NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Cơ sở lí luận của đề tài
Bản vẽ kỹ thuật là công cụ truyền đạt thông tin kỹ thuật, thể hiện ý tưởng của người thiết kế, dựa trên nền tảng hình học trong toán học và môn hình họa.
Phần Vẽ kĩ thuật nghiên cứu cách biểu diễn các vật thể, chi tiết và thiết bị máy móc thực tế trên các bản vẽ, do đó nó mang tính cụ thể và trừu tượng cao.
Tính quy chuẩn trong vẽ kỹ thuật được thể hiện qua các quy định chặt chẽ và thống nhất, giúp người sử dụng bản vẽ tránh hiểu sai và nhầm lẫn, từ đó giảm thiểu sai phạm và tổn thất trong sản xuất Vì vậy, vẽ kỹ thuật được coi là "một ngôn ngữ" của những người làm công tác kỹ thuật.
Kiến thức về hình học phẳng, hình học không gian và hình học họa hình có mối liên hệ chặt chẽ với toán học, đặc biệt là trong việc dựng hình và vẽ hình Tuy nhiên, những kiến thức này chưa được giảng dạy trong chương trình toán học hiện tại, gây khó khăn cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình học tập.
Môn học này đã có ứng dụng từ xa xưa, không chỉ trong xây dựng mà còn trong chế tạo thiết bị cơ khí Nó trở thành một môn học quan trọng, phát triển song song với ngành cơ khí toàn cầu và ngày càng hoàn thiện về tiêu chuẩn cũng như quy ước của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là ở Việt Nam.
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã mang lại nhiều tiện ích trong việc số hoá và tự động thiết kế bản vẽ Ngành vẽ kỹ thuật, một môn cơ sở của các chuyên ngành như Cơ khí, xây dựng và kiến trúc, dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai Học sinh cần nắm vững các lý thuyết cơ bản về phép chiếu, phương pháp thể hiện vật thể, cũng như các tiêu chuẩn và quy phạm của nhà nước Quan trọng hơn, việc phát triển tư duy trong nghiên cứu và trình bày hình biểu về kết cấu vật là yếu tố quyết định đến chất lượng học tập của các em.
I.1 Giới thiệu các vật liệu và dụng cụ vẽ
Trước tiên, ta phải hiểu đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, bản vẽ kĩ thuật là gì?
Bản vẽ kỹ thuật là ngôn ngữ riêng của ngành vẽ kỹ thuật, giúp họa viên, kỹ sư và nhà thiết kế mô tả vật liệu, hình dáng, kích thước và đặc tính kỹ thuật của các chi tiết và kết cấu Nó đóng vai trò quan trọng trong việc chế tạo sản phẩm đúng theo thiết kế.
Bản vẽ kỹ thuật là công cụ giao tiếp quan trọng trong ngành kỹ thuật, bao gồm các hình biểu diễn như hình cắt và hình chiếu, cùng với các số liệu kỹ thuật và kích thước do kiến trúc sư thiết kế Những bản vẽ này phải tuân thủ các quy tắc chung như ISO và TCVN Ngoài ra, bản vẽ kỹ thuật còn có giá trị thương mại, có thể mua bán, trao đổi và đăng ký bản quyền, đồng thời là tài sản trí tuệ quý giá Để tạo ra bản vẽ, người dùng cần sử dụng các dụng cụ chuyên dụng.
I.1.1 Giấy vẽ Đó là loại giấy trắng, dầy, hơi cứng có mặt phải nhẵn, mặt trái ráp Khi vẽ bằng bút chì hay mực đều dùng mặt phải để vẽ Ở điều kiện trên trường, học sinh thực hành chính theo khổ A4 bán trên thị trường Khổ giấy: theo tiêu chuẩn TCVN
7283 : 2003 ( ISO 5457:1999 ) quy định khổ giấy của các bản vẽ kỹ thuật bao gồm
Bút chì là dụng cụ quan trọng để viết và vẽ trên giấy hoặc gỗ, thường có lõi bằng than chì Bút chì hiện đại được phát minh vào năm 1795 bởi Nicolas-Jacques Conte, một nhà khoa học phục vụ trong quân đội của Napoleon Bonaparte Đối với vẽ kỹ thuật, bút chì đen có hai loại chính.
+ Bút chì cứng: Ký hiệu là H
+ Bút chì mềm: Ký hiệu là B Để vẽ nét mảnh ta dùng bút chì loại cứng: H Vẽ nét liền đậm, chữ viết thì dùng bút chì mềm: B
Độ cứng của bút chì tại Việt Nam được phân loại theo hệ thống châu Âu, từ 9H (cứng và nhạt nhất) đến 9B (mềm và đậm nhất), với HB là mức trung bình Mặc dù thang phân loại khá dài, nhưng người dùng thường chỉ sử dụng các loại từ 9H đến 5B.
Bút chì cứng tạo ra những đường kẻ sắc nét, nhẹ và mỏng, trong khi bút chì mềm cho ra những đường kẻ mềm, tối và dày Mặc dù độ sắc nét của bút chì cũng ảnh hưởng đến kết quả, nhưng việc tạo đường kẻ sắc nét với bút chì cứng và đường kẻ mềm với bút chì mềm thường dễ dàng hơn.
Bút chì than chì được chế tạo từ hỗn hợp bột than chì và đất sét, với tỷ lệ giữa hai thành phần này quyết định độ cứng của bút chì; càng nhiều filler thì bút chì càng cứng Có nhiều dạng bút chì than chì, bao gồm bút chì bọc gỗ, bút chì không gỗ và chì bấm Độ cứng của bút chì than chì thường dao động từ HB đến 6B, với 6B là mềm nhất và HB là cứng nhất Một số hãng còn sản xuất bút chì với độ cứng 2H, nhưng cá nhân tôi không sử dụng chúng vì thấy độ cứng không phù hợp với giấy.
Cách gọt bút chì và sử dụng bút chì khi vẽ là những kỹ năng quan trọng mà giáo viên cần hướng dẫn và điều chỉnh cho học sinh trong quá trình thực hành.
Cách chọn và gọt bút chì đúng quy định giúp các em vẽ được các đường nét đẹp, đúng tiêu chuẩn
Cứng nhất → Trung bình → Mềm nhất
I.1.3 Compa sử dụng bút chì:
Compa là dụng cụ học tập thiết yếu, chủ yếu dùng để vẽ hình tròn và các hình dạng khác Để vẽ hình tròn, bạn chỉ cần lắp bút vào đầu compa, điều chỉnh cho hai chân đều nhau, đặt tâm đường tròn và quay compa để hoàn thành Compa không chỉ hữu ích trong toán học, đặc biệt là hình học, mà còn trong thiết kế bản vẽ, kiến trúc và đo khoảng cách trên bản đồ Xuất phát từ thời trung cổ, compa đã trải qua nhiều cải tiến để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Hiện nay, compa được thiết kế nhỏ gọn, dễ dàng mang theo và rất tiện lợi cho người sử dụng.
Kiến thức hỗ trợ về các phép chiếu trong hình học họa hình
II.1 Kỹ năng hỗ trợ ( bổ trợ) là gì?
Là sự kết hợp các kỹ năng thiết yếu ngoài chương trình đào tạo chính khóa, năng lực này được trang bị cho người học để nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong nghiên cứu, học tập và công việc.
Thời lượng lồng ghép giáo dục kiến thức, kỹ năng bổ trợ cho học sinh đảm bảo theo quy định:
Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp có quyền quyết định thời lượng lồng ghép giáo dục kiến thức và kỹ năng bổ trợ cho học sinh, sinh viên Tuy nhiên, thời gian lồng ghép này không được vượt quá 10% tổng thời lượng chương trình đào tạo chính khóa đối với trình độ sơ cấp và không quá 5% đối với trình độ trung cấp và cao đẳng.
Thời gian lồng ghép giáo dục kiến thức và kỹ năng cho học sinh cần phải đảm bảo phù hợp với chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo và tiến độ đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Kinh nghiệm và vấn đề bổ trợ cần được xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt là khi học sinh gặp khó khăn trong quá trình học tập và thực hành.
+ Cần và đủ, không làm nặng thêm chương trình học của các em
Không cần tạo mục riêng, mà nên lồng ghép hợp lý khi cần bổ trợ Sách giáo khoa là sản phẩm của những công trình đã được các tác giả hoàn thiện và chỉnh sửa.
II.2 Hình chiếu là gì?
Hình chiếu là hình ảnh thể hiện bề mặt có thể nhìn thấy của một vật thể từ góc độ của người quan sát Để thể hiện các phần không nhìn thấy của vật thể, có thể sử dụng nét đứt trong quá trình vẽ.
Hình chiếu là hình ảnh ba chiều của một đối tượng được thể hiện trên mặt phẳng hai chiều Ba yếu tố cơ bản tạo nên hình chiếu bao gồm đối tượng cần chiếu, mặt phẳng chiếu và phương pháp chiếu.
II.3 Phân biệt các loại hình chiếu trong vẽ kĩ thuật
Giới thiệu các loại hình chiếu trong chương trình SGK công nghệ 11:
II.3.1- Hình chiếu vuông góc:
Hình chiếu vuông góc là phương pháp biểu diễn đơn giản, giúp bảo toàn hình dạng và kích thước của vật thể một cách chính xác Tuy nhiên, do chỉ thể hiện hai chiều, cần sử dụng nhiều hình chiếu để mô tả toàn bộ vật thể, đặc biệt là với những vật thể phức tạp Phương pháp chiếu góc thứ nhất, hay còn gọi là phương pháp E, và phương pháp chiếu góc thứ ba là những kỹ thuật quan trọng trong việc này.
A Đối với phương pháp chiếu góc thứ nhất hay còn gọi là phương pháp E được các nước Châu Âu và nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam Phương pháp này người ta lấy góc phần tám (1) trong 8 góc đã chia ở trên để biểu diễn hình chiếu của vật thể Đối với phương pháp này người ta đặt vật thể giữa mắt người quan sát và các mặt phẳng hình chiếu tương ứng Sau khi chiếu lên các mặt phẳng hình chiếu, cố định mặt phẳng (P1) rồi trải các mặt phẳng còn lại lên mặt phẳng (P1) thì ta thu được vị trí của các hình chiếu cơ bản như sau:
Phương pháp chiếu góc thứ nhất là cách đặt vật thể ở góc phần tám (1), trong khi phương pháp chiếu góc thứ ba cũng tương tự, nhưng đặt vật thể ở góc phần tám (3) Đối với phương pháp chiếu góc thứ ba hay phương pháp A, mặt phẳng hình chiếu được đặt giữa vật thể và mắt người quan sát.
Khi cố định mặt phẳng (P1) và trải các mặt phẳng còn lại lên mặt phẳng (P1), ta sẽ xác định được vị trí của các hình chiếu cơ bản.
Tiêu chuẩn “Bản vẽ kĩ thuật” TCVN 8:2002 quy định các quy tắc biểu diễn vật thể trên bản vẽ cho tất cả các ngành công nghiệp và xây dựng Nội dung này được trình bày chi tiết trong trang 85 của giáo trình “Vẽ kĩ thuật cơ khí (tập 1)” do Trần Hữu Quế (chủ biên), Đặng Văn Cứ và Nguyễn Văn Tuấn biên soạn.
Tiêu chuẩn này quy định về tên gọi các hình chiếu như sau:
Hình chiếu đứng, hay còn gọi là hình chiếu chính, được lựa chọn để thể hiện rõ nét hình dạng của vật thể Hình chiếu A, từ hướng chiếu A (từ phía trước), mô tả vật thể trong trạng thái làm việc, gia công hoặc lắp ráp.
Vị trí các hình chiếu phụ thuộc vào phương pháp chiếu và có liên quan đến hình chiếu chính của bản vẽ Tiêu chuẩn này quy định cách vẽ hình chiếu của vật thể một cách chính xác.
Để vẽ hình chiếu của một vật thể, cần phân tích hình dạng và kết cấu của nó Trước tiên, chia vật thể thành nhiều phần với hình dạng các khối hình học cơ bản và xác định vị trí tương đối giữa chúng Sau đó, vẽ hình chiếu cho từng phần và khối hình học đó Quan trọng là phải vận dụng tính chất hình chiếu của điểm, đường, mặt để đảm bảo độ chính xác, đặc biệt là trong việc vẽ giao tuyến của mặt phẳng với các khối hình học và giao tuyến giữa hai khối hình học.
Vẽ nhanh, vẽ chính xác với phần mềm AUTOCAD
AutoCAD là phần mềm soạn thảo để vẽ hoặc tạo bản vẽ kỹ thuật bằng vectơ 2D hay bề mặt 3D được phát hành vào cuối năm 1982 bởi tập đoàn Autodesk
Phần mềm AutoCAD được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và kiến trúc, giúp người dùng tạo ra các bản thiết kế sáng tạo theo ý muốn Ngoài ra, AutoCAD còn hỗ trợ thực hiện các bước kỹ thuật một cách chính xác và hiệu quả hơn.
III.2 Tính năng của AutoCAD
- Hỗ trợ vẽ theo tỷ lệ một cách dễ dàng
- Các công cụ điều chỉnh kích thước và căn chỉnh giúp tăng độ chính xác
- Xác định nhanh chóng kích thước thực tế của mô hình
- Tính toán số lượng vật liệu sản xuất chi tiết
III.3 Một số ứng dụng của AutoCAD các lĩnh vực và cuộc sống
Việc sử dụng phần mềm AutoCAD trong thiết kế trang web, kiến trúc, nội thất, kỹ thuật dân dụng, thiết kế ô tô và công nghiệp vũ trụ giúp lập bản vẽ nhanh chóng và chính xác, đồng thời giảm bớt sức lao động cho con người.
Cơ sở thực tiễn
IV.1 Thực trạng trước khi áp dụng đề tài sáng kiến
Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy rằng kiến thức về vẽ kỹ thuật khá khó khăn và học sinh thường ngại tìm hiểu, không tích cực xây dựng bài Quan điểm "thi gì học nấy" đã tạo ra cái nhìn tiêu cực về những môn học không có thi cử, đặc biệt là môn công nghệ Điều này dẫn đến việc học sinh không đánh giá đúng tầm quan trọng của môn học mang tính ứng dụng này.
Môn Công Nghệ 11, đặc biệt là phần Vẽ kỹ thuật cơ sở, là một nội dung khó khăn cho học sinh do sự phức tạp của các hình vẽ Việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn hơn khi học sinh không hiểu rõ các yếu tố của môn vẽ kỹ thuật Hiện nay, môn Công Nghệ đang đối mặt với nhiều thách thức về cơ sở vật chất, bao gồm sự thiếu thốn về vật thể trực quan, mô hình dạy học, tranh vẽ và dụng cụ vẽ cho giáo viên Thêm vào đó, nhiều giáo viên dạy môn này không chuyên, thường là giáo viên vật lý kiêm nhiệm, làm cho việc giảng dạy trở nên khó khăn hơn.
IV.2 Các giải pháp đã áp dụng vào nội dung Phần vẽ kĩ thuật
III.2.1 Vận dụng kiến thức hỗ trợ phần trình bày tiêu chuẩn bản vẽ kỹ thuật
Vấn đề 1: Cách trình bày con số kích thước
Sau khi hiểu rõ các tiêu chuẩn về cách trình bày kích thước, hình vẽ 1.5 trong sách giáo khoa có thể được điều chỉnh theo hai cách để đảm bảo tuân thủ quy định.
- Cách 1: Vẽ đường tâm của đường tròn 12 ngắn lại để không cắt con số kích thước Hình vẽ lại như sau
Cách 2: Dịch con số kích thước 30 sang phải hoặc sang trái đường tâm
Tuy nhiên theo như quy định ở trên thì con số kích thước phải được đặt ở khoảng giữa đường kích thước Vì vậy chọn cách 1 sẽ hợp lý hơn
Tương tự ở hình 6.7 bài 6 Thực hành biểu diễn vật thể, các hình chiếu vuông góc này cũng phải sửa lại bằng 2 cách như trên
Cách 1: Vẽ đường tâm, đường trục của các hình 1, 3, 5, 6 đứt quãng để không cắt qua con số kích thước
Cách 2: Vẫn giữ đường tâm tuy nhiên ta dịch con số kích thước sang phải hoặc sang trái để không cắt đường tâm
Cách 1 là lựa chọn phù hợp hơn vì theo tiêu chuẩn trình bày bản vẽ kỹ thuật, đường trục phải vẽ cắt qua toàn bộ hình chiếu của vật thể, không được vẽ ngắn hơn hình chiếu Do khoảng cách giữa đường kích thước và đường trục, đường tâm quá nhỏ, nên cách 2 không thể áp dụng.
Vấn đề 2: Quy định nét đứt trong vẽ kĩ thuật
Hình 2 trong hình 6.7 Các đề bài tập của bài 6 trang 36 trong sách giáo khoa cần sửa lại như sau: dịch không cho nét đứt chạm vào đường kéo dài
IV.2.2 Xây dựng cách vẽ hình chiếu vuông góc đạt hiệu quả cao vận dụng bài thực hành bài 3
Một đối tượng trong không gian thông thường có 6 hướng quan sát cơ bản, mỗi hướng cung cấp một hình ảnh khác nhau về đối tượng Các hình ảnh này có thể tương đồng hoặc khác biệt tùy thuộc vào hình dạng của đối tượng 6 hình chiếu này được phân chia thành 3 nhóm.
+ Hình chiếu từ trước hoặc từ sau
+ Hình chiếu từ bên phải hoặc từ bên trái
+ Hình chiếu từ trên hoặc từ dưới
+ hình chiếu đứng: thể hiện chiều dài và chiều cao
+ hình chiếu bằng: thể hiện chiều dài và chiều rộng
+ hình chiếu cạnh: thể hiện chiều rộng và chiều cao
Trong 1 bản vẽ kỹ thuật có thể biểu diễn 1 hoặc nhiều hình chiếu của đối tượng vẽ Nếu biểu diễn từ 2 hình biểu diễn trở lên trong cùng 1 bản vẽ, các hình chiếu này phải được đặt theo quy định về vị trí và đảm bảo mối liên hệ kích thước giữa các hình chiếu với nhau
Trong các bài tập về hình chiếu vuông góc, học sinh thường phải thể hiện ba loại hình chiếu cơ bản của một đối tượng trên bản vẽ kỹ thuật, bao gồm các hình chiếu chính sau đây.
+ Hình chiếu từ Trước – còn gọi là hình chiếu Đứng
+ Hình chiếu từ Trên – còn gọi là hình chiếu Bằng
+ Hình chiếu từ Trái – còn gọi là hình chiếu Cạnh
Các bước thực hiện và trình bày bản vẽ như thế nào?
Trong chương trình SGK, có hai phương pháp chiếu góc: phương pháp chiếu góc thứ nhất và thứ ba Tuy nhiên, giáo viên chủ yếu hướng dẫn học sinh theo phương pháp chiếu góc thứ nhất Để sửa lại hình 3.1, cụ thể là giá chữ L trong sách giáo khoa trang 15, ta sẽ thực hiện các bước sau:
Xoay giá chữ L sang phải một góc 120 độ, đảm bảo chiều dài của vật thể nằm trên trục Ox Điều này giúp các hình chiếu đứng (từ phía trước), hình chiếu bằng (từ trên) và hình chiếu cạnh (từ bên trái) thể hiện rõ nét nhất hình dạng của vật thể.
Hình vẽ đã được điều chỉnh để phản ánh sự thay đổi của vật thể Do đó, các hình chiếu của vật thể cũng cần được vẽ lại cho phù hợp.
Cách vẽ hình chiếu vuông góc như thế nào?
Bước đầu tiên trong quá trình vẽ là xác định hướng chiếu, điều này rất quan trọng vì hình chiếu đứng là hình chiếu chính, cần phản ánh rõ nét và cung cấp nhiều thông tin về hình dạng của vật thể Do đó, việc chọn hướng chiếu từ trước là cần thiết để đảm bảo yêu cầu này được thực hiện.
Bước 2: Dựa vào các hướng chiếu đã xác định, tiến hành xác định bề mặt nhìn thấy, nét thấy, bề mặt khuất và nét khuất Sau đó, thực hiện vẽ mờ theo thứ tự: hình chiếu đứng, hình chiếu bằng và hình chiếu cạnh.
Trước khi tô đậm, hãy kiểm tra và sửa chữa các sai sót trong bước vẽ mờ, bao gồm việc loại bỏ nét thừa và bổ sung nét thiếu Sử dụng bút chì mềm để tô đậm và sau đó ghi kích thước.
Xin lấy một vài ví dụ khi thực hiện bài tập vẽ hình chiếu đề 2 trang 21:Vẽ hình chiếu tấm trƣợt dọc ỉ14
30 Để vẽ các hình chiếu, nên kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp sau:
Bước đầu tiên là quan sát và phân tích hình dạng của vật thể, xác định hướng chiếu vuông góc để biểu diễn hình dạng theo PPCG1 Chọn ba hướng chiếu vuông góc với mặt trước, mặt trên và mặt bên trái để vẽ hình chiếu đứng, hình chiếu bằng và hình chiếu cạnh.
Bước 2: Quan sát xác định bề mặt thấy khuất của vật thể
Vẽ hình chiếu đứng (hướng từ trước)
Vẽ hình chiếu bằng ( hướng từ trên xuống)
Khi vẽ hình chiếu cạnh, cần lưu ý rằng chiều dài nên được vẽ theo trục \$O_x\$ và chiều rộng theo trục \$O_y\$ Việc tác giả sách giáo khoa vẽ hình chiếu trục đo không đúng cách khiến học sinh gặp khó khăn trong việc quan sát bề mặt bên trái Mặc dù có thể chọn hướng chiếu xoay 90°, nhưng điều này làm cho các hình chiếu trở nên khó hình dung Tuy nhiên, với phương pháp này, học sinh vẫn có thể suy luận về mặt trái của vật thể tương tự như khi nhìn từ mặt phải, nhưng cần chú ý đến chiều quan sát và xoay ngược lại 180°.
Ta được kết quả và sắp xếp theo PPCG 1 như sau:
Một số gợi ý đề bài tập theo sách giáo khoa bài thực hành số 6 theo cách chọn trên được đưa vào phần phụ lục
IV.2.3 Xây dựng cách vẽ nhanh hình chiếu trục đo
Ngoài cách xây dựng như trong SGK, Giáo viên có thể đưa ra cách vẽ nhanh như sau:
Hiệu quả của đề tài sáng kiến
Giải pháp đã được triển khai tại Trường THPT Nam Đàn 1 với sự tham gia của học sinh khối 11, cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong kết quả kiểm tra bài thực hành số 3 năm học 2021-2022 Sau khi giáo viên áp dụng kiến thức hỗ trợ, học sinh đã có sự tiến bộ đáng kể, thể hiện qua sự yêu thích và hứng thú với môn học Các lỗi về cách trình bày tiêu chuẩn vẽ kỹ thuật, như đường kích thước, chữ số kích thước, và cách sắp xếp các hình chiếu theo phương pháp chiếu góc đúng quy định, đã được cải thiện Dưới đây là bảng kết quả thử nghiệm ở 3 lớp khối 11 trong năm 2021.
2022 Bảng thống kê kết quả trước và sau khi áp dụng đề tài Kết quả như sau:
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %
Trước khi chưa áp dụng kiến thức bổ trợ
Sau khi chưa áp dụng kiến thức bổ trợ
Trước khi áp dụng kiến thức hỗ trợ, điểm thi của bài thực hành số 1 rất thấp, với nhiều học sinh có kết quả trung bình và yếu, trong khi tỉ lệ học sinh khá giỏi rất ít và sự hứng thú với bộ môn cũng thấp, dẫn đến kết quả học tập không cao Tuy nhiên, sau khi áp dụng đề tài vào quá trình dạy, học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt về điểm số, không còn tâm lý bị động khi tiếp cận kiến thức, đây là tín hiệu đáng mừng cho bản thân tôi.
Theo dõi Kết quả của 3 lớp 11D1,11D2,11D5 trong năm học 2022-2023, bản thân cũng nhận được kết quả trước tương tự như trên :
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %
Trước khi chưa áp dụng kiến thức hỗ trợ
Sau khi chưa áp dụng kiến thức hỗ trợ
Các em đã nắm vững phương pháp và vận dụng kiến thức để thực hành hiệu quả, đặc biệt trong việc tìm hiểu các hình chiếu Việc áp dụng kiến thức vẽ kỹ thuật đã giúp đơn giản hóa nội dung bài học, nâng cao khả năng hiểu biết và thực hành, dẫn đến điểm số kiểm tra cao hơn Kết quả cho thấy đã khắc phục được sự chênh lệch trình độ giữa các học sinh, giúp tất cả đều có thể nắm vững và vẽ các loại hình biểu diễn như hình chiếu vuông góc, hình chiếu trục đo, và hình chiếu phối cảnh Sáng kiến này không chỉ tạo hứng thú trong học tập môn Công nghệ mà còn có thể áp dụng rộng rãi cho các trường phổ thông khác Trong giờ học, các em đã trở nên chủ động và tích cực hơn, tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng.
Học sinh thường học thụ động và tiếp thu chậm trong phần vẽ kỹ thuật cơ bản, do không áp dụng các kiến thức bổ trợ Nhiều học sinh vẫn chưa hiểu rõ về kiến thức vẽ kỹ thuật cơ sở.
Lớp học vận dụng kiến thức bộ trợ phần vẽ kỹ thuật đã giúp học sinh vẽ nhanh, chính xác và đam mê hơn với môn học này Kết quả thực hành của các em cao hơn nhiều, cho thấy sự chủ động trong việc tiếp thu kiến thức.
Nhóm áp dụng đề tài sáng kiến đã đạt được kết quả học tập cao hơn và chất lượng đồng đều hơn, như thể hiện trong bảng số liệu.
Khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của đề tài
Khi thực hiện cuộc khảo sát về tính khả thi và tính cấp thiết về đề tài sáng kiến, bản thân thu được các nội dung sau :
Khi khảo sát các câu hỏi này, chúng ta có thể xác định những vấn đề mà học sinh thường gặp phải trong việc vẽ kỹ thuật, từ đó đánh giá tính cấp thiết và khả năng thực hiện các giải pháp hỗ trợ.
2 Nội dung của phương pháp khảo sát
Nội dung tập trung vào 2 vấn đề chính sau
- Các giải pháp đề xuất có thực sự cấp thiết đối với vấn đề nghiên cứu
- Các giải pháp đề xuất có khả thi đối với vấn đề nghiên cứu
Phương pháp khảo sát và thang đánh giá
Tổng hợp các đối tƣợng khảo sát
STT Đối tượng Số lượng
4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp
TT Các giải pháp Thông số
1 Tính cấp thiết khi giáo viên bổ trợ kiến thức vào bài hình chiếu vuông góc
2 Tính cấp thiết khi giáo viên bổ trợ kiến thức vào bài hình chiếu trục đo
3 Tính cấp thiết khi giáo viên bổ trợ kiến thức vào bài tiêu chuẩn trình bày bản vẽ kĩ thuật
Kết quả khảo sát trong bảng 1 chỉ ra rằng các nhóm đối tượng đánh giá tính cấp thiết của các biện pháp hỗ trợ kiến thức và kỹ năng cho học sinh trong phần vẽ kỹ thuật là rất cao.
TT Các giải pháp Các thông số
1 Tính khả thi khi giáo viên bổ trợ kiến thức vào bài hình chiếu vuông góc
2 Tính khả thi khi giáo viên bổ trợ kiến thức vào bài hình chiếu trục đo
3 Tính cấp thiết khi giáo viên bổ trợ kiến thức vào bài tiêu chuẩn trình bày bản vẽ kĩ thuật
Kết quả khảo sát từ bảng 2 chỉ ra rằng các nhóm đối tượng đánh giá tính khả thi của các biện pháp hỗ trợ kiến thức và kỹ năng cho học sinh trong phần vẽ kỹ thuật có mức độ cấp thiết cao.