Thông tin chung về HIV và điều trị ARV ở trẻ em dưới 16 tuổi
1.1.1 Những thông tin chung bệnh HIV/AIDS
HIV (Human Immunodeficiency Virus) là vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, có khả năng tiêu diệt tế bào bạch cầu, làm suy yếu hệ thống miễn dịch AIDS (Acquired Immunodeficiency Syndrome) là giai đoạn khi hệ miễn dịch bị HIV tấn công, khiến cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và ung thư.
HIV lây truyền qua 3 con đường
- HIV có thể lây truyền qua đường tình dục không được bảo vệ
- HIV lây qua đường tiếp xúc với máu người nhiễm HIV (bơm kim tiêm, kim châm cứu, dụng cụ xăm, trổ, truyền máu chƣa sàng lọc HIV)
- HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con qua 3 giai đoạn:
+ Trước khi sinh: Trong quá trình mang thai
+ Trong khi sinh: Trong quá trình chuyển dạ và đẻ
+ Sau khi sinh: Trong quá trình cho con bú
CD4 là tế bào bạch cầu quan trọng trong hệ miễn dịch, đóng vai trò bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật Khi HIV tấn công và tiêu diệt tế bào CD4, khả năng bảo vệ của cơ thể giảm sút, khiến mầm bệnh dễ dàng xâm nhập và gây ra nhiều bệnh lý.
HIV xâm nhập vào tế bào CD4, lợi dụng chúng để sinh sôi và tiêu diệt dần Virus gắn vào tế bào CD4 và hòa màng với chúng, cho phép sợi mã di truyền của HIV xâm nhập vào mã gen của tế bào CD4 Nhờ vào tế bào CD4, các sợi mã hóa di truyền HIV mới được tạo ra, dẫn đến sự phát triển của virus.
HUPH là một loại vi rút HIV mới, có khả năng thoát ra và xâm nhập vào các tế bào CD4 khác Sau một thời gian bị vi rút HIV lợi dụng, các tế bào CD4 sẽ bị tổn hại và dẫn đến cái chết.
Hội chứng nhiễm Retrovirus cấp tính xuất hiện sau 2 - 4 tuần nhiễm HIV, với triệu chứng kéo dài từ 1 - 2 tuần Các biểu hiện bao gồm sốt, đau cơ và khớp, hạch to, viêm họng, phát ban, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nhức đầu, gan lách to, bệnh lý thần kinh, loét miệng và sinh dục, cùng với tổn thương da và ngứa nhẹ.
Giai đoạn tiềm tàng của nhiễm HIV kéo dài từ 5 đến 10 năm, trong đó số lượng tế bào CD4 giảm dần Bệnh nhân có thể vẫn khỏe mạnh cho đến khi số lượng CD4 giảm xuống dưới 500 tế bào/mm³, lúc này triệu chứng nhiễm HIV hoặc AIDS bắt đầu xuất hiện Nhiễm trùng cơ hội thường xảy ra khi số lượng CD4 giảm xuống dưới 200 tế bào/mm³.
Người lớn có thể sống nhiều năm với HIV trước khi phát triển thành AIDS, trong khi trẻ em nhiễm HIV có thể chuyển sang AIDS nhanh hơn Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, 34% trẻ nhiễm HIV sẽ tử vong vào năm 1 tuổi và 50% vào năm 2 tuổi AIDS được xác định khi người nhiễm HIV có bất kỳ tình trạng nào thuộc giai đoạn lâm sàng 4 hoặc số lượng tế bào CD4 giảm xuống dưới 200 tế bào/mm³, trong khi giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 và số lượng tế bào CD4 dưới 350 tế bào/mm³ cũng là dấu hiệu cảnh báo.
1.1.2 Điều trị HIV bằng thuốc kháng vi rút (ARV)
Mục đích của điều trị ARV là ức chế sự nhân lên của vi rút HIV, giữ lượng vi rút trong máu ở mức thấp, và giảm thiểu tác động của vi rút lên hệ miễn dịch Điều này giúp ngăn chặn sự tiến triển từ HIV sang AIDS, phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, cải thiện chất lượng sống, cũng như giảm tần suất và tỷ lệ tử vong do các bệnh liên quan đến HIV.
Điều trị ARV sớm mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho người nhiễm HIV, bao gồm việc tăng cường hệ thống miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, và làm chậm quá trình tiến triển của bệnh Hơn nữa, điều trị ARV còn giúp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho người khác, từ đó góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan đến HIV.
Việc phục hồi sức khỏe không chỉ giúp người bệnh tái hòa nhập cộng đồng mà còn tạo điều kiện cho họ sinh hoạt, học tập và lao động bình thường, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
1.1.3 Nguyên tắc điều trị: Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc, dinh dƣỡng, hỗ trợ tâm lý và xã hội cho trẻ nhiễm HIV Do đó, ngày càng có nhiều bệnh nhân HIV/AIDS tìm đến Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS để đƣợc tƣ vấn, điều trị ARV Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc Điều trị ARV là điều trị suốt đời; Trẻ cần phải tuân thủ điều trị tốt để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc Trẻ nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chƣa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội
1.1.4 Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị [9]
Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị bằng ARV cho trẻ em được xác định dựa trên tình trạng chẩn đoán nhiễm HIV, độ tuổi, giai đoạn lâm sàng và giai đoạn miễn dịch của trẻ, cùng với các tiêu chuẩn cụ thể liên quan.
- Trẻ có chẩn đoán xác định nhiễm HIV:
+ Trẻ < 12 tháng tuổi: Điều trị ngay, không phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàng và tế bào CD4 [2]
+ Trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên, chỉ định khi:
Giai đoạn lâm sàng 4, không phụ thuộc tế bào CD4 (phụ lục 1)
Trong giai đoạn lâm sàng 3, tình trạng không phụ thuộc vào tế bào CD4 Trẻ mắc lao có thể gặp các triệu chứng như thâm nhiễm lympho, bạch sản dạng lông miệng và giảm tiểu cầu Do đó, cần điều trị trước và trì hoãn việc sử dụng ARV nếu tế bào CD4 vẫn ở mức “suy giảm nặng” theo lứa tuổi Nếu không thể thực hiện xét nghiệm tế bào CD4, cần xem xét việc điều trị ARV.
Giai đoạn lâm sàng 2 và tế bào CD4 (hoặc tổng số tế bào lympho) ở dưới ngƣỡng “suy giảm nặng” theo lứa tuổi
Giai đoạn lâm sàng 1 và tế bào CD4 ở dưới ngưỡng “suy giảm nặng” theo lứa tuổi
+ Trẻ dưới 18 tháng tuổi chưa chẩn đoán xác định nhiễm HIV bằng xét nghiệm vi rút, nhƣng đƣợc chẩn đoán lâm sàng bệnh HIV/AIDS nặng [3]
1.1.5 Các phác đồ điều trị ARV dùng cho trẻ em: [3] (phụ lục 2)
Theo Quyết định 3003/QĐ - BYT năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS, trong đó nêu rõ các phác đồ điều trị chính bậc 1 dành cho bệnh nhân.
HUPH cho trẻ em bắt đầu điều trị bằng ARV chưa tiếp xúc với NVP hoặc đã tiếp xúc với dự phòng lây truyền mẹ con trên 12 tháng là AZT + 3TC + NVP Các phác đồ thay thế bao gồm d4T + 3TC + NVP, AZT + 3TC + EFV, d4T + 3TC + EFV, hoặc phác đồ ba thuốc NRTI: AZT hoặc d4T + 3TC + ABC Đến năm 2011, Bộ Y tế ban hành quyết định 4139/QĐ-BYT sửa đổi “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS”, trong đó phác đồ ưu tiên cho trẻ dưới 24 tháng tuổi đã tiếp xúc với NVP hoặc EFV là AZT + 3TC + LPV/r Đối với trẻ không có tiền sử tiếp xúc, phác đồ lựa chọn là AZT + 3TC + NVP Trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi và trên 36 tháng tuổi được khuyến cáo sử dụng AZT/d4T + 3TC + NVP và AZT + 3TC + NVP/EFV Đối với trẻ >12 tuổi bị viêm gan B, khuyến cáo sử dụng TDF + 3TC + EFV/NVP Đến tháng 7/2015, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3047/QĐ-BYT bổ sung phác đồ điều trị ARV bậc 1 cho người lớn và trẻ ≥ 10 tuổi là TDF + 3TC + EFV, trẻ từ 3 đến 10 tuổi là ABC/AZT + 3TC + EFV/NVP, và trẻ dưới 3 tuổi là ABC/AZT + 3TC + LPV/r/NVP Điều trị ARV cho trẻ dưới 3 tuổi có đồng nhiễm lao là ABC/AZT + 3TC + NVP, từ 3 tuổi trở lên là ABC/AZT + 3TC + EFV, và trẻ em dưới 5 tuổi cần điều trị ngay.
1.1.6 Tuân thủ điều trị ARV
Dịch HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam
HIV là một bệnh mãn tính không thể chữa khỏi, làm suy yếu hệ thống miễn dịch và khiến người nhiễm dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, có thể dẫn đến tử vong Hiện tại, do chưa có thuốc điều trị triệt để và vắc xin phòng ngừa hiệu quả, các biện pháp dự phòng là cần thiết để hạn chế tác hại và sự lây lan của HIV trong cộng đồng Mục tiêu chính của các biện pháp này bao gồm: giảm tốc độ lây lan HIV, làm chậm quá trình tiến triển từ nhiễm HIV sang AIDS, và giảm thiểu ảnh hưởng của HIV/AIDS đến kinh tế - xã hội.
Theo báo cáo của UNAIDS, năm 2008, trên toàn cầu có khoảng 33,4 triệu người nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 2,1 triệu trẻ em dưới 15 tuổi, với gần 80% trẻ em sống ở khu vực cận Sahara châu Phi Số người tử vong do AIDS lên tới 2 triệu, bao gồm khoảng 280.000 trẻ em dưới 15 tuổi Dịch HIV/AIDS đang gia tăng và xuất hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới.
2008 có khoảng 2,7 triệu ca nhiễm HIV mới trong đó khoảng 430.000 trẻ em dưới
Châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi HIV/AIDS, với gần 71% (390.000) trẻ em nhiễm mới vào năm 2008 Trong khi đó, Châu Á ghi nhận 21.000 trẻ em, Đông Âu và Trung Á có khoảng 3.700 trẻ, Châu Mỹ La Tinh là 6.900 trẻ, và vùng Bắc Phi cùng Trung Đông có 4.600 trẻ Số trẻ em nhiễm mới ở Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu, cũng như Châu Úc, khá thấp, với số lượng dưới 500 trẻ.
Năm 2011, thế giới ghi nhận thêm 2,5 triệu người nhiễm HIV mới và 1,7 triệu ca tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS Hiện tại, có khoảng 34 triệu người sống với HIV/AIDS, trong đó 17 triệu người không biết mình đã nhiễm virus Việc không nhận thức về tình trạng nhiễm bệnh này hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng và chăm sóc, từ đó làm tăng nguy cơ lây truyền HIV ra cộng đồng.
Tại Việt Nam, năm 1990 trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại
Từ năm 1993, dịch HIV/AIDS bắt đầu bùng nổ tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam Đến năm 1998, tất cả các tỉnh thành trong nước đều ghi nhận trường hợp nhiễm HIV Tính đến ngày 30/09/2010, tổng số trẻ em được điều trị HIV/AIDS là 2.478, trong khi dự báo năm 2010 có khoảng 1.510 trẻ nhiễm HIV, con số này dự kiến sẽ tăng lên 5.700 trẻ vào năm 2012 Đến cuối năm 2010, 100% các tỉnh, 97,8% quận/huyện và 74% xã/phường đã có người nhiễm HIV.
Báo cáo của Bộ Y tế về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 cho thấy Đồng Tháp nằm trong top 10 tỉnh có số người nhiễm HIV tăng cao nhất, với mức tăng 14% so với cùng kỳ năm 2012 Trong 11 tháng đầu năm, Đồng Tháp cũng nằm trong số 10 tỉnh có số trường hợp xét nghiệm mới dương tính cao nhất, bên cạnh TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Sơn La và Nghệ An.
An, Điện Biên, Đồng Nai, Thái Nguyên, Lai Châu, Đồng Tháp và Cần Thơ [15] Tại tỉnh Đồng Tháp, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên phát hiện được vào năm
Từ năm 1992 đến ngày 30 tháng 9 năm 2014, Đồng Tháp đã ghi nhận tổng cộng 5.986 trường hợp nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 2.804 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và 1.233 người đã tử vong Tất cả 12 Huyện/Thị/Thành phố trong tỉnh đều có người nhiễm HIV, với Huyện Hồng Ngự có 645 người nhiễm hiện còn sống.
Tỉnh ghi nhận 514 người nhiễm HIV, trong đó huyện Thanh Bình có 415 người và Tam Nông có 328 người Đây là các huyện/thị giáp biên giới với Campuchia có tỷ lệ nhiễm cao nhất Kể từ năm 2004, tỷ lệ phát hiện nhiễm HIV đã tăng lên đáng kể.
HUPH Đồng Tháp đã khởi động dự án Life Gap (CDC Hoa Kỳ) với việc thành lập Phòng Tư vấn HIV (VCT) và đội ngũ nhân viên tiếp cận cộng đồng Nhờ vào chương trình điều trị ARV được triển khai rộng rãi cho bệnh nhân AIDS và chương trình dự phòng lây truyền mẹ con bắt đầu từ năm 2009, nhiều đối tượng đã được tiếp cận dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ tốt hơn, đồng thời được quản lý hiệu quả hơn.
Tình hình, điều trị HIV/AIDS cho trẻ em trên thế giới và Việt Nam
Trước xu thế gia tăng của đại dịch, chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt là trẻ em, trở thành trọng tâm của Chương trình Phòng, Chống HIV/AIDS Nhiều quốc gia đã triển khai mạnh mẽ chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và chăm sóc, điều trị cho trẻ em, đạt được những thành tựu đáng kể Đến tháng 12/2008, có 275.700 trẻ nhiễm HIV được tiếp cận điều trị ARV, nhưng chỉ đáp ứng 38% nhu cầu Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu điều trị ARV cho trẻ em cao nhất ở Châu Âu và Trung Á (85%), trong khi Cận Saharan Châu Phi chỉ đạt 35% Theo ước tính của UNAIDS, khoảng 200.000 trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV/AIDS đã được ngăn chặn trong giai đoạn 1996 - 2008 Đến cuối năm 2011, khoảng 8 triệu người nhiễm HIV tại các nước đang phát triển được điều trị bằng thuốc ARV, với 54% người đủ tiêu chuẩn đã được điều trị Một số quốc gia đã gần đạt mục tiêu tiếp cận phổ cập trong điều trị ARV, dẫn đến giảm mạnh tình trạng nhiễm mới và tỷ lệ tử vong do HIV Điều trị HIV/AIDS là suốt đời, trong đó tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định thành công.
Việc điều trị bằng thuốc ARV cho trẻ em tại HUPH yêu cầu sự tuân thủ nghiêm ngặt, với tỷ lệ tuân thủ phải đạt trên 95% Đảm bảo tuân thủ điều trị ARV sẽ góp phần giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ nhiễm HIV.
Trước sự gia tăng của dịch HIV, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn quốc gia về chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS vào năm 2000, với các sửa đổi vào năm 2005 và 2009 Đồng thời, Bộ Y tế cũng đã thiết lập quy trình chăm sóc và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, cùng với hướng dẫn xét nghiệm chẩn đoán sớm cho trẻ em dưới 18 tuổi nhiễm HIV Tháng 6 hàng năm được xác định là tháng cao điểm để phòng ngừa lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
Chương trình điều trị ARV miễn phí cho trẻ em tại Việt Nam đã được triển khai từ năm 2006, với sự hỗ trợ của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS trong việc thiết lập mạng lưới chăm sóc tại các bệnh viện tỉnh và huyện Người lớn và trẻ em nhiễm HIV có thể đăng ký nhận dịch vụ điều trị và chăm sóc miễn phí, bao gồm xét nghiệm HIV, chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan, theo dõi lâm sàng, điều trị ARV, và giới thiệu đến các dịch vụ chăm sóc cộng đồng Tính đến tháng 3 năm 2014, có 83.979 người nhiễm HIV còn sống đang điều trị ARV, trong đó có 4.263 bệnh nhân là trẻ em.
1.3.3 Tình hình điều trị tại Đồng Tháp Đồng Tháp có 3 Phòng khám Ngoại trú HIV cho người lớn là: Phòng khám Ngoại trú Hồng Ngự, Phòng khám Ngoại trú Đồng Tháp, Phòng khám Ngoại trú Sa Đéc Tính đến 31/12/2014 tổng số quản lý 1.200 bệnh nhân, trong đó điều trị ARV là 855 bệnh nhân Đối với trẻ em, Đồng Tháp có 01 PKNT Nhi đặt tại Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS
Phòng khám Ngoại trú Nhi đƣợc thành lập tháng 12/2007 đến nay đã quản lý
Trong số 100 trẻ nhiễm HIV, có 85 trẻ đang được điều trị bằng thuốc ARV và nhận hỗ trợ tư vấn thường xuyên Đa số các em là trẻ mồ côi và sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ít nhận được sự quan tâm chăm sóc từ cộng đồng và người thân, dẫn đến việc tiếp nhận và sử dụng thuốc gặp nhiều hạn chế.
Phòng khám Ngoại trú Nhi thuộc Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS có đội ngũ nhân sự gồm 02 Bác Sĩ, 01 Điều Dưỡng và 01 Dược Sĩ làm việc toàn thời gian Phòng khám mở cửa vào thứ 3 và thứ 5, nhưng trẻ em cũng có thể được khám vào những ngày khác khi có phụ huynh khám tại phòng khám người lớn Lịch phát thuốc tuân theo Quyết Định 3003 – BYT, với lịch tái khám hàng tuần trong tháng đầu, 2 tuần/lần trong tháng thứ 2, và 1 tháng/lần từ tháng thứ 3 Phòng khám còn nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Bệnh viện Nhi Đồng 1, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên môn nghiệp vụ.
Kết quả điều trị ARV ở trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tình trạng dinh dưỡng, các nhiễm trùng cơ hội, và thời điểm bắt đầu điều trị Tình trạng miễn dịch trước và trong khi điều trị cũng rất quan trọng Tuy nhiên, yếu tố quyết định nhất vẫn là sự tuân thủ điều trị, bao gồm việc sử dụng đúng cách, đúng liều, đúng thuốc và đúng giờ Thất bại trong điều trị thường dẫn đến việc phải chuyển phác đồ, chủ yếu do không tuân thủ Tại Phòng khám Ngoại trú Nhi Đồng Tháp, tỷ lệ thất bại điều trị ARV chuyển phác đồ bậc 2 là 10%, với 8 trẻ tử vong và 8 trẻ bị suy dinh dưỡng.
Kết quả điều trị HIV cho trẻ 2 - dưới 16 tuổi
Một số nghiên cứu về hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng điều trị ARV ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam
Hiệu quả điều trị ARV ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam
According to a 2010 report by WHO, UNICEF, and UNAIDS in Geneva, the survival rate of children infected with HIV after 12 months of ARV treatment was 80% This represents an increase from the 73% survival rate recorded in 2009.
Hầu hết trẻ em nhiễm HIV đủ điều kiện điều trị ARV không được tiếp cận điều trị, với tỷ lệ bao phủ điều trị ARV ở trẻ em chỉ đạt 28% so với 57% ở người trưởng thành trên toàn cầu vào năm 2011 Tại Việt Nam, tỷ lệ này tương đối cao, đạt 83,2% vào năm 2010 và 82,9% vào năm 2011 Nghiên cứu CHER tại Nam Phi cho thấy, nếu trẻ em được điều trị ARV từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12 sau khi sinh, tỷ lệ sống sót sẽ được cải thiện đáng kể.
Nghiên cứu cho thấy, phát hiện sớm nhiễm HIV và điều trị ARV kịp thời có thể giảm tỷ lệ tử vong đến 76% và tiến triển các biểu hiện nhiễm HIV đến 75% Trước năm 2008, theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, việc điều trị ARV cho trẻ nhiễm HIV dưới 18 tháng tuổi dựa vào phần trăm CD4 và các biểu hiện lâm sàng Tuy nhiên, sau đó, các nghiên cứu toàn cầu, đặc biệt là từ nghiên cứu CHER, đã chỉ ra rằng điều trị ARV nên được thực hiện sớm ngay từ những tuần đầu đời, không phụ thuộc vào CD4 hay giai đoạn lâm sàng.
Nghiên cứu của Johnson và cộng sự (2013) cho thấy điều trị sớm ARV cho trẻ nhiễm HIV có thể giảm 23,6% số trẻ tử vong do AIDS ở Châu Phi, nếu chẩn đoán bằng PCR được duy trì như hiện tại Nếu 80% trẻ nhiễm chu sinh được chẩn đoán bằng PCR ở 2 tháng tuổi, tỷ lệ tử vong có thể giảm tới 34,2% Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh hướng dẫn điều trị ARV cho trẻ em nhằm giảm tỷ lệ tử vong.
Nghiên cứu tại Kenya và Narobia của tác giả Wamalwa và cộng sự vào năm
Nghiên cứu năm 2012 đã đánh giá tỷ lệ sống sót của trẻ nhiễm HIV, đặc biệt là ảnh hưởng của việc trì hoãn điều trị Kết quả cho thấy, trong số 80 trẻ được theo dõi, tỷ lệ sống sót đến 12 tháng tuổi là 77,4%, trong khi tỷ lệ tử vong là 14,3% trên 100 người/năm Các yếu tố liên quan đến tử vong chủ yếu bao gồm tuổi bắt đầu điều trị và tình trạng bệnh tật trước khi điều trị.
Trong một nghiên cứu kéo dài 5 năm tại Thái Lan vào năm 2010, tác giả Collins và cộng sự đã theo dõi 578 trẻ em được điều trị ARV, trong đó có 111 trẻ (19,2%) được theo dõi từ khi sinh với thời gian trung bình là 53 tháng Kết quả cho thấy tỷ lệ tử vong là 7% (43 trẻ) và tỷ lệ mất dấu là 7% (38 trường hợp) Tỷ lệ sống sót sau 1 năm điều trị ARV đạt 84,3% và 76,7% sau 5 năm Đặc biệt, tỷ lệ CD4 thấp khi bắt đầu điều trị có mối liên hệ chặt chẽ với tỷ lệ tử vong ở trẻ lớn.
Nghiên cứu của Raguenaud và cộng sự năm 2009 về hiệu quả điều trị ARV cho trẻ nhiễm HIV tại Campuchia cho thấy tỷ lệ tử vong sau 4 năm theo dõi.
Tỷ lệ sống sót và tiếp tục phác đồ điều trị ARV ở trẻ em nhiễm HIV tại Việt Nam là 86,7% sau 6 tháng và 84,4% sau 12 tháng Trong một nghiên cứu, 43 trẻ mất dấu, trong đó có 24 trẻ tử vong và 17 trẻ mất theo dõi So với nhóm chưa điều trị ARV, nhóm điều trị có tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều, với 5,5% tử vong và 2% bỏ trị ARV sau 4 năm theo dõi 62,8% trường hợp tử vong xảy ra trước khi bắt đầu điều trị ARV, chủ yếu trong vòng 3 tháng đầu Sự khác biệt về tỷ lệ tử vong giữa nhóm điều trị và không điều trị là rõ rệt, với nguy cơ tương đối RR là 4.1 (P0,05 Qua phỏng vấn, nhóm trẻ từ 2 đến dưới 6 tuổi cho thấy việc uống thuốc rất hiệu quả, với một phụ huynh chia sẻ: “Con của em hễ đưa thuốc là uống, nó ngoan lắm, đưa bao nhiêu cũng uống, nó uống như ăn kẹo vậy đó” (PVS_nam 03) Trong khi đó, nhóm tuổi từ 6 đến dưới 16 tuổi, được coi là giai đoạn vị thành niên, thường có xu hướng chống đối Các chuyên gia tâm lý nhận định rằng trẻ ở độ tuổi này thường nghĩ rằng mình đã lớn và có quyền tự quyết: “Thằng L nó chạy chơi tối ngày, tôi nhắc nó đi học, uống thuốc, nó dạ dạ rồi chạy mất tiêu” (PVS_nữ 06).
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và thời gian phát hiện trẻ nhiễm HIV (n0)
Phân tích mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và thời gian phát hiện cho thấy, trẻ dưới 18 tháng có tỷ lệ điều trị tốt đạt 100%, trong khi nhóm trên 18 tháng chỉ đạt 89,8%, với tỷ lệ không tốt là 10,2% Sự khác biệt về kết quả điều trị giữa hai nhóm tuổi này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Phỏng vấn cán bộ y tế cho thấy, nếu trẻ được phát hiện và điều trị sớm, kết quả điều trị sẽ rất tốt, giúp tránh được các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
(PVS_BS nam 01) Đặc điểm
Thời gian phát hiện trẻ nhiễm
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và khu vực sống của trẻ (n0) Đặc điểm
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trẻ em sống ở nông thôn có tỷ lệ điều trị tốt lên tới 94,8%, trong khi đó, tỷ lệ này ở trẻ em thành thị chỉ đạt 78,3% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05 Theo ý kiến của cán bộ y tế, thuốc viên được cho là hiệu quả hơn do dễ uống hơn so với thuốc si rô, mà thường có vị cay và khó uống, đặc biệt là khi phải dùng với số lượng lớn.
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa kết quả điều trị và đặc điểm nguời nuôi duỡng của trẻ nhiễm HIV (n0) Đặc điểm
Người nuôi duỡng trẻ HIV
Phân tích mối liên quan giữa kết quả điều trị và đặc điểm người nuôi trẻ cho thấy, trẻ có cha/mẹ nuôi dưỡng có kết quả điều trị tốt đạt 92,5%, trong khi trẻ có người nuôi dưỡng khác chỉ đạt 87,9% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Phỏng vấn cho thấy trẻ thiếu tình thương cha mẹ gặp khó khăn trong điều trị, trong khi sống với ông bà, trẻ được chăm sóc nhưng không bằng tình thương của cha mẹ Ông bà thường không có nhiều thời gian do phải kiếm sống, dẫn đến sự quan tâm ít hơn cho trẻ.
Gia đình này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khi có hai đứa cháu nhiễm HIV, trong khi cha mẹ chúng đã qua đời khi chúng còn rất nhỏ Bà phải một mình nuôi dưỡng hai đứa trẻ, vừa bán vé số vừa bán hột vịt lộn để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống Bà chia sẻ: “Mẹ nó chết lúc nó mới biết bò, một mình tui vừa lo cho thằng lớn lúc này nó mới biết đi, tui tay bồng tay quậy sữa, thức suốt đêm khổ lắm cô ơi.”
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và tác dụng phụ của thuốc (n0) Đặc điểm
Tác dụng phụ của thuốc
Phân tích mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và tác dụng phụ của thuốc cho thấy nhóm trẻ sử dụng thuốc có tác dụng phụ đạt kết quả điều trị tốt 100%, trong khi nhóm không có tác dụng phụ có tỷ lệ tốt là 90,6% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Theo phỏng vấn cán bộ y tế, mặc dù có 4 trường hợp tác dụng phụ, nhưng kết quả điều trị vẫn đạt 100% nhờ vào việc theo dõi sát sao và tư vấn kỹ lưỡng cho người chăm sóc về cách sử dụng thuốc đúng cách và phát hiện kịp thời các tác dụng phụ.
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và thời gian phát hiện đến lúc điều trị của trẻ (n0) Đặc điểm
Thời gian phát hiện đến điều trị
Phân tích mối liên quan giữa kết quả điều trị trẻ nhiễm HIV và thời gian phát hiện đến khi điều trị cho thấy, nhóm trẻ có thời gian phát hiện đến khi điều trị ARV dưới 3 tháng có kết quả điều trị tốt 89,6%, trong khi nhóm từ 3 tháng trở lên có kết quả tốt 92,3% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Kết quả phỏng vấn cho thấy tỷ lệ không tốt cao hơn ở nhóm dưới 3 tháng do người chăm sóc bận rộn với công việc, không theo dõi việc uống thuốc của trẻ Nhiều người chăm sóc là ông bà có trình độ thấp, không biết chữ, dẫn đến khó khăn trong việc nhắc nhở trẻ uống thuốc đúng giờ Một số trường hợp, mặc dù người chăm sóc biết đọc biết viết, nhưng vẫn không thể theo dõi việc uống thuốc của trẻ do bận rộn với công việc.
Kết quả phân tích cho thấy không có mối liên quan thống kê giữa các yếu tố khác và "kết quả điều trị" (p>0,05) Tuy nhiên, đặc điểm về môi trường sống của trẻ lại có mối liên quan đáng kể với kết quả điều trị (p