1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần và thói quen ăn uống của người bệnh đái tháo đường tuýp ii điều trị ngoại trú tại bệnh viện điều dưỡng phục hồi chức năng trung ương, năm 2018

91 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần và thói quen ăn uống của người bệnh đái tháo đường tuýp II điều trị ngoại trú tại bệnh viện điều dưỡng phục hồi chức năng trung ương, năm 2018
Tác giả Nguyễn Thị Phương
Người hướng dẫn TS. Phan Bích Nga, PGS.TS. Nguyễn Thanh Hà
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Đại cương về bệnh đái tháo đường (14)
      • 1.1.1. Định nghĩa, phân loại, tiêu chuẩn chẩn đoán (14)
      • 1.1.2. Điều trị đái tháo đường tuýp II (15)
    • 1.2. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và tại Việt Nam (16)
      • 1.2.1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới (16)
      • 1.2.2. Tình hình mắc đái tháo đường tại Việt Nam (17)
    • 1.3. Tình trạng dinh dưỡng (17)
      • 1.3.1. Khái niệm (17)
      • 1.3.2. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng (18)
      • 1.3.3. Vai trò của tình trạng dinh dưỡng trong điều trị đái tháo đường (19)
    • 1.4. Chế độ dinh dưỡng và đái tháo đường (20)
      • 1.4.1. Mục đích của chế độ ăn (20)
      • 1.4.2. Nguyên tắc chế độ ăn đái tháo đường theo Bộ Y tế (20)
      • 1.4.3. Lựa chọn thực phẩm (21)
      • 1.4.4. Chế biến thực phẩm (22)
    • 1.5. Một số nghiên cứu liên quan về tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần và thói quen ăn uống của người bệnh đái tháo đường tuýp II (23)
      • 1.5.1. Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường tuýp II (23)
      • 1.5.2. Một số nghiên cứu về khẩu phần và thói quen ăn uống của người bệnh đái tháo đường tuýp II (25)
    • 1.6. Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu (27)
  • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (30)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (30)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (30)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (30)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (30)
    • 2.4. Cỡ mẫu (30)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (31)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (31)
    • 2.7. Biến số (34)
    • 2.8. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (35)
      • 2.8.1. Tình trạng dinh dưỡng (35)
      • 2.8.2. Khẩu phần và thói quen ăn uống (36)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (37)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (38)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (39)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (55)
  • KẾT LUẬN (65)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • Phụ lục (72)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh ĐTĐ tuýp II điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Điều dưỡng PHCN Trung Ương – Sầm Sơn, Thanh Hóa

Bệnh nhân mắc tiểu đường tuýp II đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Điều dưỡng PHCN Trung ương ít nhất từ 3 tháng trở lên tính đến tháng 3/2018 và không sử dụng insulin.

Người bệnh từ đủ 18 tuổi đến dưới 80 tuổi, hiện sống tại địa phương, có khả năng trả lời phỏng vấn

Người bệnh ĐTĐ mắc các bệnh kèm theo như nhiễm trùng, bệnh truyền nhiễm, ung thư,…

Người bệnh ĐTĐ có biến chứng cắt cụt chi, biến chứng thận

Người bệnh không đủ sức khỏe tham gia nghiên cứu

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thu thập số liệu: tháng 4/2018 Địa điểm: Bệnh viện điều dưỡng PHCN Trung ương, đường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Cỡ mẫu

Trong nghiên cứu này, n là số người bệnh ĐTĐ tối thiểu cần thiết, p là tỷ lệ người bệnh ĐTĐ tuýp II có thừa cân, béo phì, được chọn là 18,9% theo nghiên cứu của Khổng Thị Thúy Lan (2015) Sai số cho phép d được xác định là 0,06.

Z1-α/2 = 1,96 với α = 0,05 (mức ý nghĩa thống kê 95%)

Thay vào công thức tính được n= 164 người Ước lượng thêm 10% người bệnh từ chối hoặc không thể tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu ước tính là n = 164+ 10% x 164 = 180 người

Trong một nghiên cứu, có 169 bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp II đã tham gia, mặc dù một số người không đến bệnh viện để khám và điều trị trong thời gian thu thập dữ liệu.

Phương pháp chọn mẫu

Tính đến tháng 3 năm 2018, bệnh viện có khoảng 500 bệnh nhân tiểu đường điều trị ngoại trú Trong số đó, danh sách 180 bệnh nhân tiểu đường tuýp II đã được lập và lựa chọn ngẫu nhiên để tham gia nghiên cứu, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn đối tượng Đối tượng thử nghiệm bộ công cụ không nằm trong danh sách chọn mẫu chính thức.

Phương pháp thu thập số liệu

Khi người bệnh đến điều trị tại phòng khám ngoại trú ĐTĐ thuộc bệnh viện, việc thu thập số liệu sẽ được thực hiện Người bệnh thường đến khám vào buổi sáng Nếu họ thuộc đối tượng nghiên cứu, sẽ được mời tham gia và tiến hành thu thập thông tin Mã số người bệnh sẽ được ghi theo mã hồ sơ bệnh án một cách thống nhất Các thông tin thu thập bao gồm:

Thông tin nhân trắc học bao gồm việc cân nặng và đo chiều cao của bệnh nhân, được thực hiện bởi đội ngũ y tế Đội ngũ trực tiếp đo vòng bụng (VB) và vòng mông (VM) bằng thước dây không chun giãn, do bệnh viện không thực hiện đo các chỉ số này Kỹ thuật đo được áp dụng phù hợp với nghiên cứu, và kết quả sẽ được ghi lại trong hồ sơ bệnh án (HSBA) khi bệnh nhân đến khám.

Nhân viên y tế sử dụng máy đo huyết áp để đo bắp tay của người bệnh khi họ đến khám Phương pháp này phù hợp với nghiên cứu, do đó, ĐTV ghi lại kết quả theo hồ sơ bệnh án (HSBA) mà không thực hiện đo trực tiếp.

- Thông tin nhân khẩu học (năm sinh, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc), các bệnh kèm theo được ghi chép lại theo HSBA của người bệnh

Bệnh viện thực hiện xét nghiệm chỉ số đường huyết tĩnh mạch lúc đói bằng cách lấy mẫu máu tĩnh mạch của người bệnh ngay khi họ đến khám vào buổi sáng Kỹ thuật lấy mẫu máu và định lượng chỉ số đường huyết được thực hiện một cách chính xác và chuyên nghiệp.

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, HUPH lương Glucose được thực hiện phù hợp với nghiên cứu [5] Do đó, ĐTV ghi lại kết quả từ HSBA của người bệnh mà không cần lấy máu trực tiếp để xét nghiệm.

Để thu thập thông tin về khẩu phần ăn, phương pháp hỏi ghi 24 giờ trước ngày điều tra sẽ được áp dụng Lưu ý rằng không thu thập số liệu trong các dịp lễ tết, đám cưới, hay giỗ.

- Thông tin về trình độ học vấn, thói quen ăn uống, tần suất tiêu thụ một số loại thực phẩm được phỏng vấn theo bảng hỏi

Công cụ thu thập số liệu

- Các công cụ cân, đo: Thước dây không chun giãn, thước đo chiều cao với độ chính xác 0,1 cm Cân y tế với độ chính xác 0,1 kg

- Máy đo huyết áp thủy ngân đo bắp tay

- Xi lanh, bông cồn để lấy máu và máy đo đường huyết tĩnh mạch

- Phiếu thu thập thông tin và phỏng vấn người bệnh (Phụ lục 2)

Giá trị dinh dưỡng của các nhóm thực phẩm được trình bày trong Phụ lục 3 hỗ trợ việc thu thập số liệu Ngoài ra, các dụng cụ hỗ trợ như cân y tế có thước đo chiều cao, thước dây và máy đo huyết áp cũng rất cần thiết.

Cách tiến hành hỏi ghi 24 giờ

Hãy ghi lại tất cả thực phẩm mà đối tượng tiêu thụ trong 24 giờ trước đó, từ khi thức dậy buổi sáng cho đến trước khi thức dậy vào sáng hôm sau Cần thu thập thông tin về số bữa ăn trong ngày, bao gồm số bữa chính và bữa phụ, cũng như lượng thực phẩm tiêu thụ (bao gồm cả đồ uống) trong và ngoài gia đình, cùng với phương pháp nấu nướng và chế biến Hỏi chi tiết cho từng bữa ăn, và nếu có thực phẩm chế biến sẵn, cần mô tả chính xác tên thực phẩm và hãng sản xuất Đối với thức ăn chín hoặc chế biến sẵn không có trong bảng tiêu chuẩn đánh giá, cần phân loại riêng biệt theo thực phẩm sống dùng để chế biến món ăn đó.

Để mô tả chính xác thực phẩm tiêu thụ, cần nêu rõ tên cụ thể như rau muống, cá chép, hay thịt lợn nửa nạc nửa mỡ Các câu hỏi chi tiết sẽ giúp đo lường chính xác tên và lượng thực phẩm tiêu thụ, ví dụ như với cơm: gạo gì, bao nhiêu bát, loại bát nào, và cách xới ra sao Đối tượng tiêu thụ (ĐTV) sẽ ghi lại toàn bộ tên và lượng lương thực thực phẩm mà người bệnh đã tiêu thụ trong ngày hôm trước, chia thành 6 khoảng thời gian cụ thể.

Bữa 1: Từ lúc thức dậy đến khi ăn xong bữa sáng

Bữa 2: Từ sau bữa sáng đến trước bữa trưa

Bữa 3: Bữa trưa, bữa ăn chính giữa ngày

Bữa 4: Từ sau bữa trưa đến trước bữa chiều

Bữa 5: bữa ăn chính vào chiều tối

Bữa 6: Từ sau bữa tối đến trước khi thức dậy sáng hôm sau

Dụng cụ hỗ trợ giúp ĐTV ước lượng chính xác lượng thực phẩm đã tiêu thụ, bao gồm các mẫu dụng cụ đo lường Người bệnh có thể được yêu cầu vẽ lại hoặc mô tả chi tiết về việc sử dụng các dụng cụ này.

Kỹ thuật cân, đo chiều cao, cân nặng, VB, VM

Cân nặng: Cân điện tử chia độ 0,1 kg đặt vị trí ổn định bằng phẳng, chỉnh về số 0

Cân nặng của người bệnh được đo vào buổi sáng, khi chưa ăn sáng và đã đi đại tiểu tiện Trước khi sử dụng, cân được điều chỉnh và kiểm tra Người bệnh cần mặc quần áo gọn gàng, đứng thẳng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng và trọng lượng dồn đều lên hai chân Kết quả được ghi nhận theo đơn vị kilogam (kg) với một chữ số thập phân.

Để đo chiều cao, người đo cần bỏ giày dép, đứng chân không và quay lưng vào thước đo Gót chân, mông, vai và đầu phải thẳng hàng với thước đo, mắt nhìn thẳng về phía trước, hai tay thả lỏng bên hông Sử dụng ê-ke hoặc một mảnh gỗ có góc vuông để áp sát một cạnh vào đỉnh đầu và một cạnh vào thước đo Kết quả được ghi theo đơn vị cm với một chữ số thập phân.

Để đo vòng bụng (VB) và vòng mông (VM), người đo cần đứng thẳng, trong tư thế thoải mái, tay buông thõng và thở bình thường, thực hiện đo khi đói Sử dụng thước dây không chun giãn với độ chính xác 0,1 cm VB được đo qua điểm giữa bờ dưới xương sườn 12 và đỉnh mào chậu trên mặt phẳng ngang, vào thời điểm người bệnh thở ra hết VM là vòng lớn nhất đi qua mông, ở mức nang hai mấu chuyển xương đùi Kết quả đo được ghi theo đơn vị centimet (cm) với 1 chữ số thập phân.

Kỹ thuật lấy máu tĩnh mạch xét nghiệm đường huyết lúc đói

Người bệnh sẽ được lấy máu tĩnh mạch tại phòng khám và gửi đến khoa Xét nghiệm để thực hiện xét nghiệm đường huyết lúc đói Quá trình lấy máu diễn ra khi người bệnh đã nhịn ăn.

Để đảm bảo kết quả chính xác, người tham gia cần nhịn ăn ít nhất 8 giờ và không quá 16 giờ trước khi lấy máu Ngoài ra, cần nghỉ ngơi ít nhất 10 phút trước khi thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch, tuân thủ theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Biến số

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, học viên thu thập nhóm biến số, cụ thể như sau:

Thông tin chung của đối tượng bao gồm các biến số thể hiện đặc điểm nhân khẩu học như tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp và trình độ học vấn, cùng với các biến chứng và thời gian điều trị tại bệnh viện.

TTDD bao gồm các biến số liên quan đến chỉ số nhân trắc như cân nặng, chiều cao, chỉ số BMI, vòng bụng, tỷ lệ vòng bụng trên vòng mông, cũng như các chỉ số sinh hóa như đường huyết và huyết áp.

(3) Chế độ dinh dưỡng: Gồm 3 nhóm biến số nhỏ

Khẩu phần ăn được xác định thông qua phương pháp hỏi ghi trong 24 giờ, từ đó tính toán các biến số như năng lượng tiêu thụ thực tế, lượng protein, glucid, lipid, cũng như năng lượng do từng thành phần cung cấp và đánh giá sự cân đối của khẩu phần.

- Thói quen ăn uống: Bao gồm 16 câu hỏi về một số thói quen ăn uống của đối tượng

Tần suất tiêu thụ thực phẩm cho người mắc ĐTĐ tuýp II được phân chia thành 4 cấp độ: không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng và thường xuyên Các thực phẩm nên được khuyến cáo sử dụng, hạn chế hoặc không sử dụng trong một tháng để đảm bảo sức khỏe.

Chi tiết tham khảo Phụ lục 4 của nghiên cứu.

Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Để phục vụ cho phân tích, học viên sử dụng một số khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá như sau:

2.8.1 Tình trạng dinh dưỡng a Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Phân loại TTDD theo chỉ số BMI như sau [24]:

Bảng 2.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số BMI Tình trạng dinh dưỡng Theo TCYTTG khu vực

Nghiên cứu đã áp dụng tiêu chuẩn phân loại BMI theo Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Bình Dương (WPRO), tiêu chuẩn này được cho là phù hợp hơn với người Châu Á Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra những khác biệt trong việc áp dụng tiêu chuẩn này.

Nghiên cứu này sử dụng tiêu chuẩn phân loại BMI theo TCYTTG để phân tích và so sánh kết quả với các nghiên cứu khác Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo tiêu chuẩn BMI của TCYTTG và thảo luận về các kết quả này Đặc biệt, vòng bụng và vòng mông được sử dụng để đánh giá sự tích tụ mỡ ở vùng bụng, giúp xác định tình trạng béo bụng.

Vòng bụng: VB lớn với nữ ≥80 cm, VB bình thường 0,05).

Bảng 3.4 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo phân loại BMI dành cho người Châu Á (n9)

Tình trạng dinh dưỡng Nam n (%)

Gầy (BMI < 18,5) 8 (9,1) 4 (4,9) 12 (7,1) >0,05(*) Bình thường (18,5 ≤ BMI < 23) 29 (33) 36 (44,4) 65 (38,5)

Nhận xét: Theo tiêu chuẩn phân loại BMI của TCYTTG khu vực Châu Á Thái

Kết quả nghiên cứu tại Bình Dương cho thấy 38,5% đối tượng có chỉ số BMI trong giới hạn bình thường, trong khi tỷ lệ thừa cân là 26%.

HUPH trong đó nam (30,7%) cao hơn nữ (21%); tỷ lệ béo phì là 28,4% với nam (27,3%) thấp hơn nữ (29,6%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Bảng 3.5 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n9)

Tổng Không TC,BP TC,BP

Theo tiêu chuẩn phân loại BMI của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Châu Á Thái Bình Dương (WPRO), không có ai dưới 40 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì Tuy nhiên, các nhóm tuổi khác đều có tỷ lệ thừa cân và béo phì vượt quá 50%, với nhóm tuổi từ 40-49 có tỷ lệ cao nhất, đạt 57,9%.

Bảng 3.6: Vòng bụng của đối tượng nghiên cứu

VB lớn (nam≥90, nữ≥80) Trung bình ±SD (cm) n %

(*) Test khi bình phương (**) T-test

Nhận xét: VB trung bình của đối tượng nghiên cứu là 79,5±7,2 cm, ở nam

(80,9±8,2 cm) cao hơn nữ (78±5,7 cm) có ý nghĩa thống kê (p 0,9) VB/VM bình thường

Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ tuýp II có chỉ số VB/VM lớn đạt 82%, với tỷ lệ nam giới có chỉ số VB/VM cao thấp hơn nữ giới, có ý nghĩa thống kê (p 7,2 mmol/l) chiếm tỷ lệ cao (69,8%)

Bảng 3.10 Chỉ số đường huyết lúc đói của đối tượng nghiên cứu theo giới tính Chỉ số đường huyết lúc đói Nam (n,%) Nữ (n,%) p

Tỷ lệ nam giới có chỉ số đường huyết lúc đói vượt ngưỡng khuyến cáo (>7,2 mmol/l) là 72,7%, cao hơn so với nữ giới với tỷ lệ 66,7% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.11 Chỉ số đường huyết lúc đói chia theo nhóm tuổi (n9)

Chỉ số đường huyết lúc đói (n, %)

Tỷ lệ người bệnh có chỉ số đường huyết lúc đói vượt ngưỡng khuyến cáo (trên 7,2 mmol/l) cao hơn 60% ở tất cả các nhóm tuổi, với tỷ lệ thấp nhất là 60,8% ở nhóm tuổi từ 60-69.

Bảng 3.12: Tình trạng huyết áp của đối tượng nghiên cứu Huyết áp Tần số (n) Tỷ lệ (%) Trung bình ± SD

Huyết áp trung bình của đối tượng nghiên cứu là 138,7±21,6/84,1±10,2 mmHg, cho thấy khoảng 60% người bệnh bị tăng huyết áp, với huyết áp tối đa hoặc tối thiểu vượt ngưỡng cho phép.

Bảng 3.13 Tình trạng huyết áp của đối tượng nghiên cứu chia theo nhóm tuổi Nhóm tuổi Tăng huyết áp (n, %) Huyết áp bình thường (n, %)

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh có tăng huyết áp cao ở các nhóm tuổi, trong đó, tỷ lệ này thấp nhất ở nhóm 50 - 59 tuổi (47,6%)

Bảng 3.14: Tình trạng huyết áp của đối tượng nghiên cứu theo giới

Giới Tăng huyết áp (n ,%) Huyết áp bình thường (n ,%) P

Dựa trên chỉ số huyết áp trong nghiên cứu, tỷ lệ nam giới mắc tăng huyết áp là 63,6%, cao hơn so với 58% ở nữ giới; tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

3.3 Chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường tuýp II

3.3.1 Khẩu phần ăn của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.15 Năng lượng và các chất sinh năng lượng trong khẩu phần ăn của đối tượng nghiên cứu

Chất dinh dưỡng Trung bình ±SD

Bảng 3.15 cho thấy năng lượng khẩu phần thực tế trung bình của đối tượng nghiên cứu là 1341,6±158 kcal/ngày Lượng protein, lipid và glucid trung bình trong khẩu phần thực tế lần lượt là 59,5±8,8g, 19,5±6,9g và 228,2±28,5g.

BÀN LUẬN

Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu với 169 bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp II đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng Trung ương và từ kết quả thu được, chúng tôi rút ra một số nhận xét quan trọng.

4.1 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

TTDD của đối tượng nghiên cứu được mô tả thông qua các chỉ số nhân trắc, sinh hóa, cụ thể:

4.1.1 TTDD của người bệnh ĐTĐ thông qua chỉ số chiều cao, cân nặng và BMI

Chiều cao trung bình của đối tượng trong nghiên cứu là 159,8±7,4 cm, cân nặng trung bình là 59,7±9,2 kg, và BMI trung bình là 23,4±3,1 Kết quả cho thấy nam có chiều cao và cân nặng cao hơn nữ với ý nghĩa thống kê (p

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w