời, từ đó bộc lộ tâm trạng lo âu, buồn nhớ và nỗi ngậm ngùi xót xa của tác giả Vì thế, để hướng dẫn HS nhận diện, đánh giá trạng thái cảm xúc qua hệ thống
từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu trong bài thơ này, trước hết tôi giúp các em chỉ ra được:
Những từ ngữ và hình ảnh nào bộc lộ trạng thái cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa thu? Tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện trong bài thơ qua những hình ảnh, từ ngữ đó? Nhịp điệu của bài thơ nói lên điều gì?
Thứ hai, sau khi nhận diện được các trạng thái cảm xúc trong tác phẩm, tôi
hướng dẫn các em chỉ ra và gọi tên được các trạng thái cảm xúc đó trong thơ, đồng thời hướng dẫn các em mô tả được bằng lời nói qua hệ thống từ ngữ, hình ảnh vừa nhận diện
Ví dụ: Khi dạy văn bản Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử) tôi hướng dẫn các em
gọi tên được những trạng thái cảm xúc của nhân vật trữ tình vừa sững sờ, hân hoan vừa lo lắng, e ngại, sau cảm xúc bồng bột, hứng khởi là cảm giác trĩu nặng, có phần day dứt Từ đó, giúp các em hiểu hơn về bản chất của đời người, của sự sống, giúp các em thấy quý trọng hơn những giây phút được sống trong thì hiện tại Vì vậy, khi
dạy tôi đã đặt câu hỏi: Hình ảnh, nhịp và vần trong bài thơ có liên hệ như thế nào với mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình? Theo em âm điệu chung của bài thơ là gì? Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ này?
Thứ ba, hướng dẫn học sinh nhìn nhận, đánh giá được các trạng thái cảm xúc khi đọc thơ trữ tình Đây là việc làm khó đối với HS, nhất là học sinh lớp 10 Tuy
nhiên, để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ , tôi sẽ khéo léo hướng dẫn giúp các em chỉ ra được ý nghĩa biểu đạt của các trạng thái cảm xúc đó và vai trò của chúng trong việc biểu đạt nội dung TP Từ đó, các em có thể nhìn nhận, đánh giá được các trạng thái cảm xúc, các mức độ tình cảm được bộc lộ trong TP
Ví dụ khi dạy văn bản 2 trong Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản để giúp các
em đánh giá được trạng thái cảm xúc của nhân vật trữ tình được bộc lộ trong văn bản, tôi yêu cầu HS đưa ra sự nhìn nhận, lí giải trạng thái cảm xúc đó bằng các câu
hỏi gợi ý như: Trong bài thơ của Chi-y-ô, dòng thứ 2 “Dây gàu vương hoa bên giếng” không đơn thuần miêu tả một hiện tượng mà chủ yếu nêu lên một phát hiện Phát hiện đó giúp ta hiểu được gì về tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình? Vì sao nhân vật trữ tình có tâm trạng cảm xúc đó? Qua đó em thấy vẻ đẹp gì ở nhân vật trữ tình?
Việc 2: Hướng dẫn HS bày tỏ tình cảm thẩm mĩ, biết chia sẻ, lan tỏa cảm xúc
Trang 3832
và thể hiện thái độ của cá nhân khi đọc tác phẩm thơ
Đặc trưng của thơ trữ tình là bộc lộ tâm trạng Thơ trữ tình giúp người đọc thấu
hiểu được các thông điệp tình cảm mà thi nhân muốn gửi gắm qua TP Đó là niềm vui, nỗi buồn, là sự đau đớn, nỗi cô đơn, tuyệt vọng, là niềm khát khao vươn tới cuộc sống tốt đẹp… Vì vậy, khi dạy học thơ, tôi thường hướng dẫn HS bày tỏ tình cảm thẩm mĩ, chia sẻ, lan tỏa cảm xúc và thể hiện thái độ của cá nhân khi tiếp nhận TP thơ
Thứ nhất, tôi giúp HS tự bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy nghĩ và những rung cảm
thẩm mĩ của mình khi tiếp nhận TP thơ trữ tình bằng cách tạo bầu không khí và môi trường học tập thoải mái để các em trải nghiệm những kinh nghiệm và bộc lộ cảm xúc của cá nhân khi đọc TP, bộc lộ sự cảm thụ cùng suy nghĩ chủ quan của các em,
từ đó không chỉ giúp các em hiểu nội dung TP mà còn hiểu được chính mình từ việc học TP
Ví dụ: Khi dạy văn bản 3 trong Chùm thơ hai-cư (Haiku) Nhật Bản, tôi lựa
chọn, tập trung vào tín hiệu cảm xúc chính trong bài thơ và gợi ý cho HS tự bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình về các vấn đề liên quan đến nội dung TP, chẳng hạn như: Bài thơ là hình ảnh chú ốc nhỏ đang chầm chậm leo lên núi Phú Sĩ Trong thực
tế cuộc sống, mỗi người đều là chú ốc nhỏ bé, bình dị nhưng đều ấp ủ một giấc mơ cháy bỏng của riêng đời mình Sức mạnh nội tại là nguồn sức mạnh đưa chú ốc nhỏ
lên đến đỉnh cao của cuộc đời mình Bản thân em nghĩ gì về chú ốc nhỏ? Em có thể làm gì để như chú ốc nhỏ ấy chinh phục ước mơ của mình? Từ đó, tôi định hướng
giúp các em biết cố gắng, nỗ lực không ngừng nghỉ trên hành trình chinh phục lý tưởng của mình Ta có thể đi chậm hơn người khác nhưng điều quan trọng đó là ta không ngừng lại mà luôn nỗ lực, kiên trì đến cùng với ước mơ của mình Đó chính
là điều làm nên ý nghĩa của cuộc sống chúng ta
Thứ hai, giúp HS biết chia sẻ, lan tỏa cảm xúc khi tiếp nhận TP thơ trữ tình Có
nhiều cách để GV giúp HS chia sẻ, lan tỏa cảm xúc của cá nhân khi dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình Đầu tiên, tôi tạo tâm lí thoải mái, vui vẻ, cởi mở cho các em, lắng nghe, tôn trọng ý kiến cá nhân của các em để khuyến khích các em tự tin bộc
lộ cảm xúc và sẵn sàng chia sẻ những hiểu biết, suy nghĩ và cả những mong muốn của bản thân Để khơi gợi các em, tôi thường đưa ra những những ý kiến, nhận định
để các em bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình Hoặc đặt câu hỏi có thể dưới dạng
các mệnh đề như sau: Em có thể cho cô biết…; Em thử đoán xem ; Theo em….; Em
có nghĩ rằng…; Em có đồng tình với quan điểm… để giúp các em tự nói lên suy nghĩ, cảm xúc của mình
Ví dụ: Khi dạy văn bản Thu hứng (Cảm xúc mùa thu), tôi khơi gợi các em: Thu hứng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt của cuộc đời Đỗ Phủ Phải chăng tác phẩm chỉ thể hiện nỗi niềm thân phận cá nhân của nhà thơ? Hoặc là: Bài thơ Thu hứng là tâm trạng mong nhớ, day dứt của tác giả đối với quê nhà của mình Em đã
bao giờ xa nhà, xa quê một thời gian dài chưa? Hãy chia sẻ tâm trạng và cảm xúc của em lúc đó?
Trang 3933
Bên cạnh đó, để tạo nên tính đa dạng trong việc bộc lộ, chia sẻ cảm xúc của
HS, tôi còn cho HS nhập vai vào nhân vật trữ tình trong các tác phẩm thơ để các em
có cơ hội trải nghiệm, bộc lộ và lan tỏa cảm xúc cá nhân của mình
Ví dụ: Khi dạy văn bản Mùa xuân chín bên cạnh việc giúp HS cảm nhận được
nỗi niềm bâng khuâng, luyến tiếc về một mùa xuân của hoài niệm, của tình cảm dở dang qua đó ta thấy được tình yêu đời tha thiết, niềm khát khao giao cảm mãnh liệt của một thi sĩ trẻ có số phận hẩm hiu không may mắn - Hàn Mặc Tử, tôi còn cho
các em trải nghiệm và chia sẻ cảm xúc của mình bằng cách hỏi: Em thử đặt mình vào trong hoàn cảnh của một người thanh niên trẻ tuổi mà mắc bệnh tật hiểm nghèo không còn hi vọng sống nữa, khi đó em quan tâm đến điều gì? Em có buồn không? Cảm xúc của em sẽ như thế nào? Từ đó em hiểu thêm gì về nhân vật trữ tình trong bài thơ?
Từ những hoạt động như thế sẽ khơi dậy ở các em thứ tình cảm nhân văn, giúp các em có tâm hồn rộng mở: biết vui, biết buồn, biết yêu thương, biết đồng cảm, biết
sẻ chia, biết xúc động trước các vấn đề đặt ra từ TP văn học Từ đó, các em hiểu được chính bản thân mình, hiểu được mọi mặt phức tạp của cuộc sống xung quanh
để có những việc làm và hành động đúng, biết hướng tới những điều tốt đẹp trong tương lai, biết vươn tới cái Chân - Thiện - Mĩ
Họat động 4: Luyện tập củng cố kiến thức và vận dụng
Ở hoạt động này, HS được luyện tập để nắm chắc và khắc sâu các kiến thức
đã học Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS vận dụng những tri thức trong bài đọc hiểu thơ trữ tình vào thực tiễn cuộc sống Đó là những tri thức: Về tác giả,
TP và thể loại; Về nội dung, ý nghĩa của bài đọc; Về các biện pháp nghệ thuật; Về thế giới hình tượng văn học… Bên cạnh đó, hoạt động này nhằm hướng tới việc giúp
HS nắm chắc kiến thức và nâng cao khả năng đọc hiểu thơ trữ tình
Ví dụ: Sau khi học xong văn bản Thu hứng (Cảm xúc mùa thu), tôi thiết kế hệ
thống câu hỏi trắc nghiệm để học sinh củng cố lại kiến thức Sau khi học xong văn
bản Mùa xuân chín tôi hướng dẫn học sinh tổ chức một buổi tọa đàm: Theo dấu chân Hàn tìm nàng xuân chín Buổi tọa đàm do HS chủ trì gồm MC và các khách mời:
Người yêu thơ Hàn, Nhà ngôn ngữ học, Nhà tâm lí học và Nhà phê bình văn học Tôi hướng dẫn MC đặt các câu hỏi:
1 Đi qua Mùa xuân chín, thi sĩ họ Hàn giúp người đọc đến với những vùng
không gian nào?
2 Trong từng không gian ấy, bạn thấy được những điều gì về thiên nhiên và
con người mùa xuân?
3 Về mặt ngôn ngữ, nhà nghiên cứu có đánh giá như thế nào về cách dùng từ
ngữ của Hàn Mặc Tử khi miêu tả mùa xuân chín?
Trang 4034
3 Dưới góc độ tâm lí, nhà nghiên cứu suy nghĩ như thế nào về dòng tâm tư của
một con người trước vẻ đẹp mùa xuân nói chung và nhà thơ Hàn Mặc Tử trước mùa xuân chín nói riêng?
4 Với góc nhìn của một nhà nghiên cứu văn học, ông đánh giá như thế nào về
vẻ đẹp mùa xuân chín, về hồn thơ Hàn Mặc Tử?
5 Một cảm nhận của bản thân về nhà thơ Hàn Mặc Tử và Mùa xuân chín
Ảnh: Buổi tọa đàm
Đặc biệt, tôi thường đặt những câu hỏi giúp bộc lộ và phát triển cảm xúc cho
HS, giúp các em thấy được ý nghĩa bài học cần rút ra từ mỗi trang thơ đã học để áp dụng vào đời sống cá nhân của mình, giúp các em có những suy nghĩ và hành động đúng đắn cho bản thân khi học thơ trữ tình
Ví dụ: Sau khi học xong chùm thơ hai-cư, từ mối tương giao giữa vạn vật trong
tự nhiên và vạn vật với con người, HS biết cách đối xử với thế giới tự nhiên, biết điều chỉnh nội tâm của mình để lắng nghe những biến chuyển của vạn vật, biết dùng tình thương và lòng trắc ẩn khi đối xử với vạn vật, từ đó yêu và trân trọng hơn thế giới xung quanh mình
Hoạt động 5: Mở rộng kiến thức và sáng tạo
Hoạt động này giúp HS có cơ hội mở rộng kiến thức từ kiến thức các em vừa được học trong mỗi TP thơ từ đó biết khám phá, liên hệ với cuộc sống hiện tại, biết sáng tạo ra những sản phẩm mang tính thẩm mĩ nhân văn Đây là các sản phẩm tinh thần, là minh chứng thể hiện rõ nhất sự hiểu biết cũng như suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của các em khi học thơ trữ tình
Một số hình thức mở rộng kiến thức và sáng tạo mà học sinh đã thực hiện khi
học phần đọc hiểu bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca
- Sáng tác thơ: Hình thức này tôi sử dụng ở văn bản: Chùm thơ hai-cư (haiku)
Nhật Bản Đây là cách để học sinh vừa hiểu rõ hơn về thơ hai-cư (loại thơ độc đáo