1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình năm 2022

118 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022
Tác giả Trần Ngọc Việt
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Cao Sạ
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG TRẦN NGỌC VIỆT THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ NG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN NGỌC VIỆT

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI CÁC TRẠM Y TẾ XÃ HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội, năm 2023

HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN NGỌC VIỆT

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI CÁC TRẠM Y TẾ XÃ HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập, làm việc nghiêm túc và nhận được sự hỗ trợ, giúp

đỡ của các cá nhân và tập thể để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học y tế công cộng đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo là những nhà khoa học trong hội đồng bảo vệ ý tưởng, đề cương, phản biện và bảo vệ luận văn đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi xây dựng được một luận án tốt nghiệp hoàn chỉnh

Tôi xin cảm ơn tập thể Ban giám đốc và đồng nghiệp tại đơn vị Trung tâm y tế huyện Quảng Trạch và 17 Trạm y tế xã đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc triển khai thu thập số liệu và phân tích mẫu nghiên cứu của luận văn

Đặc biệt tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Hoàng Cao Sạ Thầy đã luôn đôn đốc, động viên, hỗ trợ và hướng dẫn trực tiếp rất tận tình trong suốt quá trình triển khai luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm động viên của những người thân trong gia đình Những người đã cho tôi động lực và luôn bên tôi trong mọi lúc khó khăn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 05 tháng 3 năm 2023

Học viên

Trần Ngọc Việt

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm, định nghĩa trong nghiên cứu 4

1.2 Chẩn đoán động kinh 4

1.3 Dịch tễ học bệnh động kinh trên Thế giới và Việt Nam 6

1.4 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng động kinh 8

1.5 Tuân thủ điều trị thuốc bệnh động kinh 10

1.6 Một số nghiên cứu về TTĐT thuốc chống động kinh 14

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh 17

1.8 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 20

1.9 Khung lý thuyết 23

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.6 Biến số dùng trong nghiên cứu 28

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 29

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá dùng cho nghiên cứu 30

2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Thực trạng TTĐT động kinh 35

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh 37

Chương 4 BÀN LUẬN 51

HUPH

Trang 5

4.1 Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại

trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022 51

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022 54

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 66

KẾT LUẬN 68

KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1 77

PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TYT XÃ, HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH 77

PHỤ LỤC 2 81

HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN 81

PHỤ LỤC 3: 82

HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ PHỤ TRÁCH CHƯƠNG TRÌNH SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN 82

PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM CÁN BỘ PHỤ TRÁCH CHƯƠNG TRÌNH SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI TRẠM Y TẾ XÃ 83

PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 84

NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH 84 PHỤ LỤC 6: BIẾN SỐ ĐỘC LẬP 85 HUPH

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1 1 Các phương pháp đo lường TTĐT của người bệnh (25), (26) 11

Bảng 1 2 Thang đo đánh giá TTĐT thuốc 13

Bảng 3 1:Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh động kinh (n=128) 32

Bảng 3 2: Đặc điểm về bệnh động kinh của đối tượng nghiên cứu (n=128) 33

Bảng 3 3: Thông tin về dịch vụ y tế điều trị động kinh ngoại trú (n=128) 34

Bảng 3 4: Thông tin về sự hỗ trợ của gia đình - xã hội 34

Bảng 3 5: Tuân thủ điều trị thuốc động kinh(n=128) 35

Biểu đồ 3 1: Tỉ lệ tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh 36

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bằng thuốc

của người bệnh Động kinh điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022” tiến hành vào tháng 10 năm 2021 đến tháng 10 năm

2022, tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Với hai mục tiêu: 1) Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị (TTĐT) bằng thuốc và 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT bằng thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2021- 2022

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính, thời gian thu thập số liệu từ tháng 02-05/2022 Nghiên cứu định lượng: 128 người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh động kinh đang được quản lý tại các TYT xã được phỏng vấn trực tiếp với các câu hỏi về thực trạng TTĐT bằng thuốc của người bệnh được đo lường bằng thang đo Morisky Nghiên cứu định tính: Tiến hành 02 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm với Lãnh đạo TTYT huyện, cán bộ phụ trách xã, người phụ trách chương trình và người bệnh Thời gian thực hiện phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm từ 20-30 phút, tại phòng làm việc riêng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ TTĐT bằng thuốc của người bệnh trong nghiên cứu đạt 90,6% Lý do thường gặp không TTĐT thuốc là do người bệnh quên uống thuốc chiếm 44,5% Về một số yếu tố ảnh hưởng, như yếu tố cá nhân người bệnh: do trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế gia đình người bệnh khó khăn được báo cáo làm giảm mức độ TTĐT thuốc động kinh Yếu tố đặc điểm về bệnh: Người bệnh tự ngừng điều trị thuốc khi gặp phải những tác dụng không mong muốn của thuốc động kinh ảnh hưởng đến sức khỏe Yếu tố dịch vụ điều trị ngoại trú: Thuốc điều trị trong giai đoạn thu thập số liệu không sẵn sàng; Công tác đào tạo, tập huấn cho NVYT còn rất hạn chế; Bác sĩ quản lý chương trình chưa được đào tạo về định hướng chuyên ngành tâm thần ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ TTĐT thuốc của người bệnh Tuy nhiên, thái độ và sự tư vấn của NVYT, thời gian chờ đợi khám, cấp thuốc tại TYT xã nhanh chóng được đánh giá cao và có ảnh hưởng thúc đẩy việc TTĐT thuốc của người bệnh Chương trình cấp phát thuốc miễn phí, có lịch lĩnh thuốc từ 01 -05 hàng tháng, tại TYT gần nơi ĐTNC sinh sống vì vậy có ảnh hưởng tích cực đến

HUPH

Trang 9

TTĐT thuốc của người bệnh Yếu tố môi trường gia đình, xã hội: Sự quan tâm của gia đình và xã hội đối với người bệnh TTĐT được báo cáo làm tăng mức độ TTĐT thuốc

Kết luận: Tỉ lệ TTĐT thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú cao

Khuyến nghị: NVYT cần tăng cường công tác tư vấn, hướng dẫn, nhắc nhở người bệnh TTĐT thuốc đặc biệt là các tác dụng phụ thường gặp của thuốc TTYT cần đảm bảo công tác đấu thầu, đặc biệt là đảm bảo nguồn cung ứng thuốc đẩy đủ để cấp phát cho người bệnh

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Động kinh là một rối loạn mãn tính của não và là một trong những rối loạn thần kinh nghiêm trọng phổ biến nhất trên toàn thế giới không có ranh giới về tuổi tác, chủng tộc, tầng lớp xã hội, quốc tịch hoặc vị trí địa lý (1) Trong số những người bệnh bị động kinh, 85% được tìm thấy ở các nước đang phát triển và trong đó ước tính 40 triệu người không được điều trị thích hợp (1) Không tuân thủ điều trị (TTĐT) bằng thuốc là một hành vi tự nguyện hoặc không tự nguyện của việc uống thuốc bao gồm thất bại trong việc uống thuốc theo đơn, ngừng sử dụng thuốc trước khi quá trình điều trị kết thúc, không tuân thủ các khuyến nghị đã được thống nhất từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, uống nhiều hay ít thuốc hơn quy định (2)

Những người mắc bệnh động kinh được cho là không lên cơn co giật nếu TTĐT thuốc chống động kinh đúng phác đồ điều trị (khoảng 70%) Tỷ lệ tử vong ở người bệnh không điều trị cao hơn gấp ba lần so với người bệnh không TTĐT thuốc chống động kinh (3) Hậu quả của hành vi không TTĐT thuốc chống động kinh là gặp khó khăn trong việc kiểm soát các cơn co giật, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, đồng thời tăng thời gian nằm viện, tác động trực tiếp làm giảm chất lượng cuộc sống

và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe (4) Ngoài ra, việc không TTĐT bằng thuốc chống động kinh còn dẫn đến tăng gánh nặng cho các dịch vụ của khoa nội trú và cấp cứu; hơn nữa, nó cũng ảnh hưởng đến các thành viên trong gia đình về mặt xã hội, kinh tế và tâm lý (5)

Một số nghiên cứu trên thế giới cho biết tỉ lệ TTĐT thuốc chống động kinh đạt tỉ lệ khá cao như 72,3%, 79,8%, 70,8% (6), (7), (8) Ở các nước châu Phi cận Sahara, tỷ lệ không TTĐT thuốc động kinh là rất đáng kể, khoảng 67% ở Nigeria, 54% ở Kenya và 37% ở Ethiopia (9), (5) Tại Việt Nam nghiên cứu về TTĐT bằng thuốc động kinh của người bệnh còn hạn chế, một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ TTĐT bằng thuốc của người bệnh 43,5%- 72,5% (10),(11)

Một số yếu tố liên quan đến người bệnh được dự đoán là ảnh hưởng đến TTĐT thuốc chống động kinh của người bệnh là tuổi, giới, trình độ học vấn, kinh tế, thời

HUPH

Trang 11

gian mắc, điều trị bệnh, …(6), (8) Ngoài ra thì các yếu tố về môi trường gia đình như thiếu sự nhắc nhở của gia đình, sự kỳ thị của xã hội như từ chối những người bị động kinh vào các nhà hàng, nhà hát, trung tâm giải trí và các tòa nhà công cộng (12), (1)

Tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình có 17 trạm y tế (TYT) xã với 100%

xã, phường trên địa bàn đã triển khai mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần (SKTT) dựa vào cộng đồng, nhằm phát hiện, quản lý và chăm sóc người bệnh chưa được đưa vào quản lý, lồng ghép hiệu quả công tác chăm sóc SKTT vào các chương trình mục tiêu quốc gia khác Hiện nay toàn huyện có 222/228 người bệnh từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc động kinh và được theo dõi sức khỏe, tái khám và cấp thuốc từng tháng tại các TYT xã (13) Qua khảo sát nhanh trên 10 người bệnh thì có đến 5 người bệnh đã từng quyên uống thuốc đạt 50%, đây là một tỷ lệ khá cao do đó việc thực hiện nghiên cứu này là rất cần thiết (13) Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh chưa có nghiên cứu nào đánh giá về TTĐT thuốc động kinh của người bệnh Để trả lời cho những câu hỏi như thực trạng TTĐT thuốc của người bệnh động kinh tại đây như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự TTĐT thuốc của người bệnh động kinh?

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến

tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh điều trị ngoại trú tại các trạm

y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022” Kết quả nghiên cứu là cơ sở

để nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế tại TYT cho người bệnh động kinh Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng sẽ giúp NVYT tại các TYT xã quản lý người bệnh tốt hơn, giảm được rủi ro tiềm ẩn cho người bệnh, cũng như gánh nặng bệnh tật

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm

2021 - 2022

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2021- 2022

HUPH

Trang 13

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, định nghĩa trong nghiên cứu

1.1.1 Định nghĩa động kinh

Ðộng kinh là những cơn ngắn, định hình, đột khởi, có khuynh hướng chu kỳ

và tái phát do sự phóng điện đột ngột quá mức từ vỏ não hoặc qua vỏ não của những nhóm nơron, gây rối loạn chức năng của thần kinh trung ương (cơn vận động, cảm giác, giác quan, thực vật, ), điện não đồ ghi được các đợt sóng kich phát Mất ý thức cũng là biểu hiện thường gặp trong hoặc sau cơn (14)

Ðịnh nghĩa trên đồng thời cũng là tiêu chuẩn chẩn đoán (14)

1.1.2 Điều trị ngoại trú

Điều trị ngoại trú, được quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, trong đó các trường hợp phải điều trị ngoại trú bao gồm (15):

+ Người bệnh không thuộc các trường hợp phải điều trị nội trú;

+ Người bệnh sau khi đã được điều trị nội trú ổn định nhưng do phải theo dõi

và hoặc phải điều trị tiếp nhưng sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Sau khi quyết định người bệnh phải điều trị ngoại trú, người hành nghề có trách nhiệm sau đây (15):

+ Lập hồ sơ bệnh án ngoại trú theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

+ Ghi sổ y bạ theo dõi điều trị ngoại trú trong đó ghi rõ thông tin cá nhân của người bệnh, chẩn đoán, chỉ định điều trị, kê đơn thuốc và thời gian khám lại

1.1.3 Tuân thủ điều trị thuốc

Là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của cán bộ y tế, không được tự ý thay đổi thuốc và liều lượng thuốc (1) Trong nghiên cứu này TTĐT thuốc là người bệnh động kinh sử dụng đúng hướng dẫn của cán bộ y tế về thuốc chữa động kinh

1.2 Chẩn đoán động kinh

Chẩn đoán xác định: Dựa vào lâm sàng và điện não (14)

Chẩn đoán phân biệt (14):

HUPH

Trang 14

Cơn hysterie: Thường xảy ra trước đông người, cơn kéo dài, hai mí mắt nhắm

nhưng nhấp nháy, không hôn mê, sắc mặt không thay đổi, không cắn phải lưỡi, không tiểu dầm, cơn giật hổn độn không thành nhịp Khám thần kinh bình thường Một kích thích đột ngột mạnh làm hết cơn Sau cơn nhớ những gì đã xảy ra Ðiện não bình thường Có thể có hysterie - động kinh

Hạ glucose máu: Ðói bụng, cồn cào, toát mồ hội, co giật, hôn mê Glucose

máu hạ, tỉnh nhanh khi tiêm glucose ưu trương tĩnh mạch

Thiếu năng tuần hoàn não: Tai biến mạch máu não tạm thời, đột ngột, nói khó,

rối loạn cảm giác, yếu nửa người, cơn kéo dài hơn động kinh, người bệnh thường tỉnh táo

Cơn ngất: Trước cơn thường có chóng mặt, hạ huyết áp

Sốt cao co giật ở trẻ em: Là cơn co giật không phải bệnh động kinh, nhưng

lặp lại là cơ thể bị động kinh về sau (14)

Phân loại động kinh

Theo Liên Hội chống động kinh Quốc tế động kinh gồm có 3 loại: Khởi phát cục bộ, khởi phát toàn thể, không rõ khởi phát (16)

HUPH

Trang 15

Hình 1 1: Bảng phân loại về các kiểu động kinh phiên bản mở rộng của

Liên Hội Chống Động kinh Quốc Tế năm 2017 (16)

Quản lý tại TYT xã

Tất cả người bệnh sau khi được khám và có hồ sơ bệnh án của đơn vị y tế truyến trên được chuyển về TYT xã quản lý, tiếp nhận những người bệnh động kinh

ổn định tại các bệnh viện chuyên khoa và có chỉ định điều trị ngoại trú tại các TYT quản lý sẽ phải có đầy đủ các giấy tờ liên quan: Giấy giới thiệu khám bệnh chuyển tuyến; Giấy cam đoan nhận thuốc chuyên khoa tâm thần; một số giấy tờ khác liên quan tới người bệnh (bản sao CMND, Bản sao Sổ hộ khẩu, Bản sao Giấy khai sinh, Thẻ bảo hiểm y tế…) (13)

1.3 Dịch tễ học bệnh động kinh trên Thế giới và Việt Nam

Năm 2019, theo báo của của WHO bệnh động kinh chiếm một tỷ lệ đáng kể trong gánh nặng bệnh tật của thế giới, ảnh hưởng đến khoảng 50 triệu người trên toàn thế giới (1) Trên toàn cầu, ước tính năm triệu người được chẩn đoán mắc bệnh động kinh mỗi năm Ở các nước thu nhập cao, ước tính có khoảng 49 trên 100.000 người được chẩn đoán mắc bệnh động kinh mỗi năm Ở các nước thu nhập thấp và trung bình, con số này có thể lên tới 139 trên 100 000 Gần 80% những người bị động kinh sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình (1)

HUPH

Trang 16

1.3.2 Dịch tễ học tại Việt Nam

Động kinh là một trong những bệnh thường gặp của chuyên khoa nội thần kinh Ở Việt Nam, tỉ lệ mới mắc khoảng 42/100.000 dân/năm (17) Theo ước tính, tại Việt Nam có khoảng 500.000 người mắc bệnh động kinh Ngoài ra, phần lớn người bệnh bị bệnh động kinh chỉ cần dùng thuốc, điều trị nội khoa là khỏi bệnh, khoảng 10-20% người bệnh có những tổn thương não phải tiến hành phẫu thuật, can thiệp sớm khi phát hiện mắc bệnh (18) Trong một nghiên cứu mới đây, tỷ lệ hiện mắc động kinh trong cộng đồng là 7,5%, và 71,2% người được chẩn đoán động kinh không được điều trị Nhóm tuổi mắc động kinh nhiều nhất là từ 10-19 tuổi, động kinh không rõ nguyên nhân chiếm đa số Các nguyên nhân động kinh thường gặp nhất là đột quị não, chấn thương sọ não, u não Loại cơn động kinh thường gặp là động kinh toàn thể chiếm 68,2%, cơn động kinh cục bộ chiếm 27,4%, cơn động kinh không phân loại chiếm 4,4% (19)

Điều trị động kinh cho đến nay vẫn là một thách thức với nền y học thế giới

và tại Việt Nam vì chưa thể kiểm soát hoàn toàn cơn co giật trên người bệnh và vẫn

có rất nhiều người bệnh chưa kiểm soát được cơn hay rơi vào tình trạng gọi là: “Điều trị kháng trị”(10, 19) Ngoài ra có nhiều trường hợp người bệnh đã được chẩn đoán

và điều trị động kinh nhưng vẫn có cơn co giật phải tái nhập viện nhiều lần (19) Điều này khiến việc điều trị động kinh vẫn là một thách thức lớn đối với các bác sỹ (18)

Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chính Minh (2020) nhóm tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát ở 135.000 người dân Kết quả cho thấy, tỷ lệ hiện mắc động kinh trong cộng đồng dân cư nội thành TP.HCM là 549/100.000, khoảng tin cậy (KTC) 95%, 510 – 589/100.000; tỷ lệ mắc mới là 49,6/100.000, KTC 95%,

39 – 62/100.000 Tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở độ tuổi dưới 10 và 50 đến 59 Động kinh khởi phát toàn thể chiếm 69,2%, động kinh khởi phát cục bộ chiếm 18,9%, động kinh không rõ khởi phát và không phân loại chiếm 11,9% (10)

HUPH

Trang 17

1.4 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng động kinh

1.4.1 Nguyên tắc chung

Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng động kinh (20):

- Phải chọn thuốc kháng động kinh và theo dõi đáp ứng điều trị, bắt đầu liều thấp rồi đến liều cao (liều cắt cơn) nhưng khi đến liều độc mà không cắt cơn hay cơn thưa thì phải thay thuốc trong trường hợp cấp cứu Đối với người lớn sau khi điều trị khỏi nguyên nhân thì điều trị thêm 2 năm sau cơn cuối cùng và theo dõi điện não; còn nguyên nhân không giải quyết được như (sẹo) thì điều trị suốt đời

- Lượng thuốc chia nhiều lần uống trong ngày

- Không ngừng thuốc đột ngột, khi đổi thuốc phải từ từ giảm dần thuốc cũ, tăng dần thuốc mới

- Thuốc dễ tìm và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình của người bệnh

1.4.2 Điều trị ngoại trú bệnh động kinh tại trạm Y tế xã

Trang 18

- Kết hợp gia đình và y tế cơ sở, chăm sóc điều trị và theo dõi người bệnh tập luyện phục hồi chức năng tại nhà

- Phát hiện kịp thời tình trạng người bệnh có những diễn biến xấu tại cộng đồng

và xử lý theo chuyên khoa

- Có thể kết hợp với các cơ sơ hành nghề y tế tư nhân theo dõi điều trị tại nhà theo hướng dẫn của y, bác sỹ chuyên khoa

- Ghi vào sổ quản lý người bệnh tại TYT xã Khi ghi hết sổ điều trị ngoại trú cán bộ Y tế xã gặp cán bộ phụ trách huyện để đổi sổ vào cuối tháng khi đi quyết toán thuốc tại Trung tâm y tế huyện để trung tâm lưu và kiểm tra quá trình sử dụng thuốc của người bệnh

- Báo cáo định kỳ theo mẫu hàng tháng, quý, năm theo quy định

Cấp phát thuốc cho người bệnh (21, 22):

- Cán bộ phụ trách chương trình tuyến xã lĩnh thuốc tại TTYT huyện về TYT

xã phải có phiếu xuất, phiếu nhập và biên bản kiểm nhập Giao cho kho dược của trạm cấp phát theo đúng quy chế dược

- Cấp thuốc cho người bệnh điều trị ngoại trú một tháng 01 lần

- Khi cấp thuốc cho người bệnh cán bộ phụ trách phải theo đúng chỉ định của Bác sỹ chuyên khoa đã chỉ định trong hồ sơ bệnh án ngoại trú Không được tuỳ tiện thay đổi liều dùng Ghi đúng hàm lượng, số lượng thuốc cấp trong 30 ngày vào Bệnh

án, sổ điều trị ngoại trú của người bệnh (Ghi rõ liều dùng hàng ngày và thời gian uống thuốc) và phiếu cấp thuốc theo mẫu của Trung tâm CDC tỉnh Nếu cấp vượt quá số thuốc đã chỉ định trong bệnh án sẽ xuất toán và cán bộ phụ trách chương trình huyện,

xã phải hoàn toàn chịu trách nhiệm

- Cán bộ cấp thuốc (Dược sỹ, thủ kho) khi có phiếu được cán bộ phụ trách viết cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh đến lĩnh thuốc Phải ghi vào danh sách cấp thuốc và yêu cầu người nhận ký và ghi rõ họ tên vào phiếu lĩnh thuốc và danh sách cấp thuốc

- Danh sách cấp thuốc trước khi đóng dấu phải được phô tô thành 02 bản 01 bản lưu tại TTYT huyện và 01 bản lưu tại TYT tuyến xã

HUPH

Trang 19

- Phiếu cấp thuốc gửi trả lại cho Trung tâm y tế huyện kiểm tra quyết toán thuốc hàng tháng; làm căn cứ pháp lý và được lưu tại khoa dược trung tâm y tế huyện theo đúng quy chế dược Phiếu lĩnh thuốc phải có đủ các chữ ký: Chữ ký đóng dấu của Trạm trưởng y tế xã; người cấp và người nhận ký và phải ghi rõ họ tên

1.4.3 Chế độ tiết thực, sinh hoạt, lao động

Không dùng các loại kích thích như cafe, thuốc lá, rượu, gia vị, không được

ăn quá nhiều nhất là vào buổi tối Một số tác giả đề nghị ăn nhiều mỡ, ít hydrat carbon

và protein tạo ra tình trạng tăng ceton làm giảm động kinh Thức ngủ đúng giờ tùy theo nghề nghiệp của từng người để tránh mất định hình hoạt động thần kinh trong

24 giờ Tránh các công việc có thể nguy hiểm cho người bệnh hoặc người khác như làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, tránh làm việc lâu ngoài nắng vì dễ mất nước và điện giải, không làm việc nơi ánh sáng chói loè như hàn hoặc không nên xem ti vi và chơi trò chơi điện tử lâu vì đó là các kích thích có thể gây lên cơn (14)

1.5 Tuân thủ điều trị thuốc bệnh động kinh

1.5.1 Yêu cầu về tuân thủ điều trị

*TTĐT thuốc

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, người bệnh mắc các bệnh lý mạn tính được coi là có TTĐT thuốc khi phải thực hiện được ít nhất 90% phác đồ điều trị của bác sỹ trong vòng 1 tháng Vì vậy trong phạm vi của nghiên cứu này, bệnh nhi động kinh được coi là đạt tiêu chuẩn TTĐT thuốc khi(1):

- Uống đúng loại thuốc được bác sỹ chỉ định dùng

- Uống đúng liều lượng được bác sỹ chỉ định, không tự ý tăng hoặc giảm liều

* Tuân thủ tái khám:

Người bệnh đến tái khám đúng theo hẹn của BS khám trong sổ theo dõi khám chữa bệnh Tuân thủ tái khám là người bệnh khám lại đúng theo hẹn của bác sỹ trong tất cả các lần khám từ khi người bệnh được chẩn đoán xác định và điều trị cho đến nay(1)

1.5.2 Cách đo lường về tuân thủ điều trị

1.5.2.1 Phương pháp đo lường tuân thủ điều trị

HUPH

Trang 20

Việc đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh là rất quan trọng giúp cho các bác sĩ có hướng điều trị tiếp theo cho bệnh nhân đồng thời cũng đưa ra những bằng chứng thiết thực về các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTĐT của người bệnh để các nhà quản lý có các biện pháp làm tăng cường sự tuân thủ của người bệnh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong điều trị động kinh

Cho đến nay, không có “chuẩn vàng” nào để đo lường TTĐT Mỗi phương

pháp đo lường là đều có những điểm mạnh và những hạn chế nhất định Phương pháp

đo lường tuân thủ điều trị tốt đòi hỏi các tiêu chuẩn sau: dễ sử dụng, đáng tin cậy, hiệu quả và chi phí thấp Tuân thủ điều trị có thể được đánh giá bằng hai phương pháp: Phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp (23)

Bảng 1 1 Các phương pháp đo lường TTĐT của người bệnh (23), (24)

Gián tiếp (đếm viên thuốc còn lại trong lọ dùng thuốc, dùng dụng cụ theo dõi

việc mở hộp thuốc, phỏng vấn người bệnh, nhật ký uống thuốc của người

về các yếu tố rào cản TTĐT

Sai số nhớ lại, kết quả tuân thủ cao hơn thực tế

Đánh giá theo quan điểm

của NVYT thông qua

việc phỏng vấn/ phát vấn

qua bộ câu hỏi thiết kế

sẵn

Dễ thực hiện, chi phí thấp, độ đặc hiệu cao

Độ nhạy thấp, thường tỷ

lệ tuân thủ cao hơn thực

tế

Nhật ký của người bệnh,

dựa vào sổ khám chữa

Đơn giản hóa mối tương quan với các sự kiện bên

Không phải luôn nhận được sự hợp tác của người

HUPH

Trang 21

Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm

bệnh của người bệnh về

việc được kê đơn thuốc

ngoài và/hoặc ảnh hưởng của thuốc

bệnh, có thể gây ra sự thay đổi hành vi có tính phản ứng

Số lượng viên thuốc

dùng, NVYT thực hiện

đếm số lượng viên thuốc

thông qua vỉ thuốc đã cấp

cho người bệnh trong lần

tái khám

Ước lượng tỷ lệ tuân thủ

ở mức trung bình

Cần người bệnh mang vỏ thuốc đến khi tái khám, nhiều khi không có sự tương quan giữa số viên thuốc đã dùng và vỏ thuốc

Trực tiếp (định lượng nồng độ thuốc trong máu, nước tiểu hay trực tiếp cho người bệnh uống thuốc)

Định lượng trực tiếp

thuốc hoặc các chất

chuyển hóa (thông qua

việc xét nghiệm máu để

đo lường nồng độ thuốc

bị ảnh hưởng bởi các yếu

tố sinh học khác, độ đặc hiệu giảm theo thời gian NVYT quan sát trực tiếp

người bệnh uống thuốc

Đánh giá tương đối chính xác hành vi tuân thủ

Tốn thời gian và nhân lực

y tế, khó đánh giá hành vi tuân thủ không dùng thuốc

Như vậy, phương pháp trực tiếp độ chính xác cao nhưng thường tốn kém, còn phương pháp gián tiếp chủ yếu dựa vào sự trả lời của bệnh nhân về việc uống thuốc

và hành vi liên quan đến các chế độ điều trị của bệnh nhân trong một khoảng thời gian nhất định Phương pháp này còn được gọi là hệ thống tự ghi nhận (Self – report

HUPH

Trang 22

system) là phương pháp dễ thực hiện và ít tốn kém nhưng lại phụ thuộc vào chủ quan của đối tượng nghiên cứu Lựa chọn phương pháp nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn của bệnh nhân và các loại tuân thủ cần được đánh giá (23)

1.5.2.2 Đo lường tuân thủ điều trị trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu này sẽ sử dụng thang đo của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục để đo lường TTĐT với thuốc (xem bảng 1.2) theo một số nghiên cứu trước đó (25) Thang đo TTĐT của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục là đáng tin cậy (alpha = 0,83) và có liên quan đáng kể (p <0,05) (25) Các biện pháp TTĐT thuốc tăng huyết áp trên người bệnh từ 18 tuổi trở lên đã được chứng minh là đáng tin cậy, có giá trị đồng thời và tiên đoán tốt ở những bệnh nhân dân tộc thiểu số có thu nhập thấp có tăng huyết áp và có thể hoạt động như một công cụ sàng lọc trong các bệnh nhân ngoại trú với các nhóm bệnh nhân khác (25) Thang đo này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng để đánh giá TTĐT thuốc ở người bệnh động kinh,(26, 27, 28, 29) Hiện nay, bộ công cụ này cũng đã được chuẩn hóa và sử dụng trong một số nghiên cứu đánh giá TTĐT thuốc huyết áp, đái tháo đường,… trên đối tượng từ 18 tuổi trờ lên tại Việt Nam đã áp dụng thang đo của Morisky (30-32) Kết quả cho thấy bộ công cụ được Việt hóa có độ tin cậy cao và phù hợp với văn hóa của Việt Nam (30-32) Chúng tôi đã tìm được nghiên cứu của tác giả Trần Thị Huyền và nhóm tác giả (2020) tại Bệnh viện Nhi Trung ương được thực hiện trên 200 trẻ và bà

mẹ tại Bệnh viện Nhi trung ương Để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, nghiên cứu

sử dụng thang đo của Morisky (11) Tuy nhiên chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào sử dụng thang đo của Morisky để đo lường mức độ TTĐT thuốc động kinh trên người lớn tại Việt Nam Với ưu điểm miễn phí và đã được Việt hóa sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác nhau trong đánh giá TTĐT tại Việt Nam Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo này để đánh giá TTĐT bằng thuốc của người bệnh

động kinh

Bảng 1 2 Thang đo đánh giá TTĐT thuốc HUPH

Trang 23

STT Các mục của thang đo đánh giá TTĐT thuốc

1 Thỉnh thoảng ông/bà có quên uống thuốc điều trị động kinh không?

2 Trong 2 tuần qua, có bao nhiêu ngày ông/bà không uống thuốc điều trị động kinh?

3 Ông/bà đã từng giảm hoặc ngừng uống thuốc mà không thông báo cho bác sĩ vì cảm thấy tình trạng xấu hơn do sử dụng thuốc chưa?

4 Khi rời khỏi nhà hoặc đi du lịch, thỉnh thoảng ông/bà có quên mang

thuốc theo không?

5 Hôm qua, ông/bà có uống thuốc có uống thuốc chống động kinh

không?

6 Thỉnh thoảng, ông/bà ngừng uống thuốc khi cảm thấy bệnh đã được

kiểm soát không?

7 Phải uống thuốc hàng ngày làm nhiều người thấy bất tiện Ông/bà có từng thấy phiền khi tuân thủ phác đồ điều trị không?

8 Ông/Bà thường thấy khó khăn để ghi nhớ lịch uống thuốc chống động kinh không?

1.6 Một số nghiên cứu về TTĐT thuốc chống động kinh

1.6.1 Nghiên cứu tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh trên thế giới

Nghiên cứu về tác dụng của việc TTĐT thuốc động kinh đối với người bệnh Kết quả cho thấy điều trị bằng thuốc chống động kinh là một can thiệp thiết yếu nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của những người bệnh mắc một căn bệnh vốn nổi tiếng

là bị kỳ thị với nhiều quan niệm sai lầm về văn hóa Tuân thủ kém với các liệu pháp dài hạn như động kinh làm thay đổi sâu sắc hiệu quả điều trị khiến đây trở thành một vấn đề quan trọng trong sức khỏe cộng đồng từ tất cả các quan điểm của cuộc sống (33)

Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Temesgen Yohannes Hasiso

và Tigestu Alemu Desse (2016) nghiên cứu cắt ngang trên người bệnh động kinh từ

HUPH

Trang 24

ngày 09 đến ngày 22 tháng 02 năm 2015 Sự tuân thủ được đo lường bằng cách sử dụng thang đo tuân thủ thuốc gồm tám mục của Morisky Tất cả các người bệnh liên tiếp đến phòng khám động kinh trong thời gian nghiên cứu đều được phỏng vấn cho đến khi thu được cỡ mẫu là 194 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Yirgalem, Nam Ethiopia Trong số 194 người tham gia, 109 người (56,2%) là nam giới Tuổi trung bình của những người tham gia là 33,62 ± 11,44 tuổi; từ 18 đến 66 năm Phần lớn, 63,41% những người tham gia đang dùng hai loại thuốc chống động kinh 32% người bệnh TTĐT, các lý do không tuân thủ được báo cáo phổ biến nhất là quên sử dụng thuốc 75,4% và hết thuốc 10,8% (4)

Nghiên cứu của Rannjana Gurumurthy và cộng sự (2017), nghiên cứu này cũng sử dụng thang điểm tuân thủ thuốc Morisky Nghiên cứu thực hiện trên 451 người bệnh tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Đại học Y St John, Bangalore, Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình 27,3 ± 8,1 tuổi, 55,7% là nam giới và 43,9% người bệnh thuốc gia đình không có điều kiện kinh tế Có đến 72,3% người bệnh TTĐT thuốc chống động kinh và 27,7% người bệnh không TTĐT thuốc chống động kinh (6)

Nghiên cứu của Enas S Abd Wahab và cộng sự (2020), nghiên cứu cắt ngang

đã được thực hiện từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019 tại Bệnh viện Cột sống Thần kinh ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Bao gồm các người bệnh liên tiếp mắc chứng động kinh đang điều trị thuốc chống đông trong ít nhất 6 tháng Sự tuân thủ được đánh giá bằng Thang điểm Tuân thủ Thuốc của Morisky Nghiên cứu

315 đối tượng, trong đó có đến 70,8% ( n = 223) là tuân thủ, số còn lại là không tuân

thủ (8)

Nghiên cứu gần đây nhất năm 2022 của tác giả Hawi Mohamet và cộng sự được thực hiện trên 170 trẻ em bị động kinh theo dõi tại Trung tâm Y tế Jimma Tây Nam Ethiopia Nghiên cứu này cũng sử dụng thang đo tuân thủ thuốc Morisky gồm

08 mục để đánh giá TTĐT thuốc của người bệnh động kinh Với tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ/không tuân thủ thấp < 6/ 8 mục, tuân thủ trung bình là từ 6–7 trên 8 mục,

HUPH

Trang 25

tuân thủ điều trị cao người bệnh đạt 8/8 Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ chung với thuốc chống động kinh khá thấp là 54,1% (34)

1.6.2 Nghiên cứu tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh tại Việt Nam

Động kinh là bệnh lý thần kinh mạn tính với thời gian điều trị lâu dài, trung bình từ 2 – 5 năm sau cơn động kinh cuối cùng, đa số người bệnh được điều trị ngoại trú Kết quả điều trị động kinh phụ thuộc rất nhiều vào TTĐT, bao gồm tuân thủ thuốc

và tái khám đúng hẹn Với mục tiêu đánh giá tuân thủ dùng thuốc và tái khám, nghiên cứu thực hiện trên 300 cha mẹ có con mắc động kinh, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2013 bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp về TTĐT Sử dụng

bộ công cụ tự xây dựng, kết quả cho thấy tuân thủ đúng về dùng thuốc chống động kinh đạt 89,3% (35)

Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Diễm thực hiện tại BV 115 – TP HCM trên 216 người bệnh Qua phỏng vấn trực tiếp có đến 1/3 số người bệnh (33,3%) không tuân thủ điều trị, với lý do bao gồm có quên uống thuốc, nghĩ rằng chỉ cần uống thuốc khi có cơn, khó khăn về kinh tế, sợ tác dụng bất lợi của thuốc và nghĩ rằng bệnh không thể chữa khỏi, trong số đó quên uống thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất với (58,33%) (36)

Nghiên cứu của Phạm Thị Kim Liên và Dương Huy Hoàng (2018) tại một số

xã, phường thuộc Thành phố Thái Bình cho thấy tỷ lệ người bệnh động kinh được quản lý điều trị tại y tế cơ sở ở khu vực nội thành 68,6% cao hơn khu vực ngoại thành 51,5% Phương pháp điều trị chủ yếu là dùng thuốc kháng động kinh 91,7%; phối hợp tây y và y học cổ truyền 8,3% Nhóm thuốc barbituriqes là loại được sử dụng nhiều nhất (65%) Đơn trị liệu là phương thức điều trị chủ yếu (81%) Tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh cao (82,5%) Hiệu quả điều trị cắt cơn là 50% và thuyên giảm cơn động kinh là 42,5% Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh động kinh cần được quan tâm, theo dõi và phát hiện sớm hơn nữa, đồng thời cần có sự giám sát, quản lý của cả gia đình, cộng đồng và xã hội (37)

Nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Đức (2020) được thực hiện tại Thành phố

Hồ Chí Minh (2020) nhóm tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát ở 135.000 người dân trong cộng đồng dân cư nội thành Thành phố Hồ Chí Minh Động kinh khởi phát toàn

HUPH

Trang 26

thể chiếm 69,2%, động kinh khởi phát cục bộ chiếm 18,9%, động kinh không rõ khởi phát và không phân loại chiếm 11,9% Thuốc chống động kinh được sử dụng nhiều

là phenobarbital và valproate Đối với phenobarbital, có 50,8% số người bệnh khảo sát được điều trị và quản lý tại TYT phường hoặc trung tâm y tế quận Tỷ lệ người bệnh tuân thủ uống thuốc hàng ngày theo toa chiếm 72,5%, tỷ lệ uống thuốc không thường xuyên chiếm 14,7%, tỷ lệ bỏ điều trị chiếm 12% Hiện nay, việc quản lý, điều trị người bệnh động kinh vẫn do ngành tâm thần quản lý, cấp phát thuốc miễn phí trực tiếp cho người bệnh tại TYT, khoa tâm thần của trung tâm y tế quận hoặc tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM Kết quả điều trị động kinh có 34,9% cắt cơn, 53,2% thuyên giảm cơn, 11,9% kém hiệu quả hoặc hiệu quả không rõ (10)

Nghiên cứu của Trần Thị Huyền và nhóm tác giả (2020) về “Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương” được thực hiện trên 200 trẻ và bà mẹ tại Bệnh viện Nhi trung ương Để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, nghiên cứu sử dụng thang đo của Morisky Tuân thủ điều trị kém khi tổng điểm < 6, trung bình khi 6-7 điểm và tốt khi đạt 8 điểm Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ tuân thủ điều trị tốt 43,5%, 31,5% trẻ tuân thủ điều trị trung bình và 25,0% tuân thủ điều trị kém, trong vòng 6 tháng có 40,5% trẻ tái khám đúng hẹn (11)

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh

Phụ nữ TTĐT nhiều hơn và chấp nhận chẩn đoán nhiều hơn, trong khi đàn ông

có xu hướng ưu tiên công việc và trì hoãn tìm kiếm sự chăm sóc y tế để tránh thất nghiệp(29)

Trình độ học vấn

HUPH

Trang 27

Hầu hết các nghiên cứu về tuân thủ cho thấy có ảnh hưởng về trình độ học vấn Một nghiên cứu ở Châu Phi được thực hiện bởi Ogundele và Dawodu trong đó 71% không tuân thủ do tỷ lệ biết chữ kém trong số những người tham gia, 65,8% số người được hỏi hoàn thành ít nhất là giáo dục trung học (38) Trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế gia đình nghèo là những yếu tố nguy cơ làm cho bệnh nhân không TTĐT được tốt (39) Nghiên cứu của Temesgen Yohannes Hasiso và Tigestu Alemu Desse (2016) tại Bệnh viện Đa khoa Yirgalem, Nam Ethiopia chỉ ra rằng trình độ học vấn có mối liên quan TTĐT thuốc chống đông, cụ thể trình độ học vấn lớp 9-12 (P = 0,028), trình độ cao đẳng hoặc đại học (P = 0,002) (4) Trình độ học vấn thấp là yếu

tố nguy cơ làm cho bệnh nhân không TTĐT được tốt (39)

1.7.1.2 Đặc điểm về bệnh

Trong một nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Sweileh và cộng sự, thời gian mắc bệnh dài hơn được coi là lý do cho sự tuân thủ tốt trong nghiên cứu (38) Trong nghiên cứu Ahmed và cộng sự, sự phức tạp của việc điều trị tức là người bệnh dùng nhiều loại thuốc và tăng tần suất thuốc có sự tuân thủ thấp so với người bệnh dùng đơn trị liệu (7) Nghiên cứu của Temesgen Yohannes Hasiso và Tigestu Alemu Desse (2016) tại Bệnh viện Đa khoa Yirgalem, Nam Ethiopia thời gian điều trị động kinh ngắn cũng là yếu tố liên quan ảnh hưởng tiêu cực đến TTĐT thuốc chống động kinh, cụ thể điều trị động kinh trong <1 năm (P = 0,011), điều trị động kinh trong 1-3 năm (P = 0,002) (4) Nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh viện Dessie, Vùng Amhara, Đông Bắc Ethiopia chỉ ra rằng tác dụng phụ của thuốc ảnh hưởng đến TTĐT thuốc động kinh của người bệnh với p =0,048 (40) Nghiên cứu của tác giả Christian Samsonsen và cộng sự (2014) cho biết tỷ lệ không TTĐT là 39% người bệnh Nó phổ

HUPH

Trang 28

biến hơn đáng kể ở những bệnh nhân bị co giật toàn thể so với những người bị co giật cục bộ (p= 0,029) (41)

Nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Đức (2020) cho biết việc phát hiện sớm người bệnh sẽ được tiếp cận với điều trị sớm (10) Cùng với đó là các người bệnh có thời gian sử dụng thuốc lâu hơn, được phát hiện có mức độ TTĐT thuốc cao hơn (42) Bên cạnh đó thì nghiên cứu của Paschal và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng có mối quan

hệ giữa tuân thủ và mức độ nghiêm trọng, biến chứng, chấn thương và tần suất cơn

co giật (p<0,05) (43)

Trong nghiên cứu của Das Ancy và cộng sự, những người bệnh báo cáo mất kiểm soát động kinh, đã tự ý thay đổi liều thuốc (70%), đã được chuyển sang một loại thuốc mới (61%), hoặc đã thêm một loại thuốc khác vào chế độ điều trị (56%) (26) TTĐT thấp có liên quan mạnh mẽ với các cơn động kinh không kiểm soát được

ở những người bệnh động kinh, và với triệu chứng tái phát trong các bệnh mãn tính khác (26)

1.7.2 Yếu tố thuộc về cung cấp dịch vụ

Trong nghiên cứu của Das Ancy và cộng sự, những người bệnh báo cáo mất mất kiểm soát động kinh, đã tự ý thay đổi liều thuốc (70%), đã được chuyển sang một loại thuốc mới (61%), hoặc đã thêm một loại thuốc khác vào chế độ điều trị (56%) (26) Nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh viện Dessie, Vùng Amhara, Đông Bắc Ethiopia Trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng sự phức tạp của điều trị tức là bệnh nhân dùng nhiều loại thuốc và tần suất dùng thuốc tăng lên có sự tuân thủ điều trị thấp so với bệnh nhân dùng đơn trị liệu (40) Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Thị Huyền

và cộng sự (2020) cho biết lý do không tuân thủ tái khám đúng hẹn chủ yếu do khoảng cách từ nhà tới bệnh viện xa (26,1%) (11) Khoảng cách điều trị động kinh có thể là

do tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh động kinh kém hoặc không tuân thủ thuốc chống động kinh (7)

Một số nghiên cứu cho thấy, thái độ của NVYT tích cực giúp mức độ TTĐT thuốc cao hơn Khi người bệnh cảm thấy hài lòng với thái độ của NVYT sẽ tạo tâm

lý yên tâm, tin tưởng hơn và họ sẽ tuân thủ thuốc theo hướng dẫn của NVYT (42, 44)

HUPH

Trang 29

Về cơ sở hạ tầng yếu kém, thiết bị không đầy đủ, và dự trữ thuốc, vật tư đã được các chuyên gia y tế báo cáo là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khám, chữa bệnh Sự hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị sẽ làm giảm năng suất lao động, giảm hiệu quả trong công việc (45)

Các quy trình trong cơ sở y tế như khám bệnh, cấp phát thuốc, kiểm tra tình trạng và báo cáo mức độ sử dụng thuốc thường xuyên được cải tiến điều này giúp cho người bệnh dễ dàng trong việc TTĐT thuốc vì hạn chế được tình trạng hết thuốc điều trị có thể xảy ra (46)

1.7.3 Yếu tố thuộc về gia đình và xã hội

Nghiên cứu của Sowmya Chinnaiyan và cộng sự (2017) tại TTYT thuộc Ấn

Độ Kết quả cho thấy có hơn 89% bày tỏ rằng gia đình và bạn bè của họ đã nhắc nhở

họ uống thuốc Tác giả cũng chỉ ra rằng nhóm được gia đình và bạn bè hỗ trợ thì có

xu hướng TTĐT thuốc chữa động kinh cao hơn (p=0,004) (40)

Nghiên cứu của Ancy M Das và cộng sự (2018) tại Ấn Độ cho biết lỗi sống tích cực của người bệnh dưới sự hỗ trợ của xã hội (không kỳ thị) Những người tuân thủ điều trị kém có nhiều cơn co giật hơn mỗi năm thì có lối sống không tích cực (p=0,0001) (26) Những người có lối sống tích cực tuân thủ cao chế độ điều trị chống động kinh Hỗ trợ xã hội, đặc biệt là từ phía NVYT giúp người bệnh TTĐT thuốc cao hơn (p=<0,0001) Nghiên cứu của Sowmya Chinnaiyan và cộng sự (2017) tại TTYT thuộc Ấn Độ Kết quả cho thấy có hơn 97% hài lòng với sự hỗ trợ xã hội và nhóm được nhận hỗ trợ từ xã hội thì có xu hướng TTĐT thuốc cao hơn (p=0,004) (40)

1.8 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Trung tâm Y tế huyện Quảng Trạch gồm có 1 phòng chức năng và 4 khoa phòng chuyên môn Về nhân lực Trung tâm Y tế huyện Quảng Trạch có 40 cán bộ trong đó có 9 bác sỹ, 6 y sỹ, 5 điều dưỡng, 3 dược sỹ, 2 kỷ thuật viên, 2 y tế công cộng, 2 nữ hộ sinh, 4 dân số, 7 khác Công tác quản lý người bệnh động kinh do cán

bộ chuyên trách có trình độ bác sỷ quản lý hướng dẫn cho các TYT Trung tâm y tế huyện quản lý 17 TYT (13)

HUPH

Trang 30

Hiện các TYT xã quản lý 222 người bệnh điều trị bệnh động kinh tại TYT

Về nhân lực các TYT hiện có tổng số 133 cán bộ, trong đó có 25 bác sỹ, 25 y sĩ, 24 dược sĩ, 21 nữ hộ sinh, 21 điều dưỡng 17 bằng cấp khác (13)

Quy trình quản lý và điều trị được thực hiện như sau:

Người bệnh bị động kinh sau khi được khám và điều trị ổn định tại Bệnh viện chuyên khoa hoặc Trung tâm CDC tỉnh Quảng Bình được chuyển về Trung tâm Y tế huyện khám, cấp sổ điều trị ngoại trú và cán bộ chuyên trách tại trung tâm làm bệnh

án ngoại trú điều trị tại trung tâm ít nhất 2 tháng sau đó chuyển về các TYT xã để tiếp tục được theo dõi, điều trị và quản lý Theo đó, mỗi người bệnh sẽ được khám,

tư vấn và phát thuốc chống động kinh miễn phí định kỳ hằng tháng tại các TYT tuyến

xã Đối với những người bệnh có biến chứng, có tình trạng người bệnh không đáp ứng thuốc, dị ứng thuốc hoặc các trường hợp vượt quá khả năng trình độ chuyên môn, quản lý tại tuyến xã sẽ được chuyển lên bệnh viện sức khỏe tâm thần

Hằng tháng người bệnh đến nhận thuốc vào đầu tháng từ ngày 01-05 của tháng, đối với những người bệnh đang điều trị ổn định thì người bệnh tự đến khám, nhận thuốc tại TYT, bên cạnh đó một số người bệnh do nhiều lý do khác nhau nên người nhà người bệnh đến nhận thay Người bệnh khi đi nhận thuốc phải mang theo vỏ thuốc của tháng trước để bác sỷ TYT kiểm tra, theo dõi quá trình sử dụng thuốc Giai đoạn dịch Covid-19 mốt số địa phương bị phong toả theo chỉ thị 15,16 thì cán bộ TYT sẽ kết hợp với các đợt lấy mẫu F1, F2, lấy mẫu cộng đồng, giám sát dịch tể để cấp phát thuốc cho người bệnh trên địa bàn mình quản lý Bên cạnh đó chuyên trách chương trình hàng tháng xây dựng kế hoạch thăm khám tại nhà cho người bệnh và kết hợp cấp phát thuốc cho người bệnh (13)

1.9 Tính cấp thiết của nghiên cứu

Với mục tiêu chung là nâng cao sức khỏe tâm thần, dự phòng các rối loạn tâm thần, đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội hiệu quả và công bằng, thúc đẩy sự hồi phục, bảo vệ quyền con người, giảm bệnh tật, tử vong, và tàn tật cho người có các rối loạn tâm thần (13), thì nghiên cứu này là rất cần thiết Nhất là hiện nay các nghiên cứu về TTĐT thuốc chữa động kinh tại Việt Nam còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu là cơ sở dữ liệu cho NVYT nắm bắt được thực trạng TTĐT bằng thuốc

HUPH

Trang 31

của người bệnh động kinh Nắm được những nguyên nhân, ảnh hưởng đến việc TTĐT thuốc của người bệnh từ đó đưa ra các kế hoạch can thiệp và nâng cao tỷ lệ TTĐT thuốc của người bệnh

HUPH

Trang 32

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ

- Chế độ điều trị thuốc

khám, Thuốc trong chương

trình/ thuốc kê đơn

- Cơ sở vật chất, trang thiết

bị

- Quy trình khám, phát

thuốc

Môi trường xã hội

- Sự quan tâm xã hội

Trang 33

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

➢ Định lượng:

Đối tượng nghiên cứu là những người bệnh được chẩn đoán động kinh, hiện đang được quản lý điều trị ngoại trú tại 17 TYT huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022

Số liệu thứ cấp: hồ sơ bệnh án quản lý của người bệnh tại các TYT

Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu

- Người bệnh động kinh ≥ 18 tuổi có trong danh sách quản lý và điều trị bệnh động kinh

- Người bệnh động kinh có khả năng trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

- Người bệnh động kinh bị các bệnh lý tâm thần, thần kinh ảnh hưởng đến chức năng nhận thức, giao tiếp

- Người bệnh động kinh không có khả năng giao tiếp trực tiếp bằng tiếng Kinh/tiếng Việt, không biết đọc và hiểu tiếng Kinh/tiếng Việt

- Người bệnh động kinh từ chối tham gia nghiên cứu

➢ Định tính:

Tiêu chuẩn lựa chọn là những người có hiểu biết, tham gia vào công tác quản lý người bệnh và những người bệnh động kinh đang được quản lý tại TYT

- Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện

- Cán bộ phụ trách chương trình sức khỏe tâm thần tại Trung tâm Y tế huyện và

17 TYT xã

- Người bệnh động kinh

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 11 năm 2022

Địa điểm: Tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, phương pháp định lượng kết hợp với định tính

HUPH

Trang 34

Phương pháp định lượng thực hiện trước để tìm hiểu thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc chống động kinh của người bệnh tại địa điểm nghiên cứu (mục tiêu 1)

Phương pháp định tính được thực hiện sau phương pháp định lượng để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT thuốc chống động kinh (mục tiêu 2)

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu định lượng:

Theo công thức tính mẫu một tỷ lệ như sau:

𝑛 =

(𝑍1−𝛼 2

)2 𝑝 𝑞

𝑑2

n: là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu (số người bệnh động kinh được phỏng vấn) α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số𝑍1−𝛼

2 = 1,96

p = 0,83 trong nghiên cứu của Phạm Thị Kim Liên và Dương Huy Hoàng (2018) tại Thành phố Thái Bình thì tỉ lệ TTĐT là 82,5% (37)

q = 1- p = 1-0,82 = 0,18

d: Sai số tuyệt đối, chọn d = 0,07

Kết quả tính cỡ mẫu n = 116 Lấy thêm 10% dự phòng đối tượng không tham tổng số cỡ mẫu thu thập được là 128 đối tượng nghiên cứu

Định lượng: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, trên địa bàn 17 TYT xã tại Quảng Trạch, Tỉnh Quảng Bình

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu tỉ lệ, do số mẫu cần thiết cho nghiên cứu

là 128 đối tượng trên tổng số người bệnh động kinh đang được quản lý tại TYT xã là

có 222 người bệnh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu Chúng tôi đã tiếp cận tổng cộng 128 người bệnh trên tổng số 222 người bệnh đủ tiêu chuẩn Chọn ngẫu nhiên số lượng người bệnh tham gia nghiên cứu dựa theo số liệu thực tế người bệnh tại TYT như sau:

HUPH

Trang 35

Bảng 2 1: Phân bố số lượng mẫu theo từng trạm y tế

Số lượng NB đang quản lý tại các TYT

Số đối tượng cần lấy

- 01 Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện

- 01 Phụ trách chương trình sức khỏe tâm thần – Trung tâm Y tế huyện

- 01 cuộc TLN với 9 cán bộ phụ trách chương trình tâm thần tại 9 TYT xã (chọn ra 9 TYT vùng thu nhập 03 khá, 03 trung bình, 03 nghèo) Chọn ra 9 xã đại diện cho 3 vùng như sau: vùng khá gồm: TYT Quảng Phú, TYT Cảnh Dương, TYT

HUPH

Trang 36

Quảng Tùng; vùng trung bình gồm:TYT Quảng Tiến, TYT Quảng Lưu, TYT Quảng Phương; vùng nghèo gồm: TYT Quảng Thanh, TYT Quảng Xuân, TYT Liên Trường)

- 01 cuộc TLN gồm 06 người bệnh: 03 người bệnh TTĐT, 03 không TTĐT

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Nghiên cứu định lượng

Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi định lượng được thiết kế dựa vào nghiên cứu của Ancy M Das, Caroline K Mbuba bao gồm các phần như sau (Xem chi tiết ở Phụ lục 1) (9, 26) Trong nghiên cứu sử dụng thang đo TTĐT thuốc của Morisky và cộng sự (2008) và tham khảo một số nghiên cứu về TTĐT thuốc tại Việt Nam gần đây (25, 31, 32) Thang đo TTĐT của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục là đáng tin cậy (alpha = 0,83) và có liên quan đáng kể (p <0,05) (25) Thang đo đã được chứng minh là đáng tin cậy, có giá trị đồng thời và tiên đoán tốt ở những bệnh nhân tăng huyết áp và có thể hoạt động như một công cụ sàng lọc trong các bệnh nhân ngoại trú với các nhóm bệnh nhân khác (25)

Bộ công cụ được tiến hành điều tra thử nghiệm trên 10 người bệnh động kinh trước khi chính thức tiến hành thu thập số liệu (không lựa chọn 10 người bệnh này vào 128 người bệnh tham gia vào nghiên cứu)

Phần 1: Thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, trình độ học vấn,…

Phần 2: Thông tin TTĐT bao gồm: Tuân thủ chế độ điều trị thuốc

Phần 3: Thông tin về các yếu tố liên quan đến TTĐT động kinh

- Thông tin liên quan đặc điểm bệnh và điều trị động kinh

- Tiếp cận dịch vụ y tế điều trị ngoại trú động kinh tại TYT

- Tính sẵn có của thuốc tại TYT (số lượng, thời gian) Sự tư vấn của NVYT tại TYT

- Môi trường gia đình, xã hội (Nhân lực vật lực tài lực của gia đình, truyền thông) Phương pháp thu thập số liệu:

HUPH

Trang 37

Nghiên cứu viên đã tiến hành tập huấn cho 02 điều tra viên (ĐTV) là những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học Tập huấn trong một buổi gồm cả

lý thuyết và thực hành (sẽ tiến hành điều tra thử trên 1-2 người bệnh)

Khi người bệnh đến lĩnh thuốc tại TYT chúng tôi tiếp cận ngẫu nhiên và mời người bệnh tham gia vào nghiên cứu Sau khi người bệnh đồng ý thì sẽ tiến hành phỏng vấn bằng bộ công cụ đã được thiết kế sẵn (phụ lục 1) tại phòng hành chính của TYT xã, thời gian từ 5-10 phút Nghiên cứu viên tiến hành kiểm tra các phiếu trước khi thu về, đối với phiếu nào còn thiếu thông tin, yêu cầu liên hệ lại với người bệnh

và bổ sung thông tin đầy đủ

2.5.2 Nghiên cứu định tính

Hướng dẫn PVS lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện (phụ lục 2), PVS cán bộ phụ trách chương trình sức khỏe tâm thần, TTYT huyện (phụ lục 3), TLN cán bộ phụ trách chương trình tâm thần tại 09 TYT (phụ lục 4), TLN người bệnh (phụ lục 5) Với các câu hỏi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc TTĐT thuốc chống động kinh của người bệnh; vai trò của NVYT tại TYT trong việc thúc đẩy người bệnh TTĐT thuốc chống động kinh

Thời gian PVS, TLN từ 25-30 phút, tại phòng riêng

Nghiên cứu viên tiến hành PVS, TLN có ghi âm và ghi chép biên bản, ĐTV

hỗ trợ các công việc mời đối tượng tham gia và ghi chép cuộc họp, chuẩn bị phòng cho cuộc TLN

Các cuộc PVS, TLN sẽ được gỡ băng nguyên văn và nhóm các thông tin thu thập được theo các chủ đề theo mục tiêu nghiên cứu Sau đó đưa trích dẫn định tính vào theo từng chủ đề, từng nhóm yếu tố để làm rõ mục tiêu 1 và phân tích mục tiêu

2

2.6 Biến số dùng trong nghiên cứu

2.6.1 Biến số định lượng

2.6.1.1 Biến số độc lập (chi tiết phụ lục 6)

- Thông tin chung về người bệnh

- Thông tin về bệnh và điều trị

- Cung cấp dịch vụ y tế điều trị ngoại trú

HUPH

Trang 38

- Môi trường gia đình

- Môi trường xã hội

2.6.1.2 Biến số phụ thuộc

TTĐT thuốc: gồm 08 mục

Tất cả các tiêu chuẩn trên đều được đánh giá trong khoảng thời gian 7 ngày

trước thời điểm phỏng vấn

- Lý do người bệnh TTĐT/ không TTĐT thuốc động kinh

(2) Yếu tố thuộc về cung cấp dịch vụ y tế

- Dịch vụ: Thời gian chờ đợi, tư vấn nhắc nhở điều trị, nguồn thuốc, số lượng thuốc, lịch hẹn khám tại TYT xã ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh

- Tư vấn, quản lý, củng cố niềm tin cho người bệnh ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh

- Quy trình khám, cấp phát thuốc, theo dõi người bệnh ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh

(3) Yếu tố thuộc về gia đình và xã hội

- Sự trợ giúp, quan tâm nhắc nhở của gia đình ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh

- Sự kì thị của xã hội ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

2.7.1 Định lượng

HUPH

Trang 39

- Chuẩn bị: Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được ngay trong ngày,

loại trừ các phiếu điền không đầy đủ

- Bước 1 nhập liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1

Số liệu được nhập 2 lần bằng 2 người nhập khác nhau nhằm tránh sai số trong quá trình nhập liệu

- Bước 2 Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch

kiểm tra 10% số phiếu nhập và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu

- Bước 3 Xử lý và phân tích số liệu:số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS

22.0 Kết quả được chia thành 2 phần:

- Phần thống kê mô tả: tính tần số, tỷ lệ phần trăm của các biến số

- Phần thống kê phân tích: xác định mối liên quan giữa việc tuân thủ điều trị thuốc với các yếu tố (đặc trưng nhân khẩu học, đặc điểm về bệnh và dịch vụ y tế khám bệnh, điều trị ngoại trú) bằng kiểm định chi bình phương (χ²) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

2.7.2 Định tính

Các cuộc phỏng vấn được ghi âm, viết biên bản phỏng vấn, kết quả PVS, TLN được ghỡ băng nguyên văn Sau đó được chọn lọc, sắp xếp theo chủ đề nghiên cứu định tính theo khung lý thuyết, bổ sung kết quả định lượng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá dùng cho nghiên cứu

Tiêu chuẩn đánh giá TTĐT thuốc chống động kinh

Trong nghiên cứu này của chúng tôi phương pháp trực tiếp chúng tôi không thực hiện được do hạn chế về kinh phí, nhân lực của nghiên cứu Do đó chúng tôi sử dụng thang đo của tác giả Morisky để đo lường TTĐT thuốc chống động kinh (25)

Sử dụng thang đo của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục để đo lường TTĐT với thuốc chống động kinh với những người bệnh được coi là tuân thủ thuốc chống động kinh khi trả lời được ≥ 6 câu (tương đương ≥ 6 điểm), không tuân thủ thuốc chống động kinh khi trả lời < 6 câu (tương đương < 6 điểm) Với mỗi câu trả lời không được 1 điểm (25, 32, 31)

2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu

HUPH

Trang 40

Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 19/2022/YTCC-HD3 ngày 20/01/2022 Những qui định về đạo đức nghiên cứu đã được tuân thủ trong quá trình nghiên cứu

Nghiên cứu được sự cho phép của lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện và kết quả nghiên cứu đã được báo cáo với lãnh đạo TTYT huyện

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín và mã hoá Các

số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. J. G. Hugtenburg, L. Timmers, P. J. Elders, M. Vervloet, L. van Dijk. Definitions, variants, and causes of nonadherence with medication: a challenge for tailored interventions. Patient preference and adherence. 2013;7:675-82 Khác
3. H. Hồkonsen, E. Toverud. A review of patient perspectives on generics substitution: what are the challenges for optimal drug use. Generics and Biosimilars Initiative Journal. 2012;1(1):28-32 Khác
4. T. Y. Hasiso, T. A. Desse. Adherence to Treatment and Factors Affecting Adherence of Epileptic Patients at Yirgalem General Hospital, Southern Ethiopia: A Prospective Cross-Sectional Study. PloS one. 2016;11(9):e0163040 Khác
5. H. Getachew, N. Dekema, S. Awol, Mohammed M. Abdi A. Medication adherence in epilepsy and potential risk factors associated with non adherence in tertiary care teaching hospital in southwest Ethiopia. Gaziantep Medical Journal.2014;20(1):59-65 Khác
6. R. Gurumurthy, K. Chanda, G. Sarma. An evaluation of factors affecting adherence to antiepileptic drugs in patients with epilepsy: a cross-sectional study.Singapore medical journal. 2017;58(2):98-102 Khác
7. N. Ahmad, N. Othaman, Farida Islahudin. Medication adherence and quality of life in epilepsy patients. International Journal of Pharmacy and Pharmaceutical Sciences. 2013;5:401-4 Khác
8. Enas S. Abd Wahab, Muaed Al Omar, Moawia M. A. M. Altabakha. Adherence to Antiepileptic Drugs among Patients Attending the Neuro Spinal Hospital in the United Arab Emirates. J Pharm Bioallied Sci. 2020;12(4):499-507 Khác
9. Caroline K. Mbuba, Anthony K. Ngugi, Greg Fegan, Fredrick Ibinda, Simon N. Muchohi, Christopher Nyundo, et al. Risk factors associated with the epilepsyHUPH Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w