1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng trí lực, dinh dưỡng và mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn với trí lực ở học sinh lớp 2 4 trường tiểu học ninh sở, huyện thường tín, hà nội năm 2016

100 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình trạng trí lực, dinh dưỡng và mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn với trí lực ở học sinh lớp 2-4 trường tiểu học Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2016
Tác giả Nguyễn Thu Vân
Người hướng dẫn TS. BS Bùi Thị Nhung
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y học Công cộng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

47 Bảng 3.17: Mối liên quan giữa khẩu phần ăn với điểm số trí nhớ làm việc của trẻ kiểm soát với các yếu tố tuổi, giới và tình trạng dinh dưỡng trong mô hình hồi quy ..... Nghiên cứu nhằ

Trang 1

NGUYỄN THU VÂN

TÌNH TRẠNG TRÍ LỰC, DINH DƯỠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, KHẨU PHẦN

ĂN VỚI TRÍ LỰC Ở HỌC SINH LỚP 2-4 TRƯỜNG TIỂU HỌC NINH SỞ, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2017

HUPH

Trang 2

NGUYỄN THU VÂN

TÌNH TRẠNG TRÍ LỰC, DINH DƯỠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, KHẨU PHẦN

ĂN VỚI TRÍ LỰC Ở HỌC SINH LỚP 2-4 TRƯỜNG TIỂU HỌC NINH SỞ, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

TS BS Bùi Thị Nhung

HÀ NỘI, 2017

HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới giáo viên hướng dẫn TS BS Bùi Thị Nhung và giáo viên hỗ trợ Ths Lê Bích Ngọc đã tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tao Sau đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Y tế công cộng, anh/chị lớp Cao học Y tế công cộng khoá 19 đã đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo hội đồng giám sát xác định vấn đề, hội đồng bảo vệ đề cương, phân tích số liệu, phản biện và hội đồng bảo vệ luận văn đã cho tôi những ý kiến góp ý để tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường tiểu học Ninh Sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm nghiên cứu Tôi xin cảm ơn các anh/chị Khoa Dinh dưỡng học đường – Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nhóm Thông tin chiến lược - Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế (FHI 360) và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Y tế Cộng đồng (CCRD) đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

Sau cùng, tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bố mẹ, anh chị

em, chồng tôi và các con cùng những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi có thêm nỗ lực hoàn thành luận văn

Nếu không có sự giúp đỡ từ những cá nhân/tổ chức đã nêu trên đây, tôi chắc chắn không thể hoàn thành luận văn này Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn tất cả thầy cô, bạn bè, gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm học vừa qua

Hà Nội, ngày 28 tháng 08 năm 2017

(Học viên)

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Thực trạng tình trạng trí lực 4

1.2 Thực trạng tình trạng dinh dưỡng 9

1.3 Chế độ dinh dưỡng khẩu phần 14

1.4 Một số yếu tố liên quan tới trí lực của trẻ 14

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 24

1.6 Thông tin về địa điểm nghiên cứu 25

1.7 Tổng quan về nghiên cứu gốc 25

1.7.1 Tên nghiên cứu 25

1.7.2 Mục tiêu nghiên cứu 25

1.7.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

1.7.4 Đối tượng 25

1.7.5 Thiết kế nghiên cứu 26

1.7.6 Cỡ mẫu 26

1.7.7 Phương pháp thu thập số liệu 27

1.7.8 Xử lý và phân tích số liệu, báo cáo 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31

2.3 Thiết kế nghiên cứu 32

2.4 Cỡ mẫu 32

2.5 Phương pháp chọn mẫu 32

2.6 Các biến số nghiên cứu 33

HUPH

Trang 5

2.7 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 33

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 35

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CÚU 37

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37

3.2 Tình trạng trí lực của đối tượng nghiên cứu 39

3.3 Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn của trẻ 41

3.4 Một số yếu tố liên quan tới trí lực của trẻ 44

Chương 4 BÀN LUẬN 50

KẾT LUẬN 59

KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 1 BỘ CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU 69

PHỤ LỤC 2 CẤU TRÚC TRẮC NGHIỆM WISC-IV 72

PHỤ LỤC 3 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 76

PHỤ LỤC 4 LIÊN QUAN GIỮA TUỔI VÀ TRÍ LỰC 80

PHỤ LỤC 5 KHẨU PHẦN ĂN CỦA HỌC SINH 81

HUPH

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BAZ Chỉ số Z-Score BMI theo tuổi (BMI for Age Z-Score) BMI Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)

CFIT Bộ trắc nghiệm trí tuệ Culture Fair

(Culture Fair IQ Test) CFUI Điểm tuân thủ hướng dẫn ăn bổ sung

(Complementary Feeding Utility Index score) CPTTT Chậm phát triển trí tuệ

DALY Số năm sống khỏe mạnh tiềm tàng bị mất đi

(Disability-Adjusted Life Year) DHA Axit Docosahexaenoic, một loại axit béo omega-3 FSIQ Tổng điểm trí tuệ chuẩn hóa (Full Scale IQ)

HAZ Chỉ số Z-Score chiều cao theo tuổi

(Height for Age Z-Score)

IQ Chỉ số trí tuệ (Inteligent Quotient)

LCPFAs Axit béo chuỗi dài bão hòa đa

(Long-Chain Polystaturated Fatty Acids) LCPUFAs Axit béo chuỗi dài không bão hòa đa

(Long-Chain Polyunstaturated Fatty Acids)

(Mono Unstaturated Fatty Acid) NCDDKN Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị

PRI Chỉ số tư duy tri giác (Perceptual Reasoning Index) PSI Chỉ số tốc độ xử lý (Processing Speed Index)

HUPH

Trang 7

PUFA Axit béo không bão hòa đa

(Poly Unstaturated Fatty Acid)

SD Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)

SEANUTS Khảo sát dinh dưỡng Đông Nam Á

(South East Asian Nutrition Survey) SFA Axit béo bão hòa (Staturated Fatty Acid)

UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc

(The United Nations Children's Fund) VCI Chỉ số hiểu lời nói (Verbal Comprehension Index) VNĐ Việt Nam Đồng (đơn vị tiền tệ Việt Nam)

WAIS Thang đo trí tuệ Wechsler dành cho người lớn

(Wechsler Adult Intelligence Scale) WAZ Chỉ số Z-Score cân nặng theo tuổi

(Weight for Age Z-Score) WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization) WISC Thang đo trí tuệ Wechsler dành cho trẻ em

(Wechsler Intelligence Scale for Children) WMI Chỉ số trí nhớ làm việc (Working Memory Index)

WPPSI Thang đo trí tuệ dành cho trẻ mẫu giáo và tiểu học

(Wechsler Preschool and Primary Scale for Intelligence)

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 1.1 Phân loại mức độ trí tuệ theo trắc nghiệm David Wechsler 5

Hình 1.1 Ví dụ về 01 khuôn hình tiếp diễn của Raven 6

Bảng 1.2 Phân loại mức độ trí tuệ theo trắc nghiệm Raven 6

Biểu đồ 1 1 Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi theo các nguyên nhân (WHO, 2004) 11

Bảng 3.1: Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37

Biểu đồ 3.1: Phân bố nam và nữ trong từng nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.2: Cân nặng và chiều cao của trẻ trong nghiên cứu 38

Bảng 3.3: Các chỉ số Z-Score của trẻ trong nghiên cứu 38

Bảng 3.4: Đặc điểm các điểm số trí tuệ của trẻ trong nghiên cứu 39

Bảng 3.5: Phân loại điểm số trí lực của trẻ 39

Biểu đồ 3.2: Phân loại trí nhớ làm việc của trẻ 40

Biểu đồ 3.3: Phân loại tốc độ xử lý của trẻ 40

Bảng 3.6: Tình trạng dinh dưỡng của các đối tượng nghiên cứu 41

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì theo BAZ 41

Bảng 3.7: Khẩu phần ăn của đối tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.8: Khẩu phần ăn của đối tượng nghiên cứu 42

Bảng 3.9: Một số đặc điểm về tính cân đối trong khẩu phần ăn của đối tượng 43

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tuổi của trẻ với trí lực 44

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng với trí lực của trẻ 44

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa tình trạng thừa cân béo phì với trí lực của trẻ 45

Bảng 3.13: Mối liên quan giữa mức đáp ứng năng lượng khẩu phần với trí lực trẻ 45

Bảng 3.14: Tương quan giữa một số chất dinh dưỡng khẩu phần với trí lực trẻ 46

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa HAZ với điểm số tốc độ xử lý của trẻ kiểm soát với các yếu tố tuổi, giới và chế độ dinh dưỡng trong mô hình hồi quy Linear 47

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa WAZ với điểm số trí nhớ làm việc của trẻ kiểm soát với các yếu tố tuổi, giới và chế độ dinh dưỡng trong mô hình hồi quy Linear 47

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa khẩu phần ăn với điểm số trí nhớ làm việc của trẻ kiểm soát với các yếu tố tuổi, giới và tình trạng dinh dưỡng trong mô hình hồi quy 48

HUPH

Trang 9

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa khẩu phần ăn với điểm số tốc độ xử lý của trẻ kiểm soát

với các yếu tố tuổi, giới và tình trạng dinh dưỡng trong mô hình hồi quy 49

Hình 4.1 Thành phần cấu trúc trắc nghiệm WISC-IV 72

Bảng 4.1 Mô tả những tiểu trắc nghiệm chính và phụ trắc nghiệm WISC-IV 73

Bảng 4.2 Bảng chuyển đổi điểm quy chuẩn cho PSI và WMI 74

Bảng 4.3: Trung bình điểm trí lực theo các nhóm tuổi của học sinh 80

Bảng 4.4: Mối liên quan giữa tuổi và trung bình điểm trí lực của học sinh 80

Bảng 4.5: Tỷ lệ học sinh có khẩu phần ăn không đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị trong từng thành phần dinh dưỡng 81

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Các vấn đề về dinh dưỡng đã được chứng minh trong các nghiên cứu trên thế giới là có liên quan tới trí lực của trẻ Tại Việt Nam, học sinh tiểu học chiếm tỷ lệ cao trong dân số tuy nhiên lại chưa có nhiều nghiên cứu về trí lực, dinh dưỡng được thực hiện trên nhóm này Nghiên cứu nhằm tìm hiểu tình trạng trí lực, dinh dưỡng, chế độ dinh dưỡng và mô tả mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn với trí lực của trẻ tiểu học Nghiên cứu cắt ngang dựa trên phân tích số liệu thứ cấp thu thập

từ 217 học sinh lớp 2-4 trường tiểu học Ninh Sở huyện Thường Tín, Hà Nội Trí lực của trẻ được đo bằng hai chỉ số IQ thành phần bao gồm chỉ số trí nhớ làm việc (WMI)

và chỉ số tốc độ xử lý (PSI) theo thang điểm của thang đo trí lực dành cho trẻ em của David Wechsler, chỉnh sửa lần thứ IV (WISC-IV) ứng dụng trong điều kiện của Việt Nam Các ngưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2007 áp dụng cho trẻ từ 5-19 tuổi sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ Học viên dùng trung bình của các chỉ số Z-Score cân nặng theo tuổi (WAZ), chiều cao theo tuổi (HAZ) và BMI theo tuổi (BAZ) để mô tả tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu Các kiểm định t-test cho các giá trị trung bình được áp dụng để phân tích mối liên quan giữa yếu tố tuổi, giới với điểm số trí tuệ (IQ); kiểm định khi bình phương sử dụng để phân tích mối liên quan giữa các biến phân loại và áp dụng mô hình hồi quy Linear

để khống chế các yếu tố nhiễu Những kết quả nổi bật từ nghiên cứu, có 15,2% trẻ trong nghiên cứu có điểm số WMI ở mức kém và chậm phát triển, 37,8% có điểm số PSI kém và chậm phát triển Có 57,6% đối tượng nghiên cứu có năng lượng khẩu phần không đáp ứng nhu cầu khuyến nghị Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo BAZ,

có 8,3% trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 19,3% trẻ thừa cân béo phì Có mối liên quan giữa các chỉ số HAZ, WAZ, tuổi của trẻ và năng lượng khẩu phần, lipid, canxi, vitamin B1 và vitamin A, MUFA, chất bột đường với điểm số WMI và PSI của trẻ Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong can thiệp tăng cường trí lực, phòng chống suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì như bổ sung chất có lợi cho trí tuệ vào thực phẩm, chú trọng tính cân đối trong khẩu phần ăn và ứng dụng vào nghiên cứu trong tương lai về các yếu tố có thể liên quan tới trí lực nhưng chưa được tìm hiểu ở đề tài luận văn (học vấn của bố mẹ, i-ốt, LCPFAs )

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1948) đã cho thấy sức khỏe thể chất và tâm thần là hai vấn đề song song cần được quan tâm Về sức khỏe tâm thần, 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu do rối loạn tâm thần Theo thống kê của WHO tại khu vực Đông Nam Á (2012) ước tính số năm sống khỏe mạnh tiềm tàng

bị mất đi (DALY) do các vấn đề rối loạn tâm thần và hành vi chiếm gần 6,4% tổng

số DALY do tất cả các nguyên nhân [71] Tại Việt Nam năm 2015, Cục Quản lý Khám chữa bệnh ước tính khoảng 15% dân số (tương đương 13 triệu người) mắc các bệnh lý rối loạn tâm thần [4], bệnh ngày càng có xu hướng gia tăng và trẻ hóa [21] Chậm phát triển trí tuệ (CPTTT) đóng góp vào gánh nặng bệnh tật chung trong nhóm rối loạn tâm thần và hành vi với tỷ lệ khoảng 1-3% dân số [70] CPTTT có thể làm giảm cơ hội học tập và việc làm, ảnh hưởng tới kinh tế gia đình [11] và phần lớn các trường hợp được phát hiện ở lứa tuổi học đường

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra một số yếu tố có liên quan tới trí lực của trẻ như di truyền, tình trạng dinh dưỡng và chế độ dinh dưỡng của trẻ hoặc do các yếu tố môi trường, kinh tế xã hội [39, 41, 48, 51, 58, 64] Tại Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu

về trí lực của trẻ học đường có xem xét mối liên quan giữa trí lực của trẻ với các yếu tố

về chế độ dinh dưỡng và tình trạng dinh dưỡng, là những vấn đề liên quan tới sức khỏe thể chất của trẻ cũng như đang là gánh nặng mà trẻ lứa tuổi học đường phải đối mặt Gần đây nhất, thông qua phân tích số liệu trên 1893 học sinh tiểu học (6-11 tuổi) tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Lê Nguyễn Bảo Khanh (2016) đưa ra kết quả tỷ lệ trẻ có chỉ

số đo trí lực (IQ) đo bằng trắc nghiệm Raven ở mức từ trung bình thấp trở xuống là khá cao (chiếm 43,3%) và chiều cao theo tuổi của trẻ có liên quan mật thiết với điểm IQ [10]

Về dinh dưỡng ở Việt Nam hiện nay, gánh nặng suy dinh dưỡng (SDD) trẻ học đường còn tồn tại bên cạnh xu hướng gia tăng của tình trạng thừa cân và béo phì [31] Trẻ ở lứa tuổi tiểu học thường có tỷ lệ cao ở vào tình trạng chiều cao thấp so với tuổi, thiếu vi chất dinh dưỡng và nhiễm giun [20] Trẻ em có chế độ ăn uống không hợp lý

dễ dẫn tới rối loạn tâm lý, lo lắng hay khó khăn trong việc tiếp thu, trẻ khó có khả năng phát triển bình thường và thích nghi với các tình huống và các vấn đề tâm lý

HUPH

Trang 12

thường nghiêm trọng hơn khi trẻ bị béo phì Những điều này có thể gây ra tác động kép tới trẻ: dinh dưỡng không hợp lý, trí lực phát triển không đủ [31]

Trường tiểu học Ninh Sở huyện Thường Tín có 5 khối lớp với 19 lớp Tổng số học sinh của trường năm học 2016-2017 là 731 học sinh Số lượng học sinh tương đối đồng đều ở khối lớp 1-4; riêng khối 5 có số học sinh ít nhất với 104 học sinh chia vào 3 lớp Trường thực hiện nhiều hoạt động vệ sinh học đường và theo dõi sức khỏe học sinh Ban lãnh đạo nhà trường quan tâm và tạo điều kiện cho những nghiên cứu

về dinh dưỡng, trí lực tại nhà trường

Chủ đề nghiên cứu về dinh dưỡng, trí lực phù hợp với Chiến lược dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030 cũng như Đề án 641- nâng cao tầm vóc người Việt Nam [7, 18, 19] Chủ đề cũng phù hợp với các nỗ lực cải thiện dinh dưỡng và trí tuệ cho học sinh Việt Nam trong những năm gần đây [6, 13, 17] Nhằm mô tả tình trạng trí lực, dinh dưỡng đồng thời xác định xem liệu có mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, chế độ ăn với trí lực của trẻ tại trường tiểu học Ninh Sở hay không, học

viên đã thực hiện đề tài luận văn “Tình trạng trí lực, dinh dưỡng và mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn với trí lực ở học sinh lớp 2-4 trường tiểu học Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2016”

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1 Mô tả tình trạng trí lực của học sinh lớp 2 – 4 trường tiểu học Ninh Sở, huyện Thường Tín năm 2016

1.2 Mô tả tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần của học sinh lớp 2 – 4 trường tiểu học Ninh Sở, huyện Thường Tín năm 2016

1.3 Mô tả mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn với trí lực của học sinh lớp 2 – 4 trường tiểu học Ninh Sở, huyện Thường Tín năm 2016

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng tình trạng trí lực

1.1.1 Khái niệm trí lực

Trí lực hay năng lực trí tuệ (trí thông minh) là một dạng tổng thể của nhiều đơn

vị chức năng trí tuệ, song không phải đơn thuần là tổng số các khả năng mà là kết quả của sự phối hợp các khả năng đó [46]

1.1.2 Đánh giá tình trạng trí lực

Trí tuệ được đo bằng chỉ số trí tuệ - IQ Những nghiên cứu gần đây cho thấy có

sự liên quan giữa IQ và sức khỏe, tuổi thọ (những người thông minh thường có nhiều kiến thức hơn trong việc chăm sóc bản thân) Hiện nay trên thế giới có 3 loại trắc nghiệm IQ chính là: (i) các bài trắc nghiệm IQ tổng quát bao gồm kiến thức, trí nhớ, ngôn ngữ (nổi lên có các trắc nghiệm trí tuệ của David Wechsler, Standford-Binet V); (ii) các bài trắc nghiệm công bằng giữa các nền văn hóa (như là trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven, trắc nghiệm Culture Fair); và (iii) là các bài trắc nghiệm dùng cho những người có IQ cao trên 130 (Trắc nghiệm High Range IQ) [3]

1.1.2.1 Trắc nghiệm trí tuệ của David Wechsler

David Wechsler (1896-1981) đã xây dựng và phát triển một số bộ trắc nghiệm

đo lường trí tuệ dành cho các đối tượng khác nhau như thang đo trí tuệ Wechsler dành cho người lớn từ 16 tuổi trở lên (Wechsler Adult Intelligence Scale – WAIS); thang

đo trí tuệ Wechsler dành cho trẻ em từ 5-15 tuổi (Wechsler Intelligence Scale for Children – WISC) – từ các phiên bản chỉnh sửa sau đó là dùng cho trẻ từ 6-16 tuổi;

và thang đo trí tuệ Wechsler cho trẻ mẫu giáo và tiểu học từ 4-7 tuổi (Wechsler Preschool and Primary Scale for Intelligence - WPPSI) Những bộ trắc nghiệm trí tuệ này được chỉnh sửa và cập nhật qua các phiên bản sau này, trở thành công cụ đo lường trí tuệ phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Cách đo lường chỉ số trí tuệ IQ của David Wechsler khắc phục những nhược điểm của một số cách tính IQ trước đó vì

đã dựa vào giá trị trung bình và độ lệch chuẩn theo nhóm xã hội mà cá nhân nằm trong đó [23]

Thang đo trí tuệ Wechsler dành cho trẻ em - ấn bản lần thứ 4 (WISC-IV) đã được thích ứng tại Việt Nam để đánh giá trí lực của trẻ lứa tuổi 6-16 [23] Đây là công cụ

HUPH

Trang 15

thực nghiệm cá nhân được thiết kế nhằm đánh giá khả năng nhận thức và quá trình giải quyết vấn đề của trẻ từ 6 tuổi tới 16 tuổi 11 tháng WISC-IV được xây dựng trên cơ sở cập nhật WISC-III bao gồm 15 tiểu trắc nghiệm trong đó 10 tiểu trắc nghiệm được giữ lại từ WISC-III và 5 tiểu trắc nghiệm mới Các tiểu trắc nghiệm này chia vào 4 thang

đo thành phần là chỉ số trí nhớ làm việc (WMI), chỉ số hiểu lời nói (VCI), chỉ số tư duy tri giác (PRI) và chỉ số tốc độ xử lý (PSI) 4 thành phần này sau đó được hiệu chỉnh để tính ra chỉ số trí tuệ tổng hợp (Full Scale Intelligence Quotient – FSIQ)

Chỉ số trí tuệ tổng hợp cho ta thấy được khả năng nhận thức toàn diện của trẻ Bốn điểm của các thành phần cho ta thấy được khả năng của trẻ trong từng lĩnh vực của hoạt động nhận thức Phân loại mức độ trí tuệ theo trắc nghiệm của David Wechsler được trình bày trong bảng 1.1 Thang đo này cũng có thể dùng để đánh giá mức độ trí tuệ của trẻ trong từng cấu phần của trắc nghiệm

Bảng 1.1 Phân loại mức độ trí tuệ theo trắc nghiệm David Wechsler [73]

1.1.2.2 Trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven

Bộ trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven là trắc nghiệm phi ngôn ngữ do J.C Raven xây dựng, được công bố năm 1936 Trắc nghiệm trí tuệ này được dùng cho cả trẻ em và người lớn từ 6-65 tuổi Trắc nghiệm gồm các khuôn hình tiếp diễn trong 5 bộ ký hiệu A, B, C, D, E với 12 khuôn hình có độ khó tăng dần trong mỗi bộ (Tổng 60 khuôn hình) Mỗi khuôn hình có các hình vẽ chưa đầy đủ để cá nhân tìm hiểu và ghép vào hình có mối liên hệ với khuôn hình [59, 60]

Nguyên tắc cấu tạo các khuôn hình trong trắc nghiệm Raven [59, 60]

- Nhóm A: dựa theo tính trọn vẹn, liên tục của cấu trúc, bổ sung phần còn thiếu

HUPH

Trang 16

- Nhóm B: dựa theo sự so sánh giống nhau giữa các cặp hình để đòi hỏi phân biệt dần dần các yếu tố để tìm ra sự giống nhau (tương tự) giữa các cặp hình

- Nhóm C: dựa theo sự thay đổi tiếp diễn trong các cấu trúc, chứa đựng những thay đổi của các hình phù hợp với ng.tắc phát triển, rất phong phú & được phân phối theo chiều ngang hoặc chiều thẳng đứng

- Nhóm D: dựa vào sự đổi chỗ của các hình, sự đổi chỗ cũng xảy ra theo chiều ngang hoặc chiều dọc

- Nhóm E: dựa theo sự phân tích, chia tách các hình toàn thể thành các bộ phận Đây là nhóm phức tạp nhất đòi hỏi tư duy phân tích và tổng hợp Hình 1.1 Ví dụ về 01 khuôn hình tiếp diễn của Raven

Tương tự trắc nghiệm của David Wechsler, trắc nghiệm Raven cũng có thang

đo chia trí tuệ ra các mức tương ứng

Bảng 1.2 Phân loại mức độ trí tuệ theo trắc nghiệm Raven [62]

1.1.2.3 Trắc nghiệm IQ dành cho người có trí lực cao

Trắc nghiệm IQ dành cho người có trí lực cao được thiết kế với mục đích tìm

HUPH

Trang 17

kiếm thiên tài với chỉ số IQ vượt quá giới hạn đo của các trắc nghiệm IQ cơ bản Bài trắc nghiệm gồm các câu hỏi khó Trắc nghiệm không có giới hạn về thời gian Về cấu trúc, trắc nghiệm này khác với các trắc nghiệm IQ cơ bản ở việc không có các đáp án gợi ý trả lời, người thực hiện trắc nghiệm sẽ tự điền đáp án vào chỗ trống của trắc nghiệm IQ [73]

1.1.3 Ảnh hưởng của trí lực thấp

Bài viết của hai tác giả Đỗ Hạnh Nga và Cao Thị Xuân Mỹ (2010) dựa trên việc phân tích số liệu từ trẻ và phụ huynh trẻ có các rối loạn về phát triển trí lực tại thành phố Hồ Chí Minh đã phần nào cho thấy những ảnh hưởng của việc trí lực thấp ở trẻ [11] Trẻ CPTTT bị giảm cơ hội học tập Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ CPTTT được tham gia học hòa nhập là rất thấp (8,6% trẻ học ở trường tiểu học trong khi 46,7% trẻ học ở trường chuyên biệt) Trẻ được ghi nhận có những khó khăn trong giao tiếp và những sinh hoạt hàng ngày Tỷ lệ trẻ chỉ có thể giao tiếp ở mức độ đơn giản và không thể giao tiếp bình thường chiếm tới 86,3% đối tượng nghiên cứu Việc phải giúp đỡ con trong những sinh hoạt hàng ngày cũng là rất thường thấy trong các phụ huynh của trẻ Trong tổng số 102 phụ huynh có trả lời về việc trợ giúp con trong sinh hoạt, 32,4% phụ huynh cho rằng con họ cần giúp đỡ một phần, 39% phụ huynh nhận xét con họ cần được giúp đỡ khi gặp tình huống và 19,6% trẻ trong nghiên cứu luôn luôn cần được giúp đỡ trong sinh hoạt hàng ngày [11] Đa số phụ huynh lo lắng rằng sẽ không có đủ người để chăm sóc trẻ cũng như chăm sóc trẻ trong tương lai khi

mà họ đã già đi bởi vấn đề việc làm và kết hôn của trẻ cũng sẽ là rất khó khăn

1.1.4 Các nghiên cứu về trí lực ở học sinh trên thế giới và Việt Nam

1.1.4.1 Thực trạng trí lực học sinh trên thế giới

Có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng trí lực trên thế giới trên các đối tượng khác nhau Để nghiên cứu về các vấn đề dinh dưỡng và trí lực trên học sinh tiểu học, tác giả Ijarotimi (2007) đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên 402 trẻ (10-15 tuổi) được lựa chọn ngẫu nhiên từ 12 trường tiểu học làng Akure, Ondo State, Nigieria Để đánh giá IQ của trẻ tham gia nghiên cứu, tác giả sử dụng trắc nghiệm Raven gồm 60 câu và thực hiện trong khoảng 60 phút Kết quả từ nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ đối tượng có chỉ số IQ ở các mức độ lần lượt là: IQ cao (5%); trên trung bình (11,2%);

HUPH

Trang 18

11,4% ở mức trung bình; 8,2% đối tượng có IQ dưới và có tới 64,2% đối tượng chậm phát triển [55]

Năm 2008, tác giả Alicia Pineda-Lucatero và cộng sự thông qua nghiên cứu cắt ngang phân tích xác định tỷ lệ thiếu iốt và mối liên quan tới IQ - được đo bằng trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven - thực hiện trên 303 học sinh tiểu học từ 19 trường tiểu học ở Colima, Mexico đã tìm ra rằng tỷ lệ IQ từ trung bình trở lên tương đối thấp [56] Sau khi quy đổi, tỷ lệ IQ thấp là 48,5% đối tượng nghiên cứu; tỷ lệ IQ dưới trung bình cũng khá cao (chiếm 24,2% đối tượng) trong khi tỷ lệ IQ mức trung bình chỉ là 18,8% đối tượng [56]

Nghiên cứu về chức năng nhận thức và các thành quả giáo dục bằng trắc nghiệm trí thông minh phi ngôn ngữ chỉnh sửa lần 3 (TONI-3) trên 250 học sinh (7-12 tuổi) vùng sâu vùng xa tại Pahang, Malaysia, tác giả Al-Mekhlafi (2011) đã đưa ra kết quả 67,6% đối tượng nghiên cứu có IQ<70 và khoảng 72,6% các đối tượng đó có thành tựu học tập được đánh giá thông qua điểm thi của các môn học kém [34]

Thêm những công bố mới hơn trong những năm gần đây, vào năm 2015, thông qua nghiên cứu cắt ngang đánh giá IQ trong 405 trẻ từ 10-12 tuổi tại huyện Mysore,

Ấn Độ và xác định mối liên quan với nồng độ florua trong nước uống, tác giả Shibu Thomas Sebastian và cộng sự đưa ra trung bình IQ của các đối tượng là từ 80,49 – 88,6 điểm ở 3 vùng nghiên cứu Chia theo từng vùng, phân bố điểm IQ ở mức trung bình thấp và ranh giới thấp-cực thấp luôn ở mức cao với cả 3 vùng (thấp nhất là 54,1%

ở Belavadi; 63% ở Naganahally và thậm chí cao tới 73,3% ở Nerale, nơi có nồng độ flouride trong nước cao nhất) [64]

Tác giả Chao Li và cộng sự (2016) đưa ra kết quả từ phân tích số liệu nghiên cứu thuần tập thực hiện năm 2013 trên 1744 trẻ em miền Tây Trung Quốc có độ tuổi trung bình khoảng 8,78 tuổi cho thấy trung bình điểm IQ tổng thể theo trắc nghiệm WISC-IV là khoảng 89,48 điểm (độ lệch chuẩn-SD: 13,39 điểm) với các điểm trung bình thành phần VCI, WMI, PRI và PSI lần lượt là 87,83 (SD: 15,90); 91,04 (SD: 12,34); 93,12 (SD: 13,88) và 95,68 (SD: 13,34) điểm [52]

Trong bài báo công bố năm 2016 của tác giả Amita Jacob và cộng sự [49], nghiên cứu bệnh chứng đã được thực hiện trên 114 trẻ em (1-6 tuổi) ở Tamil Nadu,

HUPH

Trang 19

Ấn Độ nhằm mục đích xác định mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và trí tuệ Tác giả sử dụng thang đo trí tuệ Vineland Maturity thích ứng với xã hội Ấn Độ để đánh giá trí tuệ của trẻ em tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy khoảng 1/10 đối tượng nghiên cứu (9,6%) có điểm IQ<90

Nhóm nghiên cứu của tác giả Sandjaja (2013) đã đánh giá trí lực của trẻ em tiểu học (6-11) tuổi tại 4 nước khu vực Đông Nam Á Kết quả nghiên cứu cho thấy có 15% đối tượng nghiên cứu có trí lực ở mức thấp/kém (IQ<80) [62]

1.1.4.2 Thực trạng trí lực ở học sinh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu về trí lực của trẻ em đã được thực hiện Nhóm nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã tiến hành phân tích số liệu thu thập được từ khảo sát dinh dưỡng Đông Nam Á năm 2011 (SEANUTS) trên 1893 trẻ

em tiểu học (6-11 tuổi) nhằm xác định mối liên quan giữa khẩu phần dinh dưỡng và

IQ ở trẻ Chỉ số IQ được đo bằng trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven Kết quả công bố trên tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm (2016) cho thấy tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu có chỉ số IQ kém và chậm phát triển là 25,7% [10]

Một kết quả nghiên cứu khác về trí lực của tác giả Trần Hữu Bích và cộng sự công bố năm 2014 là nghiên cứu thuần tập lịch sử dựa trên nghiên cứu gốc được tiến hành từ năm 2004 Điểm đánh giá trí tuệ IQ của trẻ 9-12 tuổi được đo ở thời điểm làm nghiên cứu bằng trắc nghiệm Culture Fair (Culture Fair Intelligence Test - CFIT)

và quy đổi ra điểm IQ Kết quả cho thấy, điểm IQ trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 96 điểm (SD: 11,04 điểm) Đánh giá IQ theo thang điểm Wechsler thì có 59,3% trẻ ở mức độ trung bình, 24% ở mức độ trung bình thấp, 3,4% trẻ có IQ ở mức độ kém và 2,3% trẻ chậm phát triển trí tuệ [1]

1.2 Thực trạng tình trạng dinh dưỡng

1.2.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa thừa cân và béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức hoặc không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe [72]

Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) định nghĩa suy dinh dưỡng là tình trạng

cơ thể không được năng lượng và chất đạm thích hợp cho sự phát triển hoặc cơ thể

HUPH

Trang 20

không thể sử dụng đầy đủ thực phẩm ăn vào [66]

Các chỉ tiêu để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ là các chỉ số Z-Score cân nặng theo tuổi (WAZ), chiều cao theo tuổi (HAZ), BMI theo tuổi (BAZ) và giới Các chỉ số Z-Score này được tính như sau [30]

𝑍 − 𝑆𝑐𝑜𝑟𝑒 =

[ 𝑦𝑀(𝑡)]

𝐿(𝑡)

− 1𝑆(𝑡)𝐿(𝑡) =

𝑦 − 𝑀(𝑡)𝑆𝐷(𝑡)

Với

y: giá trị đo được là cân nặng hoặc chiều cao

t: tuổi hoặc chiều cao/chiều dài của trẻ

Các giá trị tương ứng S, M, L hoặc SD theo t tra bảng quần thể tham khảo [30] Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa trên chỉ số Z-Score theo chuẩn tăng trưởng của WHO (2007) cho trẻ 5-19 tuổi [30]

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo WAZ

Trang 21

1.2.2 Hậu quả của suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì

Suy dinh dưỡng có thể ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng trong cộng đồng Tuy nhiên, những đối tượng dễ bị tổn thương là trẻ sơ sinh và trẻ em bị ảnh hưởng nhiều nhất Theo WHO (2004), 54% các ca tử vong trẻ dưới 5 tuổi có liên quan tới suy dinh dưỡng (SDD) [36]

Biểu đồ 1 1 Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi theo các nguyên nhân (WHO, 2004) [36] Theo Viện Dinh dưỡng, trẻ bị SDD có thể có những biểu hiện chậm phát triển thể lực và trí tuệ Khi trưởng thành, SDD sẽ ảnh hưởng tới khả năng lao động, và gia tăng nguy cơ mắc một số bệnh mạn tính Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy suy dinh dưỡng ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị suy dinh dưỡng Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh thấp Những trẻ này lại dễ bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh và có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường [27]

Thừa cân béo phì thường do chế độ ăn không hợp lý với nhiều chất béo, chất ngọt và quá nhiều so với nhu cầu cơ thể; ít hoạt động thể lực; và một số yếu tố như

di truyền, kinh tế xã hội Thừa cân, béo phì là bệnh lý độc lập nhưng là yếu tố nguy

HUPH

Trang 22

cơ của nhiều bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, sỏi mật, ung thư [26]

1.2.3 Thực trạng dinh dưỡng ở học sinh trên thế giới và Việt Nam

1.2.3.1 Thực trạng tình trạng dinh dưỡng ở học sinh trên thế giới

Trẻ em tuổi học đường là giai đoạn quyết định sự phát triển tối ưu các tiềm năng

di truyền liên quan tầm vóc, thể lực và trí tuệ Đây là giai đoạn trẻ tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết chuẩn bị cho giai đoạn dậy thì tiếp theo, là giai đoạn có sự biến đổi nhanh cả về thể chất và tâm lý nhưng cũng là giai đoạn rất dễ bị tổn thương khi bị thiếu hụt về dinh dưỡng [7] Suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em lứa tuổi tiền học đường và học đường vẫn đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo WHO, suy dinh dưỡng là một nguyên nhân chính cho gánh nặng bệnh tật toàn cầu, hơn 1/3 số trẻ tử vong trên toàn thế giới là do dinh dưỡng kém [15]

Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trẻ em học đường vẫn còn khá cao, đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo Trong nghiên cứu trên học sinh tiểu học ở vùng núi Nepal để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến BMI và IQ của trẻ, tác giả Chhabi Ranabhat (2016) đã tìm ra tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (BAZ<-2SD) trong nhóm đối tượng nghiên cứu là khoảng 9,3% [58]

Trong một nghiên cứu khác, tác giả Ijarotimi OS, Ijadunola KT (2007) đã đo và xác định các chỉ số Z-Score tương ứng của 402 trẻ từ 10-15 tuổi tại 12 trường tiểu học ở làng Akure Nigeria [55] Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao các trẻ suy dinh dưỡng ở các chỉ tiêu Cụ thể, ở chỉ số cân nặng trên chiều cao của trẻ, có 40% trẻ hơi còm còi, 9,7% còm còi mức độ vừa và 0,5% còm còi nghiêm trọng Với chỉ số chiều cao theo tuổi, 35,1% đối tượng thấp còi nhẹ, 13,4% thấp còi vừa; 1,5% thấp còi nặng Công bố từ kết quả nghiên cứu SEANUTS (2013) được thực hiện tại 4 nước khu vực Đông Nam Á – trong đó có Việt Nam, tỷ lệ chung cho trẻ em nhẹ cân và thấp còi ở

4 nước lần lượt là 21% và 19% [62] Bên cạnh đó, gánh nặng kép về dinh dưỡng tại các nước đang phát triển là bên cạnh vấn đề suy dinh dưỡng thì mô hình bệnh tật đang chuyển dịch đối mặt với thừa cân béo phì và các bệnh mạn tính không lây Cũng trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ béo phì nặng tại các nước Indonesia, Việt Nam, Thái Lan và Malaysia tương ứng lần lượt là 0,5%; 1,1%; 3,4% và 4,6%

HUPH

Trang 23

Không chỉ ở những nước đang phát triển, những năm gần đây, thừa cân béo phì

có xu hướng gia tăng nhanh trên toàn thế giới Năm 2010, kết quả phân tích từ 450 điều tra cắt ngang về tình trạng thừa cân, béo phì trẻ em của 144 nước trên thế giới cho thấy: Có 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì (trong đó 35 triệu trẻ em

ở các nước đang phát triển và 8 triệu trẻ em ở các nước phát triển) [28]

1.2.3.2 Thực trạng tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em tại Việt Nam

Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trên đối tượng học sinh tiểu học chưa

có nhiều Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương (2009), trên đối tượng học sinh từ

6-8 tuổi tại trường tiểu học Xuân Phương, huyện Từ Liêm cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trong các đối tượng nghiên cứu có sự khác nhau giữa các thể suy dinh dưỡng và giữa các lứa tuổi Chiếm cao nhất là suy dinh dưỡng thể gầy còm với 14% đối tượng nghiên cứu, sau đó tới suy dinh dưỡng nhẹ cân (4,3%) và thấp còi (1,7%) [9]

Tình hình thừa cân, béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi cũng đang gia tăng Theo kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009 – 2010: Tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi trên toàn quốc là 11,7%, trong đó tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ em thành phố

Hà Nội là 19,8%, trẻ em nông thôn là 9,3% và trẻ em các thành phố trực thuộc trung ương là 31,9% [32] Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương được trình bày ở trên cũng

đã chỉ ra tỷ lệ thừa cân béo phì trong nhóm đối tượng nghiên cứu là 8,1% ở nam và 1,2% ở nữ [9] Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Xuân Ngọc về thực trạng và hiệu quả can thiệp thừa cân, béo phì của mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng ở trẻ em

từ 6 – 14 tuổi tại Hà Nội năm 2006 cho thấy, tỷ lệ thiếu dinh dưỡng là 9,1%, tỷ lệ thừa cân là 10,7% và béo phì là 3,0% [12]

Nghiên cứu của Hoàng Đức Hạnh năm 2013 trên 9236 học sinh tại 60 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy tỷ lệ học sinh tiểu học thừa cân là 28,1%, tỷ lệ học sinh tiểu học béo phì là 11,2% Theo khu vực sinh sống của học sinh,

Tỷ lệ học sinh béo phì ở khu vực nội thành là 17,0% và ở ngoại thành là 5,4% [8] Tại Thường Tín, theo báo cáo kết quả khám sức khỏe học sinh năm học 2015-

2016, có 402 trẻ thấp còi trong số 20098 học sinh tiểu học được khám (chiếm tỷ lệ 2%); số học sinh béo phì là 217 (chiếm 1,1%) Trong 714 học sinh của trường Ninh

Sở, tỷ lệ học sinh thấp còi là 0,6% và tỷ lệ học sinh béo phì là 1,4% [22]

HUPH

Trang 24

1.3 Chế độ dinh dưỡng khẩu phần

1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị

Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị là mức tiêu thụ năng lượng và các thành phần dinh dưỡng mà, trên cơ sở kiến thức khoa học hiện nay, được coi là đầy đủ để duy trì sức khỏe và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư [29]

1.3.2 Tính cân đối trong khẩu phần ăn

Tính cân đối của khẩu phần bao gồm: Cân đối giữa 3 chất cung cấp năng lượng trong khẩu phần (tỉ lệ năng lượng được cung cấp từ chất đạm -protein, chất béo-lipid, chất bột đường-glucid so với tổng năng lượng khẩu phần) Năng lượng cung cấp từ protein so với tổng số năng lượng của khẩu phần cần đạt khoảng từ 13-20%; năng lượng cung cấp từ lipid so với tổng số năng lượng của khẩu phần cần đạt từ 20-30%

và năng lượng cung cấp từ glucid so với tổng số năng lượng của khẩu phần cần đạt

từ 50-67%; Cân đối về chất đạm - Protein (tỷ lệ Protein động vật so với tổng Protein khẩu phần cần đạt từ 50%); Cân đối về chất béo - lipid (tỉ lệ Lipid thực vật so với tổng Lipid khẩu phần cần đạt từ 30%); Cân đối về vi chất (tỷ số canxi/phốt pho) trong khẩu phần ăn cần đạt là 1:1 và tối thiểu là 0,8:1

Theo kết quả của Khảo sát tình trạng dinh dưỡng trẻ em khu vực Đông Nam Á (SEANUTS) thực hiện trên hơn 2.800 trẻ từ 6 tháng đến 12 tuổi tại Việt Nam thì có tới 50% trẻ em Việt Nam có bữa ăn không đáp ứng đủ nhu cầu về 1 số vi chất dinh dưỡng như vitamin A, vitamin B1, vitamin C và Sắt [62]

1.4 Một số yếu tố liên quan tới trí lực của trẻ

Nhiều nghiên cứu tại nước ngoài đã chỉ ra một số yếu tố về nhân khẩu học, di truyền và dinh dưỡng (tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn) có mối liên quan tới tình trạng trí lực, khả năng nhận thức [39, 44, 51, 62] Ở Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu liên quan đến các vấn đề này [10]

1.4.1 Yếu tố di truyền

Trong nhiều tài liệu, trí thông minh của trẻ được các nhà khoa học khẳng định

là được di truyền từ mẹ trẻ Từ những năm 2002, công bố của Daniza M Ivanovic và cộng sự [47] thông qua nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng -– cả quá khứ và hiện tại – với thành tích học tập của 98 học sinh được đo bằng chỉ

HUPH

Trang 25

số IQ đã cho thấy IQ của mẹ có liên quan chặt chẽ tới IQ của con Trong nghiên cứu của Daniza, IQ được đánh giá bằng thang đo trí tuệ Wechsler cho người lớn, bản chỉnh sửa (WAIS-R) cho cả trẻ và bố mẹ của trẻ Năm 2008, Caroline Signore và cộng sự cũng tìm ra được kết quả tương tự - nhận thức của mẹ có liên quan tới IQ của trẻ, được đo bằng thang đo trí tuệ Wechsler dành cho trẻ trước tuổi đi học - trong nghiên cứu thuần tập tiến cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa nồng độ choline trong máu

mẹ và máu dây rốn với IQ của trẻ em 5 tuổi được thực hiện trên 404 cặp mẹ con [65]

1.4.2 Yếu tố nhân khẩu học của trẻ

Tuổi: Tuổi của trẻ được đề cập trong các tài liệu như là một yếu tố có liên quan

tới tình trạng trí lực của trẻ tiểu học Trong nghiên cứu trên đối tượng trẻ tiểu học tại Nigeria, nhà nghiên cứu Ijarotimi OS, Ijadunola KT (2007) nhận thấy có sự khác biệt đáng kể về chỉ số IQ cũng như tình trạng dinh dưỡng giữa các nhóm tuổi của các em học sinh [55] Trong nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với trí lực của học sinh tiểu học tại Việt Nam, tác giả Lê Nguyễn Bảo Khanh (2016) cũng đưa ra kết luận trí lực có sự liên quan thuận với tuổi của trẻ có ý nghĩa thống kê với hệ số tương quan coefficient là 0,2535 (p<0,001) [10]

Giới: Nghiên cứu cắt ngang của Goldberg S thực hiện năm 2013 trên 235.663

nam và 169.259 nữ Israel đã cho thấy có sự khác biệt về IQ giữa 2 nhóm đối tượng nam và nữ bị thừa cân Chỉ số IQ thấp có mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi tình trạng thừa cân tăng lên, tỷ số chênh thể hiện mối liên quan này ở các đối tượng nam

là 1,44 với 95% khoảng tin cậy: 1,36-1,52; và ở đối tượng nữ là 1,61 với 95% khoảng tin cậy: 1,51-1,73 [61] Nghiên cứu của tác giả Ijarotimi OS, Ijadunola KT cũng tìm

ra sự khác biệt đáng kể về chỉ số IQ trong các nhóm tuổi của trẻ [55] Còn trong nghiên cứu của tác giả Chao Li (2016) trên 1744 trẻ từ 7-10 tuổi tại Trung Quốc, sau khi đánh giá IQ của trẻ thông qua trắc nghiệm WISC - IV thì đưa ra kết quả trung bình tổng điểm IQ (FSIQ) đã hiệu chỉnh của trẻ nam cao hơn so với trẻ nữ khoảng 0,97 điểm, 95% khoảng tin cậy: -2,22 - 0,28) Ở các điểm IQ thành phần, trẻ nữ đạt trung bình điểm trí nhớ làm việc (WMI) và tốc độ xử lý (PSI) cao hơn với lần lượt là 1,32 điểm (95% khoảng tin cậy: 0,14-2,51) và 3,10 điểm (95% khoảng tin cậy: 1,82-4,38) so với trẻ trai Trung bình chỉ số hiểu lời nói (VCI) và tư duy tri giác (PRI) của

HUPH

Trang 26

trẻ nam lại cao hơn so với trẻ nữ đáng kể và có ý nghĩa thống kê lần lượt là 2,44 điểm (95% khoảng tin cậy: 0,95-3,94) và 3,68 điểm (95% khoảng tin cậy: 2,36-5,01) [52]

1.4.3 Tình trạng dinh dưỡng

Cân nặng khi sinh thấp: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng trước

sinh và sau sinh tới chức năng trí tuệ của trẻ của tác giả Chao Li và cộng sự (2016) tại Trung Quốc đã cho thấy mối liên quan tiêu cực giữa cân nặng sơ sinh thấp với việc chỉ số IQ cũng thấp [52]

Suy dinh dưỡng: Từ việc tổng quan 19 tài liệu có chủ đề liên quan tới mối quan

hệ giữa dinh dưỡng gồm 4 chủ đề tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần, nuôi con bằng sữa mẹ và sữa công thức với tình trạng trí lực, tác giả Hasanain Faisal Ghazi (2014)

đã tổng hợp lại kết quả, hầu hết các tài liệu chỉ ra rằng tình trạng dinh dưỡng là chỉ

số rất quan trọng liên quan đến sự phát triển của trẻ em [40] Các tài liệu trong tổng quan sử dụng ngưỡng tham chiếu của trẻ em với cùng độ tuổi và giới tính theo chuẩn tăng trưởng trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2007) Trong đó, nổi bật lên tác giả Taki đưa ra kết quả tình trạng dinh dưỡng ảnh hưởng tới chức năng nhận thức [40] Nghiên cứu SEANUTS thực hiện tại 4 nước Đông Nam Á cho thấy trẻ có Z-Score cân nặng theo tuổi thấp sẽ có nguy cơ cao gấp 3,5 lần có điểm IQ phi ngôn ngữ thấp hơn 89 Nguy cơ này nặng nề gấp đôi khi Z-Score BMI theo tuổi (BAZ) và Z-Score chiều cao theo tuổi (HAZ) thấp Trên đối tượng trẻ 6 và 9 tuổi, trẻ suy dinh dưỡng có IQ thấp hơn đáng kể so với trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường [62] Không những vậy, việc suy dinh dưỡng ở độ tuổi sớm cũng có ảnh hưởng lâu dài về sau Suy dinh dưỡng ở độ tuổi sớm có liên quan tới chỉ số IQ là kết quả từ nghiên cứu của Leiva Plaza B và cộng sự (2001) [35] Trong một tài liệu khác, Daniza

M Ivanovic và cộng sự (2002) cho thấy tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ có ảnh hưởng tiêu cực, tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ (lâu dài) liên quan có ý nghĩa thống kê với chỉ số IQ [47] Cũng tác giả Daniza M Ivanovic và các cộng sự (2009) cho thấy có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng với việc kém phát triển của não [48] Hasanain Faisal Ghazi (2013) tiến hành nghiên cứu trên 480 trẻ em 7-8 tuổi được chọn ngẫu nhiên ở 5 trường tiểu học tại Babhda, Irắc cho thấy có mối liên quan

có ý nghĩa thống kê giữa cân nặng, chiều cao cũng như các chỉ số Z-Score chiều cao

HUPH

Trang 27

theo tuổi (HAZ) và BMI theo tuổi (BAZ) – là những chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ - với chỉ số IQ [39] Trong một số công bố khác của các tác giả Ijarotimi

OS (2007), Demewoz Haile (2016) và Lê Nguyễn Bảo Khanh (2016) cho thấy chỉ số chiều cao theo tuổi, điểm HAZ được khẳng định có liên quan mật thiết tới chỉ số IQ hoặc thành tích học tập của trẻ [10, 44, 55]

Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ với trí tuệ của trẻ được khẳng định rõ ràng trong nhiều nghiên cứu khác Cụ thể, mới đây nhất (2016) Chao Li và cộng sự tìm ra cả 5 điểm IQ thành phần và tổng hợp trong trắc nghiệm WISC-IV trên

1744 trẻ thấp hơn đáng kể ở trẻ em còi cọc và nhẹ cân Sự khác biệt trong trung bình các điểm đo IQ tổng thể và thành phần là lớn nhất giữa 2 nhóm trẻ em còi cọc và không còi cọc Trung bình sự khác biệt của FSIQ, VCI, WMI, PRI, và PSI như sau: 5,88 (95% KTC: 2,84-8,92), 5.08 (95% KTC: 1,12-8,41), 4,71 (95% KTC: 1,78 -7,66), 6.13 (95% KTC: 2,83-9,44), và 5,81 (95% KTC: 2,61-9,00) [52] Nghiên cứu tại Ấn Độ của Amita Jacob năm 2016 cho thấy có mối liên quan đáng kể và có ý nghĩa thống kê giữa chiều cao theo tuổi thấp; chỉ số Z-Score chiều cao theo tuổi; cân nặng theo chiều cao với mức độ trí tuệ Mối quan hệ này vẫn có ý nghĩa thống kê sau khi điều chỉnh yếu tố nhiễu là giới tính và tình trạng kinh tế xã hội [49]

Năm 2013, nhóm nghiên cứu của Sandjaja (nghiên cứu SEANUT) đã công

bố kết quả điều tra diện rộng trên 6746 trẻ em tuổi đi học (6-12 tuổi) tại 4 quốc gia Thái Lan, Malaysia, Indoneesia và Việt Nam với chỉ số IQ được đo bằng trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven hoặc trắc nghiệm trí tuệ phi ngôn ngữ ấn bản thứ 3 (TONI-3) Đối tượng có điểm WAZ thấp có nguy cơ cao gấp 3,53 lần

có IQ thấp dưới 89 (OR 3,53 và 95% KTC 3,52-3,54) Nguy cơ IQ<89 thậm chí tăng gấp đôi khi điểm BAZ và HAZ cùng thấp [62]

Thừa cân béo phì: Tác giả Goldberg S (2014) cùng các cộng sự đã thực hiện

nghiên cứu cắt ngang về trí lực và tình trạng béo phì trong đối tượng nam và nữ Israel cho thấy IQ thấp có liên quan với tình trạng béo phì Nam giới béo phì có khả năng

IQ thấp cao gấp 1,44 lần so với những người không béo phì (OR=1,44; 95% KTC=1,36-1,52) và nữ béo phì có nguy cơ IQ thấp gấp 1,61 lần (OR=1,61; 95% KTC=1,51-1,73) so với những người không béo phì Đặc biệt, mối liên quan giữa IQ

HUPH

Trang 28

thấp với béo phì mạnh nhất trong nhóm có tình trạng kinh tế xã hội thấp (trong nhóm nam: OR=1,26; 95% KTC=1,1-1,43 và nhóm nữ: OR=1,61; 95% KTC=1,38-1,89) ngay cả khi kiểm soát các hoạt động thể chất [61]

Nghiên cứu SEANUTS không chỉ tìm ra mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và trí lực của trẻ, mà còn cho thấy béo phì nặng có mối liên quan với IQ thấp hơn 89 Sự liên quan này rõ ràng nhất ở Malaysia Tại Việt Nam, tỷ suất chênh thể hiện mối liên

hệ giữa béo phì nặng với IQ thấp hơn 89 là OR= 2,11; 95% KTC: 2,07-2,14 Ngoại trừ béo phì nặng, mối quan hệ giữa BAZ cao và chỉ số IQ là chưa rõ ràng và khác biệt

ở mỗi nước [62]

Lý giải cho vấn đề này, hai tác giả Sarah Glynn và Cẩm Phương trong những bài viết của mình đã nêu béo phì có ảnh hưởng tới chức năng nhận thức, gây tổn hại cho não (suy giảm trí nhớ, ảnh hưởng khả năng học tập) hoặc béo phì gây nên tự nhận thức tiêu cực, rối loạn ăn uống, giảm chất lượng cuộc sống và gia tăng các vấn đề tâm

lý xã hội mạn tính vô cùng khó khăn để chữa trị [14, 41]

1.4.4 Chế độ dinh dưỡng (khẩu phần ăn)

Các nghiên cứu đánh giá khẩu phần, việc hấp thụ năng lượng từ khẩu phần ăn hàng ngày và các chất dinh dưỡng trong khẩu phần đã cho thấy có liên quan giữa những yếu tố đó tới tình trạng trí lực

Tổng năng lượng khẩu phần và mức đáp ứng nhu cầu của khẩu phần: Nghiên

cứu của Hasanain và các cộng sự (2013) thông qua việc đánh giá IQ bằng trắc nghiệm Raven, hỏi ghi khẩu phần 24 giờ để tìm hiểu khẩu phần cùng với bảng hỏi thông tin phát vấn cho cha mẹ 480 học sinh tại 5 trường tiểu học thành phố Babhda, Irắc đã cho thấy năng lượng trung bình từ khẩu phần của trẻ là khoảng 1020 kcal/ngày Chỉ số này thấp hơn nhu cầu khuyến nghị ở lứa tuổi này và có mối liên quan tới tình trạng trí lực của trẻ [62] Một phân tích của nhóm nghiên cứu Lê Nguyễn Bảo Khanh trên học sinh tiểu học Việt Nam cho thấy mức đáp ứng nhu

cầu của khẩu phần có liên quan tới IQ của trẻ và vitamin D khẩu phần cũng có mối

liên quan thuận với IQ trẻ [10]

Tính cân đối của khẩu phần: Fernando Gómez-Pinilla (2008) đã nêu lên trong

bài báo của mình rằng lượng calo là hiệu ứng quan trọng cho các hiệu ứng sinh lý

HUPH

Trang 29

Bỏ bữa ăn hoặc kiểm soát calo có liên quan tới sức khỏe Sự cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn là yêu cầu quan trọng Thay đổi hàm lượng calo sẽ ảnh hưởng tới nhận thức, dư thừa calo làm giảm khớp dẻo thần kinh và tăng tính dễ tổn thương của

tế bào [43]

Bổ sung sữa trong khẩu phần: Tác giả Khadijeh Rahmani (2011) đã thực hiện

nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng trên 469 học sinh lớp 1-3 (235 trẻ trong nhóm can thiệp; 234 trẻ trong nhóm chứng) tại Iran năm 2010 [57] Học sinh trường can thiệp sẽ được uống 250ml sữa mỗi ngày trong 3 tháng có sự giám sát của giáo viên và trao đổi với phụ huynh Kết quả từ nghiên cứu cho thấy khẩu phần ăn uống

có bổ sung sữa có liên quan tới việc thay đổi chức năng thể chất, tinh thần, cân nặng của học sinh Có sự khác biệt giữa cân nặng trước và sau can thiệp của 2 nhóm có ý nghĩa thống kê, đặc biệt ở nhóm trẻ gái Việc bổ sung vi chất dinh dưỡng từ sữa cũng được chứng minh có liên quan tới phát triển chức năng tâm thần của trẻ, ảnh hưởng tích cực phát triển nhận thức Điểm trung bình IQ có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê trước và sau can thiệp Điều này cũng được thấy ở kết quả của các trắc nghiệm trí tuệ thành phần Điển hình như ở nhóm trẻ trai (n=230 trẻ), điểm IQ trung bình theo trắc nghiệm WISC ở nhóm chứng là 92 trước can thiệp và là 94 sau can thiệp có ý sự khác biệt có ý nghĩa thống kê; nhưng trung bình này ở nhóm can thiệp là 87 trước can thiệp và là 96 sau can thiệp, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn: Một số nghiên cứu tùy theo mục tiêu

phân tích mà đã tìm ra các mối liên quan giữa một số chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn với tình trạng trí tuệ Joseph R Hibbeln và John M Davis (2009) phân tích

số liệu từ nghiên cứu thuần tập tại hạt Avon, vương quốc Anh trên phụ nữ mang thai

và con của họ và đưa ra các kết quả: (i) Vitamin B6, vitamin B12, niacin, folate, sắt

có ảnh hưởng đến hồi phục các triệu chứng thần kinh và (ii) Khẩu phần có omega-3

từ 445 – 917 mg/2,000 Calo hàng ngày có liên quan tới việc bảo vệ nguy cơ tăng trầm cảm và bất lợi trong phát triển thần kinh [45]

Stephen J Schoenthaler (2007) khi thực hiện can thiệp cộng đồng có làm mù kép để xác định mối liên quan giữa việc sử dụng vitamin khoáng chất liều thấp đến

sự gia tăng IQ ở 245 học sinh 6-12 tuổi đã tìm ra nhóm dùng viên bổ sung vitamin có

HUPH

Trang 30

tỷ lệ trẻ giành được từ 15 điểm IQ trở lên cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược (p < 0.01) [63]

Fernando Gómez-Pinilla (2008) cũng đã nêu ra điều tương tự về acid béo

không bão hòa omega-3/DHA Đây là thành phần của màng tế bào, cần thiết cho

chức năng não Thiếu omega – 3/DHA làm tăng rối loạn tâm thần, như là khó đọc, giảm trí nhớ, tăng thiếu hụt nhận thức… Chế độ ăn uống bổ sung omega-3/DHA làm cải thiện trí nhớ bởi làm tăng cường lưu động của các tế bào thần kinh, kích thích trao đổi chất, sản sinh glucozo [43] Trong tổng quan tài liệu của Hasanain Faisal Ghazi và cộng sự (2014) cũng nêu, trẻ được ăn thực phẩm bổ sung DHA có

IQ tổng và IQ ngôn ngữ cao hơn lần lượt khoảng 5,62 và 7,02 điểm so với trẻ không

được bổ sung DHA Trẻ nhận axit béo chuỗi dài không bão hoà đa LCPUFAs xử lý

thông tin nhanh hơn, cung cấp LCPUFAs trong những tháng đầu đời ảnh hưởng lâu dài đến phát triển nhận thức sau này [40] Trong tài liệu này, Fernando cũng nêu lên

Fotale và vitamin A, B6, B12, C ngăn ngừa suy giảm nhận thức Điều này tương tự

với công bố của Sudha Venkatramanan và cộng sự (2016), vitamin B12 cao trong chế độ ăn uống của trẻ cũng có liên quan tới việc cải thiện các thành tích học tập tại trường và chỉ số IQ của trẻ [68]

Trong một nghiên cứu trên dân số già Nam nước Ý, Solfrizzi (2008) và cộng sự

đã tìm ra Axit béo bão hòa (SFA) khi tăng lên sẽ tác động tiêu cực tới nhận thức và PUFA và MUFA (các axit béo không bão hòa đa và axit béo không bão hòa đơn)

trong khẩu phần thì lại chống lại sự suy giảm nhận thức [67]

Liên quan tới các loại chất béo no và không no trong khẩu phần, nghiên cứu của

Agostoni C (2010) cho kết quả bổ sung axit béo chuỗi dài bão hòa (LCPFAs) ở giữa

thai kỳ của bà mẹ tác động tích cực tới IQ trẻ Lượng LCPFAs có mối liên quan thuận tới IQ của trẻ [38]

Tác giả Vinodkumar thực hiện nghiên cứu can thiệp trong vòng 9 tháng trên đối tượng học sinh tiểu học cũng đã cho kết quả đánh giá trước và sau can thiệp: các chỉ

số sắt, kẽm huyết thanh hay trí nhớ có sự khác biệt cao hơn có ý nghĩa thống kê giữa

nhóm can thiệp so với nhóm chứng, bổ sung vitamin khoáng chất giảm thiếu vi chất

và tăng cường trí nhớ [53] Theo kết quả nghiên cứu của Hesham (2011), thiếu máu

HUPH

Trang 31

thiếu sắt có mối liên quan tới tình trạng trí lực Những đối tượng có tình trạng này sẽ

có nguy cơ có chỉ số IQ thấp hơn so với những người bình thường (trung bình IQ trong nhóm thiếu máu thiếu sắt là 71,8 điểm; trong nhóm không thiếu máu thiếu sắt

là 76,9 điểm) Sự khác biệt giữa trung bình 2 nhóm là có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Elizabeth J Johnson (2014) thông qua tổng quan tài liệu những tài liệu về

lutein/zeaxanthine và vai trò của chúng đã cho kết luận về cơ chế khi tìm thấy trong

não trẻ, lutein để tổng hợp carotenoid cao gấp 2 lần tìm thấy ở người lớn, chiếm hơn một nửa nồng độ tổng số carotenoid Các tỷ lệ lớn hơn của lutein trong não trẻ em cho thấy lutein cần thiết trong phát triển thần kinh tốt [50, 51]

I-ốt cũng đã được nhiều nghiên cứu khẳng định có ảnh hưởng tới trí thông minh

Thiếu i-ốt là nguyên nhân lớn nhất gây chậm phát triển Theo Hasanain (2013), thiếu iot có thể giảm khoảng 10 điểm IQ ở trẻ [39] Alicia Pineda-Lucatero (2008) cũng có kết quả thiếu hụt iot tác động tiêu cực tới IQ trẻ, tuy nhiên sự khác biệt này không có

ý nghĩa thống kê (p=0,052) [56]

1.4.5 Các yếu tố môi trường-kinh tế xã hội và yếu tố khác

Florua trong nước: Shibu Thomas Sebastian và S Sunitha đã thực hiện đánh giá

Đánh giá IQ của các trẻ em 10-12 tuổi tại các thôn, huyện Mysore, Ấn Độ và xác định mối liên quan với nồng độ florua trong nước uống Các trẻ được chọn vào nghiên cứu theo các thôn với các mức florid trong nước là bình thường (1,20 mg F/lit) thấp (0,40

mg F/lit) hay cao (2,20mg F/lit) Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin nhân khẩu, Xã hội, thực hành vệ sinh răng miệng, tiền sử chế độ ăn uống, BMI và nhiễm flour nha khoa trên 405 trẻ em 10-12 tuổi tại địa bàn nghiên cứu IQ được đánh giá bởi trắc nghiệm của Raven trong khoảng 30 phút cho mỗi trẻ, được thực hiện bởi chuyên gia tâm lý [64] Kết quả cho thấy nồng độ florua trong nước cao có liên quan tới việc trí tuệ thấp dưới trung bình (IQ <90)

Tiếp xúc nhiều với Mangan (Mn): José A Menezes-Filho (2011) thực hiện

nghiên cứu cắt ngang sử dụng trắc nghiệm WISC III đó trí lực cho 83 trẻ em và 94% người chăm sóc chính được hỏi bằng trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven Nồng độ Mn được đo trong máu, tóc trẻ Nghiên cứu cho kết quả môi trường dư thừa

Mn ảnh hưởng tiêu cực đến IQ, mẹ mang thai tiếp xúc thường xuyên Mn cũng có ảnh

HUPH

Trang 32

hưởng IQ tiêu cực tới IQ của trẻ [54]

Thu nhập gia đình/tình trạng kinh tế gia đình: Có sự nhất quán trong các tài liệu

về mối liên quan giữa tình trạng kinh tế gia đình và IQ của trẻ [10, 39, 44, 55, 58] Tình trạng kinh tế xã hội thấp liên quan thuận tới IQ thấp Nổi bật một số kết quả như của Hasanain (2013) [39], thu nhập của gia đình thấp có liên quan tới IQ thấp có ý nghĩa thống kê (OR=1,71; 95% KTC: 1,12-2,62) ở ngưỡng 700,000 dinar Irắc (tương đương khoảng 649 USD ~ 1.400.000 VNĐ) Theo Hesham M Al-Mekhlafi (2011) [34], thu nhập gia đình thấp (<450 Ringgit) có mối liên quan đáng kể tới IQ thấp Trẻ

em sống trong nghèo đói có nguy cơ bị IQ thấp cao hơn 3,041 lần (p=0,007) so với trẻ ở gia đình có thu nhập cao

Trình độ học vấn của bố mẹ: cũng là yếu tố có liên quan thuận với IQ [10, 34,

58, 62] Trình độ học vấn của bà mẹ thấp được xác định là một yếu tố dự báo quan trọng của chỉ số IQ thấp Mẹ trình độ học vấn thấp thì khả năng con có IQ thấp (t=3,256; p=0,001) so với những bà mẹ có 6 năm giáo dục cơ bản Điểm IQ tăng

khoảng 0,48 điểm khi trình độ học vấn của cha mẹ tăng

Hành vi bạo lực của người mẹ khi ở nhà cũng được chứng minh có liên quan

tới IQ của trẻ trong một công bố (2012) Nghiên cứu này đã phân tích các chỉ số IQ

và các yếu tố liên quan ở 423 trẻ từ 6-8 tuổi tại Đông Bắc và Tây Bắc huyện Medellin, Columbia [37] Tác giả cũng dùng trắc nghiệm WISC-IV để đo IQ của trẻ và sử dụng các ngưỡng đánh giá tình trạng dinh dưỡng của WHO (2007)

Mức độ thường xuyên nhiễm bệnh: Trẻ bị nhiễm các bệnh tiêu chảy, lị…cũng

có thể bị mất 10 điểm IQ và 12 tháng học tập tới lúc 9 tuổi [5] Trong một nghiên

cứu khác, mức độ thường xuyên nhiễm bệnh cũng ảnh hưởng tới IQ có ý nghĩa

thống kê Trẻ thường xuyên nhiễm bệnh có thể bị giảm khoảng 0,15 điểm IQ với

p=0,004 [58]

Chu vi đầu trẻ (sơ sinh) và việc tăng nhanh cân nặng hoặc chu vi vòng đầu (HC)

trong 4 tuần đầu sau sinh có thể liên quan tới IQ trong tương lai theo một số nghiên cứu của Leiva Plaza B (2001); Daniza M Ivanovic (2002 và 2009); và Hasanain Faisal Ghazi (2013 và 2014) [35, 39, 40, 47, 48]

Hành vi ăn uống của trẻ: Điểm trung bình IQ ở nhóm ăn uống cầu kỳ cao hơn

HUPH

Trang 33

khoảng 2,7 điểm so với giá trị tương ứng ở nhóm ăn uống không cầu kỳ (95% KTC: 0,809, 4,643; p = 0,006) [74] là kết quả nghiên cứu được thực hiện từ 2011-2012 tại

Trung Quốc của tác giả Yong Xue

Chế độ ăn uống sớm: Các tác giả Hasanain (2014); Daniza M Ivanovic (2009)

và Agostoni C (2010) trong các công bố đã cho thấy các khía cạnh khác nhau của việc chế độ ăn uống sớm (chế độ dinh dưỡng khi bà mẹ mang thai, chế độ dinh dưỡng khi trẻ ở giai đoạn sơ sinh và hai năm đầu đời) có ảnh hưởng tới IQ của trẻ ở giai đoạn sau này [38, 40, 48] Cụ thể, chế độ ăn uống trong thai kỳ (26-34 tuần) có ảnh hưởng tới IQ của trẻ ở lứa tuổi 16; trẻ nhỏ có chế độ ăn nhiều rau, hoa quả, đồ ăn tự nấu tại nhà có điểm IQ cao hơn và trí nhớ tốt hơn ở 4 tuổi [40] Bà mẹ mang thai bổ sung axit béo chuỗi dài ở giữa thai kỳ tác động tích cực IQ trẻ [38] Theo Sudha Venkatramanan [68], vitamin B12 trong chế độ ăn uống của bà mẹ cao hơn trong 3 tháng giữa có liên quan với điểm số từ vựng trẻ thấp được đo bằng trắc nghiệm hình Peabody-III, với sự sụt giảm 0,4 điểm cho việc tăng mỗi 2,6 micro gram vitamin B12

mỗi ngày (P = 0,01) Trong nghiên cứu về điểm cho ăn bổ sung (CFUI) áp dụng để

đánh giá sự tuân thủ các hướng dẫn cho ăn bổ sung dựa trên các khuyến nghị hiện nay tại Úc, New Zealand, Bắc Mỹ và Vương quốc Anh; tác giả Rebecca K Golley

và cộng sự (2013) đã phân tích số liệu từ hơn 4000 đối tượng trong tổng số 13988 đối tượng tham gia nghiên cứu thuần tập năm 1991-1992 tại hạt Avon, Vương quốc Anh

để đưa ra kết luận việc tuân thủ các hướng dẫn cho trẻ ăn bổ sung có liên quan tới trí lực (IQ) của trẻ [42] IQ của trẻ được đo bằng trắc nghiệm WISC-III và IQ của mẹ được đo bằng trắc nghiệm WASI Cụ thể, khi CFUI tăng 0,1 điểm sẽ làm tăng khoảng 1-2 điểm IQ tổng số và nghe hiểu lời nói (VCI) Có nghĩa rằng, có thể tăng được 10 điểm IQ nếu như cải thiện được điểm CFUI từ 0,1 lên 1 điểm [42]

Hoạt động thể chất cũng là một yếu tố có tác dụng trung gian quan trọng trong

mối quan hệ giữa IQ và béo phì trong nhóm nam và nữ trong nghiên cứu của Goldberg

[61] Fernando Gómez-Pinilla (2008) trong công bố của mình cũng đã kết luận, tập thể dục kết hợp với chế độ ăn uống hợp lý cũng sẽ giúp tăng cường bộ nhớ và chống lại suy giảm trí tuệ [43]

HUPH

Trang 34

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

Hình 1.2: Khung lý thuyết nghiên cứu

- Tỷ lệ thừa cân, béo phì

- Các chỉ số Z-Score

 Cân nặng theo tuổi

 Chiều cao theo tuổi

 BMI theo tuổi

Khẩu phần ăn

- Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần (Năng lượng khẩu phần)

- Tính cân đối của khẩu phần theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (năng lượng cung cấp từ Protein:Glucid:Lipid so với tổng năng lượng của khẩu phần; Protein động vật/tổng Protein; Lipid thực vật/tổng Lipid; Tỷ số Canxi/phốt pho)

- Hàm lượng các chất trong khẩu phần

 Các loại chất béo (DHA, PUFA, MUFA)

 Vitamin A, B (B1, B12), C, D, Folate (B9)

 Chất khoáng (canxi, phốt pho)

 Các loại vi chất (sắt, kẽm)

HUPH

Trang 35

1.6 Thông tin về địa điểm nghiên cứu

Trường tiểu học Ninh Sở huyện Thường Tín có 5 khối lớp với 19 lớp Tổng

số học sinh của trường năm học 2016-2017 là 731 học sinh Số lượng học sinh tương đối đồng đều ở khối lớp 1-4; riêng khối 5 có số học sinh ít nhất với 104 học sinh chia vào 3 lớp

Nhà trường có phòng Y tế trường học với 1 nhân viên y tế trường học, đảm bảo chăm sóc sức khỏe học sinh Nhà trường triển khai hoạt động quản lý theo dõi sức khỏe học sinh 100% học sinh trường có sổ theo dõi sức khỏe Năm học 2015-2016, trường có 4 học sinh thấp còi và 10 học sinh béo phì trong tổng số 714 học sinh [22] Trường thường xuyên thực hiện các hoạt động vệ sinh học đường như tổng vệ sinh trường lớp, phun hóa chất diệt côn trùng, vệ sinh nhà ăn, nhà bếp Ban lãnh đạo nhà trường cũng rất quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng, an toàn vệ sinh thực phẩm và tạo điều kiện ủng hộ việc tiến hành nghiên cứu tại trường

1.7 Tổng quan về nghiên cứu gốc

1.7.1 Tên nghiên cứu: “Hiệu quả của bổ sung bột cải xoăn với sức bền thể lực, trí lực và tình trạng nhiễm khuẩn của học sinh một số trường tiểu học tại Hà Nội” 1.7.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Hiệu quả của bổ sung bột cải xoăn đối với sức bền thể lực, trí lực và tình trạng nhiễm khuẩn của học sinh tiểu học ở một số trường tại Hà Nội

Trang 36

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Trẻ 7-9 tuổi

- Không mắc các dị tật bẩm sinh, bệnh ưa chảy máu hoặc chảy máu kháng vitamin K

- Không bị chậm phát triển tâm thần vận động

- Không mắc các bệnh mạn tính đang được điều trị (hội chứng thận hư, viêm gan mạn tính, thấp tim, hen phế quản) hoặc nhiễm trùng nặng Trẻ bị loạn thị

- Gia đình tự nguyện đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Trẻ bị dị ứng với bột cải xoăn

- Trẻ có kế hoạch đi xa khỏi nơi cư trú nhiều ngày trong thời gian nghiên cứu

- Bố/mẹ của trẻ không tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Trẻ bị bệnh nặng hoặc phải đi xa nhiều ngày trong thời gian nghiên cứu 1.7.5 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm can thiệp cộng đồng có nhóm đối chứng, đánh giá trước

và sau can thiệp

1.7.6 Cỡ mẫu

Số lượng: 600 trẻ (300 trẻ ở mỗi nhóm can thiệp và nhóm đối chứng) là con số làm

tròn sau khi tính thêm khoảng 15% đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho so sánh hai trung bình

Trong đó:

Zα: là phân vị chuẩn hóa, ứng với hệ số tin cậy 95% thì Zα = 1,96

Zβ: phân vị chuẩn hóa ứng với độ mạnh của nghiên cứu, lực mẫu là 80% (β = 0,20),

Trang 37

mắc bệnh hô hấp/số đợt mắc giữa 2 nhóm can thiệp vào cuối thời gian nghiên cứu của 1 nghiên cứu trước

σ = 1,41 là độ dao động (SD) ước tính của giá trị trung bình

Cách chọn mẫu và phân nhóm nghiên cứu

- Mời bố mẹ của học sinh đến họp và giới thiệu, giải thích về nghiên cứu, nếu cha

mẹ nào đồng ý thì sẽ ký vào cam kết tham gia nghiên cứu

- Có 405 trẻ từ trường Ninh Sở và 197 trẻ từ trường Duyên Thái đã được cha mẹ đồng ý cho tham gia nghiên cứu (Tổng 602 trẻ) Các trẻ được cân và đo sức bền thể lực, trí lực trong điều tra ban đầu Riêng điều tra khẩu phần, thực hiện trên 50% số trẻ, cụ thể có 217 trẻ của trường Ninh Sở và 121 trẻ của trường Duyên Thái được hỏi ghi khẩu phần 24 giờ (Tổng 338 trẻ)

- Sau đó, phân nhóm 302 trẻ vào nhóm can thiệp, 300 trẻ vào nhóm chứng Nhóm can thiệp sẽ được uống mỗi ngày 1 gói bột cải xoăn 9,5g pha với 150ml nước

trong 5 ngày đi học ở trường trong vòng 9 tháng can thiệp

- Sau khi kết thúc can thiệp, 602 trẻ ở 2 nhóm can thiệp và đối chứng sẽ được

cân, đo lại theo như điều tra ban đầu

1.7.7 Phương pháp thu thập số liệu

Các số liệu được thu thập ở thời điểm trước can thiệp và sau 9 tháng can thiệp

Đo cân nặng: Sử dụng cân điện tử Seca Trẻ được cân với quần áo mỏng, bỏ

giầy, dép Trẻ đứng ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân sát nhau, mắt nhìn thẳng Kết quả được ghi chính xác tới 0,1 kg

Đo chiều cao: Sử dụng thước gỗ 2 mảnh đo chiều cao đứng của trẻ Thước

được đặt ở mặt phẳng chắc chắn, bằng phẳng và dựa vào tường Trẻ đứng chân trần lên tấm đặt trên mặt đất của thước Hai bàn chân hơi cách nhau Các điểm gót chân, bắp chân, mông, bả vai và chẩm chạm vào tấm thẳng đứng của thước Người hỗ trợ giữ đầu gối và gót chân của trẻ để cho trẻ đứng thẳng đứng và không kiễng chân Giữ nguyên tư thế đầu của trẻ, dùng tay kia kéo nhẹ tấm chặn đầu chạm vào đỉnh đầu và ấn nhẹ để làm xẹp tóc Đọc kết quả và ghi lại chiều cao của trẻ theo cm và

độ chính xác tới 0,1 cm

HUPH

Trang 38

Đo thị lực nhìn xa: Dùng bảng thị lực vòng hở Londolt cho bệnh nhân đứng

cách bảng thị lực 5m, lần lượt chỉ các dòng từ lớn tới nhỏ Ghi lại thị lực tương ứng với hàng nhỏ nhất mà bệnh nhân còn có thể đọc được Ví dụ về cách ghi kết quả: MP: 10/10 MT: 5/10

Đo chỉ số trí tuệ (IQ): Sử dụng test WISC-IV đã được chuẩn hóa và ứng dụng

cho trẻ em Việt Nam – thang đo khoa học và hệ thống, dễ dàng trong so sánh kết quả với các quốc gia có sử dụng Trong nghiên cứu gốc, IQ của trẻ được đánh giá thông qua chỉ số trí nhớ làm việc (WMI), và chỉ số tốc độ xử lý (PSI) Ở mỗi chỉ số, các bác

sỹ sử dụng 2 tiểu trắc nghiệm chính như đã nêu trong cấu phần trắc nghiệm

WISC-IV ứng dụng tại Việt Nam

Chỉ số trí nhớ làm việc:

 Nhớ dãy số: Trong nhớ dãy số Thuận, trẻ nhắc lại các số thứ tự mà cán bộ tâm lý đọc ban đầu Trong nhớ dãy số nghịch, trẻ nhắc lại các số thứ tự ngược lại với thứ tự cán bộ tâm lý đọc ban đầu

 Nhớ Chuỗi số - Chữ cái theo trật tự: Trẻ được đọc 1 dãy chữ-số, sau đó trẻ phải nhắc lại các số thứ tự tăng dần và các chữ theo thứ tự bảng chữ cái

Chỉ số tốc độ xử lý:

 Tìm biểu tượng: Trẻ quan sát một nhóm ký hiệu cho trước và tìm ra những ký hiệu đưa ra có tương đồng với ký hiệu trong nhóm cho trước trong thời gian nhất định

 Mã hóa: Trẻ sao chép lại các ký hiệu tương ứng với các hình đơn giản hoặc các

số Trẻ điền kí hiệu vào hình hoặc số tương ứng trong thời gian nhất định Các bác sĩ sẽ thực hiện trắc nghiệm và ghi điểm, sau đó trả về kết quả tổng điểm thô

và điểm quy chuẩn của từng điểm IQ thành phần

Đo lực bóp cổ tay: Đo bằng máy đo lực bóp cổ tay Takei Nhật Bản Trẻ nắm

giữ lực kế trong lòng bàn tay, cánh tay vuông góc với khuỷu tay, tay áp sát người Tay cầm của lực kế cần được điều chỉnh phù hợp với đối tượng thực hiện kiểm tra Khi đã sẵn sàng đối tượng bóp lực kế với lực tối đa đẳng trương, được duy trì trong khoảng 5 giây Không được gắng sức nhờ các bộ phận khác của cơ thể như

tư thế dậm chân, tỳ vai hoặc nghiêng người Các đối tượng cần được khuyến

HUPH

Trang 39

khích thực hiện lực bóp bàn tay tối đa Nếu thực hiện 2 tới 3 lần được phép nghỉ

30 giây giữa các lượt Ghi nhận kết quả cao nhất đạt được giữa các lượt (tính bằng

kg hoặc lbs)

Hỏi ghi khẩu phần 24 giờ: trong 3 ngày ở hai thời điểm trước và sau can thiệp

theo mẫu phiếu điều tra thiết kế sẵn có Sử dụng quyển ảnh trong điều tra khẩu phần dinh dưỡng và một số công cụ đo lường thực phẩm, mẫu thực phẩm, cân thực phẩm làm công cụ hỗ trợ điều tra Điều tra viên hỏi toàn bộ thực phẩm mà đối tượng đã tiêu thụ trong bữa sáng, bữa trưa và bữa tối Điều tra viên hỏi trực tiếp các em học sinh lớp 3-4, với học sinh lớp 2 hỏi bố hoặc mẹ học sinh

Trong thời gian can thiệp (9 tháng):

Theo dõi số ngày tiêu thụ sản phẩm: Giáo viên sẽ ghi chép số lượng sản phẩm

tiêu thụ hàng ngày của từng đối tượng Lượng tiêu thụ này sẽ được tổng kết theo tháng và số liệu cuối cùng sẽ tính toán để tìm ra số ngày tiêu thụ, số lượng sản phẩm tiêu thụ trung bình, ít nhất và nhiều nhất theo các nhóm Các đối tượng sử dụng ≥70%

số lượng sản phẩm sẽ được coi là đạt tiêu chuẩn đủ số lượng và được tính vào trong

xử lý số liệu

Tình trạng nhiễm khuẩn: Trẻ được theo dõi các dấu hiệu bệnh tật trong thời

gian can thiệp bằng sổ ghi chép được phát khi bắt đầu nghiên cứu Giáo viên và nhân viên y tế trường học ghi nhận lại các triệu chứng hoặc dấu hiệu của tiêu chảy/viêm đường hô hấp và thời gian mắc bệnh vào sổ ghi chép Phần chẩn đoán (tiêu chảy hoặc viêm đường hô hấp) do cán bộ y tế trường ghi Thời gian theo dõi

trong suốt 9 tháng can thiệp

Theo dõi dấu hiệu lâm sàng: Hàng tuần các giáo viên và nhân viên y tế trường học tổng hợp tình hình sức khỏe của các đối tượng

1.7.8 Xử lý và phân tích số liệu, báo cáo

1.7.8.1 Xử lý số liệu: Các mẫu phiếu điều tra, các kết quả xét nghiệm được làm sạch số liệu, mã hóa và vào số liệu bằng chương trình Epi info Phân tích số liệu theo chương trình SPSS 16.0

1.7.8.2 Phân tích số liệu:

HUPH

Trang 40

Số liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch, kiểm tra, Số liệu được nhập 2 lần bằng

2 người nhập khác nhau nhằm tránh sai số trong quá trình nhập, số liệu được xử lý bằng chương trình SPSS 16.0 Trước khi sử dụng các kiểm định thống kê, các biến

số được kiểm định để đưa về phân bố chuẩn

Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình, độ lệch chuẩn (SD), sai số chuẩn (SE), khoảng tin cậy 95% (CI 95%) và các tỷ lệ %

Các test thống kê được áp dụng: Test t ghép cặp: để so sánh hai giá trị trung bình của hai nhóm nghiên cứu trước và sau can thiệp Chỉ so sánh ghép cặp với những giá trị đủ số liệu trước và sau nghiên cứu Test 2 để so sánh sự thay đổi các tỷ lệ giữa các nhóm can thiệp Chỉ số hiệu quả can thiệp sẽ được tính toán để chỉ rõ hiệu quả của sản phẩm

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w