1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng cung cấp, sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh và một số yếu tố liên quan đến sử dụng kỹ thuật cao ct, mri của hệ nội bệnh viện hữu nghị việt tiệp hải phòng năm 2013

96 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cung cấp, sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh và một số yếu tố liên quan đến sử dụng kỹ thuật cao CT, MRI của hệ nội bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng năm 2013
Tác giả Bùi Hữu Nghĩa
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Trí Dũng, TS Nguyễn Xuân Hiền
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Bệnh viện và các quy định liên quan đến bệnh viện (13)
    • 1.2. Khái niệm về dịch vụ, dịch vụ y tế, cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế (13)
    • 1.3. Khái niệm, vai trò và tầm quan trọng của trang thiết bị y tế (15)
    • 1.4. Chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh (17)
    • 1.5. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh (18)
    • 1.6. Chức năng nhiệm vụ của khoa chẩn đoán hình ảnh (20)
    • 1.7. Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam (21)
    • 1.8. Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng (24)
    • 1.9. Khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp (25)
    • 1.10. Hệ nội bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp (26)
    • 1.11. Chỉ định làm xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (26)
  • Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (28)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (28)
    • 2.4. Cỡ mẫu (28)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (29)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (30)
    • 2.7. Xác định công cụ và các biến số nghiên cứu (31)
    • 2.8. Nhập liệu và phân tích số liệu (32)
    • 2.9. Đạo đức nghiên cứu (32)
    • 2.10. Hạn chế của nghiên cứu - cách khắc phục (33)
  • Chương 3: KẾT QUẢ (34)
    • 3.1. Thực trạng cung cấp dịch vụ của khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng (34)
    • 3.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh của hệ nội (41)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao của hệ nôi (55)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. Thực trạng cung cấp dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng (59)
    • 4.2. Sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh của khối nội (62)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến sử dụng kỹ thuật cao CT, MRI (65)
  • Chương 5: KẾT LUẬN (69)
    • 5.1. Thực trạng cung cấp dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng (69)
    • 5.2. Thực trạng sử dụng xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh hệ nội (69)
    • 5.3. Các yếu tố liên quan đến sử dụng kỹ thuật cao CT, MRI (70)
  • Chương 6: KHUYẾN NGHỊ (71)
    • 6.1. Khuyến nghị đối với Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng (71)
    • 6.2. Đối với các BS trong bệnh viện (71)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị tại 07 khoa nội của bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng trong năm 2013 được lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp.

- Báo cáo thống kê về trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và nhân lực của khoa Chẩn đoán hình ảnh năm 2013

- Số liệu thứ cấp báo cáo hoạt động cung cấp dịch vụ của khoa Chẩn đoán hình ảnh năm 2013

- Phó giám đốc phụ trách hệ nội, trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh và bảy bác sĩ điều trị thuộc các khoa hệ nội.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2014

Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng.

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có hồi cứu, kết hợp định lượng và định tính.

Cỡ mẫu

Dựa trên cách tính cỡ mẫu của phần mềm Sample Size 2.0 của WHO Cỡ mẫu được tính theo công thức một tỷ lệ:

P: Sử dụng kỹ thuật cao của BS hệ nội Chọn p = 0,5 để đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất và bao trùm

Z = 1,96 (với mức ý nghĩa α = 0,05) d: độ chính xác mong muốn (mức sai số cho phép) là 0,05 n: cỡ mẫu điều tra

Như vậy, cỡ mẫu là:

Chúng tôi đã thực hiện 09 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng chủ chốt, bao gồm lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa Chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ các khoa nội, nhằm thu thập thông tin có giá trị.

Phương pháp chọn mẫu

- Chọn toàn bộ trang thiết bị, nhân lực hiện có tại khoa CĐHA năm 2013

- Hồi cứu toàn bộ các kỹ thuật CĐHA đã thực hiện năm 2013

Hồi cứu từ hồ sơ bệnh án của hệ nội lưu tại phòng Kế hoạch tổng hợp, chúng tôi đã áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng để tính toán cỡ mẫu cho từng khoa thuộc hệ nội.

Bảng 2.1 Cách lấy và số HSBA cần lấy của các khoa thuộc hệ nội

Khoa Số HSBA lưu Cách tính Số HSBA cần lấy

Chọn mẫu có chủ đích, tiến hành 09 cuộc phỏng vấn sâu đối với:

- Phó giám đốc phụ trách chuyên môn hệ nội,

- Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh

- Bảy bác sỹ điều trị thuộc 07 khoa của hệ nội trong năm 2013 không vắng mặt tại khoa.

Phương pháp thu thập số liệu

Học viên và 04 điều tra viên, bao gồm bác sĩ và kỹ thuật viên tại khoa Chẩn đoán hình ảnh, đã thảo luận và thống nhất phương pháp thu thập số liệu, được thực hiện theo một trình tự cụ thể.

Năm 2013, chúng tôi đã thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết của khoa chẩn đoán hình ảnh, tập trung vào nhân lực, trang thiết bị và việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao.

- Sử dụng bảng kiểm theo quyết đinh 437/QĐ – BYT ngày 20 tháng 2 năm

Năm 2002, đã ban hành danh mục trang thiết bị y tế cho các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản nhằm đánh giá tình hình trang thiết bị của khoa CĐHA.

Để mượn hồ sơ bệnh án tại phòng Kế hoạch tổng hợp, cần lưu ý rằng mỗi hồ sơ bệnh án (HSBA) được đánh số thứ tự Việc rút HSBA sẽ được thực hiện ngẫu nhiên theo hệ thống, với khoảng cách mẫu k được tính bằng công thức: k = Tổng số HSBA lưu của mỗi khoa / Số HSBA cần lấy từ khoa đó (3510 / 90).

= 39 Rút ngẫu nhiên một HSBA có số thứ tự là (m) các HSBA tiếp theo được rút là (m + k), (m + 2k), (m + 3k) cho đến khi đủ số HSBA cần rút ở mỗi khoa

- Hồi cứu số liệu điều tra vào phiếu thu thập số liệu

- Phiếu thu thập số liệu được thiết kế phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và đã được điều tra thử nghiệm

- Học viên trực tiếp kiểm tra rà soát lại các phiếu xem đã đầy đủ chưa trước khi nhập liệu

2.6.2 Số liệu định tính Đặt lịch với lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa Chẩn đoán hình ảnh và các

BS của 07 khoa thuộc hệ nội để tiến hành phỏng vấn sâu

Trước khi tiến hành phỏng vấn, nghiên cứu viên sẽ giới thiệu về mục đích và phương pháp nghiên cứu, đồng thời xin phép phỏng vấn sâu Khi cán bộ đồng ý tham gia, họ sẽ ký vào phiếu đồng ý Để đảm bảo không bỏ sót thông tin, nghiên cứu viên sẽ ghi âm và ghi chép chi tiết trong suốt quá trình phỏng vấn, kéo dài từ 30 đến 60 phút, tại phòng làm việc của lãnh đạo bệnh viện và các khoa liên quan.

Bộ công cụ thu thập thông tin định tính, bao gồm các câu hỏi phỏng vấn sâu, được thiết kế đặc biệt cho từng đối tượng Mục đích của bộ công cụ này là làm rõ các khía cạnh của nghiên cứu định lượng và khám phá những yếu tố liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ.

Xác định công cụ và các biến số nghiên cứu

2.7.1 Công cụ xây dựng bộ công cụ

Theo quyết định 437/2002 của Bộ Y tế, danh mục trang thiết bị y tế được ban hành áp dụng cho các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế và túi y tế thôn bản.

Thông tư 15/20017 TT-BYT quy định quyền tự chủ và trách nhiệm trong việc sử dụng tài sản của các cơ sở y tế công lập để thực hiện liên doanh, liên kết hoặc góp vốn nhằm mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dịch vụ.

Căn cứ vào quy chế chuyên môn hệ nội và quy định ghi hồ sơ bệnh án của bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng

2.7.2 Công cụ thu thập số liệu

Phiếu thu thập số liệu định lượng ( Phụ lục 2)

Bảng kiểm theo Quyết định 437

Phiếu thu thập số liệu định tính ( Phụ lục 3,4,5)

2.7.2.1 Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh

Thu thập số liệu thứ câp từ báo cáo tổng kết của khoa Chẩn đoán hình ảnh năm 2013 về:

- Nhân lực khoa Chẩn đoán hình ảnh năm 2013

- Cơ sở hạ tầng khoa Chẩn đoán hình ảnh

- Trang thiết bị hiện có của khoa Chẩn đoán hình ảnh

- Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh thực hiện tại khoa Chẩn đoán hình ảnh năm 2013

2.7.2.2 Sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh của hệ nội

Các biến số được cấu trúc thành 05 nhóm với 35 biến số, cụ thể:

- Thông tin chung về bệnh nhân hệ nội: 05 biến

- Tình trạng bệnh của người bệnh: 02 biến

- Mô hình bệnh của bệnh nhân hệ nội: 10 biến

- Các dịch vụ chẩn đoán hình ảnh được BS hệ nội sử dụng: 17 biến

- Số dịch vụ chẩn đoán hình ảnh sử dụng của một khoa: 01 biến

Nhập liệu và phân tích số liệu

Sau khi thu thập, số liệu được kiểm tra và làm sạch trước khi nhập vào phần mềm Epidata 3.1 Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 22.0, và kết quả được chia thành hai phần.

- Mô tả thực trạng: thể hiện tần số của các biến nghiên cứu ( lập bảng hoặc biểu đồ)

- Phần phân tích: xác định các mối liên quan đến sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao của hệ nội bằng kiểm định  2

Hoàn thành các phỏng vấn sâu số liệu được ghỡ băng và mã hóa theo chủ đề.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của lãnh đạo Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng, cùng với sự hỗ trợ từ phòng Kế hoạch tổng hợp, khoa Chẩn đoán hình ảnh và các khoa nội.

Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc bệnh viện, Phòng Kế hoạch tổng hơp và khoa Chẩn đoán hình ảnh tạo điều kiện

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua trước khi tiến hành thu thập số liệu

Kết quả nghiên cứu đã được báo cáo cho Ban giám đốc bệnh viện, và nó sẽ là cơ sở cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện.

Hạn chế của nghiên cứu - cách khắc phục

Do hạn chế về thời gian và nhân lực, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ chẩn đoán hình ảnh và mức độ sử dụng dịch vụ này trong hệ nội Kết quả thu được chưa phản ánh đầy đủ thực trạng sử dụng xét nghiệm cận lâm sàng, đặc biệt là chẩn đoán hình ảnh, trong công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng.

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng về việc chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, dẫn đến khó khăn trong việc thiết kế bộ công cụ điều tra Mặc dù đã tiến hành thử nghiệm, nhưng bộ công cụ này vẫn chưa hoàn thiện, gây ra vấn đề sai số không thể tránh khỏi.

Sau khi hoàn thành luận văn, chúng tôi đã mở rộng nghiên cứu sang các mặt bệnh khác và toàn bộ bệnh viện Mục tiêu là có cái nhìn tổng quát về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh Từ đó, chúng tôi đưa ra các khuyến nghị nhằm hỗ trợ lãnh đạo bệnh viện xây dựng quy trình chuẩn cho việc cung cấp và sử dụng dịch vụ này.

Tiến hành thử nghiệm bộ công cụ nhiều lần và tham khảo thêm để hoàn thiện bộ công cụ điều tra, nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác nghiên cứu.

Số liệu sau khi thu thập phải nghiêm túc kiểm tra giám sát chặt chẽ để tránh những sai sót và bổ xung cho đầy đủ

KẾT QUẢ

Thực trạng cung cấp dịch vụ của khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng

3.1.1 Thông tin về khoa Chẩn đoán hình ảnh

Khoa CĐHA, được thành lập vào năm 1958 với tiền thân là khoa X-quang, đã trải qua hơn 65 năm phát triển Ban đầu, khoa chỉ có một phòng chiếu chụp và một máy chiếu chụp đơn giản Đến thập niên 70, khoa được xây dựng lại và trang bị thêm các thiết bị X-quang quy ước và siêu âm Hiện nay, khoa CĐHA đã phát triển với đầy đủ trang thiết bị từ thường quy đến hiện đại Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của ngành CĐHA và đầu tư vào trang thiết bị mới đã khiến hạ tầng cơ sở của khoa không còn phù hợp với điều kiện hiện tại.

Khoa đã được xây dựng từ nhiều thập kỷ trước, do đó không còn phù hợp với nhu cầu hiện tại Hành lang hẹp và khu vực chờ cho bệnh nhân không đủ rộng rãi Thiết kế phòng ốc cũng không hợp lý.

Hạ tầng cơ sở của khoa CĐHA đang xuống cấp, với việc lắp đặt máy móc không đầy đủ dẫn đến sự phân tán của các đơn nguyên ở nhiều địa điểm khác nhau Điều này không chỉ gây lãng phí nhân lực mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả công việc Hiện tại, khoa CĐHA được bố trí tại sáu địa điểm: khoa chính (khu trung tâm), khu nhà C, nhà B, khu khám yêu cầu, khu cấp cứu và khu phòng khám đa khoa.

Nhân lực khoa Chẩn đoán hình ảnh có 65 CBNV (6 giảng viên kiêm chức)

Đội ngũ nhân viên đông đảo đáp ứng nhu cầu thăm khám, với 75% bác sĩ có trình độ chuyên môn sau đại học Hầu hết kỹ thuật viên (77%) được đào tạo đúng chuyên ngành, giúp khai thác hiệu quả các máy móc và cung cấp dịch vụ đầy đủ cho nhu cầu lâm sàng.

Bảng 3.1 Thống kê nhân lực khoa CĐHA [2]

Chuyên môn Số nhân viên

Kỹ thuật viên ĐH - CĐ 17

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ trình độ chuyên môn khoa CĐHA

Khoa CĐHA của bệnh viện Việt Tiệp có 65 nhân viên, bao gồm 20 bác sỹ, 43 kỹ thuật viên và 2 hộ lý, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thăm khám Đội ngũ nhân viên có năng lực tương đối tốt, với 15/20 bác sỹ có trình độ sau đại học, trong đó có 1 Phó Giáo sư.

TS, 3 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 3 thạc sỹ, và 1 đang học chuyên khoa cấp II, còn

Sau ĐH ĐH_CĐ TH

Khoa HUPH là chuyên khoa cấp I với đội ngũ bác sĩ đã được đào tạo chuyên sâu về chẩn đoán hình ảnh Trong khối kỹ thuật, có một bác sĩ đã tốt nghiệp đại học, năm bác sĩ đang theo học đại học kỹ thuật, và phần lớn còn lại là các kỹ thuật viên cao đẳng được đào tạo bài bản trong lĩnh vực này.

Trang thiết bị của khoa Chẩn đoán hình ảnh hiện tại cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, nhưng một số máy móc đã cũ và xuống cấp, đặc biệt là máy cộng hưởng từ có từ lực thấp, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu lâm sàng.

Khoa có đủ máy móc để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, bao gồm siêu âm, cắt lớp, cộng hưởng từ, máy X quang thường quy và hệ thống in phim kỹ thuật số Tuy nhiên, máy cộng hưởng từ có từ lực thấp, hạn chế khả năng thăm khám Ngoài ra, số lượng máy siêu âm còn thiếu, đặc biệt là đầu dò trực tràng để thăm khám tiền liệt tuyến Hệ thống X quang và xử lý ảnh cũng chưa đầy đủ Theo ý kiến của Trưởng khoa CĐHA, khoa còn thiếu mảng điện quang can thiệp, trong khi các kỹ thuật khác đã đủ để đáp ứng nhu cầu lâm sàng.

Bệnh viện đã lắp đặt nhiều trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh nhờ vào việc áp dụng linh hoạt Nghị định 43/2006/NĐ-CP về tự chủ tài chính và Thông tư 15/2007/BYT về xã hội hóa y tế Lãnh đạo bệnh viện khẳng định rằng việc xã hội hóa đầu tư trang thiết bị đã được thực hiện từ lâu theo quy định của Bộ Y tế và các quy định pháp luật, với sự đồng ý của Sở chủ quản và UBND thành phố Hiện nay, toàn bộ hệ thống kỹ thuật cao như cắt lớp, cộng hưởng từ và hệ thống xử lý ảnh đều được xã hội hóa, trong khi hệ thống máy của công lập chỉ còn lại siêu âm.

Khoa CĐHA hiện nay sở hữu một hệ thống trang thiết bị tương đối đầy đủ, bao gồm siêu âm, cắt lớp, cộng hưởng từ, máy X-quang thường quy và hệ thống in phim kỹ thuật số, đáp ứng hiệu quả nhu cầu khám chữa bệnh.

Bảng 3.2 Danh mục trang thiết bị khoa CĐHA

TT Trang thiết bị Đơn vị tính

1 Máy chụp x – quang thường quy Máy 03

2 Máy chụp x – quang kỹ thuật số Máy 01

3 Máy chụp x – quang tăng sáng truyền hình Máy 02

4 Máy chụp x – quang tại phòng mổ Máy 01

5 Máy chụp x – quang tuyến vú Máy 02

6 Máy chụp răng toàn cảnh Máy 01

7 Máy chụp x – quang di động Máy 02

8 Máy chụp CT đa dãy Máy 03

10 Máy siêu âm đen trắng Máy 08

11 Máy siêu âm Doppler màu Máy 03

12 Máy siêu âm xách tay Máy 01

13 Máy in film kỹ thuật số Hệ thống 05

Hệ thống trang thiết bị của bệnh viện hiện tại đáp ứng nhu cầu chẩn đoán và điều trị, nhưng phần lớn đã sử dụng trên 5 năm, do đó cần có kế hoạch bảo trì và bảo dưỡng Trong tương lai gần, cần bổ sung thêm thiết bị mới với cấu hình mạnh hơn.

Bảng 3.3 Danh mục trang thiết bị BV Việt - Tiệp so với Quyết định 437/2002 BYT

KHOA CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

TT Trang thiết bị Đ/v tính

1 Hệ thống chụp cắt lớp vi tính kèm máy bơm thuốc cản quang

2 Hệ thống chụp cộng hưởng từ loại HT 1 02

(dành cho bệnh viện khu vực)

3 Máy chụp mạch máu (dành cho bệnh viện khu vực)

4 Máy X - quang truyền hình > 500 mA, chụp và chiếu, 2 bàn 2 bóng

5 Máy X - quang chẩn đoán thường quy 500 mA, 2 bàn 2 bóng

6 Máy X - quang chụp thường quy

7 Máy X - quang di động bộ 1 02

8 Máy X - quang chụp vú bộ 1 02

9 Máy X - quang có cánh tay chữ C

(đặt tại phòng mổ) bộ 1 01

10 Máy siêu âm màu số hoá, Doppler

+ máy in màu hoặc máy in đen trắng

11 Máy siêu âm đen trắng bộ 4 08

12 Máy siêu âm sách tay cái 2 01

13 Trạm lưu trữ và xử lý hình ảnh, dữ liệu trong mạng thông tin nội bộ

14 Cassette + bìa tăng quang kích thước 13x18cm, 18x24cm,

35x40cm đủ dùng các loại khoảng

15 Đèn đọc phim X - quang loại 6 phim

16 Đèn đọc phim X - quang loại 2-3 phim 30x40cm cái 4 6

18 Găng tay cao su chì đôi 2 00

21 Bậc lên xuống (2 bậc) cái 5 00

22 Chữ Aphabest bằng chì bộ 5 00

23 Khung treo phim X - quang thép không rỉ các cỡ cái 40 00

24 Đèn đỏ buồng tối cái 4 00

25 Máy rửa phim X - quang tự động cái 2 00

27 Tủ đựng phim chưa chụp cái 3 05

Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp sở hữu số lượng trang thiết bị y tế vượt trội so với Quyết định 437/2002/BYT Nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh viện đã chuyển từ việc chụp phim bằng cassette sang công nghệ CR và DR, đồng thời loại bỏ hệ thống máy rửa phim để chuyển sang in phim hoàn toàn bằng kỹ thuật số Kể từ khi có TT15/2007/TT-BYT về liên doanh liên kết lắp đặt trang thiết bị, bệnh viện đã lắp đặt nhiều máy kỹ thuật cao như CT 8, 64 và 128 dãy cùng MRI 0.3 Tesla phục vụ cho công tác khám chữa bệnh.

3.1.2 Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh

Đội ngũ CBNV tại khoa CĐHA có trình độ cao, đã tổ chức khai thác hiệu quả các trang thiết bị hiện có, cung cấp dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác khám chữa bệnh Với số lượng nhân lực và trình độ hiện tại, khoa khẳng định khả năng đáp ứng tốt việc khai thác trang thiết bị, và hiện tại đang khai thác hiệu quả tất cả các trang thiết bị tại khoa.

Lãnh đạo bệnh viện cho biết rằng các kỹ thuật hiện đang được thực hiện tại Khoa CĐHA đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chẩn đoán và điều trị trong lâm sàng.

Các dịch vụ của khoa CĐHA hiện nay đáp ứng đầy đủ nhu cầu lâm sàng, với các kỹ thuật tiên tiến sẵn sàng phục vụ cho công tác điều trị.

Các dịch vụ kỹ thuật của khoa CĐHA cung cấp bao gồm:

- Chụp x – quang quy ước các bộ phận của cơ thể

- Chụp nhũ ảnh (Mamography - tuyến vú)

- Chụp Panorama (răng toàn cảnh)

- Siêu âm 2D, 3D màu ổ bụng, tuyến giáp, tuyến vú, màng phổi, sản khoa và hướng dẫn chọc dò…

- Siêu âm Doppler tim và mạch máu

- Chụp cắt lớp vi tính CT scanner các bộ phận, chụp mạch não, mạch vành và các mạch máu khác

- Chụp cộng hưởng từ MRI sọ não, cột sống và các khớp

- Kết hợp cùng trung tâm can thiệp tim mạch điều trị u gan, u xơ tử cung bằng phương pháp nút tắc động mạch

Thực trạng sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh của hệ nội

3.2.1 Mô hình bệnh của hệ nội

Hệ nội BVHNVTHP bao gồm 07 khoa: Nội tiêu hóa, Nội hô hấp cơ xương khớp, Nội nội tiết - thận, Nội cán bộ, Nội Thần kinh, Nội Tim mạch và khoa Truyền nhiễm (Lây) Các khoa này chuyên điều trị các bệnh lý không cần can thiệp phẫu thuật.

Bảng 3.5 Các bệnh hệ nội điều trị

Nội tiêu hóa Điều trị các bệnh thuộc hệ tiêu hóa

Nội hô hấp, cơ xương khớp Điều trị các bệnh thuộc hệ hô hấp Điều trị các bệnh về cơ xương khớp Điều trị các bệnh về máu

Điều trị các bệnh nội tiết và thận là một phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Chúng tôi cung cấp dịch vụ điều trị cho các cán bộ theo dõi của ban Bảo vệ sức khỏe thành phố Ngoài ra, chúng tôi cũng chuyên điều trị các bệnh liên quan đến hệ thần kinh.

Tim mạch Điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch

Truyền nhiễm Điều trị các bệnh truyền nhiễm Điều trị bệnh nhân HIV

Năm 2013, hệ nội BVHNVT đã điều trị cho 15.055 bệnh nhân, vượt 143% kế hoạch được giao, với tỷ lệ các mặt bệnh được hệ nội điều trị.

Bảng 3.6 Các mặt bệnh của hệ nội năm 2013

Mặt bệnh N (tần số) Tỷ lệ ( %)

Bệnh ngộ độc – nhiễm độc 3 0,5

Tỷ lệ bệnh nhân mắc đồng thời hai loại bệnh trở lên cao nhất, chiếm 34,3% (132/385) Tiếp theo là bệnh tim mạch với 16,9% (65/385), trong khi bệnh về máu là loại bệnh ít gặp nhất, chỉ chiếm 0,3% (1/385).

Trong đó tỷ lệ mắc bệnh cấp hoặc mãn tính HUPH

Biểu đồ 3.2 Phân loại tình trạng bệnh

Người bệnh mắc bệnh mang tính cấp tính chiếm số đông 226/385 ( 59% )

3.2.2 Thông tin về bệnh nhân hệ nội

Bảng 3.7 Thông tin chung về bệnh nhân hệ nội Thông tin chung N (tần số) Tỷ lệ (%)

- Bệnh nhân thuộc nhóm tuổi từ 50 – 69 chiếm tỷ lệ cao nhất 40 %

- Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ 215 ( 55,8% )

- Số bệnh nhân sinh sống tại thành thị đông hơn ở nông thôn 226 ( 58,7%)

- Đối tượng hưu trí có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 138 ( 35,8% ), tiếp đến là đối tượng nông dân 92 ( 23,9% ) và ít nhất là đối tượng học sinh sinh viên

- Tỷ lệ BN có BHYT chiếm tỷ lệ cao 296 ( 76,9% )

3.2.3 Các loại xét nghiệm CĐHA được hệ nội sử dụng

Các bác sĩ hệ nội sử lựa chọn các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) dựa trên mô hình bệnh tật của từng khoa và nhu cầu cụ thể Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các khoa sử dụng nhiều kỹ thuật CĐHA khác nhau, bao gồm X-quang quy ước, siêu âm 2D, siêu âm Doppler cho các tạng và mạch máu, chụp cắt lớp vi tính, và chụp cộng hưởng từ.

Bảng 3.8 Các xét nghiệm CĐHA được hệ nội sử dụng

Loại dịch vụ Kỹ thuật

Chụp tim phổi Chụp ổ bụng đứng/nằm Chụp cột sống

Siêu âm ổ bụng Siêu âm tuyến giáp Siêu âm màng phổi Siêu âm khớp Siêu âm tim 2D Siêu âm Doppler tim, mạch máu

Chụp CT sọ não Chụp CT lồng ngực Chụp CT ổ bụng Chụp CT mạch não Chụp CT mạch vành Chụp CT mạch máu khác

Chụp MRI sọ não Chụp MRI cột sống Chụp MRI xương khớp

Một số xét nghiệm mà bác sĩ chuyên khoa nội muốn thực hiện cho bệnh nhân nhưng khoa Chẩn đoán hình ảnh chưa đáp ứng được bao gồm MRI tưới máu não, MRI tim và X-quang can thiệp.

Khoa CĐHA đã tận dụng hiệu quả các thiết bị hiện có để cung cấp dịch vụ đa dạng Tuy nhiên, một số kỹ thuật chuyên sâu như cộng hưởng từ tưới máu não, cộng hưởng từ phổ, cộng hưởng từ tim và điện quang can thiệp vẫn chưa được thực hiện do thiếu phương tiện.

3.2.4 Sử dụng các dịch vụ chẩn đoán hình ảnh của hệ nội

Các bác sĩ điều trị cần tuân thủ quy chế bệnh viện, quy chế chuyên môn và nội quy của khoa Việc chỉ định xét nghiệm phải đầy đủ, chính xác và phù hợp với tình trạng bệnh của bệnh nhân Dựa vào sự tiến triển của bệnh, bác sĩ sẽ đưa ra chỉ định xét nghiệm nhằm chẩn đoán và tiên lượng chính xác tình trạng bệnh, từ đó xây dựng phác đồ điều trị hợp lý.

Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Tiệp (BVHNVTHP) không chỉ tuân thủ quy chế bệnh viện của Bộ Y tế mà còn có quy chế chuyên môn riêng cho từng hệ nội và ngoại Các bác sĩ lâm sàng cần tuân thủ các quy định này, đồng thời linh hoạt trong việc chỉ định các xét nghiệm dựa trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Năm 2013, tần suất chỉ định xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) của các bác sĩ hệ nội đã đạt được kết quả đáng ghi nhận.

Biểu đồ 3.3 Sử dụng xét nghiệm CĐHA hệ nội

Tỷ lệ các bác sĩ sử dụng dịch vụ CĐHA cho bệnh nhân hệ nội đạt cao 93%

Bảng 3.9 Tỷ lệ sử dụng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh của hệ nội

Xét nghiệm CĐHA Tổng số Tỷ lệ (%)

Chụp X - quang các bộ phận khác 24 6,2

Siêu âm tim 2D (đen trắng) 136 35,3

Siêu âm Doppler tim mạch máu 90 23,4

Mặc dù chụp phổi và siêu âm ổ bụng là các xét nghiệm thường quy theo quy chế bệnh viện, tỷ lệ thực hiện hai xét nghiệm này chỉ đạt 84,4% và 66,5% Điều này cho thấy sự tuân thủ quy định của các bác sĩ hệ nội vẫn chưa đạt yêu cầu.

Kỹ thuật cao CT, MRI cũng chiếm tỷ lệ thấp Cao nhất là CT sọ não chiếm 12,5%, MRI xương khớp chỉ chiếm 1%

Các xét nghiệm siêu âm khác ngoài siêu âm ổ bụng, siêu âm tim 2D là cao nhất 35,3% và siêu âm tuyến giáp thấp nhất chiếm 1%

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ sử dụng các loại dịch vụ CĐHA

Tỷ lệ sử dụng X-quang quy ước của các bác sĩ hệ nội cao nhất, đạt 85,7%, tiếp theo là siêu âm với 49% Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng các kỹ thuật cao như CT chỉ chiếm 24,4% và MRI chỉ đạt 9%.

XQ thường Siêu âm CT MRI

3.2.5 Sử dụng CĐHA của các khoa thuộc hệ nội

Các khoa trong bệnh viện có số lượng giường bệnh và mô hình bệnh tật đặc thù khác nhau, dẫn đến sự khác biệt trong việc sử dụng công nghệ chẩn đoán hình ảnh (CĐHA).

Biểu đồ 3.5 Sử dụng CĐHA của các khoa thuộc hệ nội

Tỷ lệ các khoa có chỉ định làm xét nghiệm CĐHA đạt cao khoa thấp nhất là

Nội 1 có tỷ lệ 66%, cao nhất 99% khoa Tim mạch

Tỷ lệ sử dụng các loại kỹ thuật CĐHA của các khoa cũng khác nhau

Bảng 3.10 Tỷ lệ sử dụng các dịch vụ CĐHA của các khoa nội

Nội 1 Nội 2 Nội 3 Nội 4 Thần kinh Tim mạch Truyền nhiễm

Kỹ thuật chụp X-quang phổi theo quy định chuyên môn có tỷ lệ thực hiện cao nhất tại khoa Nội 4 với 96,8%, trong khi khoa Nội 1 có tỷ lệ thấp nhất là 53,3% Tương tự, kỹ thuật siêu âm ổ bụng cũng nằm trong quy chế chuyên môn, với tỷ lệ chỉ định siêu âm cao nhất tại khoa Nội 4 đạt 97%, và thấp nhất tại khoa Nội 3 với 32,5%.

Tỷ lệ này cho thấy khoa nào có tỷ lệ BS tuân thủ quy chế của bệnh viện là tốt nhất

Kỹ thuật cao trong y tế cho thấy khoa Thần kinh sử dụng CT nhiều nhất với 42,6%, trong khi khoa Nội 4 sử dụng MRI đạt 32,3%, và khoa Nội 1 chỉ 2% Các khoa Truyền nhiễm và Tim mạch cũng chỉ sử dụng CT ở mức thấp là 2% Điều này chứng tỏ rằng độ nhạy và độ đặc hiệu của CT và MRI trong chẩn đoán bệnh lý thần kinh vượt trội hơn so với các chuyên khoa khác Theo ý kiến của bác sĩ khoa nội, việc thiếu CT và MRI trong chuyên ngành thần kinh sẽ dẫn đến việc điều trị không hiệu quả, đặc biệt trong trường hợp bệnh nhân đột quỵ, vì không thể đánh giá chính xác giai đoạn và loại tổn thương Sự phát triển của các kỹ thuật cao này đã giúp hạn chế tối đa các di chứng nhờ vào việc điều trị kịp thời.

3.2.6 Mặt bệnh và chỉ định chẩn đoán hình ảnh của hệ nội

Bảng 3.11 Mặt bệnh và sử dụng chẩn đoán hình ảnh

X - quang quy ước Siêu âm CT MRI

Bệnh về hệ tiêu hóa 22 62,9 22 62,9 5 14,3 0 0 Bệnh về phổi, hô hấp 43 100 17 39,5 12 27,9 3 7

Bệnh về cơ xương khớp 5 83,3 4 66,7 0 0 3 50

Bệnh về hệ thần kinh 33 84,6 18 46,2 15 38,5 9 23,1 Bệnh về tim mạch 55 84,6 40 61,5 14 21,5 0 0 Bệnh truyền nhiễm 37 97,4 34 89,5 8 21,1 0 0 Bệnh kết hợp 113 85,6 47 35,6 36 27,3 20 15,2

Với X – quang quy ước tỷ lệ sử dụng của các mặt bệnh đều cao, cao nhất là các bệnh về hô hấp 100%, thấp nhất là nhóm bệnh về tiêu hóa cũng đạt 63% BS trưởng khoa CĐHA cũng khẳng định không thể bỏ qua các kỹ thuật thường quy, chính vì vậy ban chuyên môn đã đưa vào quy chế “Giá trị chẩn đoán của kỹ thuật cao rất tốt xong cũng không thể nào bỏ đi các kỹ thuật thường quy được, nó là các xét nghiệm định hướng mở đường cho việc có cần thiết phải làm thêm kỹ thuật cao hay không” ( Trưởng khoa CĐHA) Đối với siêu âm tỷ lệ sử dụng cao nhất là nhóm bệnh truyền nhiễm 89,5% và thấp nhất là nhóm bệnh nội tiết 33%

Một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao của hệ nôi

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa chỉ định kỹ thuật cao với BHYT và tình trạng bệnh của bệnh nhân

Tiêu chí Chỉ định KTC Không chỉ định Tổng

Tần số % Tần số % TS %

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa người bệnh có bảo hiểm y tế (BHYT) và không có BHYT trong việc chỉ định CT và MRI Cụ thể, tỷ lệ người bệnh có BHYT được chỉ định CT chiếm 33,4%, gấp 1,5 lần so với tỷ lệ 24,7% của người bệnh không có BHYT Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh có BHYT không được chỉ định CT cũng cao, đạt 66,6%, cho thấy sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê ( 2 = 1,5; p).

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa việc chi trả của bảo hiểm y tế (BHYT) và quyết định chỉ định xét nghiệm của bác sĩ Mặc dù giá của các kỹ thuật cao vẫn được đánh giá là chưa hợp lý, nhưng BHYT vẫn chấp nhận chi trả cho các kỹ thuật này, do đó không ảnh hưởng đến quyết định của bác sĩ Bác sĩ chỉ cân nhắc việc chỉ định xét nghiệm cho những bệnh nhân khó khăn, đặc biệt là những người không có BHYT và có tình trạng bệnh nặng, như trường hợp cần chụp MRI nhưng lại không đủ khả năng tài chính.

Bệnh nhân nằm viện lâu dài thường phải đối mặt với chi phí điều trị cao Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ bảo hiểm y tế (BHYT) cho các xét nghiệm, chúng tôi vẫn xem xét kỹ lưỡng việc chỉ định các xét nghiệm này.

HUPH khuyến nghị rằng đối với những bệnh nhân không có bảo hiểm y tế, nếu có thể, nên thực hiện các xét nghiệm thay thế để giảm chi phí điều trị, vì việc chỉ định các kỹ thuật cao sẽ làm tăng gánh nặng tài chính cho bệnh nhân.

Bảo hiểm y tế (BHYT) không thể bị lợi dụng do có giới hạn chi trả theo từng bệnh, nhưng việc có BHYT vẫn mang lại lợi ích cho người bệnh Một bác sĩ chuyên khoa nội cho biết: "Mặc dù BHYT có một số rào cản về hiểu biết chuyên môn và kiểm soát chi phí điều trị, nhưng việc nằm viện không có BHYT hiện nay rất tốn kém Do đó, có BHYT vẫn là lựa chọn tốt hơn."

Tình trạng bệnh cấp tính và mạn tính có sự khác biệt rõ rệt trong chỉ định kỹ thuật cao (KTC) Cụ thể, 65,5% người mắc bệnh cấp tính không được chỉ định KTC, trong khi chỉ có 34,5% được chỉ định Mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ( 2 = 0,15; p = 0,07), nhưng cho thấy rằng bệnh nhân mắc bệnh lần đầu thường được bác sĩ chỉ định nhiều hơn so với những người mắc bệnh mạn tính đã điều trị nhiều lần Theo ý kiến của bác sĩ khoa Nội, bệnh nhân cấp cứu thường cần được chỉ định nhiều hơn, trong khi bệnh nhân mạn tính đã có hồ sơ bệnh án rõ ràng chỉ cần làm xét nghiệm cơ bản.

Bảng 3.16 Mối liên quan chỉ định KTC với các khoa hệ nội

Tiêu chí Chỉ định KTC Không chỉ định Tổng

Tần số % Tần số % TS %

Các khoa thuộc hệ nội

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt trong việc sử dụng KTC giữa các khoa thuộc hệ nội Khoa Thần kinh dẫn đầu với tỷ lệ sử dụng KTC cao nhất là 61,8%, trong khi khoa Nội tiết, thận có tỷ lệ thấp nhất chỉ 15% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị chi bình phương là  2 = 0,43,2 và p = 0,000.

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa chỉ định KTC với mô hình bệnh hệ nội

Tiêu chí Chỉ định KTC Không chỉ định Tổng

Tần số % Tần số % TS %

Mô hình bệnh hệ nội

Nghiên cứu mối liên hệ giữa việc sử dụng KTC và các mô hình bệnh lý của hệ nội cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong chỉ định KTC giữa các loại bệnh Cụ thể, bệnh thần kinh có tỷ lệ chỉ định KTC cao nhất là 53,8%, trong khi bệnh nội tiết chỉ đạt 9,5% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị chi bình phương là 31,6 và p = 0,001 Các loại bệnh khác nhau yêu cầu các phác đồ điều trị khác nhau, và bác sĩ cũng áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác nhau dựa trên độ nhạy và độ đặc hiệu của từng bệnh.

Với 100% máy móc kỹ thuật cao được xã hội hóa, giải pháp này giúp cộng đồng hưởng lợi trong bối cảnh ngân sách y tế hạn hẹp Tuy nhiên, mặt trái của xã hội hóa cũng đặt ra câu hỏi về ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ cao cho bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự tác động đáng kể từ vấn đề này.

Bệnh viện HUPH đã ghi nhận hiện tượng lạm dụng kỹ thuật cao trong y tế, chủ yếu tập trung ở một số khu vực Theo PGĐBV, "Có hiện tượng lạm dụng kỹ thuật cao, nhưng chỉ tập trung ở một số khu vực." Trưởng khoa CĐHA cũng cho biết, "Cũng có thể vẫn có hiện tượng lạm dụng xét nghiệm nhưng chỉ là số ít." Mặc dù có lợi ích từ việc lạm dụng xét nghiệm, nhưng số lượng không nhiều Cụ thể, chỉ định kỹ thuật cao như CT đạt 24,4%, MRI chỉ chiếm 9%, trong khi đó, X-quang quy ước đạt 85,7% và siêu âm đạt 49%.

Các bác sĩ khoa Nội khẳng định rằng trong quá trình nội trú, việc báo cáo diễn biến bệnh tình của bệnh nhân và chỉ định xét nghiệm đều phải được sự đồng ý của trưởng hoặc phó khoa, do đó không có tình trạng lạm dụng xét nghiệm Họ cũng nhấn mạnh rằng việc kiểm tra đột xuất và bình bệnh án từ ban chuyên môn giúp đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quy trình Tuy nhiên, vấn đề lạm dụng xét nghiệm có thể xảy ra tại các phòng khám tư nhân, nhưng không phải ở khoa Nội, nơi có sự kiểm soát chặt chẽ từ lãnh đạo.

Theo BS khoa Truyền nhiễm, việc chỉ định xét nghiệm nhiều có thể do sự kích cầu từ các nhà đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa, nhưng điều này chỉ xảy ra tại các phòng khám Trong khi đó, bệnh nhân khi vào khoa nội trú đã được thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cần thiết.

Vấn đề quá tải tại bệnh viện, đặc biệt ở khu vực khoa khám bệnh, ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ cận lâm sàng và kỹ thuật cao Một bác sĩ khoa nội chia sẻ: “Khi ngồi ở phòng khám, tôi thường cảm thấy căng thẳng vì bệnh nhân đông đúc, không thể khám kỹ lưỡng Nếu chậm trễ, tình trạng ùn tắc sẽ xảy ra ngay, vì vậy chúng tôi chỉ có thể thăm khám nhanh chóng và cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm để giải phóng họ.”

BÀN LUẬN

Thực trạng cung cấp dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng

4.1.1 Cơ sở vật chất trang thiết bị hiện có

Khoa CĐHA BVHNVT là một trong những khoa CLS quan trọng, đóng vai trò thiết yếu trong công tác khám chữa bệnh của bệnh viện Từ những ngày đầu là phòng chiếu chụp X-quang thuộc khoa xét nghiệm chung, khoa đã phát triển thành khoa CĐHA với trang thiết bị hiện đại, hỗ trợ hiệu quả cho bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị Tuy nhiên, mặc dù được xây dựng từ thập niên 60, cơ sở vật chất của khoa vẫn chưa được cải tạo, dẫn đến tình trạng chật chội và không còn phù hợp với sự phát triển của ngành Việc phân tán địa điểm đặt máy và nhân lực gây khó khăn trong việc hội chẩn và phân tích hình ảnh bệnh lý, dẫn đến một số sai sót nhỏ trong công tác chuyên môn.

Ngành CĐHA đang phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, với nhiều thiết bị hiện đại không chỉ hỗ trợ chẩn đoán bệnh mà còn trực tiếp điều trị cho bệnh nhân thông qua các kỹ thuật X-quang can thiệp Những kỹ thuật này mang lại hiệu quả điều trị cao cho những bệnh mà liệu trình điều trị nội hoặc ngoại khoa không đáp ứng được Hiện tại, thiết bị của khoa CĐHA BVHNVT đã vượt qua tiêu chuẩn quy định tại Quyết định 437/2002 QĐ-BYT của BYT, cao hơn so với một số nghiên cứu tại các bệnh viện tuyến tỉnh khác, như nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương tại BVĐK tỉnh Long An với tỷ lệ đạt 57,9%.

Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh tại hai bệnh viện tỉnh Hòa Bình và Nam Định cho thấy tỷ lệ đạt được là 20% tại BVĐK tỉnh Hòa Bình và 30% tại BVĐK tỉnh Nam Định Mặc dù số lượng cơ bản đã đủ để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, nhưng chất lượng vẫn cần được cải thiện.

Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp (BVHNVT) đang đối mặt với vấn đề về trang thiết bị y tế, khi một số máy móc đã xuống cấp và máy cộng hưởng từ có từ lực thấp, không đủ khả năng thăm khám các tạng trong ổ bụng Hiện tại, 100% máy kỹ thuật cao của khoa là máy xã hội hóa, nhưng vẫn thiếu máy MRI có từ lực cao và hệ thống X-quang can thiệp để đáp ứng nhu cầu chẩn đoán và điều trị BVHNVT, với lịch sử phát triển trên 100 năm, đang được quy hoạch thành trung tâm đầu ngành khu vực duyên hải Bắc bộ, nên được trang bị nhiều thiết bị hiện đại hơn so với các bệnh viện tỉnh như Long An, Nam Định và Hòa Bình Tuy nhiên, danh mục trang thiết bị y tế đã lỗi thời từ năm 2002, không còn phù hợp với nhu cầu thực tiễn, dẫn đến việc nhiều thiết bị không được sử dụng Thêm vào đó, Nghị định 43/2006 và Thông tư 15/2007 cho phép các bệnh viện tự chủ tài chính và xã hội hóa trang thiết bị, đã giúp BVHNVT lắp đặt nhiều thiết bị khám chữa bệnh hiện đại, đặc biệt là các kỹ thuật cao như cắt lớp và cộng hưởng từ.

Theo báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2010, số lượng và chủng loại trang thiết bị y tế (TTBYT) tại Việt Nam còn thấp so với nhu cầu và tiêu chuẩn quốc tế, với chỉ khoảng 30% bệnh viện đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) Sự không đồng bộ trong các TTBYT dẫn đến hiệu quả sử dụng hạn chế Để đáp ứng nhu cầu lâm sàng và KCB của người dân, thành phố Hải Phòng cần tiếp tục đầu tư vào trang thiết bị y tế hiện đại như máy MRI có từ lực cao và máy DSA (X-quang can thiệp), nhằm hoàn thiện khoa Chẩn đoán hình ảnh và phục vụ tốt hơn cho bệnh nhân.

4.1.2 Nhân lực của khoa chẩn đoán hình ảnh

Khoa có đội ngũ nhân viên lớn, là cơ sở đào tạo của Đại học Y – Dược Hải Phòng và Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, với 75% bác sĩ có trình độ sau đại học và 40% kỹ thuật viên có trình độ từ cao đẳng trở lên Nhân viên trong khoa thành thạo các trang thiết bị y tế, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh Lãnh đạo bệnh viện và khoa chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho nhân viên nâng cao chuyên môn tại các trung tâm uy tín trong và ngoài nước Khoa thực hiện tốt công tác chỉ đạo tuyến theo đề án 1816, chuyển giao công nghệ và hướng dẫn kỹ thuật cho tuyến dưới Bác sĩ trưởng khoa khẳng định khả năng khai thác hiệu quả trang thiết bị và cử kỹ thuật viên hướng dẫn sử dụng cho các bệnh viện khác.

4.1.3 Các dịch vụ khoa chẩn đoán hình ảnh cung cấp

Khoa CĐHA BVHNVT có đội ngũ bác sĩ và kỹ thuật viên đông đảo, được đào tạo chuyên ngành, giúp khai thác hiệu quả các thiết bị hiện có Điều này cho phép cung cấp các kỹ thuật đáp ứng nhu cầu lâm sàng, hỗ trợ chẩn đoán, đánh giá tiến triển bệnh và hiệu quả điều trị, từ đó nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân Sự tin tưởng của bệnh nhân vào bệnh viện ngày càng tăng, dẫn đến số lượng bệnh nhân khám và điều trị tăng lên, đồng thời giảm tỷ lệ chuyển tuyến Tuy nhiên, một số kỹ thuật chuyên sâu vẫn chưa được triển khai do thiếu phương tiện Trưởng khoa CĐHA nhấn mạnh rằng yêu cầu nâng cao chuyên môn là cần thiết để phù hợp với sự phát triển của ngành y Trước đây, khi chỉ có X quang thường quy và siêu âm, khoa đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản, nhưng với sự phát triển của phương tiện hiện nay, chất lượng chẩn đoán đã được cải thiện đáng kể.

HUPH hiện đang thiếu các phương tiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khối lâm sàng, đặc biệt là trong việc chụp cộng hưởng từ lực cao cho các tạng trong ổ bụng, cộng hưởng từ tim, tủy sống và điện quang can thiệp.

Sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh của khối nội

4.2.1 Hệ nội và mô hình bệnh tật hệ nội

Hệ nội Bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng bao gồm 7 khoa và điều trị 11 mặt bệnh trong năm 2013, trong đó bệnh nhân mắc hai bệnh trở lên chiếm 34,3% Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh không được phát hiện sớm, dẫn đến biến chứng và tổn thương các cơ quan khác Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh cấp tính chiếm 59%, tập trung ở nhóm tuổi 50 – 69, với nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ Bệnh viện nằm ở trung tâm thành phố, nên bệnh nhân chủ yếu đến từ khu vực nội thành, đặc biệt là nhóm đã nghỉ hưu Tỷ lệ người bệnh có bảo hiểm y tế đạt 76,9%, nhờ vào nhận thức ngày càng cao về giá trị của bảo hiểm trong khám chữa bệnh Trong năm 2013, hệ nội đã điều trị cho 15.055 bệnh nhân, nhưng do nguồn lực hạn chế, nghiên cứu chỉ được thực hiện với cỡ mẫu 1/4, cần mở rộng cỡ mẫu và phạm vi nghiên cứu để đảm bảo tính khách quan.

4.2.2 Sử dụng dịch vụ Chẩn đoán hình ảnh của hệ nội

Y học hiện đại ngày nay dựa trên y học chứng cứ, trong đó việc thăm khám bệnh nhân cần sự hỗ trợ của các phương tiện cận lâm sàng, đặc biệt là chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) CĐHA ngày càng trở nên quan trọng trong công tác khám chữa bệnh Mặc dù phương pháp thăm khám lâm sàng cổ điển có thể cung cấp hướng chẩn đoán ban đầu, nhưng thông tin từ lâm sàng thường phụ thuộc vào trực quan của người thầy thuốc.

CĐHA cung cấp thông tin khách quan và chi tiết về tình trạng bệnh lý, giúp bác sĩ lâm sàng củng cố chẩn đoán và đưa ra kết luận chính xác hơn Nó cũng xác định nguyên nhân và giai đoạn bệnh, từ đó tiên lượng diễn tiến bệnh và tham gia vào điều trị can thiệp, theo dõi và đánh giá đáp ứng điều trị Các bác sĩ hệ nội sử dụng đa dạng dịch vụ CĐHA như chụp X-quang, siêu âm 2D và Doppler, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ, tùy thuộc vào tình trạng bệnh Tỷ lệ sử dụng dịch vụ CĐHA đạt 93%, với X-quang quy ước 85,7%, siêu âm 49%, cắt lớp vi tính 24,4% và cộng hưởng từ 9% Trong năm 2013, tỷ lệ sử dụng dịch vụ CĐHA khác nhau giữa các khoa, với khoa Tim mạch đạt 99% và khoa Nội 2 thấp nhất với 66%.

Sử dụng kỹ thuật CĐHA đạt tỷ lệ 96,8%, cho thấy rằng hiệu quả của phương pháp này không phụ thuộc vào số lượng bệnh nhân mà chủ yếu dựa vào tình trạng bệnh và mô hình bệnh lý của từng khoa.

Tỷ lệ thực hiện X-quang và siêu âm tại bệnh viện đạt cao nhờ quy chế chuyên môn, yêu cầu bệnh nhân phải làm xét nghiệm CĐHA cơ bản Các bác sĩ hệ nội đã thực hiện tốt quy định, với 89% bệnh nhân có xét nghiệm cơ bản, trong đó 60% có cả X-quang phổi và siêu âm ổ bụng Tuy nhiên, 11% bác sĩ không tuân thủ quy định, và 29% tuân thủ chưa đầy đủ Khoa Truyền nhiễm có tỷ lệ tuân thủ cao nhất với 98%, trong khi khoa Nội 1 chỉ đạt 66% Mặc dù bệnh viện tổ chức các lớp học về quy chế, nhưng không thường xuyên, dẫn đến một số bác sĩ mới chưa tuân thủ tốt quy định.

HUPH đã tổ chức lớp tập huấn này nhằm nâng cao nhận thức Một nguyên nhân khác dẫn đến hiện tượng không tuân thủ là do lãnh đạo các khoa chưa thực hiện kiểm soát chặt chẽ, cùng với sự thiếu sót trong việc kiểm duyệt hồ sơ của tổ chức.

Với tình trạng quá tải bệnh nhân tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, bác sĩ gặp khó khăn trong việc thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng Do đó, việc sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cận lâm sàng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Theo Báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2013, chất lượng đào tạo cán bộ y tế chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển của kỹ thuật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngày càng cao Do đó, các bác sĩ cần sự hỗ trợ nhiều hơn từ các cận lâm sàng, đặc biệt là trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh.

4.2.3 Sử dụng kỹ thuật cao của hệ nội

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bác sĩ hệ nội sử dụng các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao chỉ đạt 33,4%, trong đó CT chiếm 24,4% và MRI 9% Kết quả này cho thấy việc sử dụng kỹ thuật cao cho bệnh nhân vẫn còn thấp Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam và trên thế giới, như nghiên cứu của Phạm Trí Dũng năm 2009, cho thấy tỷ lệ sử dụng CT và MRI ở Việt Nam chỉ đạt 2,6 lượt/1000 dân, trong khi Mỹ là 172,5 lượt/1000 dân và Anh cũng có tỷ lệ cao hơn.

Tại Việt Nam, tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế là 43 lần/1000 dân, trong khi ở Úc chỉ là 21 lần/1000 dân Cụ thể, tỷ lệ sử dụng x-quang và siêu âm ở Việt Nam đạt 122,2 lần/1000 dân và 80,7 lần/1000 dân, trong khi tại Úc chỉ đạt 0,7 lần và 2,8 lần/1000 dân Nghiên cứu của Li Wanga, Jason X Niea và cộng sự cho thấy có sự khác biệt đáng kể (p 0,05) Những bệnh nhân mạn tính đã điều trị lâu dài hoặc nhiều lần tại khoa thường có hồ sơ bệnh án lưu trữ, dẫn đến việc ít sử dụng KTC hơn Ngược lại, các trường hợp bệnh cấp tính thường được ưu tiên chỉ định, hoặc những bệnh mạn tính có biến chuyển khác cũng được bác sĩ xem xét chỉ định chủ yếu để phục vụ chẩn đoán hoặc đánh giá đáp ứng điều trị Với sự phức tạp của các biến thể bệnh tật hiện nay, việc kiểm tra và đánh giá tiến triển cũng như sự đáp ứng với phác đồ điều trị là cần thiết, do đó bệnh nhân cần được chụp kiểm tra lại hoặc kiểm tra kết quả điều trị trước khi xuất viện.

Nghiên cứu của chúng tôi thông qua phỏng vấn định tính cho thấy rằng giá của KTC và sự có mặt hoặc không có bảo hiểm y tế (BHYT) của bệnh nhân chỉ ảnh hưởng rất ít đến việc sử dụng KTC.

Giá các kỹ thuật điều trị khác phù hợp, nhưng kỹ thuật cao vẫn có chi phí cao hơn, tuy nhiên vẫn được bảo hiểm chấp nhận, không ảnh hưởng đến chi phí điều trị của bệnh nhân Điều này đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn và không có bảo hiểm y tế.

Trong bối cảnh bệnh nhân nghèo, đặc biệt là những người ở nông thôn không có bảo hiểm, việc đánh giá tình trạng bệnh qua chụp MRI cần được cân nhắc kỹ lưỡng do chi phí cao Mặc dù bảo hiểm y tế (BHYT) hỗ trợ một phần chi phí, nhưng vẫn có giới hạn về mức chi trả cho từng đợt điều trị, điều này ảnh hưởng đến khả năng chỉ định lặp lại các kỹ thuật chẩn đoán cao cấp Việc này có thể dẫn đến tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân, gây khó khăn cho họ trong việc tiếp cận dịch vụ y tế cần thiết.

Xã hội hóa Y tế trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp là giải pháp hiệu quả, mang lại lợi ích cho cộng đồng Kể từ khi các bệnh viện được phép xã hội hóa theo TT 15/2007 TT-BYT, số lượng máy KTC đã tăng lên và hiện đại hơn, cải thiện khả năng chẩn đoán Mặc dù việc sử dụng kỹ thuật cao của các bác sĩ hệ nội chỉ chiếm 33,4%, thấp hơn so với các nghiên cứu quốc tế, nhưng vẫn có sự công nhận về hiện tượng lạm dụng xét nghiệm KTC, chủ yếu xảy ra ở một số khu vực như khoa khám bệnh và phòng khám tư nhân Đây là vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về lạm dụng quỹ BHYT, ngoại trừ nghiên cứu của Trần Ngọc Duyến năm 2004 chỉ ra sự lạm dụng dưới nhiều hình thức, bao gồm việc sử dụng tối đa các xét nghiệm cận lâm sàng.

CĐHA” Một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng chỉ ra có việc lạm dụng KTC:

Nghiên cứu của Seyed Mohammad Ghodsi và cộng sự năm 2008 tại các trung tâm MRI ở Tehran cho thấy 72,1% các chỉ định MRI có kết quả bình thường Tương tự, nghiên cứu của Cục BHYT quốc gia Đài Loan cũng chỉ ra tình trạng lạm dụng CT và MRI Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, các bác sĩ chuyên khoa nội cho rằng không có lạm dụng trong điều trị nội trú, vì bệnh nhân đã có đủ xét nghiệm trước đó Họ chỉ định MRI và CT để đánh giá hiệu quả điều trị và diễn tiến bệnh Nguyên nhân chính được đưa ra là do sự xã hội hóa máy móc, dẫn đến việc các nhà đầu tư kích cầu và chỉ định nhiều hơn.

HUPH viện cũng đã biết hiện tượng này, đã có các biện pháp quản lý xong hiệu quả chưa cao

Có sự lạm dụng xét nghiệm kỹ thuật cao tại một số khoa và khu vực khám bệnh, như nghiên cứu của Trần Ngọc Duyến và cộng sự (2003) chỉ ra về lạm dụng quỹ BHYT tại Lâm Đồng Bác sĩ thường chỉ định tối đa các xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt ở các khoa khám bệnh và phòng khám tư nhân Nguyên nhân một phần là do số lượng người tham gia BHYT ngày càng tăng, khiến bác sĩ không cần cân nhắc khi chỉ định kỹ thuật cao Thêm vào đó, các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương đang quá tải, dẫn đến việc bác sĩ không có đủ thời gian thăm khám lâm sàng và phải dựa nhiều vào xét nghiệm cận lâm sàng Hơn nữa, chất lượng đào tạo bác sĩ chưa tương xứng với sự phát triển của kỹ thuật, cùng với sự chênh lệch giữa các tuyến, khiến kết quả từ tuyến dưới không được công nhận ở tuyến trên, làm tăng sự phụ thuộc vào chẩn đoán bằng kỹ thuật cao.

Một trong những lý do khiến việc sử dụng kỹ thuật cao trong y tế chưa hợp lý là do ngân sách hạn hẹp của các bệnh viện công, trong khi chi phí cho thiết bị y tế rất cao Xã hội hóa y tế được xem là giải pháp giúp các bệnh viện có đủ phương tiện phục vụ khám chữa bệnh Tuy nhiên, việc liên doanh liên kết trong việc lắp đặt máy móc đã dẫn đến tình trạng lạm dụng xét nghiệm, khi các nhà đầu tư tác động lên bác sĩ để tăng cường nhu cầu Đồng thời, mức lương và thu nhập của nhân viên y tế, đặc biệt là bác sĩ, vẫn còn thấp.

KHUYẾN NGHỊ

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm