BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG ĐẶNG VĂN ƯỚC KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI PH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐẶNG VĂN ƯỚC
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỊ XÃ VĨNH CHÂU
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐẶNG VĂN ƯỚC
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỊ XÃ VĨNH CHÂU
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Đào tạo sau đại học, Ban điều phối, các phòng ban chức năng, các thầy cô giáo trường Đại Học Y Tế Công Cộng và trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp,
đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, dạy dỗ trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Hữu Bích Phó Hiệu trưởng trường Đại Học Y Tế Công Cộng đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ em hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Y tế Sóc Trăng, Ban Giám đốc Bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu và quí đồng nghiệp, tập thể lớp cao học y tế công cộng khóa
17, gia đình và người thân đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện luận văn này
Hà nội tháng 10 năm 2015
Đặng Văn Ước
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Định nghĩa và phân loại bệnh đái tháo đường 4
1.2 Biến chứng của đái tháo đường 5
1.3 Phòng ngừa biến chứng đái tháo đường 9
1.4 Tình hình bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 12
1.5 Nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng biến chứng đái tháo đường 15
1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 20
1.7 Cây vấn đề 22
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu 23
2.5 Phương pháp chọn mẫu 24
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.7 Các biến số nghiên cứu 25
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá người bệnh về kiến thức, thực hành phòng BC 25
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 26
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Kiến thức của ĐTNC về phòng biến chứng bệnh ĐTĐ 30
HUPH
Trang 53.3 Thực hành của ĐTNC về phòng biến chứng bệnh ĐTĐ 32
3.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng ĐTĐ 35
Chương 4: BÀN LUẬN 42
4.1 Kiến thức của ĐTNC về phòng biến chứng bệnh ĐTĐ 42
4.2 Thực hành của ĐTNC về phòng biến chứng bệnh ĐTĐ 45
4.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng ĐTĐ 49
4.4 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 57
KẾT LUẬN 58
KHUYẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 67
Phụ lục 1: Các biến số nghiên cứu 67
Phụ lục 2: Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành phòng BC ĐTĐ 70
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn 72
HUPH
Trang 6ĐTĐ Đái tháo đường
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
GDSK Giáo dục sức khỏe
HT Huyết tương
IDF Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
KTC Khoảng tin cậy
MM Mao mạch
NC Nghiên cứu
NPDNG Nghiệm pháp dung nạp glucose
QĐ Quyết định
RLĐHLĐ Rối loạn đường huyết lúc đói
RLDNG Rối loạn dung nạp glucose
WHO World Heath Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
WHR Waist – Hip – Ratio (tỷ lệ vòng eo/vòng mông)
YTNC Yếu tố nguy cơ
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.2 Thông tin liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 3.3 Kiến thức của người bệnh về bệnh ĐTĐ 30
Bảng 3.4 Kiến thức của người bệnh về điều trị phòng biến chứng ĐTĐ 30
Bảng 3.5 Kiến thức của người bệnh về chế độ ăn phòng biến chứng ĐTĐ 31
Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về hoạt động thể lực phòng BC ĐTĐ 31
Bảng 3.7 Kiến thức của người bệnh về theo dõi bệnh ĐTĐ 31
Bảng 3.8 Kiến thức chung phòng biến chứng của người bệnh ĐTĐ 32
Bảng 3.9.Thực hành theo dõi phòng biến chứng của người bệnh ĐTĐ 32
Bảng 3.10 Thực hành về ăn uốngcủa người bệnh 33
Bảng 3.11 Thực hành về hoạt động thể lực của người bệnh 33
Bảng 3.12 Thực hành về điều trị 34
Bảng 3.13 Thực hành chung 34
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa các đặc điểm của ĐTNC 35
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa TĐHV, tiền sử gia đình, thời gian mắc bệnh, tỷ lệ biến chứng với kiến thức chung 36
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa các đặc điểm của ĐTNC (nhóm tuổi, giới tính, dân tộc) với thực hành chung 37
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa TĐHV, tiền sử gia đình, thời gian mắt bệnh, tỷ lệ biến chứng với thực hành chung 38
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành chung 39
Bảng 3.19 Thông tin truyền thông, tư vấn và kiến thức chung 39
Bảng 3.20 Mô hình hồi quy logic về mối liên quan đến thực hành không đạt 40
HUPH
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đái tháo đường là một bệnh mãn tính gây nhiều hậu quả lớn cho bản thân người bệnh cũng như gia đình và xã hội Bệnh cần được điều trị, kiểm tra và theo dõi thường xuyên để nhằm làm giảm số ca bệnh ĐTĐ phải nhập viện và làm chậm các biến chứng của bệnh ĐTĐ, kéo dài cuộc sống Đồng thời có cơ sở xây dựng những giải pháp chiến lược phòng biến chứng bệnh ĐTĐ và truyền thông, tư vấn giáo dục sức khỏe nhằm làm thay đổi hành vi phòng biến chứng của bệnh
Do đó chúng tôi tiến hành NC đề tài này với hai mục tiêu:(1) Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành phòng biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng năm
2015 (2) Xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành về phòng biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng năm 2015
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang có phân tích, đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ĐTĐ đã được chẩn đoán đến khám và điều trị tại phòng khám BVĐK thị xã Vĩnh Châu năm 2015 Thu thập thông tin dựa vào bộ câu hỏi thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân
Kết quả NC cho thấy: có 27,4% BN có kiến thức đạt, có 72,6% BN có kiến thức chưa đạt về phòng BC ĐTĐ Có 97,7% biết tái khám tại bệnh viện, 2,3% biết
có thể vừa theo dõi bệnh tại CSYT vừa kiểm tra tại nhà, 33,5% biết mức ĐH kiểm soát tốt Tỷ lệ người bệnh có thực hành chung đạt 26,5% và thực hành chung không đạt 73,5% Trong đó: có 32,6% thường xuyên đi khám mắt, chi, 29,3% đi khám ít nhất 6 tháng một lần, 96,7% bệnh nhân thường xuyên bảo vệ bàn chân 33,0% biết cách xử trí hạ đường huyết, 31,2% xử trí đúng 20,0% ăn phủ tạng động vật >1lần trên tháng, 17,7% uống nước ngọt >2lon một tuần, 83,3% ăn đồ chiên, xào thường xuyên, 0,9% ăn quả ngọt >3lần/tuần, có 01 bệnh nhân uống bia, rượu 1 lần/ngày, hút thuốc lá ≥ 5điếu trên ngày chiếm 7,9% 82,8% tham gia hoạt động thể lực, 69,3% tham gia hàng ngày, 29,3% tham gia từ 30-60 phút, 10,2% mang theo đồ ăn
HUPH
Trang 9khi hoạt động thể lực 99,1% dùng thuốc đúng giờ, 100% dùng thuốc theo đơn bác
sỹ, 43,7% dùng thêm thuốc ngoài đơn thuốc
Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức chung phòng biến chứng với nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tỉ lệ biến chứng Thực hành chung có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính, tiền sử gia đình (p<0,05) và kiến thức chung đạt thì thực hành chung đạt hơn 3,96 lần những
BN có kiến thức chung không đạt Theo mô hình hồi quy logistic: Có 03 yếu tố liên quan ảnh hưởng đến thực hành chung là: giới tính, tiền sử gia đình và kiến thức chung
Kết quả nghiên cứu này nhằm đưa ra khuyến nghị: Đối với nhân viên y tế ngoài việc điều trị thuốc, cần tư vấn cho bệnh nhân về chế độ ăn, hoạt động thể lực phòng ngừa biến chứng xảy ra Thành lập phòng tư vấn bệnh đái tháo đường tại bệnh viện để người bệnh cũng như những người dân đến khám tại bệnh viện có cơ hội tiếp cận với thông tin về bệnh đái tháo đường, tăng thêm kiến thức về bệnh đái tháo đường và từ đó thực hành phòng chống căn bệnh này
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, bệnh đái tháo đường đã trở thành một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên toàn cầu Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước đang phát triển và đang là một bệnh phổ biến
ở các nước đang phát triển Báo cáo của liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2011 cho thấy thế giới có 366 triệu người bị đái tháo đường và ước tính sẽ tăng lên 552 triệu người vào năm 2030, tỷ lệ mắc đái tháo đường type 2 chiếm 90% tổng
số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường và có đến 80% số bệnh nhân tử vong do đái tháo đường thuộc các nước có thu nhập trung bình và thấp [64], [50]
Ở Việt Nam theo kết quả điều tra bệnh đái tháo đường năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cả nước là trên 5%, tại các thành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7% đến 10%, tỷ lệ mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán trên 64%, có tới 70% đến 80% số người tham gia phỏng vấn không hiểu biết về bệnh và cách phòng bệnh [19]
Các biến chứng của bệnh đái tháo đường như: bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại vi, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, hoại tử chi, tổn thương thận và mù đang làm tăng tỷ lệ người khuyết tật, giảm tuổi thọ và kéo theo đó là những khoảng chi phí khổng lồ cho cộng đồng bị bệnh Chi phí đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bị đái tháo đường lên tới 465 tỷ đô la, chiếm 11% tổng số ngân sách y tế cho nhóm người từ 20-79 tuổi năm 2011, trong đó chi phí chủ yếu dành cho điều trị biến chứng của đái tháo đường, bao gồm biến chứng về tim mạch, đột quỵ, cắt cụt chi, suy thận và mù lòa [17], [50]
Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đái tháo đường tuân thủ điều trị tốt, thay đổi chế độ
ăn uống, hoạt động thích hợp thì họ sẽ giảm nguy cơ mắc các biến chứng, có cơ hội sống như người khoẻ mạnh bình thường [20] Chính vì vậy, việc truyền thông, tư vấn, cung cấp những kiến thức về bệnh cho bệnh nhân sẽ có hiệu quả cao, thiết thực trong việc kiểm soát đường huyết và phòng ngừa một số biến chứng của bệnh Nghiên cứu của Đỗ Văn Hinh năm 2007 tại Thanh Miện có tỷ lệ bệnh nhân có kiến
HUPH
Trang 11thức và thực hành phòng biến chứng đạt chỉ là 56,5% và 27,4% [25], nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan năm 2010 tại Hưng Yên có tỷ lệ là 70,2% và 63% [23] Bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu là bệnh viện hạng III Theo số liệu báo cáo thống kê của Bệnh viện năm 2012, 2013 và 09 tháng đầu năm 2014 thì bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại bệnh viện mỗi năm càng tăng với số bệnh nhân hàng năm là 250, 370, 502 bệnh và số bệnh nhân phải nhập viện điều trị nội trú do biến chứng của đái tháo đường năm 2012 có 141 bệnh, năm 2013 có 220 bệnh và 09 tháng đầu năm 2014 có 330 bệnh nhân [18] Tại sao số bệnh nhân đái tháo đường phải nhập viện điều trị do biến chứng cao, hiện có bao nhiêu bệnh có kiến thức, thực hành đúng để phòng các biến chứng do bệnh đái tháo đường, những yếu tố nào liên quan tới kiến thức, thực hành phòng biến chứng ở các bệnh đái tháo đường này
Để có cơ sở khoa học trả lời cho các câu hỏi trên, từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu với các bên liên quan như: Người bệnh, gia đình người bệnh, bệnh viện, CBYT, Nhằm làm giảm số ca bệnh đái tháo đường phải nhập viện và làm chậm các biến chứng của bệnh đái tháo đường, kéo dài cuộc sống Đồng thời có cơ sở xây dựng những giải pháp chiến lược phòng biến chứng bệnh đái tháo đường và truyền thông, tư vấn giáo dục sức khỏe nhằm làm thay đổi hành vi phòng biến chứng Xuất phát từ thực tế trên, được sự ủng hộ của ban lãnh đạo Bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh
Châu, tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi nhận thấy rằng cần thực hiện đề tài:“Kiến thức,
thực hành phòng biến chứng đái tháo đường và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành phòng biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng năm 2015
2 Xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành phòng biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng năm 2015
HUPH
Trang 13Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa và phân loại bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa đái tháo đường:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thì đái tháo đường: “là một hội chứng có
đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/ hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin” [15]
Theo Hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2008: “ Đái tháo đường là một nhóm
các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin; khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [28]
1.1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường:
Theo WHO (2006) thì tiêu chuẩn chẩn đoán xác định đái tháo đường nếu có 1 trong 3 tiêu chuẩn dưới đây [62]: Glucose máu lúc đói ≥ 1,26g/l (≈ 7mmol/l), làm ít nhất 2 lần; Glucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≈ 11,1mmol/l), có kèm theo triệu chứng lâm sàng; Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 11,1mmol/l
1.1.3 Phân loại bệnh đái tháo đường (1999)
Phân loại bệnh đái tháo đường và các mức độ giảm dung nạp glucose hiện đang sử dụng được Hội đái tháo đường Mỹ (American Diabetes Association - ADA) đề xuất năm 1997 và được Tổ chức y tế thế giới phê chuẩn vào năm 1999 dựa trên cơ sở cơ chế bệnh sinh:
1.1.3.1 Bệnh đái tháo đường type 1
Bệnh đái tháo đường type 1 là trường hợp đái tháo đường do nguyên nhân tế bào beta của tuyến tụy không sản xuất được insulin Bệnh này thường gặp ở người trẻ tuổi, có liên quan đến các yếu tố di truyền, chiếm 5-10% trong tổng số bệnh nhân đái tháo đường
HUPH
Trang 141.1.3.2 Bệnh đái tháo đường type 2
Bệnh thường gặp ở lứa tuổi > 40, hiện nay có thể gặp ở lứa tuổi trẻ hơn Nguyên nhân gây bệnh là tụy tiết thiếu insulin hoặc không được insulin tiết ra, thường gặp điều kiện thuận lợi bên ngoài như lối sống tĩnh tại, ít vận động, ăn uống nhiều dẫn đến thừa cân bệnh phát sinh Bệnh diễn biến âm thầm, phát hiện một cách ngẫu nhiên hoặc khi đã nặng có biến chứng như hôn mê, nhiễm khuẩn, tăng huyết
áp, giảm thị lực; Đái tháo đường type 2 chiếm tỉ lệ khoảng 90-95% trong tổng số
bệnh nhân đái tháo đường [40], [63], [66]
1.1.3.3 Những thể bệnh đái tháo đường đặc biệt
Khiếm khuyết gen hoạt động tế bào beta: đái tháo đường khởi phát sớm ở người trẻ thường dưới 25 tuổi (mauturity – onset diabetes of young, MODY) do đột biến gen Gồm các thể MODY 1 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 20, NHF-4α), MODY 2 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 7, glucokinase) MODY 3 (khiếm khuyết nhiễm sắc thể 12, HNF-1α), MODY 4 (khiếm khuyết AND ty lạp thể) và các khiếm khuyết khác Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin: bất thường hoạt động của insulin do đột biến thụ thể insulin Gồm kháng insulin type A, leprechaunism, hội chứng Rabson- Mendenhall, đái tháo đường teo tổ chức mỡ, dạng khác
Bệnh tuỵ ngoại tiết: tất cả những tác động gây tổn thương lớn ở tuyến tuỵ có thể gây đái tháo đường Nhưng tổn thương như viêm tuỵ, chấn thương, nhiễm trùng, carcinoma tuỵ, cắt bỏ tuỵ, chứng xơ hoá nang, chứng nhiễm sắt tố sắt- đái tháo đường đồng đen, sỏi tuỵ và một số bệnh khác và một số bệnh nội tiết quá nhiều hormone có tác dụng đối lập hoạt động insulin như GH, cortisol, glucagon, epinephrine,… có thể gây đái tháo đường; Đái tháo đường do thuốc hoặc hoá chất: hoá chất diệt chuột (varco), pentamidin, nicotinic acide, glucocorticoid, ; Một số bệnh nhiễm trùng: nhiễm một số loại virus như coxsackie B, cytomegalovirus, adenovirus, virus quai bị có thể gây đái tháo đường
1.1.3.4 Bệnh đái tháo đường thai kỳ: là dạng bệnh đái tháo đường khởi phát hoặc
được phát hiện lần đầu tiên trong thời kỳ mang thai [4], [11], [13]
1.2 Biến chứng của đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều
HUPH
Trang 15biến chứng, theo Hiệp Hội đái tháo đường quốc tế, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hang thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển và đang coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển Những biến chứng của bệnh đái tháo đường thường rất phổ biến (khoảng 50% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng) như bệnh mạch vành, các bệnh mạch máu ngoại vi, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, cắt đoạn chi dưới, suy thận và mù lòa Các biến này thường dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [11], [56]
1.2.1 Biến chứng cấp tính
1.2.1.1 Hạ đường huyết
Hạ đường huyết là biến chứng thường gặp nhất trong bệnh ĐTĐ, nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời có thể dẫn tới tử vong, đặc biệt là ở những bệnh nhân lớn tuổi và có tiền sử tim mạch Hạ đường huyết xảy ra do sự dư thừa tương đối insulin trong máu Mức đường gây triệu chứng hạ đường huyết thay đổi tùy từng người, thậm chí ở cùng một người nồng độ này cũng khác nhau tùy hoàn cảnh [6]
Một nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở xem xét các hồ sơ của 233 đối tượng (92 nam, 141 nữ) với tiểu đường type 2 được điều trị tại một bệnh viện ở Hàn Quốc đã nhập viện vì hạ đường huyết Kết quả: 74 (31,8%) bệnh nhân được xác định với hạ đường huyết thường xuyên và 159 (68,2%) không tái phát Cũng
từ nghiên cứu này đã tìm ra hạ đường huyết gồm có: Dùng quá liều thuốc tiểu đường (hay insulin); ăn uống không đúng giờ giấc; bỏ qua các bữa ăn chính hay bữa ăn phụ; vận động nhiều hơn bình thường; uống rượu khi bụng đói, mắc các bệnh nhiễm trùng [65] Khi đường huyết xuống quá thấp, bệnh nhân có thể có những triệu chứng như sau: Run rẩy, toát mồ hôi, mệt mỏi, thấy đói, mờ mắt hay nhức đầu, thấy tê dần ở miệng và môi [24]
1.2.1.2 Tăng đường huyết
Khi đường huyết luôn luôn ở mức cao cơ thể không kiểm soát được những biến chứng của bệnh ĐTĐ Đường huyết có thể tăng lên từ từ, mỗi ngày một ít và cũng có thể một lúc tăng cao rất nhanh Đường huyết có thể tăng cao khi không dùng đủ thuốc viên tiểu đường (hay insulin), đang đau ốm hay bị căng thẳng tinh
HUPH
Trang 16thần (stress), ăn uống quá độ, ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều đường hoặc không vận động cơ thể như thường lệ [24]
1.2.1.3 Nhiễm acid do tăng ceton huyết
Là tình trạng nhiễm độc do bị toan hóa, vì tăng nồng độ axit acêtic, đây là sản phẩm của những chuyển hóa dở dang do thiếu insulin gây ra Ở người trẻ tuổi mắc ĐTĐ type 1, những vấn đề tâm lý cộng với rối loạn về ăn uống có thể là do yếu tố góp phần trong 20% các trường hợp nhiễm toan tái diễn Các yếu tố khác thúc đẩy
sự xuất hiện nhiễm toan ceton gồm tai biến mạch máu não, uống nhiều rượu, viêm tụy, chấn thương và một số thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa carbohydrat [5], [6] Triệu chứng nhiễm acid do tăng ceton huyết nặng nhất có thể dẫn tới rối loạn tâm thần, lú lẫn rồi đi vào hôn mê và nặng là trụy tim mạch [24]
1.2.2 Các biến chứng mạn tính
1.2.2.1 Biến chứng mắt
Các biến mắt do đái tháo đường là nguyên nhân chính gây mù lòa ở các nước phát triển Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 cần được khám chuyên khoa mắt và được theo dõi định kỳ Nếu có kèm tăng huyết áp thì cần điều trị tích cực tăng huyết áp vì nó làm tăng tần suất cũng như làm nặng thêm bệnh võng mạc do đái tháo đường, đối với bệnh đái tháo đường type 2 có khoảng 25% bệnh nhân bị bệnh lý võng mạc không tăng sinh Tần suất bệnh võng mạc gia tăng khoảng 8%/năm, cho nên sau thời gian bị bệnh thì tần suất này là 50% và sau 20 năm có thể tới 100% [11], [41]
1.2.2.2 Biến chứng thận
Bệnh thận đái tháo đường là một bệnh lý vi mạch của thận đặc trưng bởi sự
HUPH
Trang 17dày màng đáy của mao mạch cầu thận, lắng đọng các glycoprotein ở trung mạc Tổn thương sớm nhất của bệnh đái tháo đường được báo hiệu bằng sự xuất hiện lượng nhỏ protein (albumin) niệu tức là microalbumin niệu, protein niệu ≥ 30mg/L có thể phát hiện bằng các định lượng tìm microalbumin ở labo (từ 30-300mg/L), microalbumin niệu được coi là một dấu ấn không riêng cho bệnh đái tháo đường mà còn có thể của các bệnh lý mạch máu lớn, xét nghiệm microalbumin niệu các bệnh nhân đái tháo đường type 2 vào thời điểm chẩn đoán và được kiểm tra hàng năm sau đó Để chẩn đoán ban đầu chính xác cần khẳng định có tình trạng microalbumin niệu ở 2 trong 3 lần xét nghiệm trong vòng từ 3 đến 6 tháng để loại trừ các trường hợp dương tính do rối loạn thoáng qua như sau gắng sức, nhiễm khuẩn tiết niệu, đái máu, bệnh lý do virus và tăng đường huyết [11], [41]
1.2.2.3 Biến chứng thần kinh
Bệnh lý thần kinh được coi như một biến chứng mạch máu nhỏ của bệnh đái tháo đường, tình trạng này có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, Thường gặp nhất là bệnh lý viêm đa rễ thần kinh cảm giác vận động đối xứng ở phần xa do đái đái tháo đường Đánh giá khả năng bệnh lý thần kinh do đái tháo đường cần được bắt đầu bằng cách khai thác triệu chứng đau, tê bì và dị cảm ở chân tay, khám tổng thể thần kinh cần được tiến hành hàng năm, cần đánh giá phản xạ gân sâu và một loạt đánh giá đáng giá cảm giác Mặc dù không có điều trị đặc hiệu giúp làm giảm biến đổi tiến triển của bệnh lý viêm đa dây thần kinh cảm giác vận động ở phần xa
do đái tháo đường, song kiểm soát chặt chẽ nồng độ đường huyết có thể giúp dự phòng tiến triển của biến chứng này [11], [41]
1.2.2.4 Loét bàn chân
Các bệnh nhân đái tháo đường sẽ xuất hiện các vấn đề về bàn chân do hậu quả kết hợp của tình trạng tổn thương mạch máu và thần kinh và kèm lên sẹo vết thương Đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây tình trạng cắt cụt chi dưới không do nguyên nhân chấn thương tại Hoa Kỳ [8] Bệnh bàn chân có thể gây ra loét và và cắt cụt chi, đây cũng là một lý do phổ biến khiến bệnh nhân đái tháo đường phải vào bệnh viện Việc kiểm soát đường huyết kém có thể dẫn đến bệnh lý thần kinh ở 25% bệnh nhân đái tháo đường, trong khi bệnh mạch máu ngoại biên có
HUPH
Trang 18ở khoảng 15% Chấn thương nhỏ ở người bệnh lý thần kinh và/hoặc bệnh mạch máu ngoại biên có thể tạo nên ổ loét, với nhiễm trùng thêm vào đó, ổ loét có thể không lành lại được và cuối cùng dẫn đến cắt cụt chi Hầu hết các bệnh lý bàn chân đều có thể phòng ngừa được thông qua giáo dục, phát hiện sớm và điều trị tích cực sớm [8], [11]
1.2.2.5 Bệnh lý tim mạch
Bệnh động mạch vành và đột quỵ xuất hiện thường xuyên hơn ở bệnh nhân đái tháo đường là nguyên nhân phổ biến nhất làm tăng tỉ lệ đau ốm và chết non Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ hội chứng mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy tim, rung nhĩ, đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại biên và đột tử cao gấp 2 đến 5 lần so với nhóm đối tượng không đái tháo đường [8], [11]
1.3 Phòng ngừa biến chứng đái tháo đường
Biến chứng đái tháo đường là không thể tránh khỏi, tuy nhiên chúng ta có thể làm chậm tiến triển của các biến chứng và hạn chế mức độ biến chứng bằng cách quản lý tốt bệnh đái tháo đường Biến chứng xuất hiện sớm hay muộn, ngoài nguyên nhân quản lý tốt hay xấu còn phụ thuộc vào type mắc bệnh Biến chứng mạch máu nhỏ thường xảy ra ở người tiểu đường type 1 sau 5 năm mắc bệnh, nhưng lại có ngay từ khi mắc bệnh mới được chẩn đoán đái tháo đường type 2 [12]
Để điều trị bệnh cũng như phòng chống bệnh đái tháo đường có hiệu quả, không thể chỉ trông chờ vào cơ quan y tế, vào kỹ thuật tiên tiến mà bản thân người bệnh và toàn xã hội phải tự thấy có trách nhiệm, từ việc tuyên truyền giáo dục, đến việc cải tiến công nghệ thực phẩm, thay đổi lối sống thực hiện chế độ ăn uống hợp
lý kết hợp với gia tăng vận động Điều này không chỉ để phòng bệnh đái tháo đường
mà còn góp phần vào việc phòng ngừa các biến chứng của bệnh nhằm năng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng nói chung và của người bệnh đái tháo đường nói riêng
Theo khuyến cáo điều trị đái tháo đường 2012 của Hiệp hội đái tháo đường
Mỹ (ADA), Bệnh nhân đái tháo đường muốn phòng tránh những biến chứng của bệnh cần thực hiện tốt những việc sau: theo dõi và kiểm soát đường huyết, tự theo dõi đường huyết nên thực hiện nhiều lần mỗi ngày đối với bệnh nhân đang tiêm
HUPH
Trang 19Insulin nhiều lần hoặc được điều trị bằng Insulin Đối với bệnh nhân tiêm ít thường xuyên, điều trị bằng thuốc uống hoặc chế độ ăn đơn thuần, tự theo dõi đường huyết
là rất hữu ích để theo dõi điều trị; Đo HbA1c ít nhất 2 lần mỗi năm/ BN có đường huyết ổn định; Đo HbA1c 4 lần mỗi năm/ BN đang thay đổi thuốc hay đường huyết chưa đạt mục tiêu Mục tiêu HbA1c < 6,5% Khuyến cáo trên những BN mới bị ĐTĐ, thời gian sống còn lâu, không có bệnh mạch vành; Mục tiêu HbA1c < 8% Khuyến cáo cho những BN từng bị hạ đường huyết nghiêm trọng, tuổi thọ hạn chế, biến chứng mạch máu nhỏ và lớn, hoặc trên những bệnh lâu năm khó đạt mục tiêu điều trị dù đã dùng nhiều thuốc, kể cả Insulin Thuốc điều trị bệnh nhân cần tuyệt đối tuân thủ điều trị thuốc theo chỉ định của bác sĩ, uống thuốc đúng giờ, đúng liều lượng, nếu quên uống thì không được uống bù vào thời gian sau đó [49]
Dinh dưỡng điều trị: Mục tiêu chung chế độ ăn [3], [29], [61] Đưa mức đường huyết về càng gần bình thường càng tốt; Bảo vệ tim mạch, kiểm soát huyết áp, chống lại các loại chất béo có hại cho tim mạch; Giữ cân nặng ở mức hợp lý; Ngăn chặn hay làm chậm xuất hiện các biến chứng của ĐTĐ; Bảo vệ sức khỏe giúp người bệnh cảm thấy luôn luôn khỏe mạnh, lạc quan và tuân thủ tốt chế độ ăn Tuy nhiên không có một chế độ ăn áp dụng chung cho mọi người mà cần phải xây dựng một chế độ ăn thích hợp cho từng cá nhân Chế độ ăn riêng cho từng cá nhân phụ thuộc vào các yếu tố sau: Mức cân nặng, giới tính, nghề nghiệp (mức độ lao động nhẹ, trung bình, nặng), thói quen và sở thích Chế độ ăn từng người phải tuân theo quy tắc chung sau [3]: Lượng carbohydrat (chất bột) và chất béo đơn chưa bảo hòa chiếm từ 60 -70% năng lượng Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm như ngô, khoai, sắn, đậu phụ, lạc , hạn chế các loại chất béo bão hòa và các loại chất béo đã qua chế biến, các loại phủ tạng động vật như tim, gan, óc, bầu dục, lòng lợn, hạn chế rượu bia, chất đạm chiếm 15-20% nhu cầu năng lượng Nên dùng các loại đạm có nguồn gốc thực vật, các loại đậu, đậu phụ Đối với đạm động vật thì nên ưu tiên ăn cá [3] Không nên dùng trực tiếp những loại thức ăn có thành phần đường hấp thu nhanh như đường, bánh mức kẹo, các loại hoa quả ngọt như chuối, mít, vải, nhãn, dứa xoài Khi cần bổ sung chất đường, nên chọn các loại trái cây nhưng lượng trái cây cũng phải vừa đủ, không nên lạm dụng [3], [29] Nên ăn nhiều các
HUPH
Trang 20loại rau xanh như rau cần, bắp cải, rau muống, rau ngót các loại hoa qủa ít ngọt như dừa, cam, quýt, táo mận không dùng các loại nước ngọt, nước có ga, ăn các món rau muối, trứng muối [3] Nên ăn theo đúng bữa trong ngày (sáng, trưa, chiều) Tránh ăn khuya vì dễ làm đường huyết buổi sáng tăng (trừ trường hợp phải tiêm Insulin buổi tối)
Hoạt động thể lực [3], [61]: bệnh nhân đái tháo đường nên hoạt đồng thể lực mực độ trung bình – nặng trong ít nhất 150 phút/ tuần, kéo dài ít nhất 3 ngày trong tuần và không được gián đoạn hơn 2 ngày không tập thể dục Nếu không có chống chỉ định, bệnh nhân đái tháo đường được khuyến kích tập có kháng lực ít nhất 2 lần/ tuần Nên ăn trước khi tập từ 60 -90 phút, mang theo thức ăn có đường hấp thu nhanh như kẹo, bánh, đường , ăn thêm 10 - 20 gam bột đường mỗi 30 phút vận động nếu vận động cường độ cao và kéo dài, uống đủ nước trước – trong và sau khi tập Bên cạnh đó, ADA còn khuyến cáo để phòng tránh những biến chứng cụ thể của bệnh, bao gồm các biến chứng về tim mạch, thận, mắt, biến chứng thần kinh, biến chứng bàn chân, hạ đường huyết [49]
Ngoài ra còn các khuyến cáo: tăng huyết áp/ tầm soát huyết áp: Bệnh nhân cần
đo huyết áp mỗi lần khám bệnh, mục tiêu huyết áp của bệnh ĐTĐ là huyết áp < 130/80 mmHg Với những bệnh nhân bị tăng huyết áp cần điều trị thuốc hạ áp và thay đổi lối sống, bao gồm việc giảm cân nếu thừa cân, chế độ ăn giảm muối, tăng kali, tăng hoạt động thể lực, giảm rượu bia [49] Khuyến cáo rối loạn lipid máu: trong đa số bệnh nhân, lipid máu được xét nghiệm mỗi năm Với bệnh nhân có giá trị lipid máu thấp (LDL cholesterol < 100mg/dl, HDL cholesterol > 50mg/dl và triglycerid < 150mg/dl) lipid được đánh giá mỗi 2 năm Để cải thiện lipid máu ở bệnh nhân ĐTĐ, thay đổi lối sống tập trung vào giảm mỡ bão hòa, cholesterol ăn vào, tăng cường hoạt động thể lực, giảm cân khi có chỉ định [49] Khuyến cáo bệnh thận do ĐTĐ: để giảm nguy cơ hay làm giảm tiến triển bệnh thận cần kiểm soát đường huyết và huyết áp tối ưu Đánh giá sự bài tiết Albumin niệu hàng năm trên bệnh nhân ngay từ lúc được chẩn đoán bệnh Đo creatinine niệu ít nhất mỗi năm một lần ở trên tất cả các bệnh nhân mức độ bài tiết Albumin trong nước tiểu [49] Khuyến cáo ngưng hút thuốc lá ở tất cả các bệnh nhân, Khuyến cáo bệnh lý võng
HUPH
Trang 21mạc: để giảm nguy cơ hay làm giảm tiến triển bệnh lý võng mạc cần kiểm soát đường huyết và huyết áp tối ưu Khám mắt giãn đồng tử bởi bác sĩ chuyên khoa mắt ngay sau khi được chẩn đoán bệnh Mỗi năm khám giãn đồng tử ít nhất một lần bởi bác sĩ chuyên khoa mắt Nếu khám bình thường nhiều lần, tần suất khám có thể giảm đi và khám thường xuyên hơn nếu có bệnh lý võng mạc tiến triển Bệnh nhân
có thể chụp đáy mắt chất lượng cao và chụp võng mạc để kiểm tra mắt Đối với phụ
nữ bị ĐTĐ đang có thai nên được tư vấn về nguy cơ phát triển biến chứng của bệnh, nên được theo dõi trong suốt thai kỳ và một năm sau sinh [42] Khuyến cáo tầm soát bệnh thần kinh: tất cả bệnh nhân nên được tầm soát bệnh đa dây thần kinh ngoại biên, đối xứng ngay tại thời điểm chẩn đoán bệnh và ít nhất mỗi năm/ lần bằng những test đơn giản trên lâm sàng Khuyến cáo chăm sóc bàn chân: chăm sóc bàn chân hàng ngày là một thói quen quan trọng để phòng tránh biến chứng cắt cụt ngón hoặc bàn chân, bao gồm kiểm tra cho lở loét, tấy đỏ hoặc vết chai chân, rữa bằng xà phòng và nước, sấy khô và sử dụng tất sạch Nên đi giầy dép vừa chân, không đi chân đất Móng chân nên được cắt ngắn, những chỗ chai chân nên được gọt bớt và bôi kem làm mềm da Tuy nhiên không bao giờ bôi kem dưỡng da giữa các ngón chân Những bệnh nhân thừa cân nên bắt đầu chế độ ăn uống và tập thể dục giảm cân và giảm áp lực không cần thiết lên bàn chân, nên kiểm tra bàn chân vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, sau khi hoạt động thể lực Ngứa chân, tấy đỏ có thể là dấu hiệu đầu tiên của nhiễm trùng và nên tái khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị [16], [49]
1.4 Tình hình bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình bệnh đái tháo đường trên thế giới
Bệnh đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất hiện nay trên toàn cầu, theo thông báo của tổ chức y tế thế giới, bệnh đái tháo đường tăng nhanh trong những năm qua Năm 1985 cả thế giới chỉ có 30 triệu người
bị đái tháo đường, đến năm 1994 con số bệnh đái tháo đường là 110 triệu người và đến năm 2000 toàn thế giới có 157,3 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, con số này dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 Mỗi ngày trôi qua có 8.700 người chết liên quan đến đái tháo đường, trong đó ¾ số người tử vong trong độ tuổi dưới 35
HUPH
Trang 22[64], [50]
Tỉ lệ bệnh đái tháo đường ở các châu lục và các vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó tỉ lệ bệnh đái tháo đường cao nhất là ở khu vực Bắc Mỹ và Địa Trung Hải, Trung Đông với tỉ lệ tương ứng là 7, 8% và 7,7 % Khu vực Đông Nam Á tỉ lệ bệnh đái tháo đường chiếm tỉ lệ khá lớn 5,3%; Châu Âu 4,9%; Trung Mỹ là 3,7% Khu vực Thái Bình Dương là khu vực có số lượng người mắc đái tháo đường đông nhất với 44 triệu người chiếm tỉ lệ 3,6% [65] Tại mỗi nước tỉ lệ bệnh khác nhau, tại Pháp 1,4% dân số bị đái tháo đường, ở Mỹ tỉ lệ đái tháo đường là 6,6%, Singapore
là 8,6%, Thái Lan 3,6%, Malayxia 3% [47], [51]
Bệnh có xu hướng tăng theo thời gian và sự phát triển kinh tế Các nước công nghiệp phát triển bệnh đái tháo đường type 2 chiếm: 70-90% tổng số bệnh nhân đái tháo đường Theo thống kê về tỉ lệ đái tháo đường ở Trung Quốc cho thấy tỉ lệ người mắc bệnh đái tháo đường tăng lên rõ rệt: năm 1980 có khoảng 1% dân số đái tháo đường, năm 1986 có > 1% năm 1994 có 2,5%, như vậy bệnh đái tháo đường ở Trung Quốc tính từ năm 1980 đến 1994 đã tăng gần ba lần [46] Ngoài ra theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới, tỉ lệ phát triển của bệnh sẽ tăng nhanh trong vòng 20 năm tới, trong năm 2000 toàn thế giới tỉ lệ bệnh là 2,8% đến năm 2030 tỉ lệ bệnh của toàn thế giới là 4,4% [38], [59]
Năm 2000 Ấn Độ, Trung Quốc và Mỹ là số quốc gia có người mắc bệnh cao nhất thế giới, đến năm 2030 hầu như các quốc gia có số người mắc bệnh đái tháo đường tăng gấp đôi, đặc biệt Philippines là quốc gia mới nổi có số người mắc bệnh đái tháo đường đứng thứ 9 trong 10 quốc gia có số người mắc bệnh cao nhất [60] HUPH
Trang 23Bảng 1.1 Mười quốc gia có số người mắc bệnh đái tháo đường cao nhất năm
2000 và ước tính đến năm 2030 [57].
STT
Năm 2000 Năm 2030
Quốc gia Số người mắc ĐTĐ
(triệu người) Quốc gia
Số người mắc ĐTĐ (triệu người)
1.4.2 Thực trạng bệnh ĐTĐ ở VN trong thời kỳ phát triển kinh tế và hội nhập
Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng Tuy nhiên những số liệu về bệnh đái tháo đường mới chỉ giới hạn ở một số thành phố lớn, những số liệu về đái tháo đường thai kỳ cũng như các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ còn rất hạn chế
Tỉ lệ bệnh đái tháo đường trong một vài năm gần đây Theo điều tra của Lê Huy Liệu và Mai Thế Trạch năm 1990 - 1991 tỉ lệ mắc đái tháo đường tại Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh tương ứng là 1,2%; 0,96%; 2,52% Năm 1992-1993, tỉ lệ này tăng lên là 1,4%; 0,98%; 2,68% Điều tra của Tô Văn Hải và cộng sự (2000) tỉ lệ bệnh đái tháo đường tại Hà Nội là 3,62%, trong đó nội thành là 1,6% và ngoại thành
là 0,82%
Nghiên cứu của bệnh viện Nội tiết Trung ương trên phạm vi toàn quốc năm
2001 thì tỉ lệ đái tháo đường tại 4 tỉnh thành phố lớn của Việt Nam (Hà Nội, Hải
HUPH
Trang 24Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh) trong lứa tuổi 30-64 là 4,0%, tỉ lệ rối loạn dung nạp Glucose là 5,1% Tỉ lệ đối tượng điều tra có các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường là 38,5% Cũng qua số liệu điều tra, số bệnh nhân đái tháo đường không được chẩn đoán là: 44% [9]
Một số nghiên cứu của các tỉnh đồng bằng sông cửu Long: thành phố Long Xuyên, An Giang (2001) [42] tỉ lệ đái tháo đường > 15 tuổi là 4%, trong đó khu vực thành thị là 4,6% và nông thôn là 3,5%; Hậu giang (2010) tỉ lệ đái tháo đường là: 9.8%, [24]; Vĩnh Long (2010) tỉ lệ đái tháo đường 7,4%, tỉ lệ rối loạn đường huyết 19,4% [22]; An Giang (2011) [28] tỉ lệ đái tháo đường là 8,9%; huyện Phụng Hiệp (2012) tỉ lệ đái tháo đường là 9,1%, Tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose và rối loạn đường huyết lúc đói 8,1% [48]
Theo dự báo của Tổng cục thống kê – Điều tra dân số quốc gia năm 2000 tỉ lệ gia tăng dân số của nước ta là 14,3%o thì có thể dự đoán tỉ lệ thô của bệnh đái tháo đường của người trưởng thành > 30 tuổi là 5,8% trong vòng 5 năm tới (tỉ lệ thô hiện tại là 4,2%) Do tình hình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam còn có nhiều biến động, việc dự báo cho những thời gian dài trên 10 năm, thậm chí 20, 25 năm như Tổ chức y tế thế giới dự kiến sẽ là không phù hợp Ví dụ theo tính toán của Tổ chức y
tế thế giới cho các nước đang phát triển thì trong vòng 25 năm tới (2030) tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường của Việt Nam sẽ vào khoảng 4% [57] Trước xu hướng đó thì vấn đề cấp thiết phải đặt ra cho Việt Nam đó là cần phải có một bức tranh tổng quát, chính xác về tình hình mắc bệnh đái tháo đường trong cả nước, từ đó giảm tốc độ phát triển bệnh trong những năm sắp tới và đảm bảo chất lượng sống tốt hơn cho những bệnh nhân đái tháo đường
1.5 Nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng biến chứng đái tháo đường
1.5.1 Trên thế giới
Theo thống kê mới nhất của tổ chức y tế thế giới (WHO), trên thế giới cứ 10 giây lại có một người chết vì bệnh đái tháo đường Trung bình, một ngày có 8.700 người và một năm có 3,2 triệu người chết do đái tháo đường Chính vì vậy mà những nghiên cứu về dự phòng biến chứng của ĐTĐ đang ngày càng được quan tâm [52]
HUPH
Trang 25Nghiên cứu về kiến thức, thái độ thực hành của bệnh nhân tiểu đường được tiến hành trong thời gian tháng 6 năm 2007 đến tháng 10 năm 2007 tại ba trung tâm của khu vực Saurashtra, Ấn Độ với 300 bệnh nhân Kết quả nghiên cứu là 46% bệnh nhân có kiến thức về bệnh tiểu đường Gần 50% biết các biến chứng của bệnh tiểu đường, 38,32% bệnh nhân tin rằng bệnh ĐTĐ có thể chữa khỏi nhưng hầu hết các bệnh nhân không biết bệnh tiểu đường là gì (63%) và các hậu quả của bệnh tiểu đường trong thời gian dài (gần 60%) Đã tìm thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức và thực hành của người bệnh, trong đó yếu tố liên quan nhiều nhất là trình độ học vấn thấp, chỉ có 10% đối tượng là có trình độ đại học và gần 37% hoàn toàn mù chữ Nghiên cứu cũng đã chỉ ra việc bác sĩ tư vấn cho bệnh nhân những kiến thức
về tự chăm sóc và phòng biến chứng bệnh ĐTĐ là rất cần thiết [55]
Nghiên cứu của Skyler là nghiên cứu về điều trị tích cực nhiều yếu tố trong ngăn ngừa tiến triển biến chứng của bệnh đái tháo đường trên hai nhóm bệnh nhân: nhóm điều trị tích cực nhiều yếu tố (kiểm soát đường huyết, huyết áp và điều trị rối loạn lipid máu) gồm 80 bệnh nhân và nhóm điều trị thông thường cũng gồm 80 bệnh nhân Kết quả cho thấy nhóm điều trị tích cực tỷ lệ các biến chứng thận, võng mạc và biến chứng thần kinh thấp hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm được điều trị thông thường [58]
Một nghiên cứu thử nghiệm về chế độ ăn và tập luyện của Mauricio D và cộng
sự (2008) với 2509 người bệnh ĐTĐ type 2 tham gia trong vòng từ 1-6 năm tại Tây Ban Nha và chỉ ra: tập thể dục cộng với can thiệp chế độ ăn uống làm giảm nguy cơ của bệnh tiểu đường trong các nhóm nguy cơ cao (những người có dung nạp glucose hoặc hội chứng trao đổi chất); can thiệp về chế độ hoạt động thể lực và chế
độ ăn uống có ảnh hưởng rất ít trên lipid máu nhưng có cải thiện tâm thu và huyết
áp tâm trương [52] Tư vấn cho bệnh nhân ĐTĐ nhằm giúp họ hiểu về bệnh, chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, dùng thuốc và tái khám định kỳ Việc tư vấn phải diễn ra liên tục và bằng nhiều hình thức khác nhau để bệnh nhân có thể hiểu và nắm được tầm quan trọng của việc thực hành thay đổi thói quen ăn uống khi bị bệnh ĐTĐ Trong đó việc tư vấn để người bệnh biết cách chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp và khẩu phần ăn giàu chất xơ giúp làm giảm đường huyết trong
HUPH
Trang 26máu là vô cùng quan trọng [53] Nghiên cứu kiến thức bệnh đái tháo đường, cách điều trị và phòng biến chứng của 101 người bệnh điều trị tại bệnh viện Ấn Độ, kết quả cho thấy 50,5% người bệnh cho rằng ĐTĐ là không thể chữa khỏi và 46,5% bệnh nhân cho là bệnh có thể dự phòng được, có 71,3% bệnh nhân không biết các yếu tố nguy cơ làm tăng sự phát triển của bệnh, 20,7% bệnh nhân không biết mức đường máu ổn định, 39,6% bệnh nhân không biết mức đường máu sau khi ăn [54]
1.5.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng biến chứng của bệnh nhân ĐTĐ type
2 tại huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2007 của Đỗ Văn Hinh cho thấy nhóm không có kiến thức phòng chống biến chứng ĐTĐ thì tỷ lệ thực hành chung đạt chiếm 13%, thực hành chung không đạt chiếm 87% Trong khi ở nhóm có kiến thức phòng chống biến chứng ĐTĐ thì tỷ lệ thực hành thì tỷ lệ thực hành chung đạt chiếm 38% và tỷ lệ thực hành chung không đạt là 61,4% Tỷ lệ người không có kiến thức thì thực hành không đạt cao gấp 4,2 lần so với nhóm có kiến thức Nghiên cứu cho thấy kiến thức của người bệnh về phòng chống biến chứng ĐTĐ càng tốt thì tỷ
lệ thực hành đạt càng cao [25] Nghiên cứu của Đoàn Quốc Bạo (2004) nghiên cứu kiến thức, thực hành về điều trị và chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường tại Trung tâm Y tế Ba Đình Hà Nội, cho thấy mối liên quan tỷ lệ thuận giữa hiểu biết
và thực hành điều trị phòng chống ĐTĐ Về mức độ hiểu biết đạt yêu cầu là 63,4%, việc thực hành điều trị của bệnh nhân đạt tỷ lệ là 68,3% Như vậy muốn thực hành tốt trước hết phải có kiến thức tốt vì kiến thức tốt mới có niềm tin đúng và niềm tin tạo sức mạnh cho việc thực hành đúng [2] Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: đa số bệnh nhân không định nghĩa được bệnh không biết được nguyên nhân và biến chứng của bệnh (91%); 54% bệnh nhân biết được chế độ dinh dưỡng đúng; 97% bệnh nhân đồng ý nên uống thuốc đúng và đủ; 82% BN uống thuốc theo đúng chỉ định; 58% BN có chế độ dành riêng cho mình; 95% BN có tập thể dục [35] Nghiên cứu đánh giá nhận thức của BN về chế độ ăn uống và hoạt động thể lực của Nguyễn Mạnh Dũng tiến hành năm 2007 tại bệnh viện đa khoa Nam Định trên 150 BN thì tỷ lệ BN có kiến thức về việc phải ăn nhiều rau thay cơm, không nên uống rượu bia và duy trì thời gian ăn trong ngày đúng là cao, vẫn còn 54%
HUPH
Trang 27người bệnh cho rằng có thể ăn nhiều thức ăn chế biến có nhiều mỡ và 20% đồng ý
có đường huyết về bình thường thì có thể ăn thoải mái Và gần 50% số người bệnh đồng ý với ý kiến cho rằng họ có thể tự xây dựng được chế độ hoạt động thể lực, tập càng nhiều càng tốt và có thể hoạt động thể lực khi đường máu cao [22] Nghiên cứu của Bùi Khánh Thuận (2009) trên tất cả các BN ĐTĐ type 2 điều trị nội trú và ngoại trú cho thấy: có 62% bệnh nhân trả lời đúng trên 52% câu hỏi kiến thức về chế độ ăn và hoạt động thể lực Hơn 90% BN đã đồng ý rằng chế độ ăn và hoạt động thể lực là quan trọng Tuy nhiên chỉ có 72% bệnh nhân có hoạt động thể lực
và một số ít bệnh nhân không tuân thủ chế độ ăn Có mối liên quan giữa thái độ và kiến thức (p<0,05), giữa kiến thức và hành vi (p<0,05), không có mối liên quan giữa thái độ và hành vi (p>0,05) [37] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan năm
2010 cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức chung về phòng biến chứng đái tháo đường đạt 70,2% Trong đó tỷ lệ người bệnh biết một số nguyên nhân chính gây bệnh ĐTĐ 59,7%; 100% bệnh nhân đều biết bệnh ĐTĐ là bệnh không chữa khỏi phải điều trị suốt đời; trên 90% bệnh nhân đều biết sự nguy hiểm của bệnh khi bị biến chứng; 95% bệnh nhân biết các biến chứng của bệnh ; 57% bệnh nhân biết cách phòng biến chứng của bệnh ĐTĐ Thực hành chung về phòng biến chứng đạt 63%, bệnh nhân biết cách xử trí đúng khi bị hạ đường huyết 95%; có 89,9% thường xuyên bảo vệ bàn chân bằng việc đi tất, giầy dép; 89,9% bệnh nhân hàng tháng có
đi khám để lấy thuốc; chỉ có 18,2% bệnh nhân có đi khám mắt thường xuyên Khác với nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Dũng, trong nghiên cứu đã tìm ra được mối liên quan giữa kiến thức và trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới, tuổi, đã có biến chứng
và thực hành Cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra có sự khác biệt về kiến thức bệnh giữa hai nhóm nam và nữ, nhóm nam có kiến thức cao hơn (cao gấp 2,19 lần ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan) [23] Nghiên cứu được tiến hành tại Phước Long của Diệp Văn Hon năm 2011 cho thấy đối tượng nghiên cứu có hiểu biết về cách phòng biến chứng ĐTĐ là 87,5%, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sỹ là 98,6%, thực hiện ăn kiêng 38,9% tuy nhiên một phần nhỏ bệnh nhân vẫn uống rượu là 11,5% không tập thể dục chiếm 26,9% Nghiên cứu tìm ra mối liên quan giữa thực hành và giới, tuổi, kiến thức và biến chứng của bệnh Trên
HUPH
Trang 28cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những khuyến nghị về tăng cường công tác tư vấn cho người bệnh, khuyến khích cho bệnh nhân tới khám định kỳ và làm các xét nghiệm liên quan [26] Nghiên cứu về tư vấn dinh dưỡng được tiến hành tại bệnh viện Bạch Mai cho bệnh nhân ĐTĐ của Phạm Văn Khôi (2011), nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng của tư vấn dinh dưỡng, tư vấn dinh dưỡng là một quá trình liên tục, thường xuyên, sẽ tạo mối quan hệ thân thiện giữa nhân viên y tế và bệnh nhân Tỷ
lệ bệnh nhân nhận được tư vấn dinh dưỡng trong quá trình điều tra 5,7% và 100% bệnh nhân được tư vấn trong quá trình điều trị tại bệnh viện Hình thức tư vấn đa phần là tư vấn theo nhóm 89 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 84,0% và có đến 97,2% bệnh nhân cho rằng các bác sỹ tư vấn rất kỹ và bệnh nhân rất hiểu kết quả cho thấy đa phần bệnh nhân hài lòng về cách thức tư vấn dinh dưỡng của bác sỹ và việc tư vấn tại bệnh viện là thường xuyên [31] Nghiên cứu về tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ của Đỗ Quang Tuyền (2012) đã tìm thấy mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực với nhóm tuổi và thời gian mắc bệnh Trong đó những bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm không tuân thủ hoạt động thể lực cao gấp 2,1 lần so với nhóm bệnh nhân mắc ĐTĐ từ 5 năm trở lên Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ kiểm tra đường huyết tại nhà và khám sức khỏe định kỳ với mức độ thường xuyên nhận thông tin từ CBYT Những bệnh nhân hoàn toàn không nhận được thông tin tuân thủ điều trị nào từ CBYT thì không tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ cao gấp 6,2 lần so với nhóm bệnh nhân có từng nhận được thông tin Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc giáo dục nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân của CBYT [44]
Nghiên cứu của Bùi Thị Châm năm 2013 cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức chung về phòng biến chứng đái tháo đường đạt 67,5%, thực hành chung về phòng biến chứng đạt 58,5% Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức phòng biến chứng đái tháo đường với nhóm tuổi dưới 60 có kiến thức chung cao gấp 1,9 lần nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên Nhóm công nhân viên chức, hưu trí có
tỷ lệ kiến thức cao gấp 1,87 lần nhóm nghề tự do Tỷ lệ thực hành chung đạt yêu cầu ở nhóm có kiến thức chung đạt yêu cầu cao gấp 1,925 lần so với nhóm có kiến
HUPH
Trang 29thức chung không đạt yêu cầu [21] Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tử (2014), tại phòng khám khoa nội bệnh viện ĐH Y Dược Cần Thơ nhận thấy rằng kiến thức của người bệnh về ĐTĐ đúng là 10,1%, sau 3 tháng tư vấn thì kiến thức đúng của người bệnh là 30,9%, nữ mắc ĐTĐ nhiều hơn nam chiếm 71,2%, độ tuổi trung bình từ 45 đến 64, ghi nhận 69,1% bệnh nhân biết được thời gian tập thể dục [45] Nghiên cứu của Võ Phúc Ánh (2013), Nghiên cứu tình hình biến chứng ở bệnh đái tháo đường type 2 đến khám sức khoẻ và điều trị tại phòng khám cán bộ tỉnh Bến Tre Kết quả đạt 63,8% bệnh nhân có kiến thức chung đúng và thực hành chung đúng đạt 23,3%, đặc biệt nghiên cứu thực hiện trên đối tượng là cán bộ nên kiến thức về phòng biến chứng cao, tham gia vận động thể lực thường xuyên có 91%, có 90,4% người bệnh biết nên rèn luyện thể dục, 87,1% biết thời gian tập thể dục trong một ngày Bệnh nhân từ 40 đến 59 tuổi thì có tỷ lệ thực hành không đúng cao hơn những bệnh nhân
từ 60 tuổi trở lên, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,014) và tỷ lệ biến chứng của ĐTĐ là 22,8% [1]
1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Thị xã Vĩnh Châu là một trong những huyện, thị, thành phố của Tỉnh Sóc Trăng Phía Đông và Nam giáp biển Đông, Phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu, Phía Bắc giáp huyện Mỹ Xuyên và Trần Đề; là một thị xã nằm ven biển có 43 km chiều dài
bờ biển; tổng diện tích tự nhiên 47.339,48 ha, dân số có 163.800 người, mật độ dân
số 346 người/km2 gồm các dân tộc: Kinh chiếm 29,38%, Khmer chiếm 52,84%, Hoa chiếm 17,77% và dân tộc khác chiếm 0,01% (số liệu thống kê năm 2009) Đơn
vị hành chính có 04 Phường và 06 xã, gồm: Phường 1, Phường 2, Phường Vĩnh Phước, Phường Khánh Hòa, Xã Lai Hòa, Xã Vĩnh Tân, Xã Vĩnh Hiệp, Xã Hòa Đông, Xã Lạc Hòa, Xã Vĩnh Hải với 91 Ấp, Khóm Với vị trí địa lý thuận lợi về hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ thông suốt đã tạo điều kiện cho việc giao lưu và phát triển nền kinh tế ven biển và là vị trí chiến lượt hết sức quan trọng trong bảo vệ quốc phòng-an ninh của tỉnh Đây là điều kiện cho Vĩnh Châu phát triển tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, thuỷ hải sản và du lịch, là tiền đề hình thành các vùng sinh thái trọng điểm, với khí hậu đặc thù phát triển mạnh các nghề nuôi trồng
HUPH
Trang 30và đánh bắt thuỷ hải sản và các vùng phát triển nông nghiệp đặc thù nổi tiếng như: tôm sú, cá kèo, nghêu, Artemia, muối, củ cải trắng, củ hành tím, tỏi
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch tương đối phong phú Sông Mỹ Thanh là tuyến đường thủy quan trọng nối liền từ cửa biển Mỹ Thanh qua sông Vàm Lẽo đến trung tâm tỉnh Bạc Liêu Hệ thống giao thông đường bộ tuyến Quốc Lộ Nam Sông Hậu là đầu mối giao thông quan trọng trong việc phát triển kinh tế và giao lưu hàng hóa, dịch vụ nối kết với vùng kinh tế phát triển ven Sông Hậu và tuyến đường Tỉnh 935 (đi tỉnh Sóc Trăng) đã tạo điều kiện phát triển tiềm năng, lợi thế trong việc thúc đẩy nền kinh tế giữa các vùng trong khu vực, hình thành tam giác kinh tế động lực của tỉnh Sóc Trăng Đặc trưng văn hóa cộng đồng Vĩnh Châu là người Kinh, Khmer, Hoa sống đan xen lẫn nhau, có truyền thống đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống Cơ quan y tế thị xã Vĩnh Châu gồm Phòng Y Tế, Trung tâm y tế dự phòng, BVĐK thị xã Vĩnh Châu, tuyến xã có 13 trạm y tế trong đó có
02 trạm y tế cụm dân cư và một trạm quân dân y kết hợp
Tình hình mắc ĐTĐ tại thị xã Vĩnh châu mà bệnh viện đang quản lý điều trị ngoại trú và nội trú hàng năm Theo số liệu báo cáo thống kê của Bệnh viện năm
2012, 2013 và 09 tháng đầu năm 2014 thì bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú tại bệnh viện mỗi năm càng tăng với số bệnh nhân hàng năm là 250, 370, 502 bệnh và số BN phải nhập viện điều trị nội trú do BC của ĐTĐ năm 2012 có 141 bệnh, năm 2013 có 220 bệnh và 09 tháng đầu năm 2014 có 330 BN [18] Chương trình quản lý bệnh đến khám và điều trị ngoại trú cho người bệnh ĐTĐ hiện nay chỉ đến khám lấy thuốc định kỳ theo sổ cấp phát thuốc do thiếu nhân lực, cán bộ y tế không đủ thời gian tư vấn hướng dẫn nhiều, chưa bố trí phòng truyền thông tư vấn riêng Vì vậy, với BN ĐTĐ việc chăm sóc sức khỏe nâng cao kiến thức, thực hành phòng ngừa BC do bệnh ĐTĐ gây ra là hết sức cần thiết
HUPH
Trang 311.7 Cây vấn đề
Cây vấn đề mô tả kiến thức, thực hành phòng biến chứng đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường và một số yếu tố như thông tin chung, tiền sử gia đình, thời gian mắc bệnh, tỷ lệ biến chứng, truyền thông tư vấn liên quan tới kiến thức, thực hành về phòng ngừa biến chứng bệnh đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường đến khám và điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu
Tỷ lệ biến chứng
Tiền sử gia đình
Thông tin truyền thông Truyền thông tư vấn
Dân tộc
Nghề nghiệp
Trình độ học vấn Giới tính
Tỷ lệ thực hành phòng BC ĐTĐ không đúng còn cao
HUPH
Trang 32Chương 2:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu là tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường đến khám và điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu
Tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu người bệnh đái tháo đường có trong danh sách quản lý tại phòng khám, đồng ý tham gia phỏng vấn
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân không tiếp xúc được, điếc, lú lẫn
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015 tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích
n: là cỡ mẫu nghiên cứu của đối tượng đái tháo đường
α: mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 =1,96
P: tỷ lệ kiến thức chung phòng biến chứng chưa đạt chọn p = 0,298 ≈ 0,3(theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan năm 2010 tại Hưng Yên)
d: sai số tuyệt đối cho phép d = 5% (0,05)
Từ công thức trên ta có 322 đối tượng nghiên cứu trên tổng số là 502 người bệnh ĐTĐ, ta áp dụng công thức điều chỉnh cỡ mẫu (ne = na/(1+na/N) = 322/(1+322/502) = 322/1,643 = 195 đối tượng nghiên cứu và cộng thêm 10%
HUPH
Trang 33để loại trừ phiếu không hợp lệ và làm tròn số, thực tế chúng tôi thu thập được tối đa là 215 ĐTNC
Trong đó: na: là cỡ mẫu chưa hiệu chỉnh; ne: là cỡ mẫu đã hiệu chỉnh
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Những bệnh nhân đến khám và điều trị tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị
xã Vĩnh Châu định kỳ mỗi tháng/ lần có tổng số 502 người Như vậy để thu thập đủ
cỡ mẫu là 215 đối tượng nghiên cứu/ tháng chúng tôi có hệ số k = 502/ 215 = 2,3 chúng tôi làm tròn xuống vậy khoảng cách mẫu là (k = 2), chọn người đầu tiên có
số thứ tự là 01 và người tiếp theo là 03 và tiếp tục chọn đủ cỡ mẫu, chọn mẫu cùng lúc với xây dựng khung mẫu Thu thập số liệu bắt đầu từ ngày 09/3/2015 đến ngày 09/4/2015 mỗi ngày phỏng vấn được trung bình 10 phiếu đến đủ 215 phiếu và không có đối tượng loại trừ
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn, phỏng vấn trực tiếp người bệnh gồm: thông tin chung (thông tin cá nhân, thông tin bệnh tật), kiến thức phòng biến chứng ĐTĐ, thực hành phòng biến chứng đái tháo đường, nguồn cung cấp thông tin Bộ câu hỏi được xây dựng về kiến thức, thực hành dựa vào những khuyến cáo phòng biến chứng ĐTĐ và các nghiên cứu đã tiến hành trước đó được chỉnh sửa cho phù hợp [21], [23] Tiến hành phỏng vấn thử 10 bệnh nhân đến khám được chẩn đoán đái tháo đường Sau khi phỏng vấn chúng tôi kiểm tra lại, chỉnh sửa lại bổ sung hoàn thiện bộ câu hỏi cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu viên chính tập huấn cho nghiên cứu viên là nhân viên Y tế tại phòng khám, với số lượng 03 người, thời gian tập huấn 3 giờ nội dung gồm: mục đích của nghiên cứu, cách tiếp xúc với bệnh nhân, cách sử dụng bộ công cụ, nội dung của bộ công cụ, giải thích những điều nghiên cứu viên chưa rõ
Tiến hành phỏng vấn nghiên cứu viên có mặt tại phòng khám bệnh mời những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn phỏng vấn bệnh nhân lúc bệnh nhân khám xong hoặc chờ kết quả cận lâm sàng Giám sát phỏng vấn sau mỗi buổi phỏng vấn nghiên cứu viên nộp phiếu phỏng vấn lại cho nghiên cứu viên chính kiểm tra lại
HUPH
Trang 342.7 Các biến số nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu được trình bày chi tiết tại phụ lục 1, ở đây chỉ nêu các nhóm biến số chính:
Nhóm 1: Các biến số mô tả kiến thức phòng biến chứng ĐTĐ: Kiến thức về bệnh ĐTĐ và BC ĐTĐ (6 biến), kiến thức về điều trị (2 biến), kiến thức về chế độ
ăn (3 biến), Kiến thức về vận động (3 biến), Kiến thức về theo dõi bệnh (3 biến) Nhóm 2: Các biến số mô tả thực hành phòng biến chứng ĐTĐ: Thực hành theo dõi bệnh (6 biến), thực hành ăn uống (6 biến), thực hành vận động (4 biến), thực hành điều trị(3 biến)
Nhóm 3: Các yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành phòng BC: Thông tin
cá nhân (8 biến), thông tin về bệnh (4), thông tin truyền thông, tư vấn (3 biến)
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá người bệnh về kiến thức, thực hành phòng BC
Một số chỉ số đánh giá [21], [23]: những thực phẩm ăn thường xuyên là
những thực phẩm có tần suất ăn từ 3 lần trở lên trong một tuần, những thực phẩm ăn không thường xuyên là những thực phẩm có tần suất ăn dưới 3 lần trong một tuần Tuân thủ dùng thuốc là chế độ điều trị dùng thuốc đều đặn suốt đời, đúng loại thuốc, đúng giờ, đúng liều lượng, những trường hợp quên uống/ tiêm thì nên xin ý
kiến bác sĩ, không nên uống/ tiêm bù vào lần sau
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành phòng biến chứng ĐTĐ [21], [23]:
Các tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành chi tiết ở (phụ lục 2) Kiến thức phòng biến chứng ĐTĐ tính điểm cho mỗi lựa chọn đúng với các câu (từ C13-C19), mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, nghiên cứu viên sử dụng một số tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đối tượng trả lời đạt 70% trở lên (11/17 câu) là kiến thức đạt và dưới 11 câu là kiến thức chưa đạt Thực hành phòng biến chứng ĐTĐ tính điểm cho mỗi lựa chọn đúng với các câu (từ C30-C49), mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, nghiên cứu viên sử dụng một số tiêu chuẩn đánh giá thực hành đối tượng trả lời đạt 70% trở lên (14/20 câu) là thực hành đạt và dưới 14 câu là thực hành chưa đạt
HUPH
Trang 352.9 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch lỗi mã hóa và nhập thông tin
sử dụng phần mềm Epi Data 3.1, phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
Thống kê mô tả lập các bảng phân bố tần số của các biến, thống kê phân tích xác định mối liên quan giữa kiến thức/ thực hành với các đặc điểm chung, tiền sử gia đình, thời gian mắc bệnh, tỷ lệ biến chứng và kiến thức với thông tin, truyền thông tư vấn Kiểm định bằng test χ2 và khoảng tin cậy 95%, α = 0,05 Yếu tố nhiễu
là tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh và mối liên quan với thực hành chung, được kiểm soát bằng phân tích đa biến vào mô hình hồi qui logic để ước lượng độ mạnh của sự kết hợp
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu tuân theo các yêu cầu của Hội đồng đạo đức của nhà trường và tiến hành khi đã được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung của nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có thể chấm dứt tham gia nghiên cứu bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu đều được giữ bí mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận
Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện của đối tượng nghiên cứu Các số liệu và kết quả nghiên cứu nhằm mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho mục đích khác
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Nghiên cứu chỉ tiến hành tại phòng khám bệnh viện đa khoa thị xã Vĩnh Châu nên kết quả nghiên cứu chỉ mang tính đại diện cho một số đối tượng sử dụng dịch
vụ Y tế tại bệnh viên chứ không đại diện cho tất cả bệnh nhân đái tháo đường Sai
số ngẫu nhiên do kỹ năng phỏng vấn, câu hỏi không rõ nghĩa, do người bệnh không hiểu câu hỏi vì vậy cần hỏi rõ ràng giải thích đầy đủ nghĩa Sai số do nhớ lại không chính xác, trả lời không đúng thực tế dẫn đến đánh giá không chính xác của vấn đề chọn nơi phỏng vấn yên tĩnh để người bệnh tập chung nhớ lại
HUPH
Trang 36Để hạn chế sai số này, đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ mục đích ý nghĩa của cuộc phỏng vấn để đối tượng hiểu rõ và hợp tác, giải thích rõ ràng từng câu để đối tượng trả lời trung thực và chính xác Điều tra thử để kiểm tra tính nhất quán, sự phù hợp về ngôn ngữ của địa phương Các thông tin được kiểm tra ngay bởi người nghiên cứu về tính phù hợp của câu trả lời sau khi kết thúc phỏng vấn
HUPH
Trang 37Chương 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thông tin chung
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=215)
Dân tộc Kinh
Hoa Khmer
122
46
47
56,7 21,4 21,9
Kinh tế gia đình Nghèo
Không nghèo
77
138
35,8 64,2
Nguồn sống hiện tại Đi làm kiếm tiền
Hưởng lương hưu Trợ cấp xã hội
Phụ thuộc con cái
Số liệu từ bảng 3.1 cho thấy, trong quần thể nghiên cứu, bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên chiếm 53,5%, giới tính nữ chiếm 72,6% Dân tộc Kinh chiếm 56,7%, đa số
HUPH
Trang 38sinh sống bằng nghề làm ruộng, buôn bán, công nhân… chiếm 59,1% Trình độ học vấn còn thấp (80,0% có trình độ học vấn thấp hơn THCS), hộ nghèo chiếm 35,8%
Thời gian mắc bệnh Dưới 5 năm
Từ 5 năm trở lên
184
31
85,6 14,4
Biến chứng ĐTĐ Thần kinh
Mờ mắt Bàn chân Thận Tim mạch Không
Theo số liệu từ bảng 3.2 cho thấy, trong quần thể nghiên cứu, bệnh nhân có tiền sử gia đình bị ĐTĐ chiếm 15,3%, đa số mắc bệnh dưới 5 năm (chiếm 85,6%) Khoảng 34,0% bệnh nhân phát hiện bệnh khi đã có dấu hiệu bệnh (ăn nhiều, tiểu nhiều, sụt cân…), 33,0% bệnh nhân phát hiện bệnh do sức khoẻ yếu
Bên cạnh đó, 50,2% bệnh nhân đã có biến chứng, người bệnh đã có biến chứng chủ yếu ở mắt, tim mạch và loét bàn chân
HUPH
Trang 393.2 Kiến thức của ĐTNC về phòng biến chứng bệnh ĐTĐ
3.2.1 Kiến thức về bệnh và biến chứng bệnh ĐTĐ
Bảng 3.3 Kiến thức của người bệnh về bệnh ĐTĐ
Biết nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ 111 51,6
Biết bệnh ĐTĐ không thể điều trị khỏi 115 53,5
3.2.2 Kiến thức về điều trị phòng biến chứng ĐTĐ
Bảng 3.4 Kiến thức của người bệnh về điều trị phòng biến chứng ĐTĐ
Biết sử dụng thuốc đúng liều 184 85,6
Biết không nên uống/ tiêm bù thuốc 140 65,1
Số liệu từ bảng 3.4 cho thấy, trong quần thể nghiên cứu, bệnh nhân biết điều trị ĐTĐ phải uống thuốc đúng liều chiếm 85,6%, có 65,1% bệnh nhân biết không nên uống/tiêm bù thuốc khi quên sử dụng thuốc
HUPH
Trang 403.2.3 Kiến thức về chế độ ăn phòng biến chứng ĐTĐ
Bảng 3.5 Kiến thức của người bệnh về chế độ ăn phòng biến chứng ĐTĐ
3.2.4 Kiến thức về hoạt động thể lực phòng biến chứng ĐTĐ
Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về hoạt động thể lực phòng BC ĐTĐ Kiến thức về hoạt động thể lực Tần số Tỷ lệ (%)
Biết bệnh ĐTĐ cần hoạt động thể lực 185 86,0
Biết thời gian hoạt động thể lực 30-60 phút 62 28,8
Biết cần hoạt động thể lực hàng ngày 157 73,0
Số liệu từ bảng 3.6 cho thấy, trong quần thể nghiên cứu, bệnh nhân biết nên hoạt động thể lực trong 30-60 phút chỉ chiếm 28,8%, biết cần hoạt động thể lực hằng ngày chiếm 73,0%
3.2.5 Kiến thức về theo dõi bệnh ĐTĐ
Bảng 3.7 Kiến thức của người bệnh về theo dõi bệnh ĐTĐ
Kiến thức về theo dõi bệnh Tần số Tỷ lệ (%)
Biết tái khám tại bệnh viện 210 97,7
Biết vừa đến CSYT vừa kiểm tra tại nhà 5 2,3
Biết mức đường huyết kiểm soát tốt 72 33,5
HUPH