Kết quả phân tích hồi quy Logistic đa biến cho thấy các yếu tố thực sự ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị THA của người bệnh là giới tính, nghề nghiệp, kiến thức về bệnh và chế độ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ NGUYỄN BẢO NGỌC
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI CÁC TRẠM
Y TẾ QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ NGUYỄN BẢO NGỌC
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI CÁC TRẠM Y TẾ QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện để em tham gia khóa học và triển khai nghiên cứu này
Em xin gửi lòng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Kim Ánh đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức khoa học cho em trong quá trình thực hiện luận văn
Em xin cảm ơn Quý Thầy Cô trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt thời gian học tập
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo khoa Phòng chống bệnh không lây nhiễm, Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Đà Nẵng, Trưởng Trạm và toàn thể cán bộ nhân viên của các Trạm Y tế trên địa bàn quận Sơn Trà đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình tôi triển khai thực hiện nghiên cứu này
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, chia sẻ và khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 7 năm 2022
Học viên
Đỗ Nguyễn Bảo Ngọc
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Điều trị tăng huyết áp 5
1.1.3 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp 10
1.2 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp 15
1.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp 20
1.3.1 Yếu tố cá nhân 20
1.3.2 Hỗ trợ của gia đình và xã hội 24
1.3.3 Dịch vụ y tế 25
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
1.5 Khung lý thuyết 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.3 Thiết kế nghiên cứu 29
2.5 Phương pháp chọn mẫu 30
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.7 Các biến số nghiên cứu 31
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 32
2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp 32
HUPH
Trang 52.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị thuốc 32
2.8.3 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều chỉnh lối sống 33
2.8.4 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về bệnh và chế độ điều trị 33
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 35
3.1.2 Đặc điểm về bệnh của đối tượng nghiên cứu 36
3.1.3 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị của đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị 39
3.2.1 Tuân thủ điều trị thuốc 39
3.2.2 Tuân thủ điều chỉnh lối sống 41
3.2.3 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp 43
3.3 Hỗ trợ từ gia đình và xã hội 43
3.4 Dịch vụ y tế 44
3.5 Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị tăng huyết áp 44
3.5.1 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị 45
3.5.2 Mối liên quan giữa dịch vụ y tế, gia đình và xã hội với tuân thủ điều trị tăng huyết áp 51
3.5.3 Phân tích hồi quy logistics đa biến các yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị ……… 54
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 58
4.1 Thực trạng tuân thủ điều trị 58
4.1.1 Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc 58
4.1.2 Thực trạng tuân thủ điều chỉnh lối sống 59
4.1.3 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp 62
4.2 Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị tăng huyết áp 62
4.2.1 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và tuân thủ điều trị tăng huyết áp 62
4.2.2 Mối liên quan giữa hỗ trợ của gia đình và xã hội với tuân thủ điều trị 68
HUPH
Trang 64.2.3 Mối liên quan giữa yếu tố dịch vụ y tế với tuân thủ điều trị 70
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 72
KẾT LUẬN 73
KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 81
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI Body mass index (Chỉ số khối cơ thể)
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
TTĐT Tuân thủ điều trị
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo (7) 4
Bảng 1.2 Phân độ huyết áp (8) 5
Bảng 1.3 Thang đo tuân thủ điều trị Morisky 14
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 35
Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh tăng huyết áp (n=420) 36
Bảng 3.3 Yếu tố nguy cơ đang có của ĐTNC 37
Bảng 3.4 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA của ĐTNC 38
Bảng 3.5 Tuân thủ điều trị thuốc 39
Bảng 3.6 Tuân thủ chế độ ăn uống, giảm lượng cồn, bỏ hút thuốc 41
Bảng 3.7 Tuân thủ chế độ sinh hoạt, tập luyện, theo dõi huyết áp 41
Bảng 3.8 Thông tin về hỗ trợ gia đình và xã hội 43
Bảng 3.9 Thông tin về dịch vụ y tế tại các Trạm Y tế 44
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và tuân thủ điều trị thuốc 45 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và tuân thủ điều chỉnh lối sống 46
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và tuân thủ điều trị chung 46 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa đặc điểm bệnh của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị thuốc 47
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm bệnh của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều chỉnh lối sống 48
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đặc điểm bệnh của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị chung 49
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa kiến thức của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị thuốc 50
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều chỉnh lối sống 50
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị chung 51
HUPH
Trang 9Bảng 3.19 Mối liên quan giữa dịch vụ y tế, gia đình và xã hội của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị thuốc 51 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa dịch vụ y tế, gia đình và xã hội của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều chỉnh lối sống 52 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa dịch vụ y tế, gia đình và xã hội của đối tượng nghiên cứu và tuân thủ điều trị chung 53 Bảng 3.22 Phân tích hồi quy logistics đa biến các yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị thuốc 54 Bảng 3.23 Phân tích hồi quy logistics đa biến các yếu tố liên quan với tuân thủ điều chỉnh lối sống 55 Bảng 3.24 Phân tích hồi quy logistics đa biến các yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị chung 56
HUPH
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quy trình điều trị tăng huyết áp 10 Hình 1.1 Bản đồ quận Sơn Trà 27 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đạt, không đạt của kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 39 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc 40 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tuân thủ điều chỉnh lối sống 42 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp 43
HUPH
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ tăng huyết áp đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, dự báo đến năm
2025 có 1,56 tỷ người tăng huyết áp (khoảng 29% người trưởng thành) Tuân thủ điều trị sẽ giúp cho huyết áp được kiểm soát tốt hơn, phòng ngừa được những biến chứng của bệnh và giúp cho chất lượng cuộc sống của người bệnh được nâng cao
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm 2022” với mục tiêu mô tả thực trạng tuân thủ điều trị
người bệnh huyết áp đang được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố
Đà Nẵng năm 2022 và xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp
Với nghiên cứu cắt ngang phân tích, tiến hành trên 420 người bệnh THA đang được quản lý điều trị tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng từ tháng
12 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022 Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp đối tượng đã chọn khi đến khám và nhận thuốc huyết áp hàng tháng tại Trạm Y tế Sử dụng thang đo Morisky gồm 8 câu hỏi để đo lường sự tuân thủ điều trị thuốc, áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Y tế để đo lường tuân thủ điều chỉnh lối sống của bệnh nhân THA Phân tích các yếu tố liên quan giữa tuân thủ điều trị của ĐTNC với các yếu tố khác bằng kiểm định khi bình phương χ2 sau đó dựa trên kết quả phân tích đơn biến, đưa các biến có mối liên quan vào mô hình hồi quy đa biến
để kiểm soát các yếu tố nhiễu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuân thủ điều trị THA là 23,8%, trong đó tuân thủ điều chỉnh lối sống là 25,9% và tuân thủ điều trị thuốc là 75,2% Kết quả phân tích hồi quy Logistic đa biến cho thấy các yếu tố thực sự ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị THA của người bệnh là giới tính, nghề nghiệp, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị; các yếu tố thực sự có liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc là yếu tố nghề nghiệp, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị, mức độ giải thích và nhắc nhở chế độ tuân thủ điều trị THA; các biến thực sự có liên quan đến sự tuân thủ điều chỉnh lối sống là yếu tố nghề nghiệp, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị, mức độ hướng dẫn đầy đủ
về các chế độ điều trị
HUPH
Trang 12Nghiên cứu đưa ra một vài khuyến nghị cụ thể đối với Trạm Y tế và người bệnh: Trạm Y tế cần chú trọng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, cán bộ y tế cần
tư vấn đầy đủ và thường xuyên về bệnh và các chế độ điều trị cho người bệnh Người bệnh cần nghiêm túc hơn trong việc tuân thủ điều trị và chủ động tìm hiểu thông tin, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị để từ đó có ý thức trong việc tuân thủ điều trị
HUPH
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là nguyên nhân tử vong của 6% người trưởng thành trên toàn thế giới và được tìm thấy ở tất cả các quần thể người, ngoại trừ thiểu số cá thể sống trong xã hội biệt lập Ở những nước phát triển, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp tăng theo tuổi, ở mức 20% - 30% toàn bộ dân số trưởng thành và đạt 60% - 70% ở những quần thể trên 70 tuổi Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch, góp phần đáng kể vào tỷ lệ bệnh tật và tỷ lệ tử vong do đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh thận giai đoạn cuối và suy tim xung huyết (1) Nguyên nhân khiến cho THA gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong nặng nề trên toàn thế giới như vậy đã được WHO chỉ ra, đó là có ba nghịch lý đang tồn tại trong hoạt động phòng chống tăng huyết áp ở hầu như khắp các khu vực: phát hiện THA rất dễ nhưng tỷ lệ phát hiện lại thấp; điều trị THA đơn giản nhưng tỷ lệ điều trị chỉ chiếm khoảng 30% và tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị THA rất hạn chế
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc kiểm soát tăng huyết áp phụ thuộc nhiều vào việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Tuân thủ điều trị sẽ giúp cho huyết áp được kiểm soát tốt hơn, phòng ngừa được những biến chứng của bệnh và giúp cho chất lượng cuộc sống của người bệnh được nâng cao Có những bằng chứng thuyết phục từ các thử nghiệm lâm sàng chỉ ra rằng lợi ích của việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp sẽ làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh tim mạch ít nhất lên đến độ tuổi 79, nguy cơ bị đột quỵ giảm 30%, nguy cơ biến cố mạch vành giảm 23%, nguy cơ gây tử vong do tất cả nguyên nhân giảm 23% nếu bệnh nhân tuân thủ điều trị tăng huyết áp (1)
Dù với bằng chứng rõ ràng và ngay cả nhận thức về bệnh đã được nâng cao trong 2 thập kỷ vừa qua, thực tế vẫn có nhiều người không được điều trị và chỉ dưới 50% số bệnh nhân được điều trị được kiểm soát đầy đủ (1) Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền năm 2018 tại xã Thạch Lỗi huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương trên 218 đối tượng, kết quả chỉ có 39,9% bệnh nhân THA tuân thủ điều trị chung (2) Trong nghiên cứu trên 300 người bệnh mắc THA đang có hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019
HUPH
Trang 14của tác giả Đỗ Duy Tần cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị THA chung đạt 44% (3)
Theo báo cáo cuối năm 2020 của Chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm tại quận Sơn Trà, qua công tác khám sàng lọc phát hiện ra 5.948 người bệnh bị mắc bệnh tăng huyết áp, chỉ có 1033 người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý điều trị tại các Trạm Y tế trên địa bàn quận Sơn Trà, và tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị trung bình hàng tháng chỉ khoảng 32% (4) Nhằm trả lời câu hỏi thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà như thế nào? Những yếu tố nào thực sự liên quan đến sự tuân thủ điều trị
của người bệnh tăng huyết áp? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm 2022”
HUPH
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm 2022
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm
2022
HUPH
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Huyết áp
Huyết áp là áp lực dòng máu ở trong lòng động mạch tác động lên thành mạch Huyết áp được tạo ra bởi lực co bóp của tim và sức cản của động mạch Khi tim co bóp, máu sẽ được bơm ra ngoài và ép vào thành động mạch làm mạch máu căng lên Số đo huyết áp ở thời điểm này gọi là huyết áp tâm thu hay huyết áp tối đa Sau khi co bóp tim sẽ giãn ra và thành động mạch sẽ trở về trạng thái ban đầu Số đo huyết áp tại thời điểm này gọi là huyết áp tâm trương hay huyết áp tối thiểu (5) Theo Tổ chức y tế Thế giới, huyết áp bình thường đo ở cánh tay là ≤ 120/80 mmHg Đây là huyết áp bình thường đối với người trưởng thành Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm sinh lý và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác (5)
1.1.1.2 Tăng huyết áp
Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc khi đang được điều trị bằng một thuốc hạ huyết áp (6) Nguyên nhân: phần lớn tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát) (6)
1.1.1.3 Phân loại tăng huyết áp
• Chẩn đoán xác định THA: dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình, ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo HA (6)
Bảng 1.1 Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo (7)
Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm trương
1 Cán bộ y tế đo theo đúng quy
và/hoặc
≥ 90 mmHg
2 Đo bằng máy đo HA tự động 24
HUPH
Trang 173 Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg
• Phân độ THA: dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được
Bảng 1.2 Phân độ huyết áp (8)
Phân độ huyết áp Huyết áp tâm
thu (mmHg)
Huyết áp tâm trương (mmHg)
Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn
huyết áp ở mức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu (6)
1.1.2 Điều trị tăng huyết áp
1.1.2.1 Nguyên tắc chung
- Cần điều trị đúng và đủ hàng ngày; quản lý và theo dõi đều, điều trị lâu dài, chỉnh liều định kỳ
- Mục tiêu điều trị THA nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển các biến chứng của THA trên cơ quan đích: nghĩa là cần đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối
đa “nguy cơ tổn thương cơ quan đích”, cụ thể mục tiêu về HA tại trạm y tế như sau: + HA tâm thu từ 120 đến <130 mmHg (người < 65 tuổi) và từ 130 đến < 140 mmHg (người ≥ 65 tuổi), có thể thấp hơn nếu dung nạp được
Trang 18- Thời điểm khởi trị THA:
+ Khởi trị khi HA ≥ 140/90 mmHg ở người < 80 tuổi hoặc ≥ 160/90 mmHg ở người ≥ 80 tuổi
+ Khi HA từ 130 – 139/85 – 89 mmHg: cần thay đổi lối sống, cân nhắc phối hợp với điều trị thuốc khi nguy cơ tim mạch rất cao
- Tiếp tục duy trì lâu dài phác đồ điều trị khi đã đạt HA mục tiêu, cũng như cần theo dõi chặt để định kỳ chỉnh thuốc
- Kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như ĐTĐ, rối loạn lipid máu… để tăng tối đa hiệu quả dự phòng tổn thương cơ quan đích và giảm thiểu nguy cơ tim mạch tổng thể
- Chú ý cá thể hóa điều trị trên cơ sở đánh giá toàn diện HA, hiệu quả/giá thành
và khả năng tuân thủ điều trị (8)
- Giáo dục truyền thông sức khỏe đối với người dân nói chung và người bệnh nói riêng có đầy đủ kiến thức về THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch, về lối sống tốt cho tim mạch, về mục tiêu và tuân thủ điều trị là tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị với người THA và dự phòng THA với những người chưa THA, trong đó cần nhấn mạnh: Điều trị THA là một điều trị suốt đời; Triệu chứng cơ năng của THA không phải lúc nào cũng gặp và không tương xứng với mức độ nặng nhẹ của THA; Chỉ có thay đổi tích cực lối sống kèm theo tuân thủ chặt chẽ chế độ điều trị thích hợp mới giảm đáng kể các tai biến do THA; Huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác luôn tiến triển theo tuổi, vì thế theo dõi đều đặn định kỳ (hàng tháng, hàng quý, hàng năm) số đo huyết áp và đánh giá các yếu tố nguy cơ kèm theo là hết sức cần thiết để điều chỉnh lối sống và chế độ điều trị kịp thời (6)
1.1.2.2 Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống
Áp dụng cho mọi người bệnh để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng,…
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày) Cần lưu ý là: 80% lượng muối đã có sẵn trong thức ăn
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
HUPH
Trang 19+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 1 cốc chuẩn/ngày (nữ) (1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương 330ml bia hoặc 120
ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh)
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn 30 – 60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp
lý
- Tránh bị lạnh đột ngột (6)
1.1.2.3 Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc tại tuyến cơ sở
- Chọn thuốc khởi đầu:
+ Tăng huyết áp độ 1: có thể lựa chọn một thuốc trong số các nhóm: lợi tiểu thiazide liều thấp; ức chế men chuyển; chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài; chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định)
+ Tăng huyết áp tư độ 2 trở lên: nên phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, chẹn bêta giao cảm (theo sơ đồ ưu tiên lựa chọn phối hợp các thuốc trong điều trị tăng huyết áp) + Từng bước phối hợp các thuốc hạ huyết áp cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12,5 mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích chậm (nifedipine chậm (retard) 10 – 20 mg/ngày), ức chế men chuyển (enalapril 5 mg/ngày; perindopril 2,5 – 5 mg/ngày…) hoặc thuốc ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II
- Quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo người bệnh được uống thuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc theo 4 bước quản lý tăng huyết áp ở tuyến cơ sở
HUPH
Trang 20- Nếu chưa đạt huyết áp mục tiêu: chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm một loại thuốc khác cho đến khi đạt huyết áp mục tiêu
- Nếu vẫn không đạt huyết áp mục tiêu hoặc có biến cố: cần chuyển tuyến trên hoặc gửi khám chuyên khoa tim mạch (6)
1.1.2.4 Các bước chẩn đoán, điều trị quản lý tăng huyết áp tại Trạm Y tế
Đối tượng áp dụng: Người trưởng thành có huyết áp ≥ 140/90 mmHg, phát hiện
thông qua đo huyết áp tại cộng đồng hoặc khi đến khám tại trạm y tế; người THA sau khi điều trị ổn định được chuyển từ tuyến trên về trạm y tế để quản lý và theo dõi huyết áp
Bước 1: Hỏi bệnh
- Họ tên, năm sinh, nghề nghiệp
- Triệu chứng và tiến triển liên quan đến THA: đau ngực, khó thở, phù mặt, chi…
- Tiền sử chẩn đoán hoặc điều trị THA và các bệnh liên quan: số đo HA, các thuốc
đã điều trị, tác dụng phụ và khả năng tuân thủ với điều trị lâu dài
- Các yếu tố nguy cơ: đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì hoặc béo bụng, hạn chế vận động thể lực, chế độ ăn, uống không phù hợp, hút thuốc, uống rượu bia, stress
- Tiền sử gia đình có bệnh tim mạch sớm
Bước 2: Khám lâm sàng, xét nghiệm
- Đo HA tại trạm y tế theo đúng quy trình, đối chiếu với các số đo HA nhiều lần tại nhà
- Đo chiều cao/cân nặng, vòng eo/mông, tính chỉ số BMI, phát hiện phù mặt/chi…
- Khám tổng thể: phát hiện các tổn thương cơ quan đích (nếu có) ở tim, não, thận, mạch máu ngoại vi
- Hemoglobin và/hoặc hematocrit
- Glucose máu khi đói
- Bilan lipid máu: cholesterol toàn phần, triglycerides, LDL-C, HDL-C
- Điện giải máu (Na+, K+), axit uric, creatinine máu
- Chức năng gan: SGOT/SGPT máu
- Tổng phân tích nước tiểu và tìm protein niệu (định tính hoặc định lượng)
HUPH
Trang 21- Điện tâm đồ đủ 12 chuyển đạo
Bước 3: Chẩn đoán
- Phân độ THA
- Phân tầng nguy cơ tim mạch cho người tăng huyết áp:
1 Nguy cơ rất cao khi có 1 trong các yếu tố sau:
+ Đã có bệnh/biến cố tim mạch như bệnh động mạch vành, động mạch não, động mạch chủ/ngoại vi
+ Đái tháo đường kèm tổn thương cơ quan đích hay có kèm ≥ 1 yếu tố nguy cơ tim mạch chính
+ Suy thận nặng mức lọc cầu thận < 30 ml/phút
+ Nguy cơ tim mạch tổng thể 10 năm theo thang điểm SCORE > 10%
2 Nguy cơ cao khi có 1 trong các yếu tố sau:
+ Tăng rõ 1 trong các yếu tố nguy cơ tim mạch THA ≥ 180/110 mmHg, rối loạn lipid máu: cholesterol toàn phần ≥ 8 mmol/L
+ Đái tháo đường chưa có tổn thương cơ quan đích
+ THA đã có dày thất trái
+ Suy thận vừa, mức lọc cầu thận từ 30 – 59 ml/phút
+ Nguy cơ tim mạch tổng thể 10 năm theo thang điểm SCORE từ 5 – 10%
Bước 4: Chuyển tuyến
- THA ở người trẻ (≤ 40 tuổi), THA ở phụ nữ có thai hoặc nghi THA thứ phát
- THA có nhiều bệnh nặng phối hợp
- THA đang quản lý điều trị có diễn biến bất thường, không đạt HA mục tiêu dù đã điều trị đủ ≥ 3 thuốc, với ít nhất 1 lợi tiểu hoặc không dung nạp với thuốc
- THA nghi ngờ hoặc đã có biến chứng nặng
- Khi cần làm xét nghiệm cho lần đầu tiên mới phát hiện THA hoặc khám định kỳ
6 – 12 tháng (nếu TYT chưa làm được đủ xét nghiệm cơ bản)
Bước 5: Điều trị, quản lý (8)
Quy trình điều trị tăng huyết áp được thể hiện qua sơ đồ sau (7):
HUPH
Trang 22Sơ đồ 1.1 Quy trình điều trị tăng huyết áp 1.1.3 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
1.1.3.1 Tuân thủ điều trị
Tuân thủ (hay gắn kết) điều trị là việc người bệnh làm theo phác đồ điều trị đã được kê, hay việc người bệnh tuân thủ chế độ ăn, hay điều chỉnh lối sống phù hợp với lời khuyên của nhân viên y tế mà người bệnh đã đồng ý
Phân độ HA & Phân tầng NCTM để xác định HAMT & chiến lược điều trị
Mục tiêu: HA < 140/90 mmHg (< 130/80 nếu có ĐTĐ hoặc bệnh thận mãn tính)
Nâng cao nhận thức & Tích cực thay đổi lối sống để hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ tim
mạch khác
Lựa chọn thuốc khởi đầu
Không có chỉ định bắt buộc hoặc ưu tiên Có chỉ định bắt buộc hoặc ưu tiên
Tăng huyết áp độ 1
- Có thể dùng chẹn kênh canxi, ƯCMC, ƯCTT, chẹn bêta…
- Dùng các thuốc theo chỉ định bắt buộc
ưu tiên
- Phối hợp thêm với các nhóm thuốc: lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ƯCMC, ƯCTT, chẹn bêta, chẹn anpha khi cần thiết…
Giám sát, tư vấn, khuyến khích tuân thủ điều trị
Kiểm soát hoặc hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ tim mạch khác Không đạt được huyết áp mục tiêu Có tác dụng phụ
Tăng liều tối đa hoặc phối hợp thuốc đến khi đạt HAMT
Tham khảo ý kiến chuyên gia tim mạch tuyến trên
Thay thế loại thuốc hạ huyết áp khác Khuyến khích tuân thủ điều trị
HUPH
Trang 23Tuân thủ điều trị giải thích cho sự duy trì điều trị, tuy nhiên nó chỉ giải thích được một phần nhỏ của tỷ lệ duy trì thấp với thuốc điều trị tăng huyết áp Hơn thế nữa, người bệnh vẫn thường duy trì dùng các thuốc theo đơn mặc dù không thực sự gắn kết với điều trị Sự tuân thủ là một yếu tố mà người bệnh là trung tâm, và chịu
sự ảnh hưởng của mối quan hệ thầy thuốc – người bệnh Định nghĩa của sự tuân thủ hay sự duy trì điều trị cũng cho thấy sự khó khăn của người bệnh khi phải tuân thủ theo các phác đồ điều trị Ví dụ, một đơn thuốc cho người bệnh có hội chứng chuyển hóa bao gồm chế độ ăn đặc biệt, tăng hoạt động thể lực, bỏ thuốc lá, thuốc đái tháo đường và/hoặc insulin, thuốc điều trị tăng huyết áp, thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu và còn có thể thêm những thuốc khác Những liệu pháp điều trị như thế đáp ứng được cả lý thuyết, sinh lý và kinh nghiệm điều trị của bác sỹ với hội chứng chuyển hóa Đồng thời, những vẫn đề của điều trị lấy người bệnh làm trọng tâm như văn hóa, thái độ, chi phí điều trị hay tác dụng phụ với người bệnh đều bị bỏ qua Và kết quả là người bệnh trở nên lẫn lộn với liệu pháp điều trị phức tạp và bắt đầu không hay kém tuân thủ với điều trị (1)
1.1.3.2 Mức độ tuân thủ điều trị
Mức độ tuân thủ với phác đồ thay đổi từ hoàn toàn, không rõ ràng (không dùng thuốc và không báo với bác sỹ điều trị) đến quá tuân thủ có nghĩa là dùng thuốc nhiều hơn đã được kê Dạng không tuân thủ thường gặp nhất trong điều trị tăng huyết áp và cũng ở hầu hết điều trị các bệnh mạn tính khác là tuân thủ một phần Một ví dụ của tuân thủ một phần là “không dùng thuốc trong ngày nghỉ”, người bệnh cố tình bỏ liều hay quên không mang theo thuốc của họ trong vòng vài ngày,
ví dụ trong một chuyến công tác hay cuối tuần Một dạng khác của dung nạp một phần là hiệu ứng bàn chải hay dung nạp áo choàng trắng, là hiện tượng bệnh nhân chỉ tuân thủ trước và sau khi hẹn khám lại Nói chung, người bệnh thường thay đổi mức độ và loại tuân thủ điều trị (1)
Không tuân thủ điều trị có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và kinh tế xã hội Không tuân thủ đặt ra gánh nặng chi phí to lớn cho dịch vụ y tế do lãng phí thuốc Một báo cáo của một nghiên cứu được ủy quyền bởi Bộ Y tế nước Anh vào năm 2010 ước tính chi phí thuốc kê đơn chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc
HUPH
Trang 24cộng đồng của dịch vụ Y tế quốc gia Anh là 300 triệu bảng mỗi năm và đối với thuốc hạ huyết áp ít nhất là 100 triệu bảng mỗi năm (9)
1.1.3.3 Yêu cầu tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp
Theo khuyến nghị của Bộ Y tế “hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA năm 2010”, tuân thủ điều trị THA bao gồm: tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp điều chỉnh lối sống (hạn chế ăn mặn và thức ăn có chứa nhiều cholesterol, acid béo no; hạn chế uống rượu bia; không hút thuốc lá/thuốc lào; luyện tập thể dục; đo
và ghi số đo huyết áp thường xuyên 5 – 7 lần/tuần) (7)
Tuân thủ điều trị thuốc
Là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của cán bộ y tế, kể cả khi huyết áp bình thường Không được tự ý thay đổi thuốc và liều lượng thuốc
Tuân thủ điều chỉnh lối sống :
- Thay đổi chế độ ăn: Hạn chế ăn mặn (<5 gam muối /ngày) và thức ăn có chứa
nhiều cholesterol, acid béo no Nên dùng các thức ăn có chứa nhiều kali, tăng cường
ăn rau và hoa quả tươi
- Hạn chế uống rượu/bia: Là số lượng rượu/bia uống ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày
(nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/ tuần (nam),
ít hơn 9 cốc chuẩn/ tuần (nữ) (1 cốc chuẩn tương đương với 330 ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh)
- Không hút thuốc lá/lào
- Chế độ luyện tập thể dục: Tập thể dục hoặc đi bộ thường xuyên (5-7 lần/tuần)
khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày (Mức độ tập luyện phải tùy thuộc vào tình trạng bệnh tật của người bệnh Nếu HA chưa được kiểm soát và bạn luôn ở tình trạng THA nặng thì không nên tập thể dục hoặc nên hoãn lại cho đến khi được điều trị
hiệu quả)
- Theo dõi huyết áp: Đo và ghi lại số đo huyết áp thường xuyên (5-7 lần/tuần)
vào sổ theo dõi của bệnh nhân THA
HUPH
Trang 251.1.4 Đánh giá tuân thủ điều trị
Việc tuân thủ thuốc kém là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc không đạt được mục tiêu điều trị ở người bệnh THA Ở những người bệnh được điều trị bằng thuốc, việc đánh giá tuân thủ thuốc là điều quan trọng hàng đầu Có nhiều phương pháp để đánh giá sự tuân thủ được chia thành phương pháp gián tiếp
và phương pháp trực tiếp:
- Phỏng vấn người bệnh: sử dụng bộ câu hỏi đơn giản để theo dõi sự gắn kết điều trị của người bệnh và thường được sử dụng tại các phòng khám Tuy vậy, phương pháp người bệnh tự khai báo thông qua phỏng vấn lại phụ thuộc vào chủ quan của người bệnh
- Thăm khám thường xuyên và kê lại đơn thuốc cũng có thể cung cấp những thông tin thô để đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh
- Đếm liều là phương pháp được sử dụng trong nhiều nghiên cứu Tuy nhiên, đếm liều không đánh giá đúng việc tuân thủ điều trị bởi vì liều không dùng có thể bị người bệnh bỏ đi Hơn nữa, thời gian dùng thuốc và bỏ liều không được đánh giá Việc đánh giá bằng đếm liều theo từng tuần có độ chính xác cao hơn so với đếm liều trong khoảng thời gian tương đối dài
- Một phương pháp khác để đánh giá sự tuân thủ điều trị là thông qua việc xác định nồng độ thuốc hay các chất chỉ điểm đi kèm với thuốc trong máu hay trong nước tiểu người bệnh Tuy nhiên, nồng độ thuốc trong máu hay nước tiểu có thể đạt được dễ dàng nếu người bệnh chỉ cần uống thuốc đúng trong vòng vài ngày trước khi xét nghiệm, do đó, hiệu ứng “áo choàng trắng” hay “hiệu ứng bàn chải đánh răng” không xác định được
- Hộp thuốc điện tử: có thể tự ghi nhớ mỗi khi mở như hộp MEMS (Medication Events Monitoring System) Hộp thuốc điện tử này cấu tạo từ một hộp vỏ như hộp thuốc truyền thống và một con chip nhỏ cùng với hệ thống ghi nhận áp suất Khi tay
mở hay đóng hộp đều làm kích hoạt hệ thống và được ghi nhận Hộp thuốc sẽ ghi lại chính xác thời gian và ngày của mỗi lần mở hộp, thông tin tổng hợp sẽ được thu lại vào một máy tính cá nhân Một lần ghi nhớ sẽ dựa trên tính hiệu điện phát hiện
ra việc hộp thuốc mở đủ thời gian cho một lần uống thuốc (1)
HUPH
Trang 26Các phương pháp đánh giá tuân thủ khác nhau đều có điểm mạnh và điểm yếu
và có thể phù hợp trong các tình huống khác nhau, không có biện pháp đánh giá tuân thủ đơn lẻ nào có thể được coi là tiêu chuẩn vàng (9) Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp gián tiếp, thông qua sổ theo dõi quản lý người bệnh THA khi đến khám tại các TYT và sử dụng thang đo của tác giả Morisky để đo lường tuân thủ điều trị thuốc và áp dụng hướng dẫn của BYT để đo lường tuân thủ điều trị thay đổi lối sống
1.1.4.1 Thang đo tuân thủ điều trị thuốc
Có nhiều thang đo đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh như thang đo BMQ (Brief medication questionnair), MARS (medication adherence rating scale), MAQ (medication adherence questionaire – Morisky 8) nhưng hai thang đo BMQ
và MARS mạnh hơn trong các nghiên cứu bệnh lý trầm cảm, rối loạn tâm thần… Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng cách thức đo lường tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky (MAQ – medication adherence questionaire – Morisky 8), đây là một thang đo được áp dụng rộng rãi trong rất nhiều nghiên cứu tuân thủ điều trị các bệnh mạn tính, đặc biệt là tăng huyết áp Bộ công cụ này có độ nhạy là 0,81 và độ tin cậy bên trong (Cronbach
α = 0,61), bộ công cụ này được khuyến nghị và sử dụng rộng rãi trong đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành… trên thế giới (10)
Bảng 1.3 Thang đo tuân thủ điều trị Morisky
1 Thỉnh thoảng ông/bà có quên uống thuốc không?
2 Trong 2 tuần, có bao nhiêu ngày ông/bà không uống thuốc điều trị HA?
3 Ông/bà đã từng giảm hoặc ngừng thuốc mà không thông báo cho bác sĩ vì cảm thấy tình trạng xấu hơn do sử dụng thuốc chưa?
4 Khi rời nhà hoặc đi du lịch, đi chơi xa thỉnh thoảng ông/bà có quên mang theo thuốc không?
5 Hôm qua, ông/bà có quên uống thuốc điều trị HA không?
6 Thỉnh thoảng ông/bà có ngừng uống thuốc khi cảm thấy huyết áp đã được kiểm soát không?
HUPH
Trang 277 Phải uống thuốc nhiều ngày làm nhiều người thấy bất tiện, ông/bà có từng thấy phiền khi tuân thủ phác đồ điều trị không?
8 Ông/bà thường thấy khó khăn như thế nào để ghi nhớ lịch uống thuốc điều trị huyết áp?
1.1.4.2 Tuân thủ điều chỉnh lối sống
Thang đo tuân thủ điều chỉnh lối sống được đo lường bằng các câu hỏi về tuân thủ điều chỉnh lối sống của người bệnh được tham khảo dựa trên hướng dẫn của Bộ
Y tế và các nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền (2018) và Đỗ Duy Tần (2020) (2, 3) Người bệnh được chia thành hai mức độ tuân thủ và không tuân thủ, người bệnh được xem là tuân thủ điều chỉnh lối sống khi trả lời có được từ 5 câu hỏi trở lên (tương đương ≥ 5 điểm), không tuân thủ điều chỉnh lối sống khi trả lời có dưới 5 câu hỏi Các câu hỏi bao gồm các nội dung về điều chỉnh chế độ ăn, hạn chế uống bia/rượu, không hút thuốc, chế độ tập thể dục và theo dõi huyết áp
1.2 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Đánh giá tuân thủ điều trị là một khía cạnh quan trọng trong quản lý bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính như tăng huyết áp Mặc dù hiện nay có nhiều loại thuốc hạ huyết áp hữu hiệu, những khuyến nghị và hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế, Hội tăng huyết áp Châu Âu, WHO… nhưng tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị THA và tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu vẫn còn thấp
Trên thế giới
Trong nghiên cứu trên 338 người Mỹ gốc Phi từ 55 tuổi trở lên của Adinkrah E
và cộng sự (2020), chỉ có 64% đối tượng luôn dùng thuốc hạ huyết áp đúng theo chỉ định của bác sĩ, có 39% đối tượng thừa nhận rằng họ luôn luôn hoặc đôi khi quên uống thuốc và 27% đối tượng cho biết rằng họ đôi khi quyết định không dùng thuốc huyết áp Chỉ có 50% đối tượng cho biết họ luôn duy trì chế độ ăn ít muối, chỉ 8% đối tượng cho biết họ duy trì chế độ ăn ít chất béo, gần 65% đối tượng cho biết không bao giờ hoặc đôi khi mới duy trì chế độ ăn ít béo (11)
Theo một nghiên cứu khác tại các phòng khám ở 12 quốc gia cận Sahara của nhóm nghiên cứu Macquart de Terline D và cộng sự (2020) đánh giá về việc tuân
HUPH
Trang 28thủ thuốc và hạn chế muối trên 2198 bệnh nhân, kết quả có 77,4% không kiểm soát được huyết áp, 34% kém tuân thủ hạn chế muối, 64,4% kém tuân thủ thuốc và 24,6% kém tuân thủ cả hai Kém tuân thủ hạn chế muối, thuốc hoặc cả hai có liên quan đến tình trạng không kiểm soát được huyết áp Hơn nữa, việc tuân thủ kém cả thuốc và hạn chế muối có liên quan đến tăng 1,52 lần, 1,8 lần và 3,08 lần khả năng tăng huyết áp độ 1, độ 2 và độ 3 tương ứng (12)
Nghiên cứu tại một trung tâm y tế ở vùng Monastir trên 276 bệnh nhân tăng huyết áp của Gniwa Omezzine R và cộng sự (2019), kết quả chỉ có 36,6% đối tượng tuân thủ tốt, phụ nữ có khả năng tuân thủ kém hơn nam giới và những bệnh nhân uống nhiều hơn 3 viên thuốc mỗi ngày thường có nguy cơ tuân thủ kém hơn 4,24 lần Những bệnh nhân có điều kiện kinh tế xã hội thấp có nguy cơ không tuân thủ điều trị cao hơn gấp 7 lần so với những bệnh nhân có điều kiện kinh tế cao (13) Nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ điều trị tăng huyết áp và xác định các yếu tố liên quan trên 488 người bệnh tăng huyết áp ở Tây An Trung Quốc của Jingjing Pan và cộng sự năm 2019 Kết quả cho thấy chỉ có 27.46% người bệnh tuân thủ điều trị hạ áp và hầu hết người bệnh (72,54%) không có hành vi tuân thủ điều trị thỏa đáng Các yếu tố giới tính, nơi cư trú, thời gian khám có liên quan đáng kể đến tuân thủ điều trị của người bệnh (14)
Một nghiên cứu được thực hiện tại Latvia từ cuối năm 2018 đến giữa năm 2019 trên 187 người bệnh đến các hiệu thuốc, kết quả tỷ lệ không tuân thủ điều trị là 46,2%, người bệnh lớn tuổi thì tuân thủ tốt hơn những người bệnh trẻ tuổi, người bệnh được bác sĩ hướng dẫn đầy đủ và dùng đúng thuốc theo chỉ dẫn thì mức độ tuân thủ càng cao (15)
Nghiên cứu tên 263 người bệnh tăng huyết áp của Grady D (2018) nhằm điều tra
sự tuân thủ thuốc của người bệnh và phát hiện các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tuân thủ, sử dụng bảng câu hỏi MMAS-8, kết quả 70,6% là nữ giới, độ tuổi trung bình là 61,6 ± 14,8, tỷ lệ tuân thủ điều trị cao là 47,9%, tuân thủ trung bình là 40,3% và 11,8% tuân thủ thấp Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ là tuổi cao, có mắc bệnh kèm hoặc dùng nhiều loại thuốc điều trị đồng thời (16)
HUPH
Trang 29Trong nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa khả năng hiểu biết về thuốc và sự tuân thủ dùng thuốc ở người bệnh tăng huyết áp của Shi.S và cộng sự thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2016 tại Trung Quốc trên 420 người bệnh tăng huyết áp Kết quả có 198 nữ và 222 nam với độ tuổi trung bình là 60,6 tuổi Điểm trung bình của người bệnh trong thang điểm hiểu biết về thuốc là 24,03 (SD = 5,13) Điểm trung bình của bốn khía cạnh kiến thức, thái độ, kỹ năng và hành vi trên thang điểm hiểu biết về thuốc của nghiên cứu lần lượt là 6,22 ± 2,22, 5,04 ± 1,16, 4,50 ± 2,21
và 8,27 ± 1,90 Về tuân thủ thuốc, điểm trung bình của C-MMAS-8 trong nghiên cứu là 4,82 (SD = 2,11) Tổng số 63,6% bệnh nhân có mức độ tuân thủ thấp, 29,5%
có mức độ tuân thủ trung bình và 7,6% có mức độ tuân thủ cao (17)
Trong đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp của Abegaz và cộng sự trên 25 nghiên cứu với 12.603 đối tượng bị tăng huyết áp, các nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 3 năm 2016 trên người bệnh cao huyết áp lớn tuổi, sử dụng thang điểm 8 mục về tuân thủ thuốc Morisky để đánh giá việc tuân thủ thuốc của người bệnh Kết quả cho thấy tỷ lệ không tuân thủ thuốc ở những người bệnh không kiểm soát được huyết áp là cao (83,7%) Tỷ lệ không tuân thủ thuốc ở nữ giới cao hơn nam giới và nguy cơ không tuân thủ cao hơn 1,3 lần so với nam giới Gần 2/3 (62,5%) trường hợp không tuân thủ thuốc được nhận thấy ở người Châu Phi và Châu Á (18)
Một nghiên cứu về tuân thủ dùng thuốc trên 195 người lớn tuổi từ 12 trung tâm cộng đồng ở một nhóm người lớn tuổi bị THA tại Trung Quốc của S.H.Lo và cộng
sự (2016), kết quả cho thấy hơn một nửa số người được hỏi (55,9%) thừa nhận việc không tuân thủ điều trị thuốc ở một mức độ nào đó Nghiên cứu cũng chỉ ra tuổi già, sống một mình và nhận thức lien quan đến kiểm soát điều trị có liên quan đến tỷ lệ tuân thủ thuốc (19)
Nghiên cứu cắt ngang trên 527 người bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường tuýp
II của Nandini Natarajan năm 2013 về tuân thủ điều trị thuốc hạ huyết áp và các yếu tố liên quan qua 6 tháng thăm khám Với phương pháp trả lời câu hỏi dựa trên thang điểm Morisky, kết quả cho thấy có 77% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc Những
HUPH
Trang 30bệnh nhân tập thể dục đều đặn và thực hiện chế độ ăn lành mạnh, giảm muối có ý nghĩa độc lập dự báo điểm tuân thủ điều trị cao (20)
Trong một nghiên cứu thuần tập trên 204 đối tượng về chăm sóc bệnh nhân THA được công bố gần đây của Durand và cộng sự (2018) cho thấy ước tính tỷ lệ không tuân thủ điều trị dao động từ 20.3% đến 41,1% tùy thuộc vào phương pháp đánh giá sử dụng (21)
Theo nghiên cứu của Morisky và cộng sự năm 2008, nghiên cứu này khảo sát tính chất tâm lý và kiểm tra tính hợp lệ của dự báo và kết hợp với thuốc có cấu trúc
tự báo cáo ở người bệnh cao huyết áp Có 1367 người bệnh tham gia nghiên cứu, trong đó tuổi trung bình là 52,5 tuổi, 40,8% là nam giới, 76,5% là người da đen, 50,8% tốt nghiệp trung học, 26% đã lập gia đình và 54,1% có thu nhập <5000 đô la Kết quả 15,9% đối tượng tuân thủ điều trị thuốc cao 52% tuân thủ điều trị trung bình và 32,1% tuân thủ thấp Những người bệnh đạt điểm cao trong thang điểm tuân thủ có nhiều khả năng kiểm soát được huyết áp hơn so với những người bệnh đạt điểm trung bình hoặc thấp (10)
Tóm lại, qua tham khảo các nghiên cứu trên thế giới trong thời gian gần đây, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc khoảng từ 7,6% đến 64%; tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn đặc biệt là giảm ăn mặn từ 50% đến 66%; tỷ lệ tuân thủ chung dao động từ 20,3 đến 41,1%
Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Ninh Văn Đông tại phường Hàng Bông quận Hoàn Kiếm Hà Nội năm 2010 đánh giá sự tuân thủ điều trị của 200 bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi, kết quả có 46,5% đạt kiến thức về tuân thủ điều trị tăng huyết áp và 21,5% đạt
về thực hành tuân thủ điều trị THA Phần lớn bệnh nhân hiểu không đúng về chế độ dùng thuốc, nhưng kiến thức về ăn uống, sinh hoạt và luyện tập nhìn chung có tỷ lệ trả lời đúng cao Thực hành tuân thủ điều trị đúng về chế độ ăn uống sinh hoạt và uống thuốc đạt tỷ lệ thấp, chỉ đạt 21,5% (22)
Trong nghiên cứu cắt ngang trên 260 bệnh nhân THA đến khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh Bệnh viện E của Nguyễn Hải Yến năm 2011, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ với chế độ thuốc 61,5%, chế độ ăn là 40,4%,
HUPH
Trang 31không hút thuốc là 95,4%, hạn chế uống rượu bia 96,5%, tập thể dục 21,9% và đo huyết áp là 20% Tuân thủ chế độ điều trị (tuân thủ 6 khuyến cáo trên) chỉ đạt 1,9% (23)
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm 2011 trên 250 bệnh nhân từ 25 đến
60 tuổi ở 4 phường của thành phố Hà Nội, kết quả cho thấy kiến thức chung về bệnh và tuân thủ điều trị THA đạt 51,6% Tuân thủ điều trị chung đạt 44,8% Cụ thể chỉ có 31,6% ĐTNC có trang bị máy đo HA cá nhân, 34% là có theo dõi HA thường xuyên, 45,6% có đi khám sức khỏe định kỳ đều đặn 67,2% có uống thuốc điều trị THA, trong đó chỉ có 43,6% là uống thuốc đầy đủ Chỉ có 36% thực hiện chế độ ăn uống đạt yêu cầu, 66,4% thực hiện hạn chế rượu bia, 72% thực hiện không hút thuốc, 64% thực hiện chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi đạt yêu cầu, 62,8% thực hiện chế độ luyện tập thường xuyên Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố giới tính và kiến thức tuân thủ điều trị THA của ĐTNC (24)
Nghiên cứu thực trạng tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của 194 hội viên câu lạc bộ bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện Bạch Mai năm 2012 của Nguyễn Hữu Đức, cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị THA
là 84,5%, trong đó các kiến thức về chế độ ăn, tập luyện thể lực, dùng thuốc huyết áp đều đạt trên 90% Tuy nhiên, có tới 33% bệnh nhân hiểu sai kiến thức về bệnh THA là bệnh có thể chữa khỏi được, 40,2% bệnh nhân hiểu sai kiến thức về đa số bệnh nhân mắc THA là có nguyên nhân Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị THA là 85,6%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ thực hiện chế độ ăn nhạt và tuân thủ không hút thuốc lá lần lượt là 75,8%, 92,8% và 97,4% (25)
Theo nghiên cứu của Hà Thị Liên năm 2013 về tuân thủ điều trị tăng huyết áp và yếu tố liên quan của 221 bệnh nhân được quản lý tại TYT xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc là 76,2%, tuân thủ thay đổi lối sống là 24%, tuân thủ điều trị THA chung là 14,5%, bệnh nhân có kiến thức đạt
về bệnh và chế độ điều trị là 24,9% Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy một số yếu tố được xác định liên quan đến các loại tuân thủ chế độ điều trị THA là giới tính, trình độ học vấn, hoàn cảnh sống, mức độ THA, biến chứng của THA, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm thấy các loại
HUPH
Trang 32tuân thủ điều trị có liên quan với nhau và có liên quan với đạt huyết áp mục tiêu (26)
Một nghiên cứu khác vào năm 2016 của Danh Thiên Phúc về không tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan, kết quả cho thấy tỷ lệ ĐTNC không có kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA là 82,7%, không tuân thủ điều trị chung là 68,6% Trong đó, không tuân thủ điều trị bằng thuốc là 65,7%, không tuân thủ chế độ ăn là 32,2%, không tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào là 25,4%, không tuân thủ đo huyết áp và tái khám định kỳ là 89,4%, không tuân thủ chế độ sinh hoạt – luyện tập là 84,3%, không tuân thủ hạn chế uống rượu/bia là 6,4% Nghiên cứu tìm thấy các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị THA là nhóm tuổi, nhóm được CBYT giải thích chế độ điều trị và kiến thức (nhóm chưa đạt kiến thức tuân thủ điều trị thấp hơn nhóm đạt kiến thức) (27)
Trong nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Kiến An, Hải Phòng của Lâm Thị Hạnh năm 2020 trên 420 bệnh nhân, cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc
là 56,2%, trong đó có 17,1% người bệnh tuân thủ điều trị tốt, 39,5% tuân thủ trung bình Trong tổng số đối tượng nghiên cứu có 26,0% người bệnh đạt kiến thức về điều trị THA (28)
Như vậy, qua tham khảo các nghiên cứu tại Việt Nam, tỷ lệ tuân thủ chung về điều trị tăng huyết áp qua các năm trong khoảng từ 1,9% đến 56,2%, riêng nghiên cứu tại câu lạc bộ bệnh nhân tăng huyết áp của Bệnh viện Bạch Mai tỷ lệ tuân thủ chung về điều trị tăng huyết áp đạt đến 85,6%
1.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Việc tuân thủ điều trị dưới mức tối ưu, bao gồm việc không điều trị bằng thuốc, không dùng thuốc thường xuyên theo chỉ định và kiên trì trong thời gian dài, là một yếu tố góp phần vào việc kém kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp Một số các yếu tố như yếu tố bệnh nhân, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điều kiện kinh tế xã hội có liên quan đến sự không tuân thủ của bệnh nhân tăng huyết áp (29)
1.3.1 Yếu tố cá nhân
HUPH
Trang 331.3.1.1 Các đặc điểm nhân khẩu học
Các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính và tuổi tác không ảnh hưởng đến tính đáp ứng với nhiều loại thuốc, nhưng giới tính và tuổi tác lại có ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị Trong những năm gần đây, việc không tuân thủ một phần hoặc toàn bộ đã được công nhận là vấn đề chính trong quản lý lâu dài bệnh nhân tăng huyết áp ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên, bệnh nhân 65 – 80 tuổi lại tuân thủ dùng thuốc tốt hơn so với người trẻ (< 50 tuổi), ở những bệnh nhân rất già, việc tuân thủ thuốc
có xu hướng giảm vì nhiều lý do, một trong số đó là suy giảm nhận thức tiến triển hoặc trầm cảm phát triển theo tuổi tác (30)
Một nghiên cứu cắt ngang trong cộng đồng với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm nhằm xác định sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Almadinah Almunawwarah, Vương quốc Ả rập Xê Út của Manal Ibrahim Hanifi Mahmoud Đại học Taibah năm 2012 cho thấy giới, thu nhập thấp, trình độ văn hóa, tình trạng công việc, thói quen hút thuốc có ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp Đặc biệt, 83% bệnh nhân có mắc thêm các bệnh kèm theo thì tuân thủ điều trị kém (31) Tình trạng kinh tế - xã hội của bệnh nhân cũng có ảnh hưởng đến sự gắn kết điều trị của bệnh nhân Đáng chú ý, sự nghèo khổ, sự thất học, trình độ dân trí thấp,
và thất nghiệp dường như làm giảm sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân (1) Trong nghiên cứu về “Sự tuân thủ dùng thuốc hạ áp trên bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp” của Bùi Mai Tranh (2012) và nghiên cứu “Khảo sát điều trị tăng huyết áp tại phòng khám cấp cứu bệnh viện Trưng Vương” của Lý Huy Khanh (2009) đều chỉ ra rào cản từ kiến thức kém và một số quan niệm sai lầm của người bệnh trong điều trị dẫn tới bỏ trị Ngược lại, một số lý do khiến người bệnh yên tâm điều trị hơn cũng được tìm thấy như việc chi trả tiền thuốc hợp lý, thuốc ít tác dụng phụ (32, 33)
1.3.1.2 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị
Các yếu tố liên quan đến người bệnh bao gồm hiểu biết, niềm tin về bệnh tật và động lực để điều trị nó Người bệnh thường có cái nhìn khá thành kiến về sử dụng thuốc, họ thường đổ cho tác dụng có hại của các thuốc đã bị lạm dụng bởi bác sỹ trong một số tình huống Trong nghiên cứu định lượng ở hai khu đô thị, suy nghĩ về
HUPH
Trang 34sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, kết quả cho thấy 80% người bệnh e ngại khi dùng thuốc và 2/3 người bệnh muốn hạ huyết áp mà không phải dùng thuốc, gần 40% người bệnh lo lắng về tác dụng phụ khi dùng thuốc trong thời gian ngắn cũng như dùng dài hạn, khoảng 17% cho rằng cảm thấy không thoải mái do tác dụng khi dùng các thuốc hạ huyết áp (1) Trong nghiên cứu năm 2007 của Saman K Hashmi trên 460 người bệnh được chọn ngẫu nhiên tại bệnh viện Đại học Aga Khan, Pakistan cho thấy bệnh nhân lo lắng về tác dụng của thuốc cũng được cho là yếu tố kém tuân thủ và ngược lại tin tưởng vào tác dụng của thuốc cũng làm tăng tuân thủ, việc bệnh nhân sử dụng quá nhiều loại thuốc khác nhau cũng là yếu tố nguy cơ gây tình trạng kém tuân thủ điều trị (34) Theo nghiên cứu của Wen J Ma tỷ lệ nhận thức (42,8%), điều trị (37,9%) và kiểm soát tăng huyết áp (13,5%) ở người bệnh bị tăng huyết áp sống ở khu vực thành thị cao hơn ở nông thôn với con số tương ứng lần lượt là 17,6%, 10,4% và 3,4% Gần 50% người trưởng thành thành thị và 80% người trưởng thành ở nông thôn được đo huyết áp trong 12 tháng qua Tần suất đo huyết áp liên quan đến nhận thức và điều trị (35)
Trong nghiên cứu của Shi.S và cộng sự khi tìm hiểu về mối liên quan giữa khả năng hiểu biết về thuốc và sự tuân thủ dùng thuốc ở người bệnh bị tăng huyết áp chỉ
ra kết quả tương quan Pearson cho thấy khả năng hiểu biết về thuốc (r = 0,342, p < 0,01) như một biến tổng thể và ba chiều của kiến thức (r = 0,284, p < 0,01), thái độ (r = 0,405, p < 0,01) và hành vi (r = 0,237, p < 0,01) có liên quan đáng kể đến việc tuân thủ thuốc Phân tích hồi quy logistic nhị phân chỉ ra rằng thu nhập hằng năm (OR = 1,199; KTC 95%: 1,011 – 1,421; p = 0,037) và hai chiều của thái độ (OR = 2,1741,199; KTC 95%: 1,748 – 2,706; p = 0,000) và hành vi (OR = 1,139; KTC 95%: 1,002 – 1,294; p = 0,046) trong hiểu biết về thuốc được tìm thấy là những yếu tố dự báo độ lập về việc tuân thủ thuốc Những người có thái độ và hành vi tốt hơn hiểu biết về thuốc có nhiều khả năng tuân thủ việc sử dụng thuốc hạ huyết áp tốt hơn Những người có thu nhập hằng năm cao hơn thường tuân thủ việc sử dụng thuốc hạ huyết áp tốt hơn (17)
HUPH
Trang 35Trong nghiên cứu về kiến thức tăng huyết áp và các yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ điều trị thuốc của Barreto và cộng sự năm 2012 trên 422 đối tượng cho kết quả 42,6% không tuân thủ điều trị bằng thuốc và 17,7% hiểu biết kém về bệnh Các yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ là điều trị bằng thuốc phức tạp, kiến thức về bệnh kém và không hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe (36) Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiến thức và tuân thủ thuốc của người bệnh tăng huyết áp của Jankowska và cộng sự trên 233 người bệnh tăng huyết áp, kết quả 63% người bệnh có mức độ hiểu biết về bệnh, với tỷ lệ câu trả lời đúng và nhỏ nhất được cung cấp cho các mục liên quan đến điều trị không dùng thuốc, chế độ ăn uống, định nghĩa tăng huyết áp và tuân thủ thuốc Khi so sánh với những người bệnh có kiến thức cao, những người có kiến thức thấp có điểm số MMAS thấp hơn Phân tích đa nhân tố cho thấy các yếu tố quyết định độc lập có ý nghĩa thống kê về tuân thủ tố bao gồm kiến thức cao, điều trị không dùng thuốc và đo huyết áp thường xuyên (37)
Jean Pierre Fina Lubaki và cộng sự đã nghiên cứu về những lý do khiến bệnh nhân không tuân thủ điều trị tại cộng hòa Congo năm 2009 cho biết có 5 lý do quan trọng khiến bệnh nhân bỏ thuốc và kém tuân thủ điều trị bao gồm: thiếu kiến thức
về bệnh và các loại thuốc đang sử dụng, lo lắng và chán nản khi gặp phải các tác dụng phụ của thuốc, bệnh nhân sẽ chỉ tin tưởng dùng thuốc khi họ đã có những triệu chứng rõ rệt của bệnh và sự hỗ trợ, động viên của gia đình có vai trò tích cực trong việc khuyến khích bệnh nhân tuân thủ điều trị (38)
Trong nghiên cứu của Nguyễn Hải Yến (2011), kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến mỗi loại tuân thủ là khác nhau nhưng đều liên quan đến kiến thức của bệnh nhân về bệnh và chế độ điều trị THA Một số yếu tố quan trọng được xác định có liên quan đến các loại tuân thủ chế độ điều trị THA
là công việc hiện tại, hoàn cảnh phát hiện THA, giai đoạn THA lúc bắt đầu điều trị, kiến thức, được cán bộ y tế giải thích rõ về chế độ điều trị Bênh cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm thấy các loại tuân thủ điều trị có liên quan với nhau và có liên quan với huyết áp mục tiêu (23)
HUPH
Trang 36Nhiều tác giả đã tìm cách giải thích cho việc kém tuân thủ điều trị của người bệnh THA Năm 2004 tại Anh, Ross S, W.A cho biết việc bệnh nhân tin vào tác dụng của loại thuốc đang dùng sẽ tuân thủ tốt hơn, bệnh nhân ở nhóm tuổi cao thường tuân thủ điều trị tốt hơn so với nhóm người trẻ (39) Gascón J J và cộng sự cũng đưa ra một khung logic, đề cập đến 4 nhóm yếu tố liên quan để tuân thủ điều trị gồm: các tính chất đặc trưng của bệnh, lối sống của người bệnh, các yếu tố liên quan đến cán bộ y tế (40) Tại Hà Lan, năm 2010 Van Onzenoort HA lại tìm thấy mối liên quan giữa việc bệnh nhân tự theo dõi huyết áp thường xuyên tới việc tuân thủ điều trị tốt hơn một cách có ý nghĩa thống kê (41)
1.3.1.3 Đặc điểm về bệnh tăng huyết áp
Các yếu tố liên quan đến bệnh, người bệnh mắc bệnh cấp tính có xu hướng tuân thủ điều trị tốt hơn những người bệnh mắc bệnh mãn tính có triệu chứng không rõ rệt, bên cạnh đó chế độ điều trị như thời gian điều trị, sự phức tạp của phác đồ điều trị, tác dụng phụ của thuốc cũng ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị THA là bệnh triệu chứng diễn ra thầm lặng, không rõ ràng, thời gian điều trị liên tục và kéo dài là một trong những yếu tố nguy cơ làm cho bệnh nhân không tuân thủ điều trị Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền về thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp năm 2018 và một số yếu tố liên quan cũng đã chỉ ra xu hướng không tuân thủ điều trị có liên quan đến các yếu tố như thời gian mắc bệnh trên 5 năm, mắc biến chứng tăng huyết áp, thời gian điều trị trên 6 tháng (2)
1.3.2 Hỗ trợ của gia đình và xã hội
Hiện nay, Bộ Y tế đã có nhiều nỗ lực trong tăng cường công tác dự phòng, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân tăng huyết áp Đã có nhiều chính sách, hướng dẫn chuyên môn được ban hành nhằm tăng cường y tế cơ sở và thúc đẩy quản lý điều trị bệnh không lây nhiễm, trong đó có quản lý bệnh tăng huyết áp Các thông tin trên tivi, báo, đài và sự phát triển của internet, mạng xã hội, đã giúp cho bệnh nhân cũng như người nhà của bệnh nhân tìm hiểu được thông tin về bệnh, cách điều trị Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của gia đình cũng góp vai trò quan trọng trong việc nhắc nhở bệnh nhân tuân thủ điều trị Trong nghiên cứu trên 420 người bệnh THA đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Kiến An, Hải Phòng của Lâm Thị Hạnh (2020), kết
HUPH
Trang 37quả cho thấy bệnh nhân không được nhắc nhở uống thuốc có nguy cơ không tuân thủ điều trị thuốc cao gấp 1,6 lần so với bệnh nhân được nhắc nhở (28) Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền (2018) cũng cho kết quả là xu hướng không tuân thủ điều trị có liên quan đến yếu tố người bệnh sống một mình, không có tiền sử gia đình về tăng huyết áp (2)
1.3.3 Dịch vụ y tế
Dịch vụ chăm sóc y tế kém phát triển, phân bố hệ thống y tế kém, thiếu kiến thức và đào tạo cho nhân viên y tế về quản lý các bệnh mạn tính là những yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân (1) Các nhà nghiên cứu ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu khảo sát đánh giá về sự tuân thủ điều trị ở bệnh nhân THA cho thấy rằng khi bệnh nhân được giải thích, hướng dẫn đầy đủ rõ ràng về bệnh và chế độ điều trị cũng như các tác hại của việc người bệnh không được điều trị, sự hài lòng của người bệnh là những yếu tố có xu hướng ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị Trong nghiên cứu về sự trải nghiệm của người bệnh với sự chắm sóc và sự liên kết của người bệnh với việc tuân thủ các loại thuốc điều trị tăng huyết áp của Fortuna và cộng sự (2018), thu thập 2.128 cuộc khảo sát trong 4 năm tại ba cơ sở ngoại ô New York, kết quả 62,5% người được hỏi cho biết mức độ tuân thủ thuốc từ trung bình đến cao Mối quan tâm mà nhà cung cấp dịch vụ y tế thể hiện đối với các câu hỏi hoặc lo lắng của bệnh nhân, nỗ lực của nhà cung cấp dịch vụ để đưa bệnh nhân vào các quyết định, thông tin hướng dẫn có liên quan đến việc tuân thủ thuốc cao hơn Khoảng thời gian khám bệnh không liên quan đến việc tuân thủ thuốc (42)
Trong nghiên cứu năm 2011 của Krzesinski J và cộng sự tại Brussels Bỉ cho biết duy trì tương tác giữa thầy thuốc và người bệnh là một điều kiện có tính chất quyết định, thầy thuốc cần nói rõ cho bệnh nhân biết các nguy cơ khi bị tăng huyết áp và tác dụng phụ có thể gặp phải của thuốc, chi phí điều trị cũng có ảnh hưởng đến tuân thủ thuốc ở bệnh nhân Bên cạnh đó, bệnh nhân có lối sống tích cực và có ít nguy
cơ có hại cho sức khỏe cũng hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn (43)
Nghiên cứu của Nguyễn Hải Yến năm 2011 cho kết quả kiến thức, được CBYT giải thích rõ về các chế độ điều trị THA có mối liên quan với tuân thủ điều chỉnh lối
HUPH
Trang 38sống (23) Kết quả phân tích hồi quy đa biến trong nghiên cứu của Trần Thị Loan năm 2012 trên 210 người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú của bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên cho thấy một số yếu tố quan trọng được xác định đến các loại tuân thủ chế độ điều trị THA là được CBYT hướng dẫn chế độ điều trị THA, mức độ được CBYT nhắc nhở về TTĐT (44) Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền năm
2018 cũng cho thấy thời gian chờ khám lâu và không hài lòng với thái độ của nhân viên y tế có mối liên quan với tuân thủ điều trị của người bệnh THA Đồng thời tác giả cũng đưa ra khuyến nghị cần có sự giúp đỡ tích cực của gia đình và trạm y tế, đặc biệt là cải thiện mức độ hài lòng đối với nhân viên y tế nhằm tăng cường hiệu quả điều trị bệnh tăng huyết áp tại cộng đồng (2)
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Quận Sơn Trà nằm ở phía đông bắc thành phố Đà Nẵng, vị trí của quận Sơn Trà
ba mặt giáp sông, biển; phía đông và phía bắc giáp biển đông, phía tây giáp quận Hải Châu với ranh giới là sông hàn, phía nam giáp quận Ngũ Hành Sơn
Quận Sơn Trà có diện tích 59,32 km2, chiếm 4,62% diện tích toàn thành phố; dân số 132.944 người, chiếm 14,4% dân số toàn thành phố (Theo niên giám thống
kê thành phố Đà Nẵng năm 2010)
Sơn Trà là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên – Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc phòng và an ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực, có một dãy bờ biển đẹp với nhiều bãi san hô lớn, là khu vực tập trung của các cơ sở quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia Sơn Trà có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế và phát triển du lịch dựa trên du lịch sinh thái và du lịch biển
Quận Sơn Trà gồm 7 đơn vị hành chính cấp phường: Thọ Quang, Mân Thái, Phước Mỹ, An Hải Bắc, An Hải Đông, An Hải Tây (45)
HUPH
Trang 39Hình 1.1 Bản đồ quận Sơn Trà
Chương trình khám sàng lọc tăng huyết áp trong cộng đồng tại quận Sơn Trà được thực hiện từ năm 2012 và duy trì cho đến nay Số liệu quản lý điều trị người bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế trên địa bàn quận trong năm 2019 và năm 2020 được biểu diễn qua bảng sau (46):
Trang 401.5 Khung lý thuyết
Qua tham khảo một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị THA đã thực hiện (2, 3) và phần tổng quan, khung lý thuyết được xây dựng cho nghiên cứu này như sau:
Tuân thủ điều trị THA:
- Tuân thủ điều trị thuốc
- Tuân thủ điều chỉnh lối sống: thay đổi chế độ ăn, giảm lượng cồn, bỏ hút thuốc, thường xuyên hoạt động thể chất,
đo và theo dõi huyết
áp
- Tuân thủ tái khám
Nhân khẩu học: