PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ trong độ tuổi 35-60 tuổi có chồng hiện đang sinh sống trên địa bàn thị xã Sông Cầu- Tỉnh Phú Yên
Phụ nữ từ 35 đến 60 tuổi có chồng, đã sinh sống tại thị xã Sông Cầu ít nhất 5 năm, sẽ tham gia nghiên cứu Đối tượng bao gồm cả những người đã từng đi khám sàng lọc và những người chưa từng.
+ Những người đang mắc và điều trị bệnh ung thư cổ tử cung (UTCTC)
Những người không có khả năng tự quyết định tham gia nghiên cứu, như những người mắc rối loạn tâm thần hoặc rối loạn trí nhớ, có thể gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin chính xác.
+ Đối tượng vắng nhà trong thời gian điều tra thu thập số liệu; đối tượng có hộ khẩu thường trú nhưng không sinh sống tại địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc khám sàng lọc ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 35 đến 60 tuổi đã tiến hành các khảo sát định tính với các đối tượng liên quan.
- Các cán bộ y tế được giao nhiệm vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã phường
- Các cán bộ y tế được giao nhiệm vụ khám chữa bệnh, xét nghiệm tại trung tâm y tế huyện
- Phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 35 - 60
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 8/2019 đến tháng 6/2020
- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 1 – tháng 3 năm 2020
- Địa điểm nghiên cứu: Thị xã Sông Cầu- Tỉnh Phú Yên
Nguồn số liệu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp cắt ngang, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính, với trình tự thực hiện định lượng trước và định tính sau Phần nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi thu thập thông tin định lượng nhằm bổ sung, giải thích và làm rõ hơn các kết quả từ nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định lượng nhằm mô tả khám sàng lọc UTCTC của phụ nữ trong độ tuổi
Nghiên cứu định lượng đã chỉ ra rằng từ 35 đến 60% các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi khám sàng lọc Đồng thời, việc sử dụng nghiên cứu định tính giúp phân tích sâu hơn về những yếu tố này, cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về động lực và rào cản trong việc tham gia khám sàng lọc.
- Số liệu thứ cấp: Gồm các báo cáo thống kê về nguồn nhân lực và các kế hoạch, báo cáo của Trung tâm Y tế từ năm 2017 đến năm 2019
Số liệu sơ cấp là thông tin thu thập từ các cuộc điều tra thực tế tại thời điểm nghiên cứu Đối tượng được chọn sẽ được phỏng vấn trực tiếp bằng các câu hỏi được thiết kế phù hợp với nội dung nghiên cứu đã đề ra.
2.3.3.1.Phương pháp chọn mẫu định lượng a Cỡ mẫu:
Với phần nghiên cứu định lượng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc xác định một tỷ lệ trong quần thể:
Trong đó: n: cỡ mẫu tối thiểu điều tra (số người cần nghiên cứu, phỏng vấn)
Z: là hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z (1- α/2) = 1,96 d: sai số tuyệt đối chấp nhận được (0,07) p: Tỷ lệ đi khám sàng lọc UTCTC Do trên địa bàn chưa có nghiên cứu nào về tỷ lệ khám sàng lọc UTCTC do đó, dựa theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Khánh Chi [8] về
Tại HUPH, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi từ 35 đến 60 có chồng tham gia khám sàng lọc ung thư cổ tử cung (UTCTC) tại các địa điểm triển khai chương trình là 30% Nghiên cứu đã chọn hệ số p = 0,3 để phân tích.
Theo công thức, số lượng người tham gia nghiên cứu là 175 Để đảm bảo đủ số lượng trong trường hợp có người từ chối, cần thêm 10% đối tượng, tức là 16 người Do đó, tổng số đối tượng cần nghiên cứu là 181 người.
Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống
Bước 1: Nghiên cứu đã lập danh sách khung mẫu các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) từ độ tuổi 35-60 có chồng, tính đến năm 2020, và có thời gian sinh sống tại thị xã Sông Cầu ít nhất 5 năm trước đó, dựa trên danh sách của Trung tâm Dân số-Kế hoạch hóa gia đình Thị xã Sông Cầu, Tỉnh Phú Yên Từ khung danh sách này, nghiên cứu đã chọn ngẫu nhiên 02 xã là Xuân Cảnh và Xuân Lộc, và lọc danh sách các phụ nữ có chồng trong độ tuổi 35-60 của 02 xã.
Bước 2: Tổng số phụ nữ có trong độ tuổi từ 35-60 tại Xuân Cảnh và Xuân Lộc là
2070 người Nghiên cứu đã tính toán được khoảng cách mẫu dựa trên cỡ mẫu là: k=N/n
Để chọn đối tượng đầu tiên trong khung mẫu, ta sẽ chọn ngẫu nhiên một số từ 1 đến k (i) Đối tượng thứ hai sẽ có số thứ tự là i+k, đối tượng thứ ba là i+2k, và tiếp tục như vậy cho đến khi đủ 181 mẫu Các trường hợp ĐTNC được chọn sẽ nằm trong diện loại trừ, và nếu không tìm được người thay thế trong khung mẫu, nghiên cứu sẽ chọn những người kế trước để thay thế.
Nghiên cứu đã lựa chọn có chủ đích các đối tượng để tiến hành phỏng vấn sâu, gồm:
- 01 cán bộ lãnh đạo trung tâm y tế Huyện
- 01 CBYT phụ trách chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) của TTYT
- 01 CBYT tham gia khám sàng lọc của trung tâm y tế
- 02 cán bộ y tế tại các xã đã được chọn (mỗi xã 01 người)
Chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu với các phụ nữ trong độ tuổi từ 35 đến 60, chọn ra hai cuộc phỏng vấn tại hai xã khác nhau Các cuộc phỏng vấn này được tiến hành cho đến khi thông tin thu thập được đạt đến mức bão hòa.
Bộ công cụ thu thập số liệu
2.4.1.Bộ công cụ định lượng
Phiếu điều tra nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc khám sàng lọc ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 35 đến 60 tuổi có chồng tại thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Các câu hỏi trong phiếu được thiết kế dựa trên các công cụ nghiên cứu của Lê Thị Khánh Chi, Badanya, và Beran, cùng với mục tiêu nghiên cứu và khung lý thuyết của đề tài Bộ công cụ định lượng đã được điều chỉnh và hoàn thiện để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc thu thập dữ liệu.
01 lần phỏng vấn thử tại các điểm nghiên cứu
2.4.2.Bộ công cụ định tính
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu Lãnh đạo TTYT và Trưởng Khoa CSSKSS (Phụ lục 3)
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu CBYT phụ trách công tác CSSKSS tại TTYT thị xã (Phụ lục 4)
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu Trưởng trạm Y tế và CBYT phụ trách công tác CSSKSS tại TYT xã, phường (phụ lục 5 và phục lụ 6)
Các bộ công cụ định tính được phát triển dựa trên các công cụ nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình [1] Trước khi tiến hành điều tra chính thức, các công cụ này đã được điều chỉnh và hoàn thiện sau khi thực hiện khảo sát thử một lần tại Trung tâm y tế thị xã Sông Cầu và trạm Y tế xã Xuân Cảnh.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
Mẫu lựa chọn và phiếu điều tra đã được tác giả thiết kế để thu thập số liệu sơ cấp thông qua bộ câu hỏi Các bước thực hiện bao gồm việc đặt lịch hẹn phỏng vấn.
Bước đầu tiên là lựa chọn 2 điều tra viên nữ chuyên trách về Dân số tại xã, cùng với 2 giám sát viên nữ là cán bộ y tế phụ trách công tác Dân số Người dẫn đường sẽ là cộng tác viên.
HUPH đã tổ chức tập huấn điều tra cho đội ngũ điều tra viên (ĐTV) và giám sát viên (GSV) tại xã, chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm phụ trách điều tra 2 thôn Mỗi nhóm gồm 3 thành viên: 1 GSV, 1 ĐTV và 1 cộng tác viên dẫn đường.
Cán bộ điều tra sẽ liên hệ với chính quyền và trạm y tế tại các xã, thị trấn để lập danh sách phụ nữ từ 35 đến 60 tuổi đã có chồng, dựa trên dữ liệu thứ cấp Từ danh sách này, họ sẽ chọn ngẫu nhiên 181 đối tượng để đảm bảo kích cỡ mẫu phù hợp cho nghiên cứu.
Bước 3: Liên hệ với các đối tượng đã chọn để xin chấp nhận phỏng vấn và đặt lịch Nếu có trường hợp loại trừ như đối tượng không có mặt tại địa phương, từ chối phỏng vấn hoặc không thể tham gia vì lý do nào đó, nghiên cứu sẽ tiếp tục chọn ngẫu nhiên mẫu khác để thay thế.
Bước 4: Sau khi lịch phỏng vấn được xác định, cán bộ điều tra sẽ tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước Nội dung phỏng vấn sẽ bao gồm các chỉ tiêu định tính và định lượng liên quan đến việc khám sàng lọc ung thư CTC.
- Các bước tiến hành thực hiện phỏng vấn:
Bước đầu tiên trong quy trình thu thập số liệu là điều tra viên (ĐTV) tiếp cận hộ gia đình để xác định đối tượng nghiên cứu ĐTV sẽ giới thiệu bản thân và mục đích của nghiên cứu, đồng thời thu thập thông tin để xác định xem có đối tượng phù hợp hay không Nếu hộ gia đình không có đối tượng phù hợp, ĐTV sẽ kết thúc phỏng vấn và chuyển sang hộ gia đình tiếp theo Ngược lại, nếu có đối tượng phù hợp, ĐTV sẽ xin phép để gặp gỡ và phỏng vấn đối tượng đó.
Bước 2: Giải thích cho đối tượng phỏng vấn về tính bảo mật thông tin và lấy sự đồng ý tham gia nghiên cứu ĐTV sẽ đọc phần giới thiệu nghiên cứu (phụ lục 2) cho ĐTNC và tiến hành điều tra khi họ đồng ý và tự nguyện tham gia Quy trình nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt ĐTV phát phiếu điều tra cho ĐTNC (phụ lục 2) và ghi kết quả trả lời vào phiếu này Quy trình này được lặp lại cho đến khi hoàn tất số người được chọn theo danh sách mẫu, với ĐTV ghi mã số phiếu từ 001 đến hết số lượng phiếu mà mình phụ trách điều tra.
Bước 3: ĐTV lần lượt phỏng vấn sử dụng phiếu phỏng vấn và ghi nhận thông tin vào phiếu phỏng vấn
Sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn, điều tra viên cần hỏi lại đối tượng phỏng vấn xem có cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin nào không, và có thắc mắc gì không Nếu có, điều tra viên phải giải đáp các thắc mắc này trong phạm vi có thể.
Sau khi kết thúc phỏng vấn, ĐTV cảm ơn đối tượng nghiên cứu và chào ra về GSV ngay lập tức kiểm tra phiếu điều tra và yêu cầu ĐTV bổ sung hoặc điều chỉnh thông tin còn thiếu hoặc chưa chính xác tại hộ gia đình Sau khi hoàn tất điều tra, ĐTV nộp phiếu điều tra có đủ chữ ký của DDTV và GSV Nghiên cứu viên sẽ kiểm tra số lượng và chất lượng thông tin trên từng phiếu, yêu cầu bổ sung nếu cần thiết Cuối cùng, trước khi nhập dữ liệu vào phần mềm quản lý, mã số phiếu sẽ được ghi từ 001 đến hết số lượng phiếu thu được.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính:
Dựa vào bản hướng dẫn phỏng vấn sâu (PVS), các cuộc phỏng vấn được thực hiện với Lãnh đạo TTYT, Trưởng khoa CSSKSS, cán bộ chuyên trách CSSKSS của thị xã, Trưởng Trạm Y tế, cán bộ chuyên trách xã, phường và các phụ nữ tham gia Học viên trực tiếp điều hành các cuộc PVS này cùng với một thư ký, người sẽ ghi âm và tóm tắt nội dung thảo luận và phỏng vấn bằng biên bản.
Thời gian PVS: 30 - 45 phút/cuộc PVS Thời điểm: ngoài giờ hành chính (buổi trưa) Địa điểm: Tại phòng làm việc của đối tượng được phỏng vấn.
Các biến số nghiên cứu
Nhóm 1 Biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: bao gồm các biến số về các yếu tố nhân khẩu học, thông tin cá nhân, điều kiện kinh tế, môi trường và văn hóa- xã hội liên quan đến đối tượng khám sàng lọc UTCTC
Nhóm 2 Biến số về kiến thức và thái độ liên quan đến UTCTC: bao gồm các biến số về hiểu biết khái niệm bệnh, hiểu biết về độ tuổi mắc bệnh, khái niệm về khám sàng lọc và vai trò của khám sàng lọc, hiểu biết về các biện pháp sàng lọc UTCTC
Nhóm 3: biến số thực hành phòng bệnh UTCTC gồm các biến số liên quan đến hành vi phòng ngừa UTCTC của các đối tượng nghiên cứu như tiêm vắc xin, khám sàng
HUPH lọc UTCTC và khám phụ khoa định kỳ là những biện pháp quan trọng để bảo vệ sức khỏe sinh sản Việc thực hiện hành vi quan hệ tình dục an toàn, bao gồm sử dụng bao cao su với bạn tình, giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh Ngoài ra, cần chú ý đến các hành vi nguy cơ khác như hút thuốc lá và sử dụng thuốc uống tránh thai, vì chúng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe.
Nhóm 4 Nhóm biến số liên quan tới công tác tiếp cận, truyền thông Bao gồm các biến số liên quan đến sự hỗ trợ từ bên ngoài cho khám sàng lọc, Mức độ nhận thông tin và các nội dung về UTCTC.
Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn
2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức
Chấm điểm các câu trả lời của đối tượng trong bộ câu hỏi kiến thức phòng bệnh UTCTC từ câu A1 đến A11 với trọng số phù hợp (xem chi tiết trong phụ lục 2).
2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành
Chấm điểm các câu trả lời của đối tượng trong bộ câu hỏi thực hành phòng bệnh UTCTC từ câu B1 đến B4 với trọng số phù hợp, chi tiết được trình bày trong phụ lục 2.
Phương pháp phân tích số liệu
2.8.1 Chuẩn bị số liệu và công cụ phân tích
Trước khi phân tích dữ liệu, nhóm nghiên cứu cần kiểm tra toàn bộ phiếu điều tra đã thu thập, loại bỏ những phiếu không đầy đủ Dựa trên cấu trúc bộ câu hỏi, nhóm sẽ đánh giá tính logic và chính xác của dữ liệu Nếu phát hiện số liệu không hợp lý, bản ghi sẽ được so sánh với câu hỏi gốc để xác định và sửa lỗi Mọi chỉnh sửa dữ liệu đều được ghi nhận cẩn thận.
Bước 1: Sử dụng phần mềm EpiData 3.1 để nhập toàn bộ số liệu thu thập được Bước 2: Tiến hành làm sạch số liệu sau khi nhập, bao gồm việc hiệu chỉnh các sai sót phát sinh trong quá trình nhập liệu.
Bước 3: Xử lý và phân tích số liệu: Bộ số liệu sau khi được tổng hợp sẽ được xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata 12.0
+ Test χ2: So sánh sự khác biệt về tỷ lệ đi khám sàng lọc hoặc không giữa các địa bàn nghiên cứu
Hệ số nghiên cứu Bệnh-Chứng OR và khoảng tin cậy (CI 95%) là công cụ quan trọng trong phân tích dữ liệu y tế Việc áp dụng hệ số này cho đề tài nghiên cứu cho phép phân tích hiệu quả thông qua ma trận nhầm lẫn (Confusion Matrix).
Công thức tính Odds Ratio (OR) được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của nhận thức và quan tâm của đối tượng nghiên cứu đến quyết định đi khám sàng lọc Việc quyết định đi khám hay không có thể bị tác động bởi những yếu tố này.
Có nhận thức chính xác a c a+c
Không có nhận thức chính xác b d b+d
Tỷ số chênh OR (Odd ratio) được tính theo công thức = (a*d)/(b*c)
Khoảng giá trị CI (95%) và giá trị P-value được tính toán bằng phần mềm STATA
2.8.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để trình bày số liệu thu thập dưới dạng bảng, bao gồm các thông số như giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và số trung bình Ngoài ra, việc sử dụng đồ thị giúp phân tích xu hướng và sự khác biệt trong tỷ lệ khám sàng lọc ung thư CTC.
Phương pháp phân tích định lượng sử dụng các kiểm định thống kê, trong đó có kiểm định χ2, nhằm so sánh sự khác biệt về tỷ lệ tham gia khám sàng lọc giữa các địa bàn nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được sự đồng ý, ủng hộ của lãnh đạo Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt, đảm bảo rằng bộ câu hỏi không chứa các vấn đề nhạy cảm hay riêng tư, không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khoẻ của người tham gia Trước khi tham gia, đối tượng nghiên cứu đã được giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu và có quyền từ chối nếu cảm thấy không thích hợp.
Các số liệu này chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu nhằm nâng cao sức khoẻ nhân dân và không được sử dụng cho mục đích khác Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị khả thi, từ đó đề xuất các biện pháp bền vững nhằm cải thiện tỷ lệ tham gia khám sàng lọc và điều trị hiệu quả ung thư CTC trong khu vực.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung về tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu
Thông tin Tần số n Tỷ lệ %
Trung học cơ sở (THCS) 70 38.67
Trung học phổ thông (THPT) 20 11.05
Cao đẳng (CĐ) 7 3.87 Đại học (ĐH) 6 3.31
Tiền sử gia đình có người mắc
Độ tuổi từ 35 đến 39 chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,96%, trong khi độ tuổi từ 50 đến 60 có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 19,34% Về trình độ học vấn, tỷ lệ người có trình độ tiểu học là 40,33%, trong khi tỷ lệ người có trình độ đại học chỉ đạt 3,11%.
Nghề nghiệp chủ yếu của đối tượng nghiên cứu là nội trợ, chiếm 43,09%, trong khi nghề làm biển (ngư dân) có tỷ lệ thấp nhất là 9,39% Kinh tế hộ gia đình ở mức trung bình với 55,80%, và tỷ lệ nghèo chỉ là 1,66% Đáng chú ý, hầu hết các đối tượng không có tiền sử gia đình mắc ung thư cổ tử cung (UTCTC), chỉ có 2 người có mẹ hoặc chị em gái mắc bệnh này, chiếm tỷ lệ 1,1% trên tổng số mẫu.
3.1.2 Các đặc điểm về kiến thức đối với bệnh UTCTC của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Kiến thức chung của ĐTNC về bệnh UTCTC Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Từng nghe về bệnh UTCTC
Hiểu biết về bệnh UTCTC
Có thể phát hiện sớm và chữa khỏi 36 19,89
Có thể phát hiện sớm nhưng khó chữa khỏi 137 75,69
Bệnh không thể khỏi, đã bị bệnh là sẽ chết 8 4,42
Hiểu biết về độ tuổi thường gặp UTCTC
Kết quả nghiên cứu cho thấy 73,48% người tham gia đã từng nghe về UTCTC Đặc biệt, 75,69% cho rằng bệnh UTCTC có thể phát hiện sớm nhưng khó chữa khỏi, trong khi chỉ 4,42% cho rằng UTCTC là bệnh không thể chữa khỏi Ngoài ra, tỷ lệ người được hỏi cho biết độ tuổi thường xảy ra UTCTC là từ 40 đến 49.
(51,93%) Tỷ lệ người được hỏi không biết về độ tuổi thường gặp của UTCTC là thấp nhất (14,29%)
Bảng 3.4 Kiến thức về các yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC Đặc điểm Tần số
Dùng thuốc tránh thai kéo dài 33 18,23
Quan hệ tình dục sớm 161 88,95
Theo ý kiến của những người được hỏi, viêm nhiễm phụ khoa là nguyên nhân chính gây ra ung thư cổ tử cung, chiếm tỷ lệ cao nhất với 95,3% Ngược lại, tỷ lệ người cho rằng việc sử dụng thuốc tránh thai kéo dài là nguyên nhân gây bệnh lại thấp nhất, chỉ đạt 18,23%.
3.1.3 Các đặc điểm về kiến thức liên quan tới khám sàng lọc UTCTC
Bảng 3.5 Kiến thức về sàng lọc UTCTC của ĐTNC
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Từng nghe về khám sàng lọc bệnh UTCTC
Hiểu biết về tác dụng chính của khám sàng lọc UTCTC
Phát hiện tình trạng viêm nhiễm riêng ở CTC 164 90,61
Phát hiện các tổn thương sơm của UTCTC 148 81,77
Phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ UTCTC 178 98,34
Phát hiện mọi viêm nhiễm phụ khoa 180 99,45
Không biết tác dụng là gì 1 0,55
Hiểu biết về các phương pháp phát hiện sớm UTCTC
Không biết phương pháp nào 40 22,10
Khám phụ khoa thông thường 60 33,15
VIA (quan sát CTC với dung dịch acid acetic 3%) 75 41,44
Chỉ có 26,52% người được khảo sát chưa từng nghe về ung thư cổ tử cung (UTCTC) Trong số những người có kiến thức về tác dụng của khám sàng lọc, 99,45% cho rằng nó giúp phát hiện mọi viêm nhiễm phụ khoa, trong khi chỉ 81,77% hiểu rằng khám sàng lọc có thể phát hiện các tổn thương sớm của UTCTC.
Theo khảo sát về hiểu biết các phương pháp phát hiện sớm ung thư cổ tử cung (UTCTC), chỉ có 22,01% người được hỏi không biết về bất kỳ phương pháp nào Trong khi đó, phương pháp Pap Smear được biết đến nhiều nhất với tỷ lệ 56,35%.
Bảng 3.6 Kiến thức đúng về tác dụng của khám sàng lọc và các phương pháp phát hiện sớm UTCTC của đối tượng nghiên cứu
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kiến thức chung về UTCTC
Kiến thức chung về yếu tố gây bệnh
Kiến thức về khám sàng lọc UTCTC
Kiến thức về các phương pháp phát hiện sớm
Tổng hợp kiến thức chính xác về UTCTC, bao gồm các yếu tố gây bệnh, quy trình khám sàng lọc và các phương pháp phát hiện sớm thông qua các câu hỏi cụ thể.
Để đạt được mục tiêu hiểu biết chính xác về UTCTC, người trả lời cần chọn “là bệnh có thể phát hiện sớm và chữa khỏi” và phải lựa chọn đầy đủ cả ba mức tuổi thường gặp UTCTC trong bảng hỏi.
Khám sàng lọc đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các bệnh lý, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện sức khỏe cộng đồng Việc hiểu đúng về tác dụng của khám sàng lọc sẽ giúp người dân nhận thức rõ hơn về lợi ích của việc tham gia các chương trình này.
Người được hỏi có hiểu biết đúng về phương pháp tiếp cận sớm UTCTC nếu họ biết ít nhất 2/3 các phương pháp phát hiện sớm UTCTC được liệt kê trong bảng hỏi.
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 6,07% người có kiến thức đúng về ung thư cổ tử cung (UTCTC) Tỷ lệ người hiểu biết đúng về các yếu tố gây bệnh đạt 18,23%, trong khi 66,29% có kiến thức đúng về khám sàng lọc và 46,96% hiểu biết đúng về các phương pháp phát hiện sớm UTCTC.
3.1.4 Thái độ đối với ung thư CTC
Bảng 3.7 Thái độ đối với bệnh UTCTC của ĐTNC Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận định tất cả phụ nữ đã QHTD đều có thể bị ung thư cổ tử cung Đồng ý 101 55,80
Nhận định đi khám sàng lọc UTCTC khi vẫn khỏe mạnh là điều cần thiết Đồng ý 147 81,22
Nhận định điều trị UTCTC sẽ đơn giản hơn nếu bệnh được phát hiện sớm Đồng ý 165 91,16
Tỷ lệ người không đồng ý với quan điểm rằng tất cả phụ nữ đã quan hệ tình dục đều có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung chỉ là 44,2% Đáng chú ý, 81,2% người tham gia khảo sát cho rằng việc khám sàng lọc ung thư cổ tử cung là cần thiết Chỉ có 8,84% cho rằng ung thư cổ tử cung rất khó chữa, ngay cả khi phát hiện sớm Ngược lại, 91,6% người được hỏi tin rằng việc điều trị ung thư cổ tử cung sẽ dễ dàng hơn nếu được phát hiện sớm.
Kết quả phỏng vấn sâu về thái độ đối với UTCT cho thấy sự tương đồng với kết quả định lượng, khi nhiều ý kiến cho rằng việc cho rằng tất cả phụ nữ đã quan hệ tình dục đều có thể bị ung thư cổ tử cung là hơi quá.
Không phải ai cũng mắc ung thư cổ tử cung (UTCT), tỷ lệ này rất nhỏ Hầu hết phụ nữ đều đã từng quan hệ tình dục, vì vậy lẽ ra số người bị ung thư phải cao hơn.
PVS: ĐTNC 05 Nhiều người tham gia phỏng vấn sâu đều đồng ý rằng việc tầm soát ung thư là cần thiết, ngay cả khi sức khỏe vẫn ổn định.
“Ung thư là bệnh âm thầm, dai dẳng nên phát hiện sớm là điều quan trọng, nhiều trường hợp để đến khi ốm mới khám thì đã muộn”
Thực trạng khám sàng lọc và phòng bệnh UTCTC ở phụ nữ 35-60 tuổi, có chồng tại thị xã Sông Cầu
3.2.1 Thực hành đi khám sàng lọc và phòng bệnh UTCTC của ĐTNC
Bảng 3.5 Thực hành tiêm phòng bệnh UTCTC Đặc điểm Trả lời
Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tiêm phòng vắc xin phòng UTCTC
Nguyên nhân chưa đi tiêm phòng vaccine
Chi phí cao 39 21,55 Đi lại không thuận tiện 11 6,08
Hầu hết đối tượng nghiên cứu chưa tiêm vaccine, với 97,24% chưa tiêm và chỉ 2,27% đã từng tiêm Độ tuổi trung bình của những người đã tiêm là 23,8 Nguyên nhân chính dẫn đến việc không tiêm vaccine là do không biết đến vaccine, chiếm 48,07%, trong khi lý do đi lại không thuận tiện chỉ chiếm 6,08%.
Bảng 3.6 Thực hành đi khám sàng lọc UTCTC của ĐTNC Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đã từng khám sàng lọc UTCTC 66 36,46
Số lần khám sàng lọc trong 2 năm gần đây
Nguyên nhân không đi khám sàng lọc
Chi phí cao 41 35,65 Đi lại không thuận tiện 22 19,13
Trong hai năm gần đây, tỷ lệ người đi khám sàng lọc một lần mỗi năm đạt 65,15%, trong khi tỷ lệ người đi khám hai lần mỗi năm chỉ là 15,15% Nguyên nhân chính khiến nhiều người không tham gia khám sàng lọc là do cảm thấy không cần thiết (45,22%), trong khi lý do ít gặp nhất là do việc di chuyển không thuận tiện (19,13%).
3.2.2 Địa điểm đi khám sàng lọc UTCTC của ĐTNC
Biểu đồ 3.2 Địa điểm đi khám sàng lọc của ĐTNC
Trong chiến dịch sàng lọc, địa điểm khám thu hút nhiều nhất là các điểm khám tổ chức trong chiến dịch, chiếm 54% số người tham gia Đứng thứ hai là các phòng khám tư nhân với 26% Các bệnh viện phụ sản và bệnh viện tuyến tỉnh chiếm 19%, trong khi trung tâm y tế xã, phường chỉ có 1% số người được hỏi đến khám.
Kết quả phỏng vấn sâu xác nhận các dữ liệu định lượng về địa điểm khám sàng lọc, đồng thời giải thích nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tham gia chương trình khám sàng lọc cao.
Nhiều người chọn tham gia chương trình khám sàng lọc vì sự tiện lợi và được sự hỗ trợ của y bác sĩ đến tận nơi, trong khi họ thường không đến trạm y tế xã để thực hiện khám sàng lọc.
3.2.3 Lý do đi khám sàng lọc
Bảng 3.7 Lý do đi khám sàng lọc UTCTC
Lý do Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thấy cần thiết dù bản thân khỏe 18 27,27
Thấy bản thân có biểu hiện khác thường nên đi khám 22 33,33 Được khám miễn phí mới đi 2 3,03
Thấy khám ngay ở TYT xã (trong chiến dịch khám) 20 30,30
Cán bộ Y tế nhắc đi khám 4 6,06
Khi đi khám UTCTC, lý do chính được ghi nhận là sự xuất hiện của các biểu hiện khác thường, chiếm 33,33% Tiếp theo, 30,33% người tham gia khám do thấy có chương trình khám tại cơ sở y tế địa phương Cuối cùng, chỉ có 27,27% người tự giác đi khám vì cảm thấy cần thiết, mặc dù họ vẫn khỏe mạnh, cho thấy tỷ lệ này là thấp nhất.
Kết quả phỏng vấn sâu xác nhận những phát hiện từ nghiên cứu định lượng, cho thấy nhiều người chỉ đi khám sàng lọc khi cảm thấy mệt mỏi.
Nhiều người thường không nhận thấy dấu hiệu bất thường nào trong cơ thể, dẫn đến việc không đi khám bệnh Họ chỉ tìm đến bác sĩ khi cảm thấy mệt mỏi và thuốc không mang lại hiệu quả.
3.2.4 Sự hỗ trợ và thông tin khám sàng lọc
Bảng 3.8 Sự hỗ trợ và nguồn hỗ trợ cho khám sàng lọc của ĐTNC
STT Đặc điểm Tần số (%) Tỷ lệ (%)
1 Nhận được sự hỗ trợ/ giúp đỡ để đi khám sàng lọc UTCTC
Từ dự án của chương trình 37 56,06
Theo khảo sát về sự hỗ trợ tham gia khám sàng lọc UTCTC, có 36,36% người được hỏi cho biết họ không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào Trong số những người nhận được hỗ trợ, 88,1% cho biết họ nhận được sự giúp đỡ từ các dự án và chương trình, trong khi chỉ 7,58% nhận được sự hỗ trợ từ chồng hoặc gia đình.
Bảng 3.9 Tiếp cận thông tin về UTCTC của đối tượng nghiên cứu
STT Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
1 Mức độ thường xuyên nhận thông tin về UTCTC
Hoàn toàn không có/hầu như không bao giờ có 43 23,76
Nguồn cung cấp thông tin
Loa truyền thanh xã, phường, thị xã 27 14,92
Tờ rơi, tranh ảnh, áp phích 31 17,13
Buổi truyền thông giáo dục sức khỏe tại xã 64 35,36
Nội dung thông tin được cung cấp
Biểu hiện của bệnh UTCTC 63 34,81 Địa chỉ khám và điều trị 56 30,94
Các yếu tố nguy cơ của bệnh 59 32,60
Các biện pháp phòng ngừa 74 40,88
Nhu cầu nhận thông tin UTCTC tương lai
Tỷ lệ nhận thông tin về UTCTC cho thấy mức độ thường xuyên cao nhất là 1 – 2 lần mỗi năm, chiếm 39,23%, trong khi tần suất 3-6 tháng một lần chỉ đạt 17,68% Đáng chú ý, có tới 23,76% người tham gia hoàn toàn hoặc hầu như không bao giờ nhận được thông tin về UTCTC.
Nguồn thông tin chính về UTCTC cho phụ nữ tại điểm nghiên cứu chủ yếu đến từ tivi, đài báo và internet, chiếm 58,56% Hai kênh thông tin quan trọng tiếp theo là báo, tạp chí (31,49%) và buổi truyền thông giáo dục sức khỏe tại xã (35,36%) Kênh loa truyền thanh phường, xã có tỷ lệ thấp nhất với 14,92% Trong số các nội dung thông tin, thông tin về biện pháp phòng ngừa và biểu hiện của UTCTC được cung cấp nhiều nhất, nhưng tỷ lệ tiếp nhận các nội dung này vẫn ở mức thấp, từ 30,94% đến 40,88%.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đi khám sàng lọc UTCTC ở phụ nữ 35-60 tuổi có chồng tại Thị xã Sông Cầu-Tỉnh Phú Yên
có chồng tại Thị xã Sông Cầu-Tỉnh Phú Yên
3.3.1 Nhóm yếu tố nhân khẩu học
Bảng 3.10 Một số yếu tố nhân khẩu học liên quan đến việc khám sàng lọc UTCTC
Yếu tố Đi khám sàng lọc Không đi khám sàng lọc
Trung học cơ sở (THCS) 22 33,33 47 40,87
Trung học phổ thông (THPT) 5 7,58 15 13,04
Có người mắc bệnh UTCTC 0 0,00 2 1,74
6.Tiền sử dùng thuốc tránh thai
7 Tiền sử viêm nhiễm phụ khoa
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi ảnh hưởng khác nhau đến quyết định đi khám sàng lọc Cụ thể, tỷ lệ người trong độ tuổi 35-39 đi khám sàng lọc chỉ đạt 38,43%, thấp hơn so với 53,91% không đi khám Ngược lại, nhóm tuổi 40-49 có tỷ lệ đi khám sàng lọc cao hơn, với 45,45% so với 26,96% không đi khám Đối với nhóm tuổi từ 50-60, tỷ lệ đi khám và không đi khám là tương đương.
Tỷ lệ người đi khám sàng lọc chủ yếu tập trung ở nhóm buôn bán (24,24%) và thấp nhất ở nhóm làm thuê (4,55%) Ngược lại, nhóm không đi khám chủ yếu là người nội trợ (57,39%) và thấp nhất là nhóm hưu trí, làm thuê (3,48%) Điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến quyết định đi khám, với nhóm có kinh tế khá có tỷ lệ đi khám cao hơn, trong khi nhóm có điều kiện kinh tế trung bình lại có tỷ lệ đi khám thấp hơn Đối với tiền sử viêm nhiễm phụ khoa, những người chưa từng bị nhiễm có tỷ lệ đi khám thấp hơn so với những người đã từng bị (từ 1 lần trở lên).
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, các điều kiện nêu trên có ảnh hưởng lớn đến quyết định của phụ nữ trong việc tham gia khám sàng lọc.
“Mình hiện nay mới 36 tuổi cũng được xem là còn khá trẻ nên cảm thấy chưa cần thiết phải đi khám sàng lọc UTCTC sớm như vậy”
“Nghề buôn bán thường xuyên phải chạy hàng và trực cửa hàng thường xuyên nên không có thời gian để đi khám sàng lọc”
Thu nhập hiện tại của tôi đã tăng lên so với 5 năm trước, vì vậy tôi cần chú trọng hơn đến sức khỏe Khám sàng lọc trở nên cần thiết, vì giờ đây tôi có khả năng chi trả cho các dịch vụ khám bệnh.
“Tôi từng bị viêm nhiễm hai lần, mỗi lần đều rất lâu mới khỏi, nghe nói dễ có nguy cơ UTCTC nên đi khám sàng lọc cho yên tâm”
3.3.2 Kiến thức và thái độ về UTCTC và quyết định khám sàng lọc
Bảng 3.11 Mối liên quan kiến thức và đi khám sàng lọc UTCTC
Nội dung Đi khám sàng lọc
Tần số % Tần số % Kiến thức chung về bệnh
Kiến thức chung về nguyên nhân
Kiến thức chung về khám sàng lọc
Kiến thức chung về biện pháp phát hiện
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa kiến thức về ung thư cổ tử cung (UTCTC) và quyết định đi khám sàng lọc, với các hệ số OR (CI 95%) đều >1 và P < 0,01 Cụ thể, những người có hiểu biết đúng về bệnh có khả năng đi khám sàng lọc cao hơn 1,49 lần so với những người chưa có kiến thức đúng (95% CI: 1,34-6,11) Ngoài ra, những người hiểu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh có khả năng đi khám sàng lọc cao hơn 1,16 lần (95% CI: 1,49-2,69) Đặc biệt, những người có kiến thức chung về khám sàng lọc có khả năng đi khám cao hơn tới 70,9 lần so với những người không có hiểu biết đúng.
Bảng 3.13 Thái độ và quyết định Khám sàng lọc của ĐTNC
Nội dung Đi khám sàng lọc OR (CI
Tần số % Tần số % Thái độ đối với UTCTC
Thái độ về UTCTC ảnh hưởng lớn đến quyết định đi khám sàng lọc Phân tích cho thấy, những người có thái độ đúng về UTCTC có khả năng đi khám cao gấp 22,94 lần so với những người không có thái độ đúng, với tỷ lệ odds ratio là 22,92 và khoảng tin cậy 95% là (3,57 – 949,8).
3.3.3 Sự tiếp cận thông tin về phòng bệnh UTCTC của ĐTNC
Bảng: 3.14 Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và kiến thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung
HUPH Đặc điểm Đi khám sàng lọc Không đi khám sàng lọc OR (CI
Nghe/xem được thông tin về phòng UTCTC Đã nghe 63 100,00 91 79,13
Tần xuất nhận được thông tin về UTCTC
Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đi khám sàng lọc của đối tượng nghiên cứu là sự tiếp cận thông tin và truyền thông về kiến thức phòng bệnh UTCTC Kết quả cho thấy có mối liên quan thống kê có ý nghĩa (p