1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh viêm gan b của học sinh trường trung học phổ thông phan đình phùng thành phố đồng hới, tỉnh quảng bình, năm 2014

118 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh viêm gan B của học sinh trường trung học phổ thông Phan Đình Phùng, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, năm 2014
Tác giả Lê Khánh Nhung
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thúy Quỳnh
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG LÊ KHÁNH NHUNG LÊ KHÁNlÊLH NHUNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH VIÊM GAN B CỦA HỌC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ KHÁNH NHUNG

LÊ KHÁNlÊLH NHUNG

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH VIÊM GAN B CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH PHÙNG THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI,

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ KHÁNLÊLDSH NHUNG

LÊ KHÁNH NHUNG

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH VIÊM GAN B CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH PHÙNG THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, cũng như sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các bạn Đến nay luận văn đã hoàn thành

Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

TS Nguyễn Thúy Quỳnh - Trường Đại học Y tế công cộng, cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Các thầy, cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường THPT Phan Đình Phùng, đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi thực hiện, triển khai nghiên cứu này

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã dành cho tôi tình cảm và nguồn động viên khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập./

Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2014

Học viên

Lê Khánh Nhung

HUPH

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Anti-HBs Antibodies against HBsAg

HbsAg Hepatitis B surface antigen

chức y tế thế giới)

HUPH

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Virus viêm gan B 4

1.1.2 Bệnh viêm gan do virus VGB: 4

1.2 Dịch tễ học vi rút VGB 4

1.2.1 Tình hình nhiễm vi rút VGB trên thế giới: 4

1.2.2 Tình hình nhiễm virus VGB ở Việt Nam 5

1.3 Phương thức truyền virus VGB 6

1.3.1 Đường máu và các sản phẩm từ máu 6

1.3.2 Đường tình dục 6

1.3.3 Từ mẹ sang con 7

1.4 Hậu quả lâu dài của viêm gan virus B 7

1.4.1 Người mang kháng nguyên HBsAg (+) 7

1.4.2 Hội chứng sau viêm gan virus B 7

1.4.3 Xơ gan sau viêm gan virus B 8

1.4.4 Ung thư gan nguyên phát 8

1.5 Dự phòng bệnh viêm gan virus B 8

1.5.1 Vaccin ngừa viêm gan virus B 8

1.5.2 Tạo miễn dịch thụ động 8

1.5.3 Các biện pháp dự phòng khác 9

1.6 Một số nghiên cứu về virus VGB 9

HUPH

Trang 6

1.6.1 Nghiên cứu trên thế giới: 9

1.6.2 Nghiên cứu tại Việt Nam: 11

1.7 Đặc điểm đối tượng và địa bàn nghiên cứu: 13

1.8 Khung lý thuyết 14

1.8.1 Khung lý thuyết gốc áp dụng nghiên cứu 14

1.8.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

2.3 Thiết kế nghiên cứu 18

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: 18

2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 18

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 19

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 19

2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu 19

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 20

2.7 Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu 20

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 25

2.8 1 Đánh giá về kiến thức phòng chống bệnh VGB 25

2.8.2 Đánh giá về thái độ phòng bệnh VGB 25

2.8.3 Đánh giá về thực hành phòng bệnh VGB 25

2.8.4 Tiêu chuẩn về kinh tế hộ gia đình 26

2.9 Đạo đức nghiên cứu 26

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 27

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 27

2.10.2 Sai số có thể gặp và cách khắc phục 27

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 28

3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về phòng bệnh viêm gan B 30

HUPH

Trang 7

3.2.1 Kiến thức của học sinh về phòng bệnh viêm gan B 30

3.2.2 Thái độ của học sinh về phòng bệnh VGB 36

3.2.3 Thực hành của học sinh về phòng bệnh viêm gan B 41

3.3 Mối liên quan đến kiến thức chung, thái độ chung, thực hành chung về phòng bệnh viêm gan B của học sinh 54

3.3.1 Mối liên quan đến kiến thức chung về phòng bệnh viêm gan B của học sinh 54

3.3.2 Mối liên quan đến thái độ chung về phòng bệnh VGB của học sinh 61

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 75

4 1 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B của học sinh 75

4 1 1 Kiến thức về bệnh và phòng bệnh của học sinh 75

4 1 2 Thái độ về bệnh và phòng bệnh VGB của học sinh 76

4 1 3 Thực hành về bệnh và phòng bệnh của học sinh 77

4 1 4 Kiến thức, thái độ, thực hành qua sự phân bố với các yếu tố giới tính, học lớp, tiền sử gia đình bị bệnh VGB, tiếp nhận thông tin về bệnh VGB 80

4.2 Mối liên quan của một số yếu tố đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh VGB của học sinh 81

4.2.1 Mối liên quan của yếu tố tăng cường (tác động hỗ trợ như tư vấn, nhắc nhở từ phía gia đình, thầy cô, bạn bè và nhân viên Y tế học đường) đến kiến thức chung, đến thái độ chung và đến thực hành chung trong phòng bệnh VGB của học sinh 81

4.2.2 Mối liên quan của yếu tố tạo điều kiện thuận lợi (tiếp cận thông tin qua các chương trình GDSK) đến kiến thức chung, thái độ chung và thực hành chung trong phòng bệnh VGB của học sinh 84

4.2.3 Mối liên quan của yếu tố nhận thông tin tuyên thông về phòng bệnh VGB đến kiến thức chung thái độ chung và thực hành chung 86

4.2.4 Mối liên quan giữa các yếu tố kiến thức chung, thái độ chung, thực hành chung về phòng bệnh VGB của học sinh 87

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 89

5.1 Kiến thức, thái độ, và thực hành phòng bệnh VGB của học sinh 89

HUPH

Trang 8

5.2 Mối liên quan giữa các yếu tố đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh VGB của học sinh 89 CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 Phụ lục 1

PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH VIÊM GAN B 94 Phụ lục 2

BẢNG PHỤ LỤC ĐÁNH GIÁ BIẾN KT, TĐ, TH 100

HUPH

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.3: Bảng tỷ lệ học sinh biết về hậu quả của bệnh và khả năng điều

Bảng 3.4: Tỷ lệ học sinh biết về khả năng phòng ngừa bệnh VGB 33 Bảng 3.5: Tỷ lệ học sinh biết số mũi vaccin cần tiêm để phòng bệnh VGB 34 Bảng 3.6: Phân bố tỷ lệ kiến thức chung không đạtcủa học sinh theo các

yếu tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền thông chung về VGB 35 Bảng 3.7: Phân bố tỷ lệ thái độ chung không đạtcủa học sinh theo các yếu

tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền thông chung về VGB 40 Bảng 3.8: Tỷ lệ thực hành của học sinh trong sử dụng bơm kim tiêm về

Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ học sinh sử dụng chung bơm kim tiêm theo các

yếu tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền thông chung về VGB 41 Bảng 3.10: Tỷ lệ thực hành của học sinh trong sử dụng bàn chải đánh răng

Bảng 3.11 Phân bố tỷ lệ học sinh sử dụng chung chải đánh răng theo các

yếu tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền thông chung về VGB 43 Bảng 3.12: Tỷ lệ thực hành của học sinh trong sử dụng dao cạo râu, cạo

Bảng 3.13 Phân bố tỷ lệ học sinh sử dụng chung dao cạo râu, cạo lông

theo các yếu tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền thông chung

HUPH

Trang 10

Bảng 3.14: Tỷ lệ thực hành của học sinh trong sử dụng dụng cụ cắt móng

Bảng 3.15: Phân bố tỷ lệ học sinh sử dụng chung dụng cụ cắt móng tay,

móng chân theo các yếu tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền

Bảng 3.16: Tỷ lệ thực hành của học sinh trong quan hệ tình dục và sử dụng

bao cao su khi quan hệ tình dục để phòng bệnh viêm gan B 47 Bảng 3.17: Phân bố tỷ lệ học sinh đã quan hệ tình dục theo các yếu tố giới

tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung,

Bảng 3.18: Phân bố tỷ lệ học sinh xét nghiệm theo các yếu tố giới tính, lớp

học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận

Bảng 3.19: Phân bố tỷ lệ học sinh tiêm phòng theo các yếu tố giới tính, lớp

học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận

Bảng 3.20: Tỷ lệ số mũi vaccin đã tiêm phòngvà lý do chưa tiêm phòng

Bảng 3.21: Phân bố tỷ lệ thực hành chung không đúng của học sinh theo

các yếu tố giới tính, lớp học, tiền sử gia đình bị bệnh, nhận được tư vấn chung, tiếp cận chương trình truyền thông chung

Bảng 3.24: Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận thông tin về bệnh VGB qua

các chương trình tuyên truyền GDSK với kiến thức chung 57

HUPH

Trang 11

Bảng 3.25: Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận thông tin truyền thông về

Bảng 3.26: Xác định mối liên quan hiệu chỉnh của một số yếu tố với kiến

Bảng 3.29: Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận thông tin về bệnh VGB qua

các chương trình tuyên truyền GDSK với thái độ chung 63 Bảng 3.30: Mối liên quan giữa kiến thức chung với thái độ chung về phòng

Bảng 3.34: Mối liên quan giữa yếu tố tác động hỗ trợ tư vấn, nhắc nhở về

Bảng 3.35: Mối liên quan giữa yếu tố tiếp cận thông tin về bệnh VGB qua

các chương trình tuyên truyền GDSK với thực hành chung 69 Bảng 3.36: Mối liên quan giữa yếu tố nhận thông tin truyền thôngvề bệnh

Trang 12

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ kiến thức chung của học sinh về phòng bệnh viêm gan B 35 Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ quan điểm của học sinh về bệnh viêm gan B 36 Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ quan điểm của học sinh đối với người mắc bệnh VGB 37 Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ quan điểm của học sinh về phòng bệnh viêm gan B 38 Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ quan điểm của học sinh về các biện pháp phòng bệnh

viêm gan B

38

Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ thái độ chung về phòng bệnh viêm gan B 39

Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan B của học sinh 50 Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ thực hành chung về phòng bệnh viêm gan B của học sinh HUPH 53

Trang 13

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Viêm gan B (VGB) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người do vi rút VGB gây ra Bệnh để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng và đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Việt Nam nằm trong vùng dịch tể có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao trên thế giới Học sinh phổ thông trung học (PTTH) là một trong những đối tượng

có nguy có lây nhiễm trong cộng đồng, đây là đối tượng nằm trong độ tuổi sinh sản, bắt đầu có quan hệ tình dục, đối tượng này chưa nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng mà tỉ lệ nhiễm theo một nghiên cứu là cao,chiếm11,6% Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B của học sinh tại PTTH chưa tốt không những ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân học sinh mà còn ảnh hưởng việc lây truyền cho bạn tình, con của họ trong tương lai và cả cộng đồng Do đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh VGB của học sinh Trường trung học phổ thông Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình với hai mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh VGB của học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014; (2) Xác định một số yếu

tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh VGB của học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm

2014

Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, được tiến hành từ tháng 11/2013 đến tháng 9/2014, qua phát vấn 557 học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm EpiData 3.0 và SPSS 16.0

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ học sinh có kiến thức chung không đạt, thái độ chung không đúng, thực hành chung không đúng còn khá cao, lần lượt là: 78,1%, 61,4%, 82% Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hiệu quả với kiến thức, đó là yếu tố tiếp cận chương trình truyền thông qua các phương tiện truyền thông (OR = 2,38; P = 0,02) Có mối liên quan giữa yếu tố kiến thức với thái độ chung (OR = 2,01; P = 0,001) Có mối liên quan giữa yếu tố

HUPH

Trang 14

giới tính với thái độ chung (OR = 1,6; P = 0,009) Có mối liên quan giữa yếu tố tăng cường hiệu quả với thực hành, đó là yếu tố tư vấn, nhắc nhở từ phía gia đình (OR = 2,56; P = 0,006) Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hiệu quả với thực hành, đó là yếu tố tiếp cận chương trình truyền thông qua các phương tiện truyền thông (OR = 2,79; P = 0,02)

Để góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh VGB cho học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng nói riêng và học sinh Trường THPT trên toàn thành phố Đồng Hới, nghiên cứu này đã đưa ra khuyến nghị với lãnh đạo nhà trường: cần tổ chức một chương trình truyền thông riêng qua các phương tiện truyền thông về phòng bệnh viêm gan B cho học sinh Chương trình truyền thông cần đảm bảo chất lượng cũng như sự bao phủ Nội dung truyền thông cần nêu bật được sự cần thiết của việc xét nghiệm và tiêm phòng, phải tư vấn về thời gian cũng như nơi học sinh có thể tiếp cận xét nghiệm và tiêm phòng và chú ý số mũi vaccin cần tiêm đủ để có tác dụng phòng bệnh; lãnh đạo nhà trường cần yêu cầu nhân viên Y tế học đường lập kế hoạch tư vấn truyền thông phòng bệnh VGB và phát huy tính chủ động, hiệu quả của công tác Y tế học đường; lãnh đạo nhà trường cần họp phụ huynh học sinh và tổ chức chương trình tư vấn cho phụ huynh học sinh quan tâm nhắc nhở con mình phòng bệnh VGB, và đặc biệt là cho con mình đi xét nghiệm, tiêm phòng đủ liều vaccin để phòng bệnh này

HUPH

Trang 15

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm gan virus B là một vấn đề lớn mang tính chất toàn cầu của sức khỏe cộng đồng Bệnh viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do virus hepatitis B gây nên Virus viêm gan B là virus nguy hiểm nhất trong số các virus gây ra bệnh viêm gan vì virus VGB có đặc tính khác biệt về cấu trúc, hình thể và khả năng đột biến gen Tình trạng nhiễm virus VGB thay đổi trên từng vùng địa lý

và có xu hướng gia tăng Bệnh để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh VGB [7]

Theo ước tính của WHO, năm 2013 có khoảng 2 tỉ người trên Thế giới đang mang virus VGB và hàng năm khoảng 600.000 người tử vong do các bệnh có liên quan đến virus VGB như viêm gan cấp, tối cấp, về lâu dài có thể biến chứng thành

xơ gan và ung thư gan Việt Nam là nước có tỷ lệ hiện mắc viêm gan B cao; ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan

B mạn tính được ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới [20] Hiện tại Tỉnh Quảng Bình chỉ có một nghiên cứu năm 2012 của Đỗ Quốc Tiệp và Trần Minh Hậu trên đối tượng nhân viên Y tế, kết quả là có 13,9% NVYT nhiễm virus viêm gan B[15]

Các nghiên cứu trên các đối tượng từ người dân, sinh viên ngành Y tế đến nhân viên Y tế đã chỉ ra rằng tỷ lệ về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B đều đạt thấp: nghiên cứu của Lý Văn Xuân và Phan Thị Quỳnh Trâm năm

2009 trên đối tượng người dân đến khám tại bệnh viện, kết quả có 29,2% học sinh

có kiến thức đạt, 38,3% học sinh có thái độ đúng, 32,7% HS có thức hành đúng [21]; nghiên cứu của Nguyễn Thị Vi, năm 2013, trên sinh viên ngành Y tế có tỷ lệ

là 30,3%, 34,4%, 24,5% [18]; nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải năm 2013 trên đối tượng nhân viên Y tế có tỷ lệ là 56,9%, 57,6%, 65,2% [8]

Trên thế giới vaccin tiêm phòng bệnh VGB được đưa vào sử dụng từ năm

1982 và đạt hiệu quả phòng bệnh cao 95%, Việt Nam đã đưa vaccin viêm gan B vào

sử dụng năm 2002 [13] Mặc dù tỷ lệ nhiễm virus VGB đã giảm do áp dụng thành công chương trình tiêm phòng virus VGB, tuy nhiên tỷ lệ tiêm phòng ở nhóm tự nguyện vẫn còn thấp: theo nghiên cứu ở Ethiopia, năm 2013 trên đối tượng sinh

HUPH

Trang 16

viên Y khoa tỷ lệ tiêm phòng là 0,47% [26]; nghiên cứu ở Ai cập, năm 2013 trên đối tượng bệnh nhân là 38%, y tá là 40% [24]; nghiên cứu ở Việt nam năm 2009 trên đối tượng người dân là 33% [12], trên đối tượng sinh viên năm 2007 là 31,5% [19]

Đối tượng học sinh PTTH là đối tượng cần quan tâm nghiên cứu, đây là đối tượng nằm trong độ tuổi sinh sản, bắt đầu có quan hệ tình dục, theo một nghiên cứu tại Hà Nội năm 2011 thì tỷ lệ học sinh PTTH có quan hệ tình dục là 4,9% [2], đối tượng này chưa nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng mà tỉ lệ nhiễm theo một nghiên cứu là cao, đạt 11,6% [5] Mặt khác đối tượng này là đối tượng có nhận thức tốt và

có đặc điểm tập trung nên thuận lợi trong can thiêp truyền thông giáo dục sức khỏe

Qua đánh giá nhanh học sinh đang học tại Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, nhiều học sinh chưa có kiến thức về bệnh viêm gan B và cách phòng ngừa, một số học sinh có thái độ không tích cực trong việc dự phòng lây nhiễm và tỷ lệ học sinh đã tiêm phòng vaccin viêm gan B còn thấp Hiện tại chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề viêm gan B trên đối tượng học sinh PTTH Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B của học sinh tại PTTH chưa tốt không những ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân học sinh mà còn ảnh hưởng việc lây truyền cho bạn tình, con của họ trong tương lai và cả cộng đồng Chính vì điều đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh viêm gan B của học sinh Trường trung học phổ thông Phan Đình Phùng, Thành

Trang 17

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B của học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh viêm gan B của học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014

HUPH

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Virus viêm gan B

Virus viêm gan Bthuộc họ Hepadnaviridae có nhân là ADN Hạt virus VGB hoàn chỉnh có hình cầu nhỏ, đường kính 42nm, gồm 3 lớp bao ngoài dày khoảng 7nm và lõi chứa bộ gen của virus [9]

1.1.2 Bệnh viêm gan do virus VGB:

Bệnh viên gan B là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus Hepatitis B gây nên Sau khi xâm nhập vào tế bào gan, virus VGB nhân lên lan tràn trong mô gan và lưu hành trong tuần hoàn Thời kỳ ủ bệnh của VGB là 50- 180 ngày Đa số người nhiễm virus VGB mãn không có triệu trứng trong nhiều năm, có hoặc không

có dấu hiệu bệnh gan về mặt sinh hoá hoặc mô học Sau nhiễm virus VGB bệnh nhân có thể bình phục hay diễn tiến đến tình trạng viêm gan mãn tính [7]

1.2 Dịch tễ học vi rút VGB

1.2.1 Tình hình nhiễm vi rút VGB trên thế giới:

Theo ước tính của WHO năm 2013 có khoảng 2 tỉ người trên Thế giới đang mang virus VGB và hàng năm khoảng 600.000 người tử vong do các bệnh có liên quan đến virus VGB như viêm gan cấp, tối cấp, về lâu dài có thể biến chứng thành

xơ gan và ung thư gan [20] Riêng trên toàn Thế giới có khoảng 50 triệu trẻ em bị nhiễm virus VGB, 7 - 15 triệu sẽ bị chết do hậu quả nhiễm trùng này khi đến tuổi trưởng thành [9], [13]

Châu Á và châu Phi có tỷ lệ mang virus VGB cao nhất chiếm khoảng 12 - 20% dân số Châu Âu tỷ lệ ít hơn chiếm khoảng 1 - 5% dân số

WHO đã chia thành 3 vùng lưu hành dịch bao gồm:

- Vùng lưu hành dịch cao( >7%): Gồm những nước có tỷ lệ mang virus VGB

trên 7% dân số như Đài Loan 14,5%, Trung Quốc 9,5%, Khu vực Đông Nam Á 11,9%, vùng Amazon 8%, Bắc Phi 10% Ở những vùng này phương thức lây truyền

từ mẹ sang con qua nhau thai đóng vai trò quan trọng Tại châu Phi có tới 90% trẻ

HUPH

Trang 19

em dưới 10 tuổi bị nhiễm virus VGB và 20% trong số này trở thành người mang HBsAg mạn tính [9]

- Vùng lưu hành dịch trung bình (2-7%): Gồm những nước có tỷ lệ mang virus

VGB từ 2 - 7% dân số như Indonesia 5,2%, Ấn Độ 5%, Bắc Mỹ Latinh 2 - 2,5% [9]

- Vùng lưu hành dịch thấp (<2%): Là những quốc gia có tỷ lệ mang virus

VGB dưới 2%: Nhật Bản 1,3%, Australia 0,1%, vùng Caribe 0,1 - 1,6%, khu vực Nam Mỹ - Latinh 0,5 - 1,6% Tại vùng này sự lây nhiễm chủ yếu xảy ra ở người lớn liên quan đến tuổi hoạt động tình dục [9]

Hình 1 Bản đồ phân vùng dịch tễ viêm gan virus B trên Thế giới

(Màu đỏ: vùng lưu hành dịch cao, màu xanh: vùng lưu hành dịch trung bình,

màu trắng: vùng lưu hành dịch thấp) 1.2.2 Tình hình nhiễm virus VGB ở Việt Nam

Việt Nam cũng như các nước khu vực Đông Nam Á là quốc gia nằm trong vùng có tỷ lệ nhiễmvirus VGB cao trên thế giới, ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính được ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới, tỷ lệ mang virus VGB trong cộng đồng dân cư là 15 - 25% dân số tuỳ theo từng đối tượng [1] Hàng năm có khoảng 20.000 người Việt Nam mắc viêm gan và tỷ lệ tử vong từ 0,7 - 0,8% Kết quả

HUPH

Trang 20

nghiên cứu của Đào Đình Đức và cộng sự cho thấy tỷ lệ mang HBsAg ở thành phố

Hồ Chí Minh là 10%, Hà Nội là 17% [9] Tỷ lệ nhiễm virus VGB thay đổi theo đối tượng có nguy cơ Người nghiện chích ma tuý: 16%; phụ nữ mại dâm 10,4%; thuỷ thủ tàu viễn dương 16,1%; phụ nữ mang thai 10%; học sinh sinh viên 11,6%; công nhân 4,4% [5]

1.3 Phương thức truyền virus VGB

Có ba cách thức lây truyền chính: qua đường máu, qua quan hệ tình dục và lây truyền từ mẹ sang con [5]

Các nghiên cứu còn chỉ ra các yếu tố nguy cơ lây truyền virus VGB bao gồm: các can thiệp y tế như phẫu thuật, tiêm truyền, chữa răng, châm cứu; các yếu

tố sinh hoạt như dùng chung dao cạo râu, bàn chải đáng răng, dụng cụ làm móng tay, móng chân; yếu tố lây truyền qua đường tình dục; mẹ lây truyền sang con; yếu

tố lây truyền trong gia đình [3]

1.3.1 Đường máu và các sản phẩm từ máu

Lây truyền chủ yếu bằng đường máu hoặc các sản phẩm từ máu, thời gian ủ bệnh sau truyền máu từ 60 - 180 ngày, trung bình 180 ngày Bên cạnh viêm gan virus B cũng có thể lây truyền qua tiêm chích, xăm mình, tiếp xúc nghề nghiệp, trong

đó có các đối tượng nguy cơ là người nghiện ma tuý cũng như các yếu tố nguy cơ liên quan đến từng đối tượng, người sơ cứu tai nạn gây chảy máu và nhân viên y tế trực tiếp tiếp xúc với máu và dịch tiết của người mang HBsAg (+) [9]

HUPH

Trang 21

cao theo số bạn tình, số lần quan hệ tình dục, trình độ văn hoá thấp, quan hệ với gái mại dâm và tiền sử bệnh lây truyền qua đường tình dục khác Lây nhiễm từ nam sang nữ nhiều hơn gấp 3 lần từ nữ sang nam Nguy cơ bị nhiễm virus VGB qua một lần tiếp xúc không được bảo vệ khoảng 1-3%

1.3.3 Từ mẹ sang con

Cho đến nay, người ta xác định virus gây viêm gan ở phụ nữ có thai là virus VGA, virus VGB, virus VGD, virus VGE nhưng chỉ phát hiện thấy virus VGB, virus VGD là có thể truyền từ mẹ sang con Theo Krugman 40% người mang HBsAg nhiễm trong thời kỳ chu sinh từ mẹ sang con, 20 - 40% nhiễm trùng trong thời kỳ thơ ấu Vậy

có thể nói rằng lây truyền virus VGB từ mẹ sang con là cơ chế lây truyền quan trọng, đặc biệt là những khu vực có tỷ lệ lưu hành HBsAg cao [9], [6]

1.4 Hậu quả lâu dài của viêm gan virus B

1.4.1 Người mang kháng nguyên HBsAg (+)

Tình trạng người mang kháng nguyên HBsAg (+) là một hiện tượng đặc biệt trong bệnh học về nhiễm khuẩn Nhiễm virus VGB có thể gây bệnh cấp tính tử vong trong vòng 6 - 10 ngày, có thể gây ung thư gan nguyên phát và cũng có thể là người lành mang kháng nguyên HBsAg (+) Tỷ lệ HBsAg (+) ở nước ta rất cao (16 - 25%), khi những người mang HBsAg (+) có thêm HBeAg (+) thì có khả năng truyền bệnh rất lớn Chẳng hạn phụ nữ mang thai mà có cả HBsAg(+) và HBeAg (+) thì hầu hết con của họ bị nhiễm virus VGB (96,5%) Lý do họ đều là những người có bệnh gan mạn tính hoạt động Biểu hiện tổn thương đa dạng: Người bệnh hoàn toàn bình thường không có biểu hiện lâm sàng, tổn thương gan không đáng kể hoặc viêm gan mạn tính tồn tại, viêm gan mạn tính hoạt động, xơ gan [9] virus VGB mạn tính có thể tiến triển đến viêm gan mạn, xơ gan và đặc biệt là ung thư gan nguyên phát [10]

1.4.2 Hội chứng sau viêm gan virus B

Hội chứng này chủ yếu bao gồm những dấu hiệu cơ năng mà chủ quan người bệnh cảm thấy sau khi nhiễm virus VGB Với các dấu hiệu như: Mệt mỏi, đầy hơi, sợ

mỡ, tức nặng vùng gan Nhìn chung thăm khám lâm sàng cũng như các xét nghiệm

HUPH

Trang 22

thăm dò chức năng gan không có biến đổi gì [9]

1.4.3 Xơ gan sau viêm gan virus B

Dấu hiệu tổ chức học là một xơ gan không hoạt động hoặc kết hợp với một viêm gan mạn, nguy cơ ung thư gan nguyên phát rất cao [9] Trên Thế giới khoảng

20 - 30% trường hợp viêm gan mạn tiến triển sau một thời gian có thể trở thành xơ gan [13]

1.4.4 Ung thư gan nguyên phát

Virus VGB là căn nguyên quan trọng nhất gây ung thư gan nguyên phát Tỷ lệ người mang kháng nguyên bề mặt (HBsAg) của virus VGB có khả năng mắc ung thư cao nhiều hơn 20 - 30 lần người không mang kháng nguyên HBsAg Hàng năm ước tính trên Thế giới có trên 250 ngàn người chết vì ung thư gan [10] Khoảng 20 - 30% trường hợp viêm gan mạn 30% trường hợp có thể đưa đến UTGTP sau 10 - 20 năm [13] Chính ung thư gan nguyên phát chiếm 71,4% các trường hợp có liên quan đến viêm gan mạn và xơ gan ở Việt Nam [10]

1.5 Dự phòng bệnh viêm gan virus B

1.5.1 Vaccin ngừa viêm gan virus B

Từ những năm 1980 vaccin phòng virus VGB đầu tiên có mặt trên thị trường thế giới Cho đến nay đã có 3 thế hệ vắc xin virus VGB tùy theo tính chất kháng nguyên của HBsAg Hiệu lực bảo vệ của anti HBs trên các đối tượng chủng ngừa virus VGB có liên quan đến tuổi, giới, cân nặng Ngoài ra, thời gian tồn tại của anti HBs sau khi tiêm chủng là khác nhau, tùy thuộc đối tượng tiêm, lứa tuổi, liều tiêm

và mức độ tiếp xúc với virus VGB của người được tiêm chủng Ngưỡng đánh giá anti HBs có hiệu quả sau chủng ngừa là  10 UI/L Tỷ lệ đáp ứng sau chủng ngừa cũng thay đổi theo từng nghiên cứu của các tác giả: theo Nguyễn Hữu Chí là 50-70% [5], [7]

1.5.2 Tạo miễn dịch thụ động

Globulin miễn dịch VGB (HBIG) được bào chế từ huyết tương người có nồng độ kháng thể Anti - HBs cao và có thể tạo miễn dịch tạm thời nên phải dùng phối hợp với vắc xin HBIG được chỉ định trong những trường hợp bị phơi nhiễm

HUPH

Trang 23

như trẻ sơ sinh từ mẹ có HBsAg dương tính, người bị vật dụng vừa dùng cho người

bị nhiễm virus VGB đâm phải như kim tiêm, xâm mình, châm cứu HBIG phải dùng sớm sau phơi nhiễm ngay khi có thể và thường trong vòng 48 giờ và không quá 7 ngày Thường dùng từ 2-3 liều và cách nhau 30 ngày [7]

1.5.3 Các biện pháp dự phòng khác

Biện pháp giáo dục cộng đồng: Giới thiệu về bệnh và di chứng của nhiễm virus VGB, giáo dục về các biện pháp dự phòng, gồm các thực hành nhằm cắt đứt đường lây truyền người sang người Giáo dục cộng đồng phải được thực hiện song song với các biện pháp kiểm soát và phòng chống

Giáo dục nhân viên y tế là tuyệt đối cần thiết, những người này sẽ truyền đạt tầm quan trọng kiểm soát nhiễm virus VGB cho công chúng Nhân viên y tế phải biết về phát triển tự nhiên, đặc điểm dịch tễ, đường lây truyền và dự phòng virus VGB [7]

Phát hiện và có biện pháp quản lý những người mang virus VGB mạn, trong từng gia đình và trong cộng đồng để hạn chế lây nhiễm cho người thân và những người xung quanh

Thường xuyên có biện pháp khử trùng, làm môi trường sạch sẽ trong gia đình và trong môi trường sinh sống, nơi có người mang virus VGB mạn

Duy trì nghiêm ngặt và thường xuyên các biện pháp khử trùng dụng cụ y tế, các chất thải gồm máu và các dịch thể từ bệnh nhân nhiễm virus VGB

Quản lý chặt chẽ các dụng cụ nhọn, có khả năng xuyên da, nhất là khi chúng

có ô nhiễm máu và dịch cơ thể bệnh nhân

Các biện pháp tình dục an toàn để chống lây nhiễm qua đường tình dục [7] 1.6 Một số nghiên cứu về virus VGB

1.6.1 Nghiên cứu trên thế giới:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mesfin YM và Kibret KT, năm 2013, ở Đại học Haramaya, Ethiopia về mô tả thức thức và thực hành phòng bệnh VGB trên 322 sinh viên y khoa Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng đa số sinh viên không được

HUPH

Trang 24

tiêm chủng đầy đủ chống lại bệnh VGB chiếm 95.3 %.Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức thực hành [26].

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Ul Haq N và cộng sự, năm 2012, tại Đại học Baluchistan, Quetta , Pakistan về kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh viêm gan siêu vi B, trên một ngàn người dân khỏe mạnh, độ tuổi từ 18 trở lên của thành phố Quetta, Pakistan Kết quả chỉ ra rằng: kiến thức, thái độ, thực hành của người dân còn kém; có mối liên giữa kiến thức và thái độ, kiến thức và thực hành, thái độ

và thực hành [25]

Nghiên cứu của Al-Tawil MM và cộng sự, năm 2013, tại bệnh viện nhi, Đại học Ain Shams, Cairo, Ai Cập về tác động của chiến lược kiểm soát lây nhiễm đến kiến thức, thái độ và thực hành, về lây dự phòng lây truyền VGB trong quần thể dễ

bị tổn thương.Nghiên cứu được tiến hành trên 2 nhóm đối tượng gồm: 184 y tá và

210 trẻ em và thanh thiếu niên bị bệnh về máu Kết quả chỉ ra rằng kiến thức cơ bản

về đường lây truyền, biến chứng và biện pháp phòng ngừa bệnh VGB là thấp ở cả hai nhóm, chỉ có 38 % bệnh nhân và 40% y tá được chủng ngừa bệnh VGB [24]

Nghiên cứu của Juon HS và Park BJ, năm 2013, về hiệu quả của việc lồng ghép giáo dục ung thư gan trong việc nâng cao kiến thức virus VGB ở người Mỹ gốc châu Á, nghiên cứu được tiến hành trên 877 người tham gia Nhóm can thiệp nhận được một chương trình giáo dục 30 phút, sáu tháng sau khi giáo dục nhóm can thiệp đã hoàn thành một cuộc khảo, tất cả những người tham gia được theo dõi qua điện thoại Kết quả chỉ ra rằng nhóm can thiệp cho thấy điểm số kiến thức cao hơn đáng kể so với nhóm không can thiệp tại 6 tháng theo dõi; tuổi tác cũng là một yếu

tố quan trọng về hiệu quả giáo dục, những lớn tuổi hơn 60 năm có điểm số thấp nhất; nghiên cứu củng chỉ ra rằng việc lồng ghép chương trình giáo dục ung thư gan này làm tăng kiến thức về bệnh VGB; cần có chiến lược khác nhau để giáo dục các nhóm tuổi, giáo dục riêng biệt những người trẻ và những người lớn tuổi [23]

HUPH

Trang 25

1.6.2 Nghiên cứu tại Việt Nam:

Một số nghiên cứu ở Việt Nam chỉ ra rằng, hầu hết các đối tượng nghiên cứu

có tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh và các biện pháp phòng bệnh còn thấp; tỷ lệ tiêm phòng bệnh VGB tự nguyện chưa cao

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Đoàn Phước Thuộc trên 836 đối tượng về các yếu tố liên quan đến nhiễm virus VGB ở lứa tuổi 15- 18 tại Thành phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắclắc năm 2011 Kết quả cho thấy tỷ lệ HBsAg (+) là 5,4% và tỷ lệ nhiễm liên quan đến các yếu tố sau: Những đối tượng sống trong gia đình có người nhiễm virus VGB có tỷ lệ HbsAg(+) là 9,5% cao hơn so với những đối tượng trong gia đình không có người nhiễm (4,4%); quan hệ tình dục không an toàn có tỷ lệ HBsAg(+) 57,1% cao hơn so với những người quan hệ tình dục an toàn 15,4%; không sử dụng bơm kim tiêm một lần có tỷ lệ HBsAg(+) 11,8% cao hơn so với những người dựng sử dụng bơm kim tiêm một lần 4,8%; không tiêm phòng VGB có

tỷ lệ HBsAg(+) 6,3% cao hơn so với những người có tiêm phòng VGB 2,1%; những đối tượng có tiếp nhận thông tin về VGB thì có tỷ lệ HBsAg (+) 3% thấp hơn

so với những người không tiếp nhận thông tin (10,5%); thiếu kiến thức về đường lây nhiễm VGB tỷ lệ HBsAg(+) 6,2% cao hơn so với những người có kiến thức đúng về VGB (2,2%) Chưa tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ HBsAg (+) ở những người sử dụng chung và không sử dụng chung đồ dựng cá nhân [14]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Lý Văn Xuân và Phan Thị Quỳnh Trâm, năm 2009, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh VGB, trên 373 bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Kết quả cho thấy có 29,2% bệnh nhân có kiến thức đạt, 38,3% có thái độ đúng và 32,7% có thực hành đúng; có mối liên quan về kiến thức phòng bệnh VGB giữa những bệnh nhân có thu nhập khác nhau, bệnh nhân có kiến thức đúng thì thực hành đúng gấp 3,7 lần so với bệnh nhân không có kiến thức đúng [21]

Nghiên cứu của Trịnh Văn Nghinh, năm 2009, về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh VGB của người dân thị trấn Yên Viên, Gia Lâm Hà Nội, nghiên cứu được tiến hành trên 300 ngưởi độ tuổi từ 18 đến 60 Kết quả đã chỉ ra rằng: chỉ

có 22,9% đối tượng nghiên cứu đạt về kiến thức, 24,2% đạt về thực hành, trong đó

HUPH

Trang 26

hiểu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh 59,2%, lây qua đường máu 61,4%, quan hệ tình dục không an toàn 51,3%, từ mẹ sang con 42,2%, còn các đường lây khác rất thấp Hiểu biết về cách phòng bệnh VGB cón thấp như tiêm phòng chiếm 61,8%, quan hệ tình dục an toàn chiếm 44,1%, sử dụng bơm kim tiêm riêng 24,2%, truyền máu an toàn 46,1% Người dân chủ động đi tiêm chủng còn thấp chiếm 33,0% [12]

Nghiên cứu phối hợp định lượng và định tính của Nguyễn Thị Thúy Vinh, năm 2007, nghiên cứu mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh VGB trên 384 đối tượng sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và xác định một số yếu tố liên quan đến lây nhiễm virut VGB Kết quả nghiên cứu cho thấy 66,7% sinh viên có kiến thức đạt, về thái độ tích cực (92,1%), tỷ lệ sinh viên thực hành đúng (60,2%), nhưng tỷ lệ tiêm phòng và xét nghiệm viêm gan thấp chiếm 32,6% và 31,5%; kênh thông tin có hiệu quả đối với sinh viên là loa đài, sách báo, vô tuyến, nhân viên y tế; nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa truyền thông và kiến thức, số sinh viên được truyền thông có kiến thức đạt cao gấp 7,7 lần sinh viên không được truyền thông [19]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Thị Vi về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B của học sinh điều dưỡng đa khoa năm thứ nhất thuộc trường Trung cấp Y dược Phạm Ngọc Thạch Hà Nội, năm 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy: 30,3% đạt về kiến thức, 34,4 có thái độ đúng, 24,5 có thực hành đúng Kết quả của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng hôn nhân với kiến thức của đối tượng nghiên cứu (p<0,05) Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố đã từng đi hiến máu với thái độ của đối tượng nghiên cứu (p <0,05) Có mối liên quan kiến thức chung và thực hành chung phòng bệnh viêm gan B [18]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Trần Tuấn Kiệt về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm virus viêm gan B và một số yếu tố liên quan của học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai năm 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy: 77,1% đạt về kiến thức, 81,6% có thái độ đúng, 65,4% có thực hành đúng Tỷ lệ xét nghiệm và tiêm phòng vaccin còn thấp, chiếm 32,5% và 34,1%.Kết quả của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống

HUPH

Trang 27

kê giữa thu nhập với thực hành (p<0,05) Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử gia đình có người bị bệnh với thực hành (p <0,05)

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Trần Thị Bích Hải về kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện Ung Bướu Hà Nội năm 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy: 56,9% điều dưỡng có kiến thức đạt về bệnh và phòng bệnh, 57,6% điều dưỡng có thái độ đúng, 65,2% điều dưỡng thực hành đúng, có mối liên quan giữa thực hành dự phòng phơi nhiễm với giới tính của đối tượng nghiên cứu [8]

Hiện tại ở Quảng Bình có nghiên cứu của Đỗ Quốc Tiệp và Trần Minh Hậu

về tỷ lệ nhiễm virus VGB ở nhân viên Y tế tại 3 bệnh viện huyện của tỉnh Quảng Bình, năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ nhiễm virus VGB là 13,9%, trong đó tỷ lệ mang HBsAg (+) là 8,7% và tỷ lệ có kháng thể anti-HBs (+) trong số đối tượng chưa tiêm phòng vaccin VGB là 5,2% [15]

1.7 Đặc điểm đối tượng và địa bàn nghiên cứu:

Đối tượng học sinh THPT là một trong những đối tượng có nguy cơ cao lây nhiễm virus VGB, đây là đối tượng đã có QHTD, theo một số nghiên cứu thì tuổi trung bình có QHTD lần đầu tiên là 16,1, tỷ lệ học sinh có QHTD là 4,9%[5] Trong khi

đó theo kết quả điều tra của SAVY 2 thì tỷ lệ học sinh độ tuổi từ 14 - 17 tuổi nghe

về bệnh VGB là 68,2% [4] Đối tượng học sinh THPT là đối tượng tập trung nên rất thuận lợi trong công tác truyền thông

Thành phố Đồng Hới là trung tâm văn hoá, giáo dục của tỉnh Quảng Bình, công tác y tế trên địa bàn luôn ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm, công tác tiêm chủng mở rộng và tiêm vaccin phòng được khuyến được khuyến khích với các tầng lớp nhân dân Công tác tiêm phòng vaccin VGB được triển khai cuối năm 2001 cho trẻ dưới 12 tháng tuổi trên toàn tỉnh [16] Trên địa bàn thành phố gồm có 6 trường THPT với tổng số 4743 học sinh Trường THPT Phan Đình phùng, Thành phố Đồng Hới năm 2014 có tổng số là 1121 học sinh, 505 nam và

616 nữ Trường có 32 lớp, bao gồm: 383 học sinh lớp 10, 417 học sinh lớp 11 và

321 học sinh lớp 12, tổng số cán bộ giáo viên là 91 người [17] Trường có một phòng y tế học đường được trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất và có một nhân viên

HUPH

Trang 28

chuyên trách công tác y tế học đường Công tác chăm sóc sức khỏe ở Trường đã được quan tâm và triển khai như học sinh được khám sức khỏe định kỳ và có buổi GDSK đầu năm học

1.8 Khung lý thuyết

1.8.1 Khung lý thuyết gốc áp dụng nghiên cứu

Với cách tiếp cận trong các chương trình nâng cao sức khỏe, theo lý thuyết

về hành vi sức khỏe của tác giả Glanz và các cộng sự [22], hành vi của một cá nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có 3 nhóm yếu tố chính, đó là: nhóm yếu

tố tiền đề; nhóm yếu tố tăng cường; và nhóm yếu tố tạo điều kiện Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe được mô hình hóa như sau:

Hình 2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe

Nhóm yếu tố tiền đề

Nhóm yếu tố tiền đề là những yếu tố bên trong của cá nhân, chúng được hình thành trên cơ sở kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị, chuẩn mực xã hội của mỗi cá nhân Nhóm yếu tố này quyết định cách ứng xử của chúng ta, cho ta những suy nghĩ, những cảm xúc đối với thế giới xung quanh

HUPH

Trang 29

Kiến thức thường bắt nguồn từ sự học tập, trải nghiệm Kiến thức là sự hiểu biết, kinh nghiệm được tổng hợp, khái quát hoá Chúng ta tiếp thu kiến thức từ trường học, từ cha mẹ, bạn bè, sách vở, báo chí, phim ảnh Người ta thường có thể kiểm tra kiến thức của mình đúng hay không đúng

Thái độ thể hiện một phản ứng, quan điểm của cá nhân đối với một người,

sự kiện, quan điểm nào đó Nó phản ánh những gì người ta thích hoặc không thích; ủng hộ hoặc không ủng hộ Chúng bắt nguồn từ những trải nghiệm của chúng ta hoặc từ những người thân Chúng làm cho chúng ta thích thú, tin tưởng, ủng hộ điều này hoặc đề phòng, cảnh giác với điều khác Tuy nhiên, thực tế cho thấy người ta không thể luôn luôn ứng xử theo thái độ của họ

Nhóm yếu tố tăng cường/củng cố

Đó là những yếu tố ảnh hưởng từ phía người thân trong gia đình (cha mẹ, ông bà…), bạn bè, đồng nghiệp, thầy, cô giáo, những người đứng đầu ở địa phương, những vị lãnh đạo, những người có chức sắc trong các tôn giáo Đó chính là những người có uy tín, quan trọng đối với cộng đồng, góp phần tạo nên niềm tin, thái độ, giá trị của cộng đồng đó Con người thường có xu hướng nghe và làm theo những gì

mà những người có uy tín, quan trọng đối với họ đã làm

Nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi

Ngoài các yếu tố tiền đề, các yếu tố tăng cường như đã nêu, còn có các yếu

tố ảnh hưởng đến hành vi của con người mà chúng ta cần phải xem xét đến như: nơi sinh sống, điều kiện về nhà ở, hàng xóm láng giềng xung quanh, việc làm, thu nhập của họ, cũng như các chính sách chung và môi trường luật pháp Đó là nhóm các yếu tố liên quan đến nguồn lực nói chung có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi con người, là nhóm các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và duy trì hành

vi của cá nhân

1.8.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu đã tham khảo và sử dụng có chọn lọc mô hình phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe được đề cập ở phần trên (hình 2) và dựa vào tổng quan tài liệu để xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu

HUPH

Trang 30

Đối với học sinh THPT thì việc phòng bệnh VGB của học sinh nó có thể liên quan đến nhiều yếu tố như kiến thức, thái độ phòng bệnh, sự tác động tư vấn nhắc nhở phòng bệnh và còn liên quan đến môi trường thuận lợi trong tiếp cận thông tin

Với nhóm yếu tố tiền đề, nghiên cứu này chỉ tìm hiểu hai yếu tố thành phần

là kiến thức và thái độ

Trong nhóm yếu tố tăng cường, đối với học sinh THPT thì có gia đình, bạn

bè, thầy cô và nhân viên Y tế học đường

Trong nhóm yếu tố tạo điều kiện, nghiên cứu này chỉ đưa vào khung lý thuyết nghiên cứu yếu tố tiếp cận chương trình GDSK phòng bệnh VGB mà học sinh có thể tiếp cận được, đó là: chương trình GDSK đầu năm học do nhà trường tổ chức, tiếp cận bản tin Y tế học đường, tiếp cận thông tin phòng bệnh VGB qua bài học trên lớp ở môn sinh học lớp 10, tiếp cận thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng

Trong nghiên cứu có xem xét đến những mối liên hệ quan giữa các nhóm yếu tố với nhau và có bổ sung thêm các yếu tố như: giới tính, học lớp, tiền sử mắc bệnh của các thành viên trong gia, nhu cầu truyền thông của ĐTNC

HUPH

Trang 31

KHUNG LÝ THUYẾT

Yếu tố xét mối liên quan

1 Tác động hỗ trợ như tư vấn, nhắc nhở học sinh phòng bệnh VGB từ phía:

- Chương trình GDSK do nhà trường tổ chức

- Bản tin, hoạt động của Y tế học đường

- Nguyên nhân gây bệnh

- Đường lây truyền bệnh

- Nguồn mang mầm bệnh

- Hậu quả khi bị bệnh

- Khả năng điều trị khỏi bệnh

- Bơm kim tiêm

- Dao cạo râu/cạo lông

HUPH

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 11/2013 đến tháng 9/2014

- Địa điểm: Trường THPT Phan Đình Phùng Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:

2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu

d = 0,06 (sai số cho phép 6%)

n = 267

Phương pháp mẫu được áp dụng là phương pháp chọn mẫu cụm, để tăng tính đại diện của mẫu nghiên cứu, cỡ mẫu được nhân với hiệu lực thiết kế DE = 2, với

dự trù tỷ lệ từ chối tham gia nghiên cứu là 10%

Số mẫu cần thu thập là: ( 267 x 2 ) x 110% = 588 học sinh Trên thực tế số mẫu thu thập được là 557

).

2 / 1 (  

HUPH

Trang 33

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu từng giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Phân tầng theo khối 10, 11, 12

- Giai đoạn 2: Chọn ngẫu nhiên cụm

Cụ thể chọn mẫu: Bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 6/11 lớp 12; 6/11 lớp 11 và 6/10 lớp 10 tham gia nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Thu thập số liệu bằng cách sử dụng bộ câu hỏi tự điền Bộ câu hỏi được thiết

kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu và tham khảo bộ câu hỏi của các nghiên cứu về phòng chống lây bệnh VGB trước đây có chỉnh sửa Bộ câu hỏi được thiết kế gồm 4 phần bao gồm:

- Kiến thức về bệnh và phòng bệnh VGB

- Thái độ về phòng bệnh VGB

- Thực hành về phòng bệnh VGB

- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan

Bộ câu hỏi sẽ được điều tra thử trên 50 học sinh trước khi tiến hành điều tra trên quần thể nghiên cứu, sau đó sẽ được điều chỉnh cho phù hợp

2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập số liệu là phát vấn tự điền

- Điều tra viên (ĐTV): Theo dự kiến có gồm 01 nghiên cứu viên và 2 người đã từng tham gia nghiên cứu khoa học, có kiến thức và kỹ năng về điều tra ĐTV được tập huấn cả lý thuyết và thực hành về phương pháp thu thập số liệu nhưng trên thực

tế điều tra thì chỉ nghiên cứu viên thu thập số liệu

- Tổ chức thu thập số liệu theo kế hoạch được tổ chức 6 buổi ĐTV sẽ đến lớp học của (ĐTNC) vào buổi sinh hoạt lớp thứ 7 hàng tuần dưới sự cho phép, tạo điều kiện của Ban giám hiệu, giáo viên nhà trường để thu thập số liệu nhưng trên thực tế nghiên cứu viên thu thập 18 lượt trong 3 ngày theo yêu cầu của nhà trường

HUPH

Trang 34

Trong từng buổi thu thập số liệu, nghiên cứu viên thông báo, giải thích rõ mục đích của nghiên cứu, tính khuyết danh và cách trả lời bộ câu hỏi theo quy định trong phiếu hướng dẫn Nghiên cứu viên đưa cho ĐTNC đọc thông tin “trong phiếu đồng

ý tham gia phát vấn nghiên cứu” ĐTNC sau khi đọc, nếu đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký ô đồng ý và được phát phiếu điều tra tự điền

- Trong quá trình điền phiếu, nghiên cứu viên quan sát không để ĐTNC trao đổi với nhau ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu ĐTNC không ghi hoặc ký tên vào phiếu điều tra (phát vấn khuyết danh)

- Sau khi điền xong, học sinh bỏ phiếu vào hòm phiếu đặt ở lối ra vào của lớp học để đảm bảo thông tin hoàn toàn được giữ bí mật

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi làm sạch được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.0 Sau đó các kỹ thuật phân tích số liệu thống kê mô tả và phân tích được thực hiện, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 Kiểm định các mối tương quan được sử dụng

là kiểm định Khi bình phương, OR để phiên giải và nhận định kết quả nghiên cứu 2.7 Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh VGB của học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014

I Kiến thức liên quan đến bệnh VGB

1 Kiến thức về bệnh VGB

1 Nguyên nhân gây bệnh

VGB

ĐTNC biết và trả lời đúng nguyên nhân gây bệnh VGB do vi rút

Phân loại Phát vấn

2 Đường lây truyền của

virus VGB

Đường mà virus VGB xâm nhập vào cơ thể

Trang 35

4 Hậu quả khi bị bệnh

VGB

Những hậu quả có thể xãy ra khi mắc bệnh VGB

Phân loại Phát vấn

5 Khả năng điều trị khỏi

bệnh

Là khả năng có điều trị khỏi bệnh VGB hay không

Phân loại Phát vấn

2 Biện pháp phòng bệnh

VGB

Các biện pháp để phòng chống lây nhiễm HVB

Phân loại Phát vấn

3 Số mũi vaccin phòng

bệnh VBG cần tiêm

Là số mũi vaccin phòng bệnh VGB cần tiêm để có tác dụng bảo vệ cơ thể

Phân loại Phát vấn

2 Thái độ về khả năng lây

nhiễm

Mức độ đồng ý trong việc đánh giá khả năng lây nhiễm bệnh

Phân loại Phát vấn

HUPH

Trang 36

2

Thái độ với việc tìm

hiểu về đường lây truyền

- Sử dụng BCS khi QHTD

- Dùng riêng bơm kim tiêm

- Bơm kim tiêm

- Bàn chải đánh răng

- Dao cạo râu, cạo lông

- Dụng cụ cắt móng tay, móng chân

Phân loại Phát vấn

2 Lý do tại sao dùng

chung dụng cụ cá nhân

Lý do HS dùng chung dụng cụ cá nhân như:

- Không có dụng cụ riêng

Phân loại Phát vấn

2 Hành vi sử dụng BCS

khi QHTD

Có sử dụng BCS khi QHTD hay không

Phân loại Phát vấn

3 TH phòng bệnh VGB trong xét nghiệm và tiêm phòng bệnh VGB

HUPH

Trang 37

1 Xét nghiệm virus VGB Học sinh đã từng đi

xét nghiệm virus VGB hay chưa

Phân loại Phát vấn

2 Tiêm vaccin phòng bệnh

VGB

HS đã được tiêm vaccin phòng bệnh VGB hay chưa

Phân loại Phát vấn

3 Số mũi vaccin VGB đã

tiêm phòng

Số mũi vaccin phòng bệnh VGB học sinh

- Giá vaccin quá đắt

Phân loại Phát vấn

Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng ngừa bệnh VGB của học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình năm 2014

thập Biến độc lập

1 Giới tính Giới tính nam hay nữ Phân loại Phát vấn

2 Học lớp Lớp mà học sinh đang học là

lớp 10, lớp 11 hay lớp 12

Phân loại Phát vấn

HUPH

Trang 38

3 Tiền sử mắc bệnh

VGB của các thành

viên trong gia đình

Tiền sử trong gia đình học sinh có hay không có người

- Chương trình GDSK do nhà trường tổ chức

- Bản tin, hoạt động của Y tế học đường

Trang 39

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá

2.8 1 Đánh giá về kiến thức phòng chống bệnh VGB

Đánh giá kiến thức của ĐTNC về phòng bệnh VGB gồm 10 câu hỏi Việc đánh giá kiến thức bằng cách cho điểm và điểm được tính theo từng lựa chọn cho mỗi câu, mỗi lựa chọn đúng sẽ cho 1 điểm, sai sẽ cho 0 được điểm (Cụ thể bảng chấm điểm xem phụ lục số 2)

Tổng điểm kiến thức tối đa của ĐTNC là 16 điểm, số điểm càng cao thì kiến thức phòng bệnh VGB càng cao Điểm kiến thức của ĐTNC có tổng điểm ≥ 11 điểm (điểm cắt 2/3 tổng số điểm) sẽ được coi là đạt về kiến thức ĐTNC có tổng điểm kiến thức < 11 được coi là không đạt về kiến thức

2.8.2 Đánh giá về thái độ phòng bệnh VGB

Nghiên cứu này có 10 quan điểm được sử dụng để đo lường thái độ của ĐTNC về phòng bệnh VGB Việc xây dựng thang đo bao gồm các quan điểm trái ngược nhau sẽ hạn chế những sai chệch do sự đồng ý hay phản đối theo dây chuyền

Sử dụng thang đo thái độ Likert 5 mức độ để đánh giá Mỗi quan điểm sẽ có

5 mức độ đánh giá: rất đồng ý, đồng ý, không chắc chắn, không đồng ý, rất không đồng ý (Cụ thể bảng chấm điểm xem phụ lục số 2)

Rất đồng ý Đồng ý

Không chắc chắn

Không đồng ý

Rất không đồng ý

Thái độ về phòng bệnh VGB của ĐTNC được đánh giá bằng tổng số điểm của 10 quan điểm Tổng điểm thái độ tối đa là 50, tối thiểu là 10 Số điểm càng cao thì thái độ phòng bệnh VGB của ĐTNC càng tích cực Thái độ của ĐTNC có tổng điểm ≥ 40 được coi là đúng (điểm cắt 2/3), thái độ của ĐTNC có tổng điểm < 40 được coi là không đúng

2.8.3 Đánh giá về thực hành phòng bệnh VGB

Thực hành của ĐTNC về phòng lây bệnh VGB được đánh giá thông qua 7 câu hỏi Học sinh mà sử dụng riêng dụng cụ cá nhân được 1 điểm, dùng chung dụng

HUPH

Trang 40

cụ cá nhân 0 điểm; về biến QHTD thì chia thành 2 nhóm: nhóm có QHTD an toàn (là nhóm chưa QHTD hoặc đã QHTD nhưng sử dụng BCS thường xuyên) được 1 điểm, nhóm QHTD không an toàn (là nhóm đã QHTD nhưng sử dụng BCS không thường xuyên hoặc không sử dụng BCS) được 0 điểm; học sinh nào đã đi xét nghiệm được 1 điểm, học sinh nào chưa đi xét nghiệm hay là không nhớ mình đã xét nghiệm hay chưa thì 0 điểm; đánh giá về biến tiêm phòng thì số mũi tiêm phòng càng cao thì điểm càng cao, 1 mũi 1 điểm, 2 mũi 2 điểm, >=3 mũi 3 điểm, đã tiêm

mà không nhớ là bao nhiêu mũi đạt 1 điểm, còn số chưa tiêm và không nhớ mình đã tiêm hay chưa thì 0 điểm (Cụ thể bảng chấm điểm xem phụ lục số 2)

Tổng số điểm cao nhất về thực hành là 9 điểm, thấp nhất là 0 điểm, nếu điểm thực hành >= 6 điểm thì thực hành đúng, nếu điểm thực hành < 6 điểm thì thực hành không đúng (điểm cắt 2/3)

2.8.4 Tiêu chuẩn về kinh tế hộ gia đình

Áp dụng tiêu chuẩn quy định hộ nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho giai đoạn 2011 – 2015 Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống, hộ cận nghèo ở thành thị là

hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng [26] 2.9 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng thông qua

Đối tượng sẽ được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành Bộ câu hỏi điều tra chỉ được thực hiện khi có sự tự nguyện tham gia của đối tượng nghiên cứu Trường hợp nếu thấy không thích hợp, đối tượng nghiên cứu có thể từ chối tham gia

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w