BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG TRẦN NGỌC VIỆT THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ NG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN NGỌC VIỆT
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI CÁC TRẠM Y TẾ XÃ HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
Hà Nội, năm 2023
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN NGỌC VIỆT
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI CÁC TRẠM Y TẾ XÃ HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, làm việc nghiêm túc và nhận được sự hỗ trợ, giúp
đỡ của các cá nhân và tập thể để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học y tế công cộng đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo là những nhà khoa học trong hội đồng bảo vệ ý tưởng, đề cương, phản biện và bảo vệ luận văn đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi xây dựng được một luận án tốt nghiệp hoàn chỉnh
Tôi xin cảm ơn tập thể Ban giám đốc và đồng nghiệp tại đơn vị Trung tâm y tế huyện Quảng Trạch và 17 Trạm y tế xã đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc triển khai thu thập số liệu và phân tích mẫu nghiên cứu của luận văn
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Hoàng Cao Sạ Thầy đã luôn đôn đốc, động viên, hỗ trợ và hướng dẫn trực tiếp rất tận tình trong suốt quá trình triển khai luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm động viên của những người thân trong gia đình Những người đã cho tôi động lực và luôn bên tôi trong mọi lúc khó khăn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 3 năm 2023
Học viên
Trần Ngọc Việt
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm, định nghĩa trong nghiên cứu 4
1.2 Chẩn đoán động kinh 4
1.3 Dịch tễ học bệnh động kinh trên Thế giới và Việt Nam 6
1.4 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng động kinh 8
1.5 Tuân thủ điều trị thuốc bệnh động kinh 10
1.6 Một số nghiên cứu về TTĐT thuốc chống động kinh 14
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh 17
1.8 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 20
1.9 Khung lý thuyết 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6 Biến số dùng trong nghiên cứu 28
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 29
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá dùng cho nghiên cứu 30
2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Thực trạng TTĐT động kinh 35
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh 37
Chương 4 BÀN LUẬN 51
HUPH
Trang 54.1 Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại
trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022 51
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022 54
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 66
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 1 77
PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TYT XÃ, HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH 77
PHỤ LỤC 2 81
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN 81
PHỤ LỤC 3: 82
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ PHỤ TRÁCH CHƯƠNG TRÌNH SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN 82
PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM CÁN BỘ PHỤ TRÁCH CHƯƠNG TRÌNH SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI TRẠM Y TẾ XÃ 83
PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 84
NGƯỜI BỆNH ĐỘNG KINH 84 PHỤ LỤC 6: BIẾN SỐ ĐỘC LẬP 85 HUPH
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1 1 Các phương pháp đo lường TTĐT của người bệnh (25), (26) 11
Bảng 1 2 Thang đo đánh giá TTĐT thuốc 13
Bảng 3 1:Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh động kinh (n=128) 32
Bảng 3 2: Đặc điểm về bệnh động kinh của đối tượng nghiên cứu (n=128) 33
Bảng 3 3: Thông tin về dịch vụ y tế điều trị động kinh ngoại trú (n=128) 34
Bảng 3 4: Thông tin về sự hỗ trợ của gia đình - xã hội 34
Bảng 3 5: Tuân thủ điều trị thuốc động kinh(n=128) 35
Biểu đồ 3 1: Tỉ lệ tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh 36
HUPH
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bằng thuốc
của người bệnh Động kinh điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022” tiến hành vào tháng 10 năm 2021 đến tháng 10 năm
2022, tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Với hai mục tiêu: 1) Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị (TTĐT) bằng thuốc và 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT bằng thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2021- 2022
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính, thời gian thu thập số liệu từ tháng 02-05/2022 Nghiên cứu định lượng: 128 người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh động kinh đang được quản lý tại các TYT xã được phỏng vấn trực tiếp với các câu hỏi về thực trạng TTĐT bằng thuốc của người bệnh được đo lường bằng thang đo Morisky Nghiên cứu định tính: Tiến hành 02 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm với Lãnh đạo TTYT huyện, cán bộ phụ trách xã, người phụ trách chương trình và người bệnh Thời gian thực hiện phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm từ 20-30 phút, tại phòng làm việc riêng
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ TTĐT bằng thuốc của người bệnh trong nghiên cứu đạt 90,6% Lý do thường gặp không TTĐT thuốc là do người bệnh quên uống thuốc chiếm 44,5% Về một số yếu tố ảnh hưởng, như yếu tố cá nhân người bệnh: do trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế gia đình người bệnh khó khăn được báo cáo làm giảm mức độ TTĐT thuốc động kinh Yếu tố đặc điểm về bệnh: Người bệnh tự ngừng điều trị thuốc khi gặp phải những tác dụng không mong muốn của thuốc động kinh ảnh hưởng đến sức khỏe Yếu tố dịch vụ điều trị ngoại trú: Thuốc điều trị trong giai đoạn thu thập số liệu không sẵn sàng; Công tác đào tạo, tập huấn cho NVYT còn rất hạn chế; Bác sĩ quản lý chương trình chưa được đào tạo về định hướng chuyên ngành tâm thần ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ TTĐT thuốc của người bệnh Tuy nhiên, thái độ và sự tư vấn của NVYT, thời gian chờ đợi khám, cấp thuốc tại TYT xã nhanh chóng được đánh giá cao và có ảnh hưởng thúc đẩy việc TTĐT thuốc của người bệnh Chương trình cấp phát thuốc miễn phí, có lịch lĩnh thuốc từ 01 -05 hàng tháng, tại TYT gần nơi ĐTNC sinh sống vì vậy có ảnh hưởng tích cực đến
HUPH
Trang 9TTĐT thuốc của người bệnh Yếu tố môi trường gia đình, xã hội: Sự quan tâm của gia đình và xã hội đối với người bệnh TTĐT được báo cáo làm tăng mức độ TTĐT thuốc
Kết luận: Tỉ lệ TTĐT thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú cao
Khuyến nghị: NVYT cần tăng cường công tác tư vấn, hướng dẫn, nhắc nhở người bệnh TTĐT thuốc đặc biệt là các tác dụng phụ thường gặp của thuốc TTYT cần đảm bảo công tác đấu thầu, đặc biệt là đảm bảo nguồn cung ứng thuốc đẩy đủ để cấp phát cho người bệnh
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một rối loạn mãn tính của não và là một trong những rối loạn thần kinh nghiêm trọng phổ biến nhất trên toàn thế giới không có ranh giới về tuổi tác, chủng tộc, tầng lớp xã hội, quốc tịch hoặc vị trí địa lý (1) Trong số những người bệnh bị động kinh, 85% được tìm thấy ở các nước đang phát triển và trong đó ước tính 40 triệu người không được điều trị thích hợp (1) Không tuân thủ điều trị (TTĐT) bằng thuốc là một hành vi tự nguyện hoặc không tự nguyện của việc uống thuốc bao gồm thất bại trong việc uống thuốc theo đơn, ngừng sử dụng thuốc trước khi quá trình điều trị kết thúc, không tuân thủ các khuyến nghị đã được thống nhất từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, uống nhiều hay ít thuốc hơn quy định (2)
Những người mắc bệnh động kinh được cho là không lên cơn co giật nếu TTĐT thuốc chống động kinh đúng phác đồ điều trị (khoảng 70%) Tỷ lệ tử vong ở người bệnh không điều trị cao hơn gấp ba lần so với người bệnh không TTĐT thuốc chống động kinh (3) Hậu quả của hành vi không TTĐT thuốc chống động kinh là gặp khó khăn trong việc kiểm soát các cơn co giật, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, đồng thời tăng thời gian nằm viện, tác động trực tiếp làm giảm chất lượng cuộc sống
và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe (4) Ngoài ra, việc không TTĐT bằng thuốc chống động kinh còn dẫn đến tăng gánh nặng cho các dịch vụ của khoa nội trú và cấp cứu; hơn nữa, nó cũng ảnh hưởng đến các thành viên trong gia đình về mặt xã hội, kinh tế và tâm lý (5)
Một số nghiên cứu trên thế giới cho biết tỉ lệ TTĐT thuốc chống động kinh đạt tỉ lệ khá cao như 72,3%, 79,8%, 70,8% (6), (7), (8) Ở các nước châu Phi cận Sahara, tỷ lệ không TTĐT thuốc động kinh là rất đáng kể, khoảng 67% ở Nigeria, 54% ở Kenya và 37% ở Ethiopia (9), (5) Tại Việt Nam nghiên cứu về TTĐT bằng thuốc động kinh của người bệnh còn hạn chế, một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ TTĐT bằng thuốc của người bệnh 43,5%- 72,5% (10),(11)
Một số yếu tố liên quan đến người bệnh được dự đoán là ảnh hưởng đến TTĐT thuốc chống động kinh của người bệnh là tuổi, giới, trình độ học vấn, kinh tế, thời
HUPH
Trang 11gian mắc, điều trị bệnh, …(6), (8) Ngoài ra thì các yếu tố về môi trường gia đình như thiếu sự nhắc nhở của gia đình, sự kỳ thị của xã hội như từ chối những người bị động kinh vào các nhà hàng, nhà hát, trung tâm giải trí và các tòa nhà công cộng (12), (1)
Tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình có 17 trạm y tế (TYT) xã với 100%
xã, phường trên địa bàn đã triển khai mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần (SKTT) dựa vào cộng đồng, nhằm phát hiện, quản lý và chăm sóc người bệnh chưa được đưa vào quản lý, lồng ghép hiệu quả công tác chăm sóc SKTT vào các chương trình mục tiêu quốc gia khác Hiện nay toàn huyện có 222/228 người bệnh từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc động kinh và được theo dõi sức khỏe, tái khám và cấp thuốc từng tháng tại các TYT xã (13) Qua khảo sát nhanh trên 10 người bệnh thì có đến 5 người bệnh đã từng quyên uống thuốc đạt 50%, đây là một tỷ lệ khá cao do đó việc thực hiện nghiên cứu này là rất cần thiết (13) Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh chưa có nghiên cứu nào đánh giá về TTĐT thuốc động kinh của người bệnh Để trả lời cho những câu hỏi như thực trạng TTĐT thuốc của người bệnh động kinh tại đây như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự TTĐT thuốc của người bệnh động kinh?
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến
tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh điều trị ngoại trú tại các trạm
y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022” Kết quả nghiên cứu là cơ sở
để nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế tại TYT cho người bệnh động kinh Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng sẽ giúp NVYT tại các TYT xã quản lý người bệnh tốt hơn, giảm được rủi ro tiềm ẩn cho người bệnh, cũng như gánh nặng bệnh tật
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm
2021 - 2022
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị bằng thuốc của người bệnh động kinh đang điều trị ngoại trú tại các trạm y tế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2021- 2022
HUPH
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, định nghĩa trong nghiên cứu
1.1.1 Định nghĩa động kinh
Ðộng kinh là những cơn ngắn, định hình, đột khởi, có khuynh hướng chu kỳ
và tái phát do sự phóng điện đột ngột quá mức từ vỏ não hoặc qua vỏ não của những nhóm nơron, gây rối loạn chức năng của thần kinh trung ương (cơn vận động, cảm giác, giác quan, thực vật, ), điện não đồ ghi được các đợt sóng kich phát Mất ý thức cũng là biểu hiện thường gặp trong hoặc sau cơn (14)
Ðịnh nghĩa trên đồng thời cũng là tiêu chuẩn chẩn đoán (14)
1.1.2 Điều trị ngoại trú
Điều trị ngoại trú, được quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, trong đó các trường hợp phải điều trị ngoại trú bao gồm (15):
+ Người bệnh không thuộc các trường hợp phải điều trị nội trú;
+ Người bệnh sau khi đã được điều trị nội trú ổn định nhưng do phải theo dõi
và hoặc phải điều trị tiếp nhưng sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Sau khi quyết định người bệnh phải điều trị ngoại trú, người hành nghề có trách nhiệm sau đây (15):
+ Lập hồ sơ bệnh án ngoại trú theo quy định tại Điều 59 của Luật này;
+ Ghi sổ y bạ theo dõi điều trị ngoại trú trong đó ghi rõ thông tin cá nhân của người bệnh, chẩn đoán, chỉ định điều trị, kê đơn thuốc và thời gian khám lại
1.1.3 Tuân thủ điều trị thuốc
Là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của cán bộ y tế, không được tự ý thay đổi thuốc và liều lượng thuốc (1) Trong nghiên cứu này TTĐT thuốc là người bệnh động kinh sử dụng đúng hướng dẫn của cán bộ y tế về thuốc chữa động kinh
1.2 Chẩn đoán động kinh
Chẩn đoán xác định: Dựa vào lâm sàng và điện não (14)
Chẩn đoán phân biệt (14):
HUPH
Trang 14Cơn hysterie: Thường xảy ra trước đông người, cơn kéo dài, hai mí mắt nhắm
nhưng nhấp nháy, không hôn mê, sắc mặt không thay đổi, không cắn phải lưỡi, không tiểu dầm, cơn giật hổn độn không thành nhịp Khám thần kinh bình thường Một kích thích đột ngột mạnh làm hết cơn Sau cơn nhớ những gì đã xảy ra Ðiện não bình thường Có thể có hysterie - động kinh
Hạ glucose máu: Ðói bụng, cồn cào, toát mồ hội, co giật, hôn mê Glucose
máu hạ, tỉnh nhanh khi tiêm glucose ưu trương tĩnh mạch
Thiếu năng tuần hoàn não: Tai biến mạch máu não tạm thời, đột ngột, nói khó,
rối loạn cảm giác, yếu nửa người, cơn kéo dài hơn động kinh, người bệnh thường tỉnh táo
Cơn ngất: Trước cơn thường có chóng mặt, hạ huyết áp
Sốt cao co giật ở trẻ em: Là cơn co giật không phải bệnh động kinh, nhưng
lặp lại là cơ thể bị động kinh về sau (14)
Phân loại động kinh
Theo Liên Hội chống động kinh Quốc tế động kinh gồm có 3 loại: Khởi phát cục bộ, khởi phát toàn thể, không rõ khởi phát (16)
HUPH
Trang 15Hình 1 1: Bảng phân loại về các kiểu động kinh phiên bản mở rộng của
Liên Hội Chống Động kinh Quốc Tế năm 2017 (16)
Quản lý tại TYT xã
Tất cả người bệnh sau khi được khám và có hồ sơ bệnh án của đơn vị y tế truyến trên được chuyển về TYT xã quản lý, tiếp nhận những người bệnh động kinh
ổn định tại các bệnh viện chuyên khoa và có chỉ định điều trị ngoại trú tại các TYT quản lý sẽ phải có đầy đủ các giấy tờ liên quan: Giấy giới thiệu khám bệnh chuyển tuyến; Giấy cam đoan nhận thuốc chuyên khoa tâm thần; một số giấy tờ khác liên quan tới người bệnh (bản sao CMND, Bản sao Sổ hộ khẩu, Bản sao Giấy khai sinh, Thẻ bảo hiểm y tế…) (13)
1.3 Dịch tễ học bệnh động kinh trên Thế giới và Việt Nam
Năm 2019, theo báo của của WHO bệnh động kinh chiếm một tỷ lệ đáng kể trong gánh nặng bệnh tật của thế giới, ảnh hưởng đến khoảng 50 triệu người trên toàn thế giới (1) Trên toàn cầu, ước tính năm triệu người được chẩn đoán mắc bệnh động kinh mỗi năm Ở các nước thu nhập cao, ước tính có khoảng 49 trên 100.000 người được chẩn đoán mắc bệnh động kinh mỗi năm Ở các nước thu nhập thấp và trung bình, con số này có thể lên tới 139 trên 100 000 Gần 80% những người bị động kinh sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình (1)
HUPH
Trang 161.3.2 Dịch tễ học tại Việt Nam
Động kinh là một trong những bệnh thường gặp của chuyên khoa nội thần kinh Ở Việt Nam, tỉ lệ mới mắc khoảng 42/100.000 dân/năm (17) Theo ước tính, tại Việt Nam có khoảng 500.000 người mắc bệnh động kinh Ngoài ra, phần lớn người bệnh bị bệnh động kinh chỉ cần dùng thuốc, điều trị nội khoa là khỏi bệnh, khoảng 10-20% người bệnh có những tổn thương não phải tiến hành phẫu thuật, can thiệp sớm khi phát hiện mắc bệnh (18) Trong một nghiên cứu mới đây, tỷ lệ hiện mắc động kinh trong cộng đồng là 7,5%, và 71,2% người được chẩn đoán động kinh không được điều trị Nhóm tuổi mắc động kinh nhiều nhất là từ 10-19 tuổi, động kinh không rõ nguyên nhân chiếm đa số Các nguyên nhân động kinh thường gặp nhất là đột quị não, chấn thương sọ não, u não Loại cơn động kinh thường gặp là động kinh toàn thể chiếm 68,2%, cơn động kinh cục bộ chiếm 27,4%, cơn động kinh không phân loại chiếm 4,4% (19)
Điều trị động kinh cho đến nay vẫn là một thách thức với nền y học thế giới
và tại Việt Nam vì chưa thể kiểm soát hoàn toàn cơn co giật trên người bệnh và vẫn
có rất nhiều người bệnh chưa kiểm soát được cơn hay rơi vào tình trạng gọi là: “Điều trị kháng trị”(10, 19) Ngoài ra có nhiều trường hợp người bệnh đã được chẩn đoán
và điều trị động kinh nhưng vẫn có cơn co giật phải tái nhập viện nhiều lần (19) Điều này khiến việc điều trị động kinh vẫn là một thách thức lớn đối với các bác sỹ (18)
Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chính Minh (2020) nhóm tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát ở 135.000 người dân Kết quả cho thấy, tỷ lệ hiện mắc động kinh trong cộng đồng dân cư nội thành TP.HCM là 549/100.000, khoảng tin cậy (KTC) 95%, 510 – 589/100.000; tỷ lệ mắc mới là 49,6/100.000, KTC 95%,
39 – 62/100.000 Tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở độ tuổi dưới 10 và 50 đến 59 Động kinh khởi phát toàn thể chiếm 69,2%, động kinh khởi phát cục bộ chiếm 18,9%, động kinh không rõ khởi phát và không phân loại chiếm 11,9% (10)
HUPH
Trang 171.4 Điều trị và tuân thủ điều trị tăng động kinh
1.4.1 Nguyên tắc chung
Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng động kinh (20):
- Phải chọn thuốc kháng động kinh và theo dõi đáp ứng điều trị, bắt đầu liều thấp rồi đến liều cao (liều cắt cơn) nhưng khi đến liều độc mà không cắt cơn hay cơn thưa thì phải thay thuốc trong trường hợp cấp cứu Đối với người lớn sau khi điều trị khỏi nguyên nhân thì điều trị thêm 2 năm sau cơn cuối cùng và theo dõi điện não; còn nguyên nhân không giải quyết được như (sẹo) thì điều trị suốt đời
- Lượng thuốc chia nhiều lần uống trong ngày
- Không ngừng thuốc đột ngột, khi đổi thuốc phải từ từ giảm dần thuốc cũ, tăng dần thuốc mới
- Thuốc dễ tìm và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình của người bệnh
1.4.2 Điều trị ngoại trú bệnh động kinh tại trạm Y tế xã
Trang 18- Kết hợp gia đình và y tế cơ sở, chăm sóc điều trị và theo dõi người bệnh tập luyện phục hồi chức năng tại nhà
- Phát hiện kịp thời tình trạng người bệnh có những diễn biến xấu tại cộng đồng
và xử lý theo chuyên khoa
- Có thể kết hợp với các cơ sơ hành nghề y tế tư nhân theo dõi điều trị tại nhà theo hướng dẫn của y, bác sỹ chuyên khoa
- Ghi vào sổ quản lý người bệnh tại TYT xã Khi ghi hết sổ điều trị ngoại trú cán bộ Y tế xã gặp cán bộ phụ trách huyện để đổi sổ vào cuối tháng khi đi quyết toán thuốc tại Trung tâm y tế huyện để trung tâm lưu và kiểm tra quá trình sử dụng thuốc của người bệnh
- Báo cáo định kỳ theo mẫu hàng tháng, quý, năm theo quy định
Cấp phát thuốc cho người bệnh (21, 22):
- Cán bộ phụ trách chương trình tuyến xã lĩnh thuốc tại TTYT huyện về TYT
xã phải có phiếu xuất, phiếu nhập và biên bản kiểm nhập Giao cho kho dược của trạm cấp phát theo đúng quy chế dược
- Cấp thuốc cho người bệnh điều trị ngoại trú một tháng 01 lần
- Khi cấp thuốc cho người bệnh cán bộ phụ trách phải theo đúng chỉ định của Bác sỹ chuyên khoa đã chỉ định trong hồ sơ bệnh án ngoại trú Không được tuỳ tiện thay đổi liều dùng Ghi đúng hàm lượng, số lượng thuốc cấp trong 30 ngày vào Bệnh
án, sổ điều trị ngoại trú của người bệnh (Ghi rõ liều dùng hàng ngày và thời gian uống thuốc) và phiếu cấp thuốc theo mẫu của Trung tâm CDC tỉnh Nếu cấp vượt quá số thuốc đã chỉ định trong bệnh án sẽ xuất toán và cán bộ phụ trách chương trình huyện,
xã phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
- Cán bộ cấp thuốc (Dược sỹ, thủ kho) khi có phiếu được cán bộ phụ trách viết cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh đến lĩnh thuốc Phải ghi vào danh sách cấp thuốc và yêu cầu người nhận ký và ghi rõ họ tên vào phiếu lĩnh thuốc và danh sách cấp thuốc
- Danh sách cấp thuốc trước khi đóng dấu phải được phô tô thành 02 bản 01 bản lưu tại TTYT huyện và 01 bản lưu tại TYT tuyến xã
HUPH
Trang 19- Phiếu cấp thuốc gửi trả lại cho Trung tâm y tế huyện kiểm tra quyết toán thuốc hàng tháng; làm căn cứ pháp lý và được lưu tại khoa dược trung tâm y tế huyện theo đúng quy chế dược Phiếu lĩnh thuốc phải có đủ các chữ ký: Chữ ký đóng dấu của Trạm trưởng y tế xã; người cấp và người nhận ký và phải ghi rõ họ tên
1.4.3 Chế độ tiết thực, sinh hoạt, lao động
Không dùng các loại kích thích như cafe, thuốc lá, rượu, gia vị, không được
ăn quá nhiều nhất là vào buổi tối Một số tác giả đề nghị ăn nhiều mỡ, ít hydrat carbon
và protein tạo ra tình trạng tăng ceton làm giảm động kinh Thức ngủ đúng giờ tùy theo nghề nghiệp của từng người để tránh mất định hình hoạt động thần kinh trong
24 giờ Tránh các công việc có thể nguy hiểm cho người bệnh hoặc người khác như làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, tránh làm việc lâu ngoài nắng vì dễ mất nước và điện giải, không làm việc nơi ánh sáng chói loè như hàn hoặc không nên xem ti vi và chơi trò chơi điện tử lâu vì đó là các kích thích có thể gây lên cơn (14)
1.5 Tuân thủ điều trị thuốc bệnh động kinh
1.5.1 Yêu cầu về tuân thủ điều trị
*TTĐT thuốc
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, người bệnh mắc các bệnh lý mạn tính được coi là có TTĐT thuốc khi phải thực hiện được ít nhất 90% phác đồ điều trị của bác sỹ trong vòng 1 tháng Vì vậy trong phạm vi của nghiên cứu này, bệnh nhi động kinh được coi là đạt tiêu chuẩn TTĐT thuốc khi(1):
- Uống đúng loại thuốc được bác sỹ chỉ định dùng
- Uống đúng liều lượng được bác sỹ chỉ định, không tự ý tăng hoặc giảm liều
* Tuân thủ tái khám:
Người bệnh đến tái khám đúng theo hẹn của BS khám trong sổ theo dõi khám chữa bệnh Tuân thủ tái khám là người bệnh khám lại đúng theo hẹn của bác sỹ trong tất cả các lần khám từ khi người bệnh được chẩn đoán xác định và điều trị cho đến nay(1)
1.5.2 Cách đo lường về tuân thủ điều trị
1.5.2.1 Phương pháp đo lường tuân thủ điều trị
HUPH
Trang 20Việc đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh là rất quan trọng giúp cho các bác sĩ có hướng điều trị tiếp theo cho bệnh nhân đồng thời cũng đưa ra những bằng chứng thiết thực về các yếu tố ảnh hưởng đến sự TTĐT của người bệnh để các nhà quản lý có các biện pháp làm tăng cường sự tuân thủ của người bệnh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong điều trị động kinh
Cho đến nay, không có “chuẩn vàng” nào để đo lường TTĐT Mỗi phương
pháp đo lường là đều có những điểm mạnh và những hạn chế nhất định Phương pháp
đo lường tuân thủ điều trị tốt đòi hỏi các tiêu chuẩn sau: dễ sử dụng, đáng tin cậy, hiệu quả và chi phí thấp Tuân thủ điều trị có thể được đánh giá bằng hai phương pháp: Phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp (23)
Bảng 1 1 Các phương pháp đo lường TTĐT của người bệnh (23), (24)
Gián tiếp (đếm viên thuốc còn lại trong lọ dùng thuốc, dùng dụng cụ theo dõi
việc mở hộp thuốc, phỏng vấn người bệnh, nhật ký uống thuốc của người
về các yếu tố rào cản TTĐT
Sai số nhớ lại, kết quả tuân thủ cao hơn thực tế
Đánh giá theo quan điểm
của NVYT thông qua
việc phỏng vấn/ phát vấn
qua bộ câu hỏi thiết kế
sẵn
Dễ thực hiện, chi phí thấp, độ đặc hiệu cao
Độ nhạy thấp, thường tỷ
lệ tuân thủ cao hơn thực
tế
Nhật ký của người bệnh,
dựa vào sổ khám chữa
Đơn giản hóa mối tương quan với các sự kiện bên
Không phải luôn nhận được sự hợp tác của người
HUPH
Trang 21Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm
bệnh của người bệnh về
việc được kê đơn thuốc
ngoài và/hoặc ảnh hưởng của thuốc
bệnh, có thể gây ra sự thay đổi hành vi có tính phản ứng
Số lượng viên thuốc
dùng, NVYT thực hiện
đếm số lượng viên thuốc
thông qua vỉ thuốc đã cấp
cho người bệnh trong lần
tái khám
Ước lượng tỷ lệ tuân thủ
ở mức trung bình
Cần người bệnh mang vỏ thuốc đến khi tái khám, nhiều khi không có sự tương quan giữa số viên thuốc đã dùng và vỏ thuốc
Trực tiếp (định lượng nồng độ thuốc trong máu, nước tiểu hay trực tiếp cho người bệnh uống thuốc)
Định lượng trực tiếp
thuốc hoặc các chất
chuyển hóa (thông qua
việc xét nghiệm máu để
đo lường nồng độ thuốc
bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố sinh học khác, độ đặc hiệu giảm theo thời gian NVYT quan sát trực tiếp
người bệnh uống thuốc
Đánh giá tương đối chính xác hành vi tuân thủ
Tốn thời gian và nhân lực
y tế, khó đánh giá hành vi tuân thủ không dùng thuốc
Như vậy, phương pháp trực tiếp độ chính xác cao nhưng thường tốn kém, còn phương pháp gián tiếp chủ yếu dựa vào sự trả lời của bệnh nhân về việc uống thuốc
và hành vi liên quan đến các chế độ điều trị của bệnh nhân trong một khoảng thời gian nhất định Phương pháp này còn được gọi là hệ thống tự ghi nhận (Self – report
HUPH
Trang 22system) là phương pháp dễ thực hiện và ít tốn kém nhưng lại phụ thuộc vào chủ quan của đối tượng nghiên cứu Lựa chọn phương pháp nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn của bệnh nhân và các loại tuân thủ cần được đánh giá (23)
1.5.2.2 Đo lường tuân thủ điều trị trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này sẽ sử dụng thang đo của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục để đo lường TTĐT với thuốc (xem bảng 1.2) theo một số nghiên cứu trước đó (25) Thang đo TTĐT của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục là đáng tin cậy (alpha = 0,83) và có liên quan đáng kể (p <0,05) (25) Các biện pháp TTĐT thuốc tăng huyết áp trên người bệnh từ 18 tuổi trở lên đã được chứng minh là đáng tin cậy, có giá trị đồng thời và tiên đoán tốt ở những bệnh nhân dân tộc thiểu số có thu nhập thấp có tăng huyết áp và có thể hoạt động như một công cụ sàng lọc trong các bệnh nhân ngoại trú với các nhóm bệnh nhân khác (25) Thang đo này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng để đánh giá TTĐT thuốc ở người bệnh động kinh,(26, 27, 28, 29) Hiện nay, bộ công cụ này cũng đã được chuẩn hóa và sử dụng trong một số nghiên cứu đánh giá TTĐT thuốc huyết áp, đái tháo đường,… trên đối tượng từ 18 tuổi trờ lên tại Việt Nam đã áp dụng thang đo của Morisky (30-32) Kết quả cho thấy bộ công cụ được Việt hóa có độ tin cậy cao và phù hợp với văn hóa của Việt Nam (30-32) Chúng tôi đã tìm được nghiên cứu của tác giả Trần Thị Huyền và nhóm tác giả (2020) tại Bệnh viện Nhi Trung ương được thực hiện trên 200 trẻ và bà
mẹ tại Bệnh viện Nhi trung ương Để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, nghiên cứu
sử dụng thang đo của Morisky (11) Tuy nhiên chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào sử dụng thang đo của Morisky để đo lường mức độ TTĐT thuốc động kinh trên người lớn tại Việt Nam Với ưu điểm miễn phí và đã được Việt hóa sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác nhau trong đánh giá TTĐT tại Việt Nam Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo này để đánh giá TTĐT bằng thuốc của người bệnh
động kinh
Bảng 1 2 Thang đo đánh giá TTĐT thuốc HUPH
Trang 23STT Các mục của thang đo đánh giá TTĐT thuốc
1 Thỉnh thoảng ông/bà có quên uống thuốc điều trị động kinh không?
2 Trong 2 tuần qua, có bao nhiêu ngày ông/bà không uống thuốc điều trị động kinh?
3 Ông/bà đã từng giảm hoặc ngừng uống thuốc mà không thông báo cho bác sĩ vì cảm thấy tình trạng xấu hơn do sử dụng thuốc chưa?
4 Khi rời khỏi nhà hoặc đi du lịch, thỉnh thoảng ông/bà có quên mang
thuốc theo không?
5 Hôm qua, ông/bà có uống thuốc có uống thuốc chống động kinh
không?
6 Thỉnh thoảng, ông/bà ngừng uống thuốc khi cảm thấy bệnh đã được
kiểm soát không?
7 Phải uống thuốc hàng ngày làm nhiều người thấy bất tiện Ông/bà có từng thấy phiền khi tuân thủ phác đồ điều trị không?
8 Ông/Bà thường thấy khó khăn để ghi nhớ lịch uống thuốc chống động kinh không?
1.6 Một số nghiên cứu về TTĐT thuốc chống động kinh
1.6.1 Nghiên cứu tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh trên thế giới
Nghiên cứu về tác dụng của việc TTĐT thuốc động kinh đối với người bệnh Kết quả cho thấy điều trị bằng thuốc chống động kinh là một can thiệp thiết yếu nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của những người bệnh mắc một căn bệnh vốn nổi tiếng
là bị kỳ thị với nhiều quan niệm sai lầm về văn hóa Tuân thủ kém với các liệu pháp dài hạn như động kinh làm thay đổi sâu sắc hiệu quả điều trị khiến đây trở thành một vấn đề quan trọng trong sức khỏe cộng đồng từ tất cả các quan điểm của cuộc sống (33)
Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Temesgen Yohannes Hasiso
và Tigestu Alemu Desse (2016) nghiên cứu cắt ngang trên người bệnh động kinh từ
HUPH
Trang 24ngày 09 đến ngày 22 tháng 02 năm 2015 Sự tuân thủ được đo lường bằng cách sử dụng thang đo tuân thủ thuốc gồm tám mục của Morisky Tất cả các người bệnh liên tiếp đến phòng khám động kinh trong thời gian nghiên cứu đều được phỏng vấn cho đến khi thu được cỡ mẫu là 194 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Yirgalem, Nam Ethiopia Trong số 194 người tham gia, 109 người (56,2%) là nam giới Tuổi trung bình của những người tham gia là 33,62 ± 11,44 tuổi; từ 18 đến 66 năm Phần lớn, 63,41% những người tham gia đang dùng hai loại thuốc chống động kinh 32% người bệnh TTĐT, các lý do không tuân thủ được báo cáo phổ biến nhất là quên sử dụng thuốc 75,4% và hết thuốc 10,8% (4)
Nghiên cứu của Rannjana Gurumurthy và cộng sự (2017), nghiên cứu này cũng sử dụng thang điểm tuân thủ thuốc Morisky Nghiên cứu thực hiện trên 451 người bệnh tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Đại học Y St John, Bangalore, Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình 27,3 ± 8,1 tuổi, 55,7% là nam giới và 43,9% người bệnh thuốc gia đình không có điều kiện kinh tế Có đến 72,3% người bệnh TTĐT thuốc chống động kinh và 27,7% người bệnh không TTĐT thuốc chống động kinh (6)
Nghiên cứu của Enas S Abd Wahab và cộng sự (2020), nghiên cứu cắt ngang
đã được thực hiện từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019 tại Bệnh viện Cột sống Thần kinh ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Bao gồm các người bệnh liên tiếp mắc chứng động kinh đang điều trị thuốc chống đông trong ít nhất 6 tháng Sự tuân thủ được đánh giá bằng Thang điểm Tuân thủ Thuốc của Morisky Nghiên cứu
315 đối tượng, trong đó có đến 70,8% ( n = 223) là tuân thủ, số còn lại là không tuân
thủ (8)
Nghiên cứu gần đây nhất năm 2022 của tác giả Hawi Mohamet và cộng sự được thực hiện trên 170 trẻ em bị động kinh theo dõi tại Trung tâm Y tế Jimma Tây Nam Ethiopia Nghiên cứu này cũng sử dụng thang đo tuân thủ thuốc Morisky gồm
08 mục để đánh giá TTĐT thuốc của người bệnh động kinh Với tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ/không tuân thủ thấp < 6/ 8 mục, tuân thủ trung bình là từ 6–7 trên 8 mục,
HUPH
Trang 25tuân thủ điều trị cao người bệnh đạt 8/8 Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ chung với thuốc chống động kinh khá thấp là 54,1% (34)
1.6.2 Nghiên cứu tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh tại Việt Nam
Động kinh là bệnh lý thần kinh mạn tính với thời gian điều trị lâu dài, trung bình từ 2 – 5 năm sau cơn động kinh cuối cùng, đa số người bệnh được điều trị ngoại trú Kết quả điều trị động kinh phụ thuộc rất nhiều vào TTĐT, bao gồm tuân thủ thuốc
và tái khám đúng hẹn Với mục tiêu đánh giá tuân thủ dùng thuốc và tái khám, nghiên cứu thực hiện trên 300 cha mẹ có con mắc động kinh, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2013 bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp về TTĐT Sử dụng
bộ công cụ tự xây dựng, kết quả cho thấy tuân thủ đúng về dùng thuốc chống động kinh đạt 89,3% (35)
Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Diễm thực hiện tại BV 115 – TP HCM trên 216 người bệnh Qua phỏng vấn trực tiếp có đến 1/3 số người bệnh (33,3%) không tuân thủ điều trị, với lý do bao gồm có quên uống thuốc, nghĩ rằng chỉ cần uống thuốc khi có cơn, khó khăn về kinh tế, sợ tác dụng bất lợi của thuốc và nghĩ rằng bệnh không thể chữa khỏi, trong số đó quên uống thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất với (58,33%) (36)
Nghiên cứu của Phạm Thị Kim Liên và Dương Huy Hoàng (2018) tại một số
xã, phường thuộc Thành phố Thái Bình cho thấy tỷ lệ người bệnh động kinh được quản lý điều trị tại y tế cơ sở ở khu vực nội thành 68,6% cao hơn khu vực ngoại thành 51,5% Phương pháp điều trị chủ yếu là dùng thuốc kháng động kinh 91,7%; phối hợp tây y và y học cổ truyền 8,3% Nhóm thuốc barbituriqes là loại được sử dụng nhiều nhất (65%) Đơn trị liệu là phương thức điều trị chủ yếu (81%) Tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh cao (82,5%) Hiệu quả điều trị cắt cơn là 50% và thuyên giảm cơn động kinh là 42,5% Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh động kinh cần được quan tâm, theo dõi và phát hiện sớm hơn nữa, đồng thời cần có sự giám sát, quản lý của cả gia đình, cộng đồng và xã hội (37)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Đức (2020) được thực hiện tại Thành phố
Hồ Chí Minh (2020) nhóm tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát ở 135.000 người dân trong cộng đồng dân cư nội thành Thành phố Hồ Chí Minh Động kinh khởi phát toàn
HUPH
Trang 26thể chiếm 69,2%, động kinh khởi phát cục bộ chiếm 18,9%, động kinh không rõ khởi phát và không phân loại chiếm 11,9% Thuốc chống động kinh được sử dụng nhiều
là phenobarbital và valproate Đối với phenobarbital, có 50,8% số người bệnh khảo sát được điều trị và quản lý tại TYT phường hoặc trung tâm y tế quận Tỷ lệ người bệnh tuân thủ uống thuốc hàng ngày theo toa chiếm 72,5%, tỷ lệ uống thuốc không thường xuyên chiếm 14,7%, tỷ lệ bỏ điều trị chiếm 12% Hiện nay, việc quản lý, điều trị người bệnh động kinh vẫn do ngành tâm thần quản lý, cấp phát thuốc miễn phí trực tiếp cho người bệnh tại TYT, khoa tâm thần của trung tâm y tế quận hoặc tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM Kết quả điều trị động kinh có 34,9% cắt cơn, 53,2% thuyên giảm cơn, 11,9% kém hiệu quả hoặc hiệu quả không rõ (10)
Nghiên cứu của Trần Thị Huyền và nhóm tác giả (2020) về “Thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương” được thực hiện trên 200 trẻ và bà mẹ tại Bệnh viện Nhi trung ương Để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, nghiên cứu sử dụng thang đo của Morisky Tuân thủ điều trị kém khi tổng điểm < 6, trung bình khi 6-7 điểm và tốt khi đạt 8 điểm Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ tuân thủ điều trị tốt 43,5%, 31,5% trẻ tuân thủ điều trị trung bình và 25,0% tuân thủ điều trị kém, trong vòng 6 tháng có 40,5% trẻ tái khám đúng hẹn (11)
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh
Phụ nữ TTĐT nhiều hơn và chấp nhận chẩn đoán nhiều hơn, trong khi đàn ông
có xu hướng ưu tiên công việc và trì hoãn tìm kiếm sự chăm sóc y tế để tránh thất nghiệp(29)
Trình độ học vấn
HUPH
Trang 27Hầu hết các nghiên cứu về tuân thủ cho thấy có ảnh hưởng về trình độ học vấn Một nghiên cứu ở Châu Phi được thực hiện bởi Ogundele và Dawodu trong đó 71% không tuân thủ do tỷ lệ biết chữ kém trong số những người tham gia, 65,8% số người được hỏi hoàn thành ít nhất là giáo dục trung học (38) Trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế gia đình nghèo là những yếu tố nguy cơ làm cho bệnh nhân không TTĐT được tốt (39) Nghiên cứu của Temesgen Yohannes Hasiso và Tigestu Alemu Desse (2016) tại Bệnh viện Đa khoa Yirgalem, Nam Ethiopia chỉ ra rằng trình độ học vấn có mối liên quan TTĐT thuốc chống đông, cụ thể trình độ học vấn lớp 9-12 (P = 0,028), trình độ cao đẳng hoặc đại học (P = 0,002) (4) Trình độ học vấn thấp là yếu
tố nguy cơ làm cho bệnh nhân không TTĐT được tốt (39)
1.7.1.2 Đặc điểm về bệnh
Trong một nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Sweileh và cộng sự, thời gian mắc bệnh dài hơn được coi là lý do cho sự tuân thủ tốt trong nghiên cứu (38) Trong nghiên cứu Ahmed và cộng sự, sự phức tạp của việc điều trị tức là người bệnh dùng nhiều loại thuốc và tăng tần suất thuốc có sự tuân thủ thấp so với người bệnh dùng đơn trị liệu (7) Nghiên cứu của Temesgen Yohannes Hasiso và Tigestu Alemu Desse (2016) tại Bệnh viện Đa khoa Yirgalem, Nam Ethiopia thời gian điều trị động kinh ngắn cũng là yếu tố liên quan ảnh hưởng tiêu cực đến TTĐT thuốc chống động kinh, cụ thể điều trị động kinh trong <1 năm (P = 0,011), điều trị động kinh trong 1-3 năm (P = 0,002) (4) Nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh viện Dessie, Vùng Amhara, Đông Bắc Ethiopia chỉ ra rằng tác dụng phụ của thuốc ảnh hưởng đến TTĐT thuốc động kinh của người bệnh với p =0,048 (40) Nghiên cứu của tác giả Christian Samsonsen và cộng sự (2014) cho biết tỷ lệ không TTĐT là 39% người bệnh Nó phổ
HUPH
Trang 28biến hơn đáng kể ở những bệnh nhân bị co giật toàn thể so với những người bị co giật cục bộ (p= 0,029) (41)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Đức (2020) cho biết việc phát hiện sớm người bệnh sẽ được tiếp cận với điều trị sớm (10) Cùng với đó là các người bệnh có thời gian sử dụng thuốc lâu hơn, được phát hiện có mức độ TTĐT thuốc cao hơn (42) Bên cạnh đó thì nghiên cứu của Paschal và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng có mối quan
hệ giữa tuân thủ và mức độ nghiêm trọng, biến chứng, chấn thương và tần suất cơn
co giật (p<0,05) (43)
Trong nghiên cứu của Das Ancy và cộng sự, những người bệnh báo cáo mất kiểm soát động kinh, đã tự ý thay đổi liều thuốc (70%), đã được chuyển sang một loại thuốc mới (61%), hoặc đã thêm một loại thuốc khác vào chế độ điều trị (56%) (26) TTĐT thấp có liên quan mạnh mẽ với các cơn động kinh không kiểm soát được
ở những người bệnh động kinh, và với triệu chứng tái phát trong các bệnh mãn tính khác (26)
1.7.2 Yếu tố thuộc về cung cấp dịch vụ
Trong nghiên cứu của Das Ancy và cộng sự, những người bệnh báo cáo mất mất kiểm soát động kinh, đã tự ý thay đổi liều thuốc (70%), đã được chuyển sang một loại thuốc mới (61%), hoặc đã thêm một loại thuốc khác vào chế độ điều trị (56%) (26) Nghiên cứu tại Bệnh viện Bệnh viện Dessie, Vùng Amhara, Đông Bắc Ethiopia Trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng sự phức tạp của điều trị tức là bệnh nhân dùng nhiều loại thuốc và tần suất dùng thuốc tăng lên có sự tuân thủ điều trị thấp so với bệnh nhân dùng đơn trị liệu (40) Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Thị Huyền
và cộng sự (2020) cho biết lý do không tuân thủ tái khám đúng hẹn chủ yếu do khoảng cách từ nhà tới bệnh viện xa (26,1%) (11) Khoảng cách điều trị động kinh có thể là
do tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh động kinh kém hoặc không tuân thủ thuốc chống động kinh (7)
Một số nghiên cứu cho thấy, thái độ của NVYT tích cực giúp mức độ TTĐT thuốc cao hơn Khi người bệnh cảm thấy hài lòng với thái độ của NVYT sẽ tạo tâm
lý yên tâm, tin tưởng hơn và họ sẽ tuân thủ thuốc theo hướng dẫn của NVYT (42, 44)
HUPH
Trang 29Về cơ sở hạ tầng yếu kém, thiết bị không đầy đủ, và dự trữ thuốc, vật tư đã được các chuyên gia y tế báo cáo là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khám, chữa bệnh Sự hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị sẽ làm giảm năng suất lao động, giảm hiệu quả trong công việc (45)
Các quy trình trong cơ sở y tế như khám bệnh, cấp phát thuốc, kiểm tra tình trạng và báo cáo mức độ sử dụng thuốc thường xuyên được cải tiến điều này giúp cho người bệnh dễ dàng trong việc TTĐT thuốc vì hạn chế được tình trạng hết thuốc điều trị có thể xảy ra (46)
1.7.3 Yếu tố thuộc về gia đình và xã hội
Nghiên cứu của Sowmya Chinnaiyan và cộng sự (2017) tại TTYT thuộc Ấn
Độ Kết quả cho thấy có hơn 89% bày tỏ rằng gia đình và bạn bè của họ đã nhắc nhở
họ uống thuốc Tác giả cũng chỉ ra rằng nhóm được gia đình và bạn bè hỗ trợ thì có
xu hướng TTĐT thuốc chữa động kinh cao hơn (p=0,004) (40)
Nghiên cứu của Ancy M Das và cộng sự (2018) tại Ấn Độ cho biết lỗi sống tích cực của người bệnh dưới sự hỗ trợ của xã hội (không kỳ thị) Những người tuân thủ điều trị kém có nhiều cơn co giật hơn mỗi năm thì có lối sống không tích cực (p=0,0001) (26) Những người có lối sống tích cực tuân thủ cao chế độ điều trị chống động kinh Hỗ trợ xã hội, đặc biệt là từ phía NVYT giúp người bệnh TTĐT thuốc cao hơn (p=<0,0001) Nghiên cứu của Sowmya Chinnaiyan và cộng sự (2017) tại TTYT thuộc Ấn Độ Kết quả cho thấy có hơn 97% hài lòng với sự hỗ trợ xã hội và nhóm được nhận hỗ trợ từ xã hội thì có xu hướng TTĐT thuốc cao hơn (p=0,004) (40)
1.8 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Trung tâm Y tế huyện Quảng Trạch gồm có 1 phòng chức năng và 4 khoa phòng chuyên môn Về nhân lực Trung tâm Y tế huyện Quảng Trạch có 40 cán bộ trong đó có 9 bác sỹ, 6 y sỹ, 5 điều dưỡng, 3 dược sỹ, 2 kỷ thuật viên, 2 y tế công cộng, 2 nữ hộ sinh, 4 dân số, 7 khác Công tác quản lý người bệnh động kinh do cán
bộ chuyên trách có trình độ bác sỷ quản lý hướng dẫn cho các TYT Trung tâm y tế huyện quản lý 17 TYT (13)
HUPH
Trang 30Hiện các TYT xã quản lý 222 người bệnh điều trị bệnh động kinh tại TYT
Về nhân lực các TYT hiện có tổng số 133 cán bộ, trong đó có 25 bác sỹ, 25 y sĩ, 24 dược sĩ, 21 nữ hộ sinh, 21 điều dưỡng 17 bằng cấp khác (13)
Quy trình quản lý và điều trị được thực hiện như sau:
Người bệnh bị động kinh sau khi được khám và điều trị ổn định tại Bệnh viện chuyên khoa hoặc Trung tâm CDC tỉnh Quảng Bình được chuyển về Trung tâm Y tế huyện khám, cấp sổ điều trị ngoại trú và cán bộ chuyên trách tại trung tâm làm bệnh
án ngoại trú điều trị tại trung tâm ít nhất 2 tháng sau đó chuyển về các TYT xã để tiếp tục được theo dõi, điều trị và quản lý Theo đó, mỗi người bệnh sẽ được khám,
tư vấn và phát thuốc chống động kinh miễn phí định kỳ hằng tháng tại các TYT tuyến
xã Đối với những người bệnh có biến chứng, có tình trạng người bệnh không đáp ứng thuốc, dị ứng thuốc hoặc các trường hợp vượt quá khả năng trình độ chuyên môn, quản lý tại tuyến xã sẽ được chuyển lên bệnh viện sức khỏe tâm thần
Hằng tháng người bệnh đến nhận thuốc vào đầu tháng từ ngày 01-05 của tháng, đối với những người bệnh đang điều trị ổn định thì người bệnh tự đến khám, nhận thuốc tại TYT, bên cạnh đó một số người bệnh do nhiều lý do khác nhau nên người nhà người bệnh đến nhận thay Người bệnh khi đi nhận thuốc phải mang theo vỏ thuốc của tháng trước để bác sỷ TYT kiểm tra, theo dõi quá trình sử dụng thuốc Giai đoạn dịch Covid-19 mốt số địa phương bị phong toả theo chỉ thị 15,16 thì cán bộ TYT sẽ kết hợp với các đợt lấy mẫu F1, F2, lấy mẫu cộng đồng, giám sát dịch tể để cấp phát thuốc cho người bệnh trên địa bàn mình quản lý Bên cạnh đó chuyên trách chương trình hàng tháng xây dựng kế hoạch thăm khám tại nhà cho người bệnh và kết hợp cấp phát thuốc cho người bệnh (13)
1.9 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Với mục tiêu chung là nâng cao sức khỏe tâm thần, dự phòng các rối loạn tâm thần, đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội hiệu quả và công bằng, thúc đẩy sự hồi phục, bảo vệ quyền con người, giảm bệnh tật, tử vong, và tàn tật cho người có các rối loạn tâm thần (13), thì nghiên cứu này là rất cần thiết Nhất là hiện nay các nghiên cứu về TTĐT thuốc chữa động kinh tại Việt Nam còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu là cơ sở dữ liệu cho NVYT nắm bắt được thực trạng TTĐT bằng thuốc
HUPH
Trang 31của người bệnh động kinh Nắm được những nguyên nhân, ảnh hưởng đến việc TTĐT thuốc của người bệnh từ đó đưa ra các kế hoạch can thiệp và nâng cao tỷ lệ TTĐT thuốc của người bệnh
HUPH
Trang 32TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
- Chế độ điều trị thuốc
khám, Thuốc trong chương
trình/ thuốc kê đơn
- Cơ sở vật chất, trang thiết
bị
- Quy trình khám, phát
thuốc
Môi trường xã hội
- Sự quan tâm xã hội
Trang 33Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
➢ Định lượng:
Đối tượng nghiên cứu là những người bệnh được chẩn đoán động kinh, hiện đang được quản lý điều trị ngoại trú tại 17 TYT huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2022
Số liệu thứ cấp: hồ sơ bệnh án quản lý của người bệnh tại các TYT
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh động kinh ≥ 18 tuổi có trong danh sách quản lý và điều trị bệnh động kinh
- Người bệnh động kinh có khả năng trả lời phỏng vấn
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh động kinh bị các bệnh lý tâm thần, thần kinh ảnh hưởng đến chức năng nhận thức, giao tiếp
- Người bệnh động kinh không có khả năng giao tiếp trực tiếp bằng tiếng Kinh/tiếng Việt, không biết đọc và hiểu tiếng Kinh/tiếng Việt
- Người bệnh động kinh từ chối tham gia nghiên cứu
➢ Định tính:
Tiêu chuẩn lựa chọn là những người có hiểu biết, tham gia vào công tác quản lý người bệnh và những người bệnh động kinh đang được quản lý tại TYT
- Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện
- Cán bộ phụ trách chương trình sức khỏe tâm thần tại Trung tâm Y tế huyện và
17 TYT xã
- Người bệnh động kinh
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 11 năm 2022
Địa điểm: Tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, phương pháp định lượng kết hợp với định tính
HUPH
Trang 34Phương pháp định lượng thực hiện trước để tìm hiểu thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc chống động kinh của người bệnh tại địa điểm nghiên cứu (mục tiêu 1)
Phương pháp định tính được thực hiện sau phương pháp định lượng để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT thuốc chống động kinh (mục tiêu 2)
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu định lượng:
Theo công thức tính mẫu một tỷ lệ như sau:
𝑛 =
(𝑍1−𝛼 2
)2 𝑝 𝑞
𝑑2
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu (số người bệnh động kinh được phỏng vấn) α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số𝑍1−𝛼
2 = 1,96
p = 0,83 trong nghiên cứu của Phạm Thị Kim Liên và Dương Huy Hoàng (2018) tại Thành phố Thái Bình thì tỉ lệ TTĐT là 82,5% (37)
q = 1- p = 1-0,82 = 0,18
d: Sai số tuyệt đối, chọn d = 0,07
Kết quả tính cỡ mẫu n = 116 Lấy thêm 10% dự phòng đối tượng không tham tổng số cỡ mẫu thu thập được là 128 đối tượng nghiên cứu
Định lượng: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, trên địa bàn 17 TYT xã tại Quảng Trạch, Tỉnh Quảng Bình
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu tỉ lệ, do số mẫu cần thiết cho nghiên cứu
là 128 đối tượng trên tổng số người bệnh động kinh đang được quản lý tại TYT xã là
có 222 người bệnh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu Chúng tôi đã tiếp cận tổng cộng 128 người bệnh trên tổng số 222 người bệnh đủ tiêu chuẩn Chọn ngẫu nhiên số lượng người bệnh tham gia nghiên cứu dựa theo số liệu thực tế người bệnh tại TYT như sau:
HUPH
Trang 35Bảng 2 1: Phân bố số lượng mẫu theo từng trạm y tế
Số lượng NB đang quản lý tại các TYT
Số đối tượng cần lấy
- 01 Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện
- 01 Phụ trách chương trình sức khỏe tâm thần – Trung tâm Y tế huyện
- 01 cuộc TLN với 9 cán bộ phụ trách chương trình tâm thần tại 9 TYT xã (chọn ra 9 TYT vùng thu nhập 03 khá, 03 trung bình, 03 nghèo) Chọn ra 9 xã đại diện cho 3 vùng như sau: vùng khá gồm: TYT Quảng Phú, TYT Cảnh Dương, TYT
HUPH
Trang 36Quảng Tùng; vùng trung bình gồm:TYT Quảng Tiến, TYT Quảng Lưu, TYT Quảng Phương; vùng nghèo gồm: TYT Quảng Thanh, TYT Quảng Xuân, TYT Liên Trường)
- 01 cuộc TLN gồm 06 người bệnh: 03 người bệnh TTĐT, 03 không TTĐT
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi định lượng được thiết kế dựa vào nghiên cứu của Ancy M Das, Caroline K Mbuba bao gồm các phần như sau (Xem chi tiết ở Phụ lục 1) (9, 26) Trong nghiên cứu sử dụng thang đo TTĐT thuốc của Morisky và cộng sự (2008) và tham khảo một số nghiên cứu về TTĐT thuốc tại Việt Nam gần đây (25, 31, 32) Thang đo TTĐT của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục là đáng tin cậy (alpha = 0,83) và có liên quan đáng kể (p <0,05) (25) Thang đo đã được chứng minh là đáng tin cậy, có giá trị đồng thời và tiên đoán tốt ở những bệnh nhân tăng huyết áp và có thể hoạt động như một công cụ sàng lọc trong các bệnh nhân ngoại trú với các nhóm bệnh nhân khác (25)
Bộ công cụ được tiến hành điều tra thử nghiệm trên 10 người bệnh động kinh trước khi chính thức tiến hành thu thập số liệu (không lựa chọn 10 người bệnh này vào 128 người bệnh tham gia vào nghiên cứu)
Phần 1: Thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, trình độ học vấn,…
Phần 2: Thông tin TTĐT bao gồm: Tuân thủ chế độ điều trị thuốc
Phần 3: Thông tin về các yếu tố liên quan đến TTĐT động kinh
- Thông tin liên quan đặc điểm bệnh và điều trị động kinh
- Tiếp cận dịch vụ y tế điều trị ngoại trú động kinh tại TYT
- Tính sẵn có của thuốc tại TYT (số lượng, thời gian) Sự tư vấn của NVYT tại TYT
- Môi trường gia đình, xã hội (Nhân lực vật lực tài lực của gia đình, truyền thông) Phương pháp thu thập số liệu:
HUPH
Trang 37Nghiên cứu viên đã tiến hành tập huấn cho 02 điều tra viên (ĐTV) là những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học Tập huấn trong một buổi gồm cả
lý thuyết và thực hành (sẽ tiến hành điều tra thử trên 1-2 người bệnh)
Khi người bệnh đến lĩnh thuốc tại TYT chúng tôi tiếp cận ngẫu nhiên và mời người bệnh tham gia vào nghiên cứu Sau khi người bệnh đồng ý thì sẽ tiến hành phỏng vấn bằng bộ công cụ đã được thiết kế sẵn (phụ lục 1) tại phòng hành chính của TYT xã, thời gian từ 5-10 phút Nghiên cứu viên tiến hành kiểm tra các phiếu trước khi thu về, đối với phiếu nào còn thiếu thông tin, yêu cầu liên hệ lại với người bệnh
và bổ sung thông tin đầy đủ
2.5.2 Nghiên cứu định tính
Hướng dẫn PVS lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện (phụ lục 2), PVS cán bộ phụ trách chương trình sức khỏe tâm thần, TTYT huyện (phụ lục 3), TLN cán bộ phụ trách chương trình tâm thần tại 09 TYT (phụ lục 4), TLN người bệnh (phụ lục 5) Với các câu hỏi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc TTĐT thuốc chống động kinh của người bệnh; vai trò của NVYT tại TYT trong việc thúc đẩy người bệnh TTĐT thuốc chống động kinh
Thời gian PVS, TLN từ 25-30 phút, tại phòng riêng
Nghiên cứu viên tiến hành PVS, TLN có ghi âm và ghi chép biên bản, ĐTV
hỗ trợ các công việc mời đối tượng tham gia và ghi chép cuộc họp, chuẩn bị phòng cho cuộc TLN
Các cuộc PVS, TLN sẽ được gỡ băng nguyên văn và nhóm các thông tin thu thập được theo các chủ đề theo mục tiêu nghiên cứu Sau đó đưa trích dẫn định tính vào theo từng chủ đề, từng nhóm yếu tố để làm rõ mục tiêu 1 và phân tích mục tiêu
2
2.6 Biến số dùng trong nghiên cứu
2.6.1 Biến số định lượng
2.6.1.1 Biến số độc lập (chi tiết phụ lục 6)
- Thông tin chung về người bệnh
- Thông tin về bệnh và điều trị
- Cung cấp dịch vụ y tế điều trị ngoại trú
HUPH
Trang 38- Môi trường gia đình
- Môi trường xã hội
2.6.1.2 Biến số phụ thuộc
TTĐT thuốc: gồm 08 mục
Tất cả các tiêu chuẩn trên đều được đánh giá trong khoảng thời gian 7 ngày
trước thời điểm phỏng vấn
- Lý do người bệnh TTĐT/ không TTĐT thuốc động kinh
(2) Yếu tố thuộc về cung cấp dịch vụ y tế
- Dịch vụ: Thời gian chờ đợi, tư vấn nhắc nhở điều trị, nguồn thuốc, số lượng thuốc, lịch hẹn khám tại TYT xã ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh
- Tư vấn, quản lý, củng cố niềm tin cho người bệnh ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh
- Quy trình khám, cấp phát thuốc, theo dõi người bệnh ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh
(3) Yếu tố thuộc về gia đình và xã hội
- Sự trợ giúp, quan tâm nhắc nhở của gia đình ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh
- Sự kì thị của xã hội ảnh hưởng như nào đến việc TTĐT thuốc của người bệnh
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
2.7.1 Định lượng
HUPH
Trang 39- Chuẩn bị: Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được ngay trong ngày,
loại trừ các phiếu điền không đầy đủ
- Bước 1 nhập liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1
Số liệu được nhập 2 lần bằng 2 người nhập khác nhau nhằm tránh sai số trong quá trình nhập liệu
- Bước 2 Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch
kiểm tra 10% số phiếu nhập và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
- Bước 3 Xử lý và phân tích số liệu:số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS
22.0 Kết quả được chia thành 2 phần:
- Phần thống kê mô tả: tính tần số, tỷ lệ phần trăm của các biến số
- Phần thống kê phân tích: xác định mối liên quan giữa việc tuân thủ điều trị thuốc với các yếu tố (đặc trưng nhân khẩu học, đặc điểm về bệnh và dịch vụ y tế khám bệnh, điều trị ngoại trú) bằng kiểm định chi bình phương (χ²) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
2.7.2 Định tính
Các cuộc phỏng vấn được ghi âm, viết biên bản phỏng vấn, kết quả PVS, TLN được ghỡ băng nguyên văn Sau đó được chọn lọc, sắp xếp theo chủ đề nghiên cứu định tính theo khung lý thuyết, bổ sung kết quả định lượng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị thuốc
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá dùng cho nghiên cứu
Tiêu chuẩn đánh giá TTĐT thuốc chống động kinh
Trong nghiên cứu này của chúng tôi phương pháp trực tiếp chúng tôi không thực hiện được do hạn chế về kinh phí, nhân lực của nghiên cứu Do đó chúng tôi sử dụng thang đo của tác giả Morisky để đo lường TTĐT thuốc chống động kinh (25)
Sử dụng thang đo của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục để đo lường TTĐT với thuốc chống động kinh với những người bệnh được coi là tuân thủ thuốc chống động kinh khi trả lời được ≥ 6 câu (tương đương ≥ 6 điểm), không tuân thủ thuốc chống động kinh khi trả lời < 6 câu (tương đương < 6 điểm) Với mỗi câu trả lời không được 1 điểm (25, 32, 31)
2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
HUPH
Trang 40Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 19/2022/YTCC-HD3 ngày 20/01/2022 Những qui định về đạo đức nghiên cứu đã được tuân thủ trong quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu được sự cho phép của lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện và kết quả nghiên cứu đã được báo cáo với lãnh đạo TTYT huyện
Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín và mã hoá Các
số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
HUPH