TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Để xác định nguy cơ nhiễm GBS cũng như việc giám sát mức độ kháng thuốc để sử dụng xác định kháng sinh dự phòng nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh, chúng tôi
Trang 1HOÀNG THỊ HÀ
THỰC TRẠNG NHIỄM VÀ MỨC ĐỘ NHẠY CẢM KHÁNG SINH CỦA
STREPTOCOCCUS AGALACTIAE Ở PHỤ NỮ MANG THAI TUẦN 35-37
ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY 2020 - 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM Y HỌC
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720601
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 2HOÀNG THỊ HÀ
THỰC TRẠNG NHIỄM VÀ MỨC ĐỘ NHẠY CẢM KHÁNG SINH CỦA
STREPTOCOCCUS AGALACTIAE Ở PHỤ NỮ MANG THAI TUẦN 35-37
ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY 2020 - 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM Y HỌC
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720601
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS ĐOÀN MAI PHƯƠNG
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 3- Ban giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng
- Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y tế công cộng
- Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City
Times City
Tôi xin đặc biệt trân trọng cảm ơn đến:
- PGS.TS Đoàn Mai Phương, trưởng đơn nguyên Vi sinh-Khoa Xét nghiệm bệnh
viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times city và Ths Dương Kim Tuấn đã tận tình giúp
đỡ tôi trong toàn bộ khoá học và trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các đồng nghiệp tại đơn nguyên Vi sinh - khoa Xét
nghiệm bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times city và gia đình đã tạo điều kiện
thuận lợi và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Hà Nội, 29 tháng 10 năm 2022 HUPH
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược về liên cầu nhóm B 4
1.1.1 Đặc điểm vi sinh vật 4
1.1.2 Các kháng nguyên và độc tố của GBS: 6
1.2 Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán GBS 9
1.2.1 Phương pháp nuôi cấy, phân lập, định danh 9
1.2.2 Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) 13
1.2.3 Phương pháp miễn dịch 13
1.3 GBS và thai kỳ 13
1.3.1 Lây truyền GBS trong thai kỳ và chuyển dạ 13
1.3.2 Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh do GBS 14
1.3.3 Nhiễm GBS và các bất lợi 15
1.4 Sàng lọc và điều trị dự phòng lây nhiễm nhiễm GBS trước sinh 20
1.4.1 Các khuyến cáo về sử dụng kháng sinh dự phòng 20
1.5 Thực trạng nhiễm GBS, các yếu tố liên quan và mức độ nhạy cảm kháng sinh 22
1.5.1 Thực trạng nhiễm GBS 22
1.5.2 Các yếu tố liên quan của thai phụ 24
1.6 Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City 26
Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian thu thập số liệu và địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu 27
2.4 Cỡ mẫu 28
2.5 Phương pháp chọn mẫu 29
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 29
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 29
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 30
HUPH
Trang 52.9.1 Hạn chế, sai số: 30
2.9.2 Cách khắc phục: 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Tỷ lệ nhiễm GBS trong thai kỳ và một số yếu tố liên quan 31
3.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 31
3.1.2 Thực trạng nhiễm GBS của thai phụ 35-37 tuần 32
3.1.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm GBS 32
Chương 4BÀN LUẬN Error! Bookmark not defined.41 4.1 Thực trạng nhiễm GBS ở phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City 2020-2021 41
4.2 Mức độ nhạy cảm kháng sinh của Streptococcus agalactiae phân lập từ phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 2020-2021 50 KẾT LUẬN 54
KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined.56 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.57 Phụ lục 1 64
Phụ lục 2 69
Phụ lục 3 82
Phụ lục 4 83
HUPH
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI: Body Mass Index
BVĐKQTVMTC: Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tổng quát về độc tố của GBS (19) 8
Bảng 1.2: Các kháng sinh phiên giải cho GBS 12
Bảng 1.3: Khuyến cáo điều trị kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS trong thai kỳ 22
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 31
Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo nhóm tuổi (n=5020) 32
Bảng 3.3: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo nơi sinh sống (n=5020) 33
Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo các nhóm nghề nghiệp (n=5020) 34
Bảng 3.5: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo tuần thai (tuần) (n=5020) 35
Bảng 3.6: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo số lần đã sinh con (n=5020) 35
Bảng 3.7: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo biểu hiện viêm âm đạo (n=5020) 36
Bảng 3.8: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo tình trạng tham gia bảo hiểm y tế (n=5020) 37
Bảng 3.9: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo chỉ số BMI (n=5020) 37
Bảng 3.10: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ theo chỉ số bạch cầu trong soi dịch âm đạo (n=129) 38
Bảng 4.1: So sánh tã có một số liệu so sánh về tỷ lệ nhạy cảm kháng sinh theo thời gian tại BVĐKQTVMTC……….49
HUPH
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Hình ảnh S.agalactiae trên môi trường thạch máu 5
Hình 1.2: Đặc điểm kiểu hình huyết thanh ở S.agalactiae (16) 6
Hình 1.3: Hình ảnh GBS nhuộm Gram bắt màu tím 10
Hình 1.4: Test Catalase âm tính ở GBS 11
Hình 1.5: Thử nghiệm CAMP test dương tính ở GBS 11
Hình 1.6: Các bước GBS xâm nhập màng ối từ âm đạo (34) 17
Hình 3.1: Tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ 35-37 tuần (n=5020) 32
Hình 3.2: Mức độ nhạy cảm kháng sinh của các chủng GBS (n=1008) 39
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Để xác định nguy cơ nhiễm GBS cũng như việc giám sát mức độ kháng thuốc
để sử dụng xác định kháng sinh dự phòng nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn sơ
sinh, chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng nhiễm và mức độ nhạy cảm kháng sinh của Streptococcus agalactiae ở phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 2020-2021” với hai mục tiêu: 1) Mô tả
thực trạng nhiễm liên cầu nhóm B ở phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh
viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City 2020-2021; 2) Đánh giá mức độ nhạy cảm
kháng sinh của Streptococcus agalactiae phân lập từ mẫu bệnh phẩm của phụ nữ
mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 2020-2021 Nghiên cứu được thực hiện thu thập số liệu thứ cấp từ hồ sơ bệnh án của
5020 sản phụ có độ tuổi trung bình là 30,43 ± 4,67 đến khám tại khoa Sản- bệnh viện
đa khoa quốc tế Vinmec Times City Nghiên cứu cho thấy có 20,08% (1008/5020) thai phụ phát hiện là dương tính với GBS qua xét nghiệm nuôi cấy tăm bông dịch âm đạo Không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm GBS của thai phụ giữa các nhóm tuổi, nơi sinh sống, tuần thai, số lần sinh con, chỉ số BMI, chỉ số bạch cầu trong nhuộm soi dịch âm đạo Có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm GBS của các thai phụ giữa các nhóm nghề nghiệp, giữa các thai phụ có hay không có biểu hiện viêm âm đạo và giữa các thai phụ có tình trạng sử dụng bảo hiểm y tế khác nhau Mức độ nhạy cảm kháng sinh của các chủng GBS với các loại kháng sinh là khác nhau Khuyến nghị áp dụng sàng lọc thường quy tình trạng thai phụ mang GBS từ 35-37 tuần thai kỳ; kháng sinh dự phòng lây nhiễm GBS trước sinh nên lựa chọn sử dụng đầu tay gồm penicillin, ampicillin, cefazolin và chỉ định sử dụng clindamycin cần dựa trên kết quả kháng sinh đồ cho từng trường hợp cụ thể
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Streptococcus agalactiae hay còn gọi là Group B streptococcus (GBS) hoặc liên
cầu nhóm B (LCB) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn sơ sinh ở người GBS còn
là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh tật ở phụ nữ có thai và người cao tuổi mắc các bệnh tiềm ẩn như đái tháo đường hoặc suy giảm miễn dịch (1-3) Bình thường GBS cư trú như vi hệ của đường ruột, đường sinh dục, không có triệu chứng và được tìm thấy ở 10-40% phụ nữ mang thai (4)
Phụ nữ mang thai nhiễm GBS sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn ối, vỡ ối non, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết, đẻ non, viêm niêm mạc tử cung sau đẻ Với trẻ nhiễm GBS làm tăng nguy cơ viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết v.v., Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn sơ sinh và là nguyên nhân chủ yếu làm tử vong chu sinh (5) Trước khi kháng sinh dự phòng được sử dụng rộng rãi trong quá trình mang thai, tỷ lệ nhiễm GBS sơ sinh khởi phát sớm được báo cáo dao động từ 1,8 đến 4,0 trên 1000 trẻ đẻ sống Bệnh khởi phát sớm (6 ngày đầu sau sinh) chiếm khoảng 80% các trường hợp hoặc khoảng 7600 trường hợp hàng năm (6) GBS là mầm bệnh thường gặp nhất được phân lập từ trẻ sơ sinh bị bệnh do vi khuẩn xâm nhập
và gây ra các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh như viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não (7)
Theo hướng dẫn năm 2010 của CDC Hoa Kỳ về tầm soát phụ nữ mang thai ở 35 đến 37 tuần thai và sử dụng kháng sinh dự phòng cho phụ nữ mắc bệnh, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn sơ sinh đã giảm xuống còn khoảng 0,25 trường hợp trên 1000 trẻ đẻ sống, giảm gần 85% so với năm 1990 (5)
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng nhiễm GBS ở phụ nữ mang thai
và mức độ nhạy cảm của GBS với kháng sinh Trong nghiên cứu năm 2015 tại Iran của Shahrzad Hadavand và cộng sự cho kết quả nhiễm GBS là 3,3% (7/40 mẫu), tất cả các chủng được đưa ra đều nhạy cảm với penicillin, ampicillin, cephalothin, nitrofurantoin và ciprofloxacin và cả 7 trường hợp đều kháng tetracycline và cotrimoxazole (8) Tỷ lệ nhiễm GBS ở Ghana, châu Phi cao hơn nhiều trong nghiên cứu của Hans-Christian Slotved năm 2013, là 25,5-28,0% (9)
HUPH
Trang 11Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm GBS và các yếu tố liên quan Theo nghiên cứu của Đỗ Khoa Nam năm 2006 tỷ lệ nhiễm GBS trên 200 đối tượng phụ
nữ có thai là 17%, tỷ lệ này cũng tương tự trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Vĩnh Thành năm 2007 tại bệnh viện từ Dũ là 18,1% (10, 11) Trong khi đó, tỷ lệ nhiễm GBS là 36,3% trong nghiên cứu của Trần Quang Hanh tại Bệnh Viện sản nhi Nghệ An năm 2018-2019 (12)
Khoa Sản bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times City (BVĐKQTVMTC) được thành lập từ năm 2012, hàng năm có hơn 4000 thai phụ đăng ký tham gia khám và sinh
đẻ tại đây Sàng lọc sàng lọc thai phụ mang GBS và điều trị phòng ngừa lây nhiễm đã được áp dụng thường quy trong quy trình quản lý thai kỳ Tất cả thai phụ đến khám được chỉ định xét nghiệm vi khuẩn nuôi cấy, định danh và kháng thuốc trên mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo ở tuần thai 35-37 nhằm mục đích sàng lọc nhiễm GBS và điều trị kháng sinh
dự phòng nếu cần Vì vậy, việc xác định nguy cơ nhiễm GBS cũng như việc giám sát mức
độ kháng thuốc để sử dụng xác định kháng sinh dự phòng là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh và giaem thiêu tử vong chu sinh cũng như cung cấp số liệu thực tế cho bác sỹ lâm sàng trong quá trình sử dụng kháng sinh dự phòng của giai đoạn trước sinh Tuy nhiên, tại BVĐKQTVMTC chưa có nghiên cứu về thực trạng nhiễm và mức độ nhạy cảm kháng sinh của GBS Xuất phát từ thực tế, tôi xin thực hiện đề tài
“Thực trạng nhiễm và mức độ nhạy cảm kháng sinh của Streptococcus agalactiae ở phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1) Mô tả thực trạng nhiễm liên cầu nhóm B ở phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City 2020-2021
2) Đánh giá mức độ nhạy cảm kháng sinh của Streptococcus agalactiae phân lập từ mẫu
bệnh phẩm của phụ nữ mang thai tuần 35-37 đến khám tại bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 2020-2021
HUPH
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về liên cầu nhóm B
1.1.1 Đặc điểm vi sinh vật
Liên cầu là cầu khuẩn xếp chuỗi, được Billroth mô tả lần đầu tiên vào năm 1874
từ mủ của các tổn thương viêm quầng và các vết thương bị nhiễm khuẩn Năm 1880, Pasteur phân lập được liên cầu ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết Sau đó Ogston (1881), Rosenbach (1884) đã nghiên cứu kỹ về tổ chức bệnh lý
Năm 1919, Brown đã xếp loại liên cầu theo hình thái tan máu khác nhau khi chúng mọc trên môi trường thạch máu:
- Tan máu (β)
- Tan máu (α)
- Tan máu (γ)
Các liên cầu gây bệnh quan trọng ở người gồm nhóm A (Streptococcus
pyogenes), nhóm B (Streptococcus agalactiae), nhóm D (Streptococcus enterococci), Streptococcus pneumoniae và Streptococcus viridans (13)
GBS thuộc nhóm tan máu (β), là những vi khuẩn hiếu kỵ khí tùy tiện, được Rebecca Lancefield phân biệt với các loại liên cầu khác vào những năm 1930 sau khi nó được phân lập từ sữa và bò bị viêm vú (14) HUPH
Trang 14Hình 1.1: Hình ảnh S.agalactiae trên môi trường thạch máu
GBS là những vi khuẩn hình cầu hoặc bầu dục, đường kính trung bình từ 1μm (thường 0,5 - 1 x 1 - 2 μm), bắt màu Gram dương, xếp thành chuỗi, phân chia trong mặt phẳng thằng góc với trục của chuỗi và không tạo thành bào tử khi gặp điều kiện bất lợi
GBS được chia thành 10 kiểu hình huyết thanh khác nhau: Ia, Ib, II, III, IV, V, VI, VII, VII, IX Trong số những người trưởng thành không mang thai ở Hoa Kỳ (US), typ huyết thanh phổ biến nhất gây bệnh xâm lấn là nhóm V (29% trong giai đoạn 2005-2006), tiếp theo là typ huyết thanh Ia, II và III (14) Một nghiên cứu từ Alberta, Canada về các typ huyết thanh liên quan đến bệnh GBS xâm lấn từ năm 2003–2013, đã chứng minh rằng typ huyết thanh thường gặp nhất là III (20%), theo sau là typ huyết thanh V (19%), Ia (19%), Ib (13%), và II (11%) (15) Một nghiên cứu khác ước tính rằng 18% phụ nữ mang thai trên toàn thế giới bị nhiễm GBS, trong đó 98% các trường hợp phân lập được là typ
Trang 15Hình 1.2: Đặc điểm kiểu hình huyết thanh ở S.agalactiae (16)
GBS bất hoạt ở là 55ᵒC trong 30 phút, hoặc ở nhiệt độ -121ᵒC trong ít nhất 15 phút
và ở nhiệt độ khô 160-170ᵒC trong ít nhất 1 giờ Trong phân, GBS bị bất hoạt bởi Ozone 37ᵒC là nhiệt độ tối ưu để chúng phát triển GBS trong môi trường được tìm thấy trong bụi nhà, có thể sống sót trong không khí khoảng 1 tháng, GBS trong sữa ở -20ᵒC có thể sống trong 4 tuần và sống 9 tháng trong thịt cá đông lạnh ở -70ᵒC Khác với nhóm
Staphylococcus, GBS không có men catalase và phân biệt Streptococcus khác dựa vào
các tính chất như: Hình dạng khuẩn lạc, hiện tượng tan máu, các phản ứng sinh hóa, sự
đề kháng với yếu tố vật lý, hóa học, huyết thanh và đặc điểm hình thái (13)
1.1.2 Các kháng nguyên và độc tố của GBS:
GBS sản sinh ra nhiều chất ngoại bào, một số những chất này tạo ra độc tố hoặc kháng nguyên bảo vệ Các độc tố đã được xác định ở GBS như vỏ polysaccharide với giàu acid sialic, độc tố kênh Pore-forming, ly giải hyaluronic, các protein gắn với chất nền ngoại bào, acid Lipoteichoic, các peptidase và các yếu tố tiêu hủy protein liên quan với đáp ứng miễn dịch bẩm sinh (17) Vỏ được xem như là yếu tố độc lực chính của GBS
Đa số các chủng gây bệnh GBS có khả năng xâm nhiễu đều có vỏ bên ngoài Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, những đột biến mất acid sialic liên quan đến giảm độc lực so với các chủng hoang dã (18)
HUPH
Trang 16Hầu hết các chủng GBS biểu hiện nhiều loại protein trên bề mặt, các protein này hoạt động như yếu tố bám dính và cùng có thể góp phần vào lẩn trốn với hệ miễn dịch Các protein bề mặt bao gồm: tiểu đơn vị α của protein C (Bca), tiểu đơn vị β của protein
C (Bac), Rib, Alp2 (protein giống Cα 2), peptidase Ca5 (ScpB), protein bề mặt gắn liminin (Lmb), protein gắn fibrinogen (FbsA), protein gắn fibrinogen được tiết ra (FbsB), protease botein gắn fibrCsp) và protein bề mặt của GBS (Spb1) (19) Điều đáng quan tâm
là protein Lmb gắn laminin và protein ScpB có chắc năng như yếu tố bám dính với fibronectin mô tổ chức và hoạt động như “chất kết dính” trong thời kỳ mang thai Saminin
và protein ScpB có trong thai kỳ có liên quan đến tăng nguy cơ sinh non Các gen Lmb
và ScpB đóng vai trò quan trọng cho GBS cư trú hoặc gây bệnh ở người (20) Cả 2 gen này nằm ở vị trí cạnh nhau trên cùng một transposon dài 16 kb Tuy nhiên đột biến gen ScpB làm mất chức năng hoạt động của peptidase ScpB nhưng vẫn không ảnh hưởng đến
ái lực của protein này với fibronectin (21)
Một số protein khác đóng vai trò là yếu tố độc lực của GBS là:
- Protein gắn với fibrinogen (FbsA protein), là protein bề mặt của tế bào vi khuẩn,
có vai trò chống lại thực bào và quá trình xâm nhập của GBS
- Protein BsaB (protein bám dính GBS), protein này mới được xác định gần đây, nằm ở mặt ngoài bề mặt vi khuẩn giúp bám dính vào tế bào biể mô và hình thành lên thảm
vi khuẩn (biofilm)
- Protein Rib, là protein trọng lượng phân tử cao, có protein Rib, là protein trọng chủng tuýp III, protein này được mã hóa bởi gen Rib, có tính sinh miễn dịch và chịu trách nhiệm cho tính xâm nhiễm GBS ở trẻ sơ sinh
Ngoài ra, GBS cũng tạo ra được các độc tố như β-hemolysin/ cytolysin (CylE), hyaluronidase (HylB) và superoxide dismutase (SodA) và yếu tố CAMP (Cfb) giúp thúc đẩy đi vào tế bào chủ, tồn tại và lây lan (19)
HUPH
Trang 17Bảng 1.1: Tổng quát về độc tố của GBS (19) Yếu tố độc tố Vai trò
Vỏ Giúp GBS lẩn tránh hệ thống miễn dịch vật chủ
(opsonophagocytosis) Acid
Lipoteichoic Trung gian bám dính vi khuẩn với tế bào eukaryotic
Yếu tố CAMP
Có thể là độc tố kênh Pore-forming Kết quả trong phản ứng đặc trưng CAMP của GBS Gắn với phần Fc của IgG và IgM, làm bất hoạt các globulin này đối với đáp ứng tạo miễn dịch cơ thể
β-haemolysin Kênh Pore-forming, cytolysin không sinh miễn dịch hoạt hoá chống
lại nhiều loại tế bào vật chủ Hylauronate
lyase Có thể là yếu tố phát tán qua mô liên kết của vật chủ
Superoxide
Dismutase
Chống lại oxy hóa bằng chuyển các anion superoxide thành các chất
ít độc C5a Peptidase Phân cắt và bất hoạt C5a bạch cầu trung tính Liên kết với fibronectin Tương tác với
protein ngoại
bào
Kết dính với các thành phần này có thể đóng vài trò giúp GBS cư trú
ở bề mặt niêm mạc và biểu mô Có thể là một trong những cơ chế lẩn tránh hệ miễn dịch
Hệ thống điều
tiết đôi Điều chỉnh biểu hiện gen quy định độc lực phụ thuộc mật độ vi khuẩn
HUPH
Trang 181.2 Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán GBS
1.2.1 Phương pháp nuôi cấy, phân lập, định danh
Phương pháp nuôi cấy là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán có GBS theo khuyến cáo của Trung tâm Kiểm soát và Dự phòng bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG), Hiệp hội Vi sinh Hoa Kỳ (ASM) (22) Nuôi cấy là phương pháp quan trọng để thực hiện kháng sinh đồ và lựa chọn kháng sinh điều trị Mẫu bệnh phẩm (thường từ dịch âm đạo hoặc /và trực tràng) cấy vào ống môi trường canh thang chọn lọc, như môi trường Todd - Hewitt, có bổ sung kháng sinh Gentamicin (8 μg/ml) và acid Nalidixic (15 μg/ml) hoặc Colistin (10 μg/ml) và acid Nalidixic (15 μg/ml) Ủ trong tủ
ấm 35-37ᵒC, từ 18 đến 24 giờ với khí trường CO2 5% Trích biệt canh khuẩn vào đĩa thạch máu cừu và ủ trong tủ ấm 35- 37ᵒC sau 18-24 giờ Quan sát và xác định các tính chất vi khuẩn gợi ý GBS, cầu khuẩn Gram dương, catalase âm tính Thử nghiệm Christie- Atkins- Munch- Peterson (CAMP) hoặc phản ứng ngưng kết kháng nguyên nhóm B là các thử nghiệm quan trọng trong việc định danh GBS (23)
Tại BVĐKQTVMTC, xét nghiệm nuôi cấy bệnh phẩm dịch âm đạo được thực hiện theo quy trình “Quy trình xét nghiệm vi khuẩn, vi nấm nuôi cấy hệ thống tự động bệnh phẩm dịch sinh dục phụ nữ có thai“ (phụ lục 1)
1.2.1.1 Nhuộm Gram khuẩn lạc
Dựa trên nguyên tắc vi khuẩn bắt màu Gram âm hay Gram dương do sự khác nhau
về thành phần, cấu trúc vách tế bào vi khuẩn Vi khuẩn Gram dương có lớp peptidoglycan dày, nhiều acid teichoic, không bị ảnh hưởng bởi sự tẩy màu bằng cồn, vẫn giữ nguyên được màu tím ban đầu Ngược lại, vi khuẩn Gram âm có một lớp peptidoglycan gắn với lớp phospholipid kép, xen kẽ các protein ở màng ngoài, lớp màng này dễ bị phá hủy bởi cồn khi tẩy màu Do đó phức hợp tinh thể tím gentian - iod không bền, bị tẩy màu và màu được thay bởi các thuốc nhuộm khác
HUPH
Trang 19Hình 1.3: Hình ảnh GBS nhuộm Gram bắt màu tím
Quan sát hình thể vi khuẩn ở vật kính dầu (x 100), GBS sau khi nhuộm Gram có tính chất sau (23):
- Tính chất bắt màu: Gram dương (bắt màu tím)
- Cách sắp xếp: xếp thành chuỗi
1.2.1.2 Thử nghiệm catalase
Những vi khuẩn sinh enzyme catalase để thủy phân H2O2 thành H2 và O2, tạo ra bọt khí Xét nghiệm này dùng để phân tích đặc điểm ban đầu của hầu hết các vi khuẩn
Liên cầu và tụ cầu có hình thể và kích thước tương đương nhau, enzyme catalase
có ở tất cả các loại tụ cầu, ngược lại, enzyme catalase không có ở liên cầu Do đó, GBS cho kết quả âm tính với thử nghiệm catalase Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt
Trang 20Hình 1.4: Test Catalase âm tính ở GBS
Thử nghiệm catalase cho kết quả dương tính khi sủi bọt ngay lập tức, phản ứng yếu khi chỉ 1- 2 bóng khí, phản ứng âm tính khi không có bóng khí hoặc chỉ một ít bóng khí sau 20 giây (23)
1.2.1.3 Thử nghiệm CAMP test
Dựa trên nguyên lý GBS tiết ra một loại protein chịu nhiệt, bên ngoài tế bào vi khuẩn, có thể khuếch tán, tác động hiệp đồng với yếu tố tan máu beta (beta-lysin) do
Staphylococcus aureus sản xuất ra để tạo thành một vùng ly giải trong môi trường chứa
hồng cầu cừu hoặc bò Protein này tên là yếu tố CAMP Thử nghiệm CAMP chuẩn dựa vào sự tương tác giữa hai yếu tố này trong quá trình nhân lên của vi khuẩn được tạo nên một vùng trong suốt hình ngọn lửa hay đầu mũi tên tại vùng gặp nhau của hai vi khuẩn này khi chúng được đặt vuông góc với nhau Kết quả dương tính khi có khoảng tan máu
hình đầu mũi tên ở chỗ giao giữa đường rìa của Staphylococcus aureus và chủng cần xác
định sinh yếu tố CAMP (23)
Hình 1.5: Thử nghiệm CAMP test dương tính ở GBS
HUPH
Trang 211.2.1.4 Kỹ thuật kháng sinh đồ trên chủng GBS tại bệnh viện đa khoa quốc
tế Vinmec times city
Theo khuyến cáo về sử dụng kháng sinh dự phòng cho phụ nữ nhiễm GBS, hướng dẫn của CLSI về phiên giải kháng sinh nhóm Streptococcus và thực tế các kháng sinh sử dụng tại BVĐKQTVMTC, kỹ thuât kháng sinh đồ với mẫu GBS dương tính tại BVĐKQTVMTC được thực hiện theo “Quy trình xét nghiệm vi khuẩn kháng thuốc định tính” (phụ lục 2) với các kháng sinh sau: penicillin, erythromycin, clindamycin, vancomycin, levofloxacin Trả lời kết quả kháng sinh đồ theo 3 mức: nhạy (S), trung gian (I), kháng (R)
Sau khi phiên giải theo hướng dẫn của CLSI, kết quả được trả cho bệnh nhân bao gồm các kháng sinh sau:
Bảng 1.2: Các kháng sinh phiên giải cho GBS
Trang 22Trong đó, các kháng sinh ampicillin, cefotaxime, ceftriaxone, cefazolin được phiên giản dựa trên kết quả của penicillin
1.2.2 Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction)
Nhược điểm của phương pháp nuôi cấy là mất khá nhiều thời gian, ít nhất 48 giờ,
và có thể cho kết quả âm tính mặc dù có bằng chứng nhiễm GBS (22) Điều này dẫn đến những hạn chế nhất định trong tiếp cận điều trị ban đầu
Kỹ thuật PCR được đề xuất để phát hiện GBS nhanh và chính xác hơn Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát hiện bằng kỹ thuật Realtime PCR là 51,1% trong khi nuôi cấy cho
tỷ lệ phát hiện chỉ 14,3% và xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu GBS có tỷ lệ phát hiện 30,7% (24) Tuy nhiên, do chi phí của kỹ thuật PCR nên phương pháp này chưa phổ biến
ở Việt Nam
1.2.3 Phương pháp miễn dịch
Nguyên lý của phương pháp này dựa trên đặc điểm phần lớn các liên cầu tan máu beta đều hiện diện các kháng nguyên đặc hiệu nhóm Các kháng nguyên này chính là kháng nguyên polysaccharide lớp vỏ vi khuẩn Dựa trên đặc tính này, những hạt Latex có gắn kháng thể đặc hiệu nhóm cho GBS sẽ gắn kết với các kháng nguyên tương ứng tạo thành các hạt ngưng kết có thể quan sát được
Phương pháp này chủ yếu áp dụng cho các xét nghiệm sàng lọc phát hiện nhanh GBS, độ nhạy và độ đặc hiệu có nhiều hạn chế nên không phổ biến (25)
1.3 GBS và thai kỳ
1.3.1 Lây truyền GBS trong thai kỳ và chuyển dạ
Người trưởng thành không mang thai, cơ chế lây truyền GBS chưa được biết rõ ràng,
vi khuẩn có thể lây qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua đường tình dục Mặc dù GBS không thuộc nhóm bệnh lý lây truyền qua đường tình dục nhưng tỷ lệ mắc bệnh ở những người
có nhiều bạn tình được chứng minh cao hơn ở những người không hoạt động tình dục, tỷ
lệ đồng nhiễm ở các cặp vợ chồng thường rất cao, lên đến 86% (28) Điều đó chứng tỏ sự hiện diện của GBS trong âm đạo đóng vai trò quan trọng trong lây truyền GBS
HUPH
Trang 23GBS có thể hiện diện ở bất kỳ thời điểm nào của thai kỳ, nhưng thực sự lây truyền qua thai chủ yếu xảy ra trong quá trình chuyển dạ, vỡ ối hoặc thai di chuyển qua đường sinh dục của mẹ Trong quá trình chuyển dạ, vỡ ối hoặc khi thai đi qua đường sinh dục của người mẹ Sự hiện diện của vi khuẩn ở dịch âm đạo làm tăng nguy cơ lây truyền cho trẻ sơ sinh Trẻ sơ sinh nhiễm GBS do thai nuốt dịch ối hoặc dịch âm đạo có chứa vi khuẩn hoặc là bị nhiễm qua những vết thương do sang chấn khi đi qua đường sinh dục Trong chuyển dạ, tỷ lệ truyền dọc từ mẹ sang con khoảng 38-52% (29) Trong các trường hợp thai phụ mang GBS không được điều trị dự phòng trước sinh, khoảng 1-2% trẻ sơ sinh bị nhiễm khuẩn giai đoạn sớm Trong mô hình nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh, khoảng 3-12% trẻ nhiễm GBS xuất hiện trong tuần đầu tiên, trong đó 40-70% xuất hiện trong tuần đầu tiên trong thai kỳ, trong khi đó chỉ khoảng 1- 12% trường hợp sinh ra từ người mẹ không bị nhiễm (30)
Sau sinh trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm GBS do tiếp xúc với gia đình, người chăm và diễn tiến thành hình thái nhiễm khuẩn huyết khởi phát muộn như viêm màng não hoặc nhiễm khuẩn khu trú khác Mặc dù khoảng 50% nhiễm khuẩn sơ sinh muộn có liên quan đến lây truyền dọc trước khi liệu pháp kháng sinh dự phòng được khuyến cáo khi thai phụ mang GBS Liệu pháp kháng sinh dự phòng được khuyến cáo để làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy không có hiệu quả đối với nhiễm khuẩn sơ sinh muộn Những thai phụ được điều trị kháng sinh dự phòng lây nhiễm GBS trước sinh vẫn có thể bị tái nhiễm GBS trong thời kỳ hậu sản Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn
có thể lây truyền từ bố mẹ nhiễm GBS hoặc cộng đồng
1.3.2 Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh do GBS
Yếu tố nguy cơ chính của nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS là do mẹ mang GBS trong đường sinh dục, đường tiết niệu hoặc đường tiêu hóa
Những yếu tố nguy cơ lâm sàng bao gồm (27):
- Sinh non dưới 37 tuần
- Ối vỡ sớm ở bất kỳ tuổi thai
- Ối vỡ ≥18 giờ trước sinh
- Viêm màng não
HUPH
Trang 24- Nhiễm khuẩn đường tiếu niệu do nhiễm GBS thai kỳ
- Sốt trong chuyển dạ (nhiệt độ ≥ 38ᵒC)
- Có tiền sử sinh con bị nhiễm GBS
- Mang thai nhiều lần
Những yếu tố nguy cơ thuộc về đặc điểm vi khuẩn và tác động của yếu tố miễn dịch bao gồm:
- Nhiễm các chủng GBS tăng độc lực
- Mẹ nhiễm khuẩn nặng
- Mẹ thiếu hụt globulin miễn dịch đặc hiệu GBS khi sinh
Ngoài ra, thai kỳ trên các trường hợp có bệnh lý nền như bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, bệnh lý hệ thống, béo phì, mẹ lớn tuổi, sẽ tăng nguy cơ tiến triển bệnh lý nhiễm khuẩn nặng do GBS (27)
1.3.3 Nhiễm GBS và các bất lợi
1.3.3.1 Đối với thai phụ
Trong nghiên cứu giám sát của CDC Hoa Kỳ, tỷ lệ nhiễm khuẩn do GBS ở phụ nữ mang thai là 0,12/1.000 trẻ sinh sống (31) Nhiễm khuẩn đường sinh dục chiếm khoảng 1/2 trường hợp, nhiễm khuẩn huyết xảy ra khoảng 1/3 trường hợp, GBS được phân lập từ máu mẹ khoảng 50% các trường hợp Khoảng một nửa số trường hợp nhiễm khuẩn do GBS ở mẹ liên quan đến sảy thai, thai chết trong tử cung, nhiễm khuẩn sơ sinh và tử vong
sơ sinh
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu:
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu chiếm tỷ lệ khoảng 8% trong toàn bộ thai kỳ, trong
đó chỉ khoảng 1- 2% trường hợp có triệu chứng GBS là nguyên nhân thường gặp nhất gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở phụ nữ mang thai, gồm nhiễm khuẩn đường tiết niệu không triệu chứng, viêm bàng quang và viêm thận- bể thận Yếu tố nguy cơ gồm có tiền
sử nhiễm khuẩn đường tiết niệu, đái tháo đường, sinh nhiều lần và mức sống thấp Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không triệu chứng thường xảy từ giai đoạn sớm trong thai kỳ, chẩn đoán khi có hiện diện > 105 vi khuẩn/mL trong 2 mẫu nước tiểu liên tiếp trong trường hợp thai phụ không có triệu chứng (32) Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không triệu chứng
HUPH
Trang 25nếu không điều trị là yếu tố nguy cơ viêm bàng quang cấp (40%), viêm thận- bể thận (25- 30%) trong thai kỳ và viêm nội mạc tử cung sau sinh Viêm thận- bể thận là bệnh lý khá thường gặp trong thai kỳ, có tỷ lệ khoảng 0,5- 2% Hầu hết các trường hợp viêm thận- bể thận xảy ra trong ba tháng giữa và cuối thai kỳ
Viêm ối - màng ối:
Viêm ối- màng ối liên quan đến nhiễm khuẩn nước ối, màng ối, rau thai và /hoặc dây rốn (33) GBS tồn tại trong âm đạo làm tăng nguy cơ các nhiễm khuẩn trong thai kỳ,
vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung, vào các màng thai (màng đệm và màng ối), buồng ối
và thai nhi GBS kết dính, xâm nhập qua màng ối và màng đệm thông qua IagA, là một enzym chuyển glycosyl giúp kết dính acid lipoteichoic với bề mặt tế bào, các yếu tố tan
máu và tác động qua trung gian cụm gen rgf (34) Vi khuẩn tiết các cytokins và các chất
đóng vai trò bảo vệ đối với hệ miễn dịch tại màng thai như TNF-α, IL-1α, IL-1β, IL-6, và IL-8 Sau đó kích hoạt phản ứng viêm cơ thể, gây viêm màng ối, nước ối, rau thai và thai nhi Qua đó tăng nguy cơ sinh non, thai chết trong tử cung, nhiễm khuẩn sơ sinh, nhiễm khuẩn hậu sản
Tiêu chuẩn vi sinh của viêm ối- màng ối do GBS là phân lập được GBS từ mẫu nuôi cấy rau thai, nước ối hoặc màng ối, hoặc từ mẫu thai nhi trong trường hợp thai chết trong tử cung Thai phụ mang GBS ở âm đạo đã được chứng minh liên quan đến tăng nguy cơ viêm ối- màng ối (OR 7,2; 95%CI: 2,4 – 21,2), tuy nhiên, nguy cơ này giảm mạnh nếu được điều trị dự phòng lây nhiễm trước sinh (OR 1,2; 95%CI: 0,34 – 4,4) (35)
HUPH
Trang 26Hình 1.6: Các bước GBS xâm nhập màng ối từ âm đạo (34) Viêm nội mạc tử cung sau sinh:
Người mang GBS không triệu chứng làm tăng nguy cơ viêm nội mạc tử cung sau sinh (OR 1,8; 95% CI: 1,2 – 2,6) (36), đặc biệt là những trường hợp viêm nội mạc tử cung sớm, xuất hiện trong 24 giờ sau sinh Trong những trường hợp viêm nội mạc tử cung, GBS được xác định là nguyên nhân đơn độc trong khoảng 2- 14% trường hợp, tuy nhiên
tỷ lệ GBS cao hơn khi phối hợp nhiều vi khuẩn khác (37) Viêm nội mạc tử cung chiếm khoảng 56% trong những sản phụ nhiễm khuẩn hậu sản, trong đó 77% trường hợp sau
mổ lấy thai (so với sinh đường âm đạo, RR 10,85; 95%CI: 6,75-17,45) và 39% trường hợp sinh non (so với sinh đủ tháng, RR 3,21; 95%CI: 2,42- 4,25) Mặc dù viêm nội mạc
tử cung không phải là hình thái nặng của nhiễm khuẩn hậu sản, nhưng là hình thái khởi đầu của các nhiễm khuẩn nặng đe doạ tính mạng sản phụ như viêm tử cung toàn bộ, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết, choáng nhiễm khuẩn… nếu không được chẩn đoán và điều trị phù hợp
Nhiễm khuẩn huyết:
Trong các dữ liệu báo cáo trước đây, đa số nghiên cứu cho thấy GBS là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn huyết Tuy nhiên, kể từ khi có khuyến cáo điều trị dự phòng lây nhiễm GBS trước sinh, các dữ liệu và tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết có thay đổi Một nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2008 trên 1.295 mẫu máu phân
HUPH
Trang 27lập vi khuẩn từ những sản phụ có điều trị dự phòng GBS dựa trên kết quả sàng lọc GBS kèm sốt sau sinh Kết quả cho thấy trong 13,3% trường hợp nhiễm khuẩn huyết (2,2/1.000 trường hợp sinh sống), chỉ có 4,1% các mẫu phân lập cấy máu có nguyên nhân do GBS
Trong khi đó, E Coli và Enterococci chiếm hơn một nữa tổng số các chủng vi khuẩn
phân lập được, tương ứng là 35,9% và 23,6%, còn lại, khoảng 13% mẫu phân lập là các vi khuẩn kỵ khí (38)
Các nhiễm khuẩn khác: Trong thai kỳ, mặc dù GBS được báo cáo là tác nhân
nhưng rất hiếm gặp ở một số nhiễm khuẩn trong gian đoạn chu sinh khác như viêm màng não ở mẹ (cả trước và sau sinh), viêm nội tâm mạc, áp xe ổ bụng và viêm hoại tử mô
1.3.3.2 Đối với trẻ sơ sinh
Nhiễm khuẩn sơ sinh là những bệnh lý chỉ những trường hợp nhiễm xảy ra ở trẻ
từ lúc sinh đến 28 ngày tuổi (6) Nguyên nhân nhiễm khuẩn sơ sinh có thể do nhiều loại
vi khuẩn khác nhau, trong đó GBS là nguyên nhân chiếm khoảng 30- 40% trường hợp và
đa số gây ra hình thái nhiễm khuẩn sơ sinh sớm
Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm:
Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm xuất hiện trong vòng 6 ngày đầu sau sinh, thường biểu hiện trung bình trong khoảng 20 giờ đầu sau sinh (6) Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn
sơ sinh sớm do GBS đã giảm từ 1,8/1.000 trường hợp sinh sống năm 1990 xuống còn 0,24/1.000 trường hợp sinh sống năm 2016 (39) Tuy nhiên, có sự chênh lệch tỷ lệ mắc giữa các chủng tộc, trẻ sơ sinh da đen có nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm cao hơn đáng
kể so với trẻ sơ sinh da trắng (lần lượt 0,51 so với 0,17 trường hợp trên 1.000 trường hợp sinh sống) (27) Mặc dù chính sách dự phòng lây nhiễm GBS trước sinh đã triển khai, tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS vẫn tiếp tục xảy ra và tồn tại ở mức bình nguyên kể từ những năm 2000 đến nay Trước đây, phần lớn các nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS xảy ra ở trẻ sơ sinh đủ tháng Hiện nay nhiễm khuẩn sơ sinh sớm và tử vong do GBS tập trung ở nhóm sơ sinh non tháng Khoảng 50% các trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS xảy ra ở trẻ sơ sinh non tháng và liên quan đến nguy cơ tử vong cao hơn ở nhóm này, 20- 30% ở nhóm sơ sinh dưới 33 tuần so với 1-3% ở nhóm sơ sinh đủ tháng (40, 41)
HUPH
Trang 28Các hình thái nhiễm khuẩn sơ sinh sớm liên quan đến GBS gồm (42):
- Nhiễm khuẩn huyết: Nhiễm khuẩn huyết không có tiêu điểm nhiễm khuẩn khu trú xảy ra ở khoảng 80- 85% các trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS Các triệu chứng nhiễm khuẩn huyết không đặc hiệu gồm trẻ kích thích, lơ mơ, các triệu chứng hô hấp như thở nhanh, thở rên, thiếu oxy, sốt và hạ huyết áp Hình thái lâm sàng có thể không đặc hiệu cho đến trầm trọng như choáng nhiễm khuẩn
- Viêm phổi: xảy ra khoảng 10% các trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS Triệu chứng lâm sàng bao gồm thở nhanh, thở rên, thiếu oxy và dấu co kéo X-Quang có hình ảnh tổn thuơng phế nang lan toả và tràn dịch màng phổi Viêm phổi
do GBS cũng có thể liên quan đến tăng áp phổi mãn tính ở trẻ đủ tháng
- Viêm màng não: xảy ra ở khoảng 7% các trường nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS gây ra Các dấu hiệu thường gặp như các triệu chứng nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương, bất thường hô hấp như thở nhanh, thở rên hay ngưng thở
Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn:
Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn xuất hiện từ 7- 89 ngày (3 tháng) sau sinh, thường trung bình khoảng 3- 4 tuần sau sinh Nguyên nhân có thể do lây truyền dọc từ mẹ qua thai khi sinh hoặc có thể do lây truyền ngang từ mẹ, các thành viên trong gia đình hoặc người chăm sóc trẻ Tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh muộn do GBS ở mức khoảng 0,3- 0,4/1.000 trẻ sinh sống (6) Tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh muộn do GBS cao hơn trẻ sơ sinh da đen so với trẻ sơ sinh da trắng (lần lược 0,57 so với 0,21 trường hợp trên 1.000 trường hợp sinh sống) (40) Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn không dự phòng được bằng điều trị kháng sinh trước và trong chuyển dạ Tương tự nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, hơn 50% trẻ sơ sinh nhiễm khuẩn sơ sinh muộn do GBS có tuổi thai dưới 37 tuần, trung bình xảy ra ở trẻ sinh non khoảng 30 tuần thai kỳ (38) Các hình thái nhiễm khuẩn sơ sinh muộn liên quan đến GBS như nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não và các nhiễm khuẩn khu trú, trong đó phổ biến nhất là nhiễm khuẩn huyết, chiếm tỷ lệ khoảng 65% trường hợp (6) Viêm màng não chiếm khoảng 25-30% các trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh muộn do GBS và phần lớn là liên quan đến chủng GBS type III gây ra Các hình thái nhiễm khuẩn khu trú như viêm phổi, viêm khớp nhiễm khuẩn và viêm xương- tuỷ xương (chiếm 5%), viêm mô mềm và
HUPH
Trang 29viêm hạch (chiếm 4%) Một số hình thái hiếm gặp hơn như viêm nội tâm mạc, viêm màng ngoài tim, viêm thận- bể thận, viêm nội nhãn, viêm não
Nhiễm khuẩn muộn ở trẻ:
Nhiễm khuẩn muộn là những nhiễm khuẩn xuất hiện ở trẻ sau 3 tháng tuổi (31) Nhiễm khuẩn muộn do GBS xuất hiện phổ biến ở những trẻ sinh non tháng, đặc biệt dưới
28 tuần Các hình thái lâm sàng gồm nhiễm khuẩn huyết, các nhiễm khuẩn khu trú như viêm xương- khớp, viêm mô mềm, các vị trí tiêm, truyền, dẫn lưu… Những trường hợp nhiễm khuẩn muộn do GBS xuất hiện sau 6 tháng tuổi thường gặp trên những trẻ có suy giảm miễn dịch như bị nhiễm HIV
1.4 Sàng lọc và điều trị dự phòng lây nhiễm nhiễm GBS trước sinh
1.4.1 Các khuyến cáo về sử dụng kháng sinh dự phòng
Nhiều khuyến cáo được phát triển, dựa trên đồng thuận của WHO (tổ chức y tế thế giới), CDC Hoa Kỳ (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ), ACOG (Hội Sản Phụ khoa Mỹ), ASM (Hiệp hội Vi sinh Hoa Kỳ), AAP (Hiệp hội Nhi khoa Hoa Kỳ) một số điểm cập nhật chính hiện nay như sau (6, 22, 27, 40):
- Khuyến cáo dùng tăm bông lấy mẫu âm đạo và sau đó từ trực tràng, không cần dùng mỏ vịt, cho vào dung dịch vận chuyển đi xét nghiệm trong 24 giờ Môi trường nuôi cấy và phân lập GBS nên phát hiện được cả chủng tan máu và không tan máu
- Khuyến cáo nuối cấy và định danh GBS dựa trên thử nghiệm CAMP, ngưng kết latex và phổ khối Xác định GBS dựa trên khuếch đại acid nucleic từ môi trường tăng sinh có thể chấp nhận được, nhưng không khuyến cáo áp dụng cho tất cả bệnh nhân Phản ứng ngưng kết Latex trực tiếp từ môi trường tăng sinh và xét nghiệm miễn dịch trực tiếp từ mẫu vật là những phương pháp không khuyến cáo để phát hiện GBS
- Tất cả thai phụ nên sàng lọc GBS trước sinh từ 36+0/7 đến 37+6/7 tuần thai kỳ, ngoại trừ trường hợp chỉ định sử dụng kháng sinh điều trị do nhiễm GBS đường tiết niệu trong thai kỳ hoặc tiền sử nhiễm GBS sơ sinh Khuyến cáo này nhằm đảm bảo thời gian điều trị dự phòng GBS đến khi sinh không quá 5 tuần cho những thai
kỳ kéo dài đến 41+0/7 tuần
HUPH
Trang 30- Trong thai kỳ, khuyến cáo sàng lọc GBS nước tiểu ở mọi thời điểm
- Khuyến cáo điều trị kháng sinh dự phòng phù hợp cho tất cả thai phụ sàng lọc GBS dương tính với mẫu xét nghiệm âm đạo - trực tràng từ 36+0/7 đến 37+6/7 tuần thai
kỳ, ngoại trừ trường hợp có chỉ định mổ lấy thai trước khi chuyển dạ
- Không khuyến cáo bắt buộc điều trị kháng sinh dự phòng GBS ở mọi thai phụ dương tính GBS có chỉ định mổ lấy thai trước khi chuyển dạ và chưa vỡ ối Những thai phụ không rõ kết quả sàng lọc GBS trước sinh, chỉ định liệu pháp kháng sinh
dự phòng nếu có nguy cơ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm liên quan đến GBS Những trường hợp nguy cơ cao gồm chuyển dạ sinh non, ối vỡ non hoặc ối vỡ trên 18 giờ (kể cả thai đủ tháng) hoặc sốt trong chuyển dạ (≥ 38ºC hoặc ≥ 100,4ºF)
- Liệu pháp kháng sinh dự phòng tĩnh mạch được chứng minh có hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS ở những thai phụ sàng lọc GBS dương tính và những đối tượng có yếu tố nguy cơ Liệu pháp kháng sinh đường uống hoặc tiêm bắp không khuyến cáo vì không có hiệu quả
- Penicillin đường tĩnh mạch là lựa chọn đầu tay để điều trị dự phòng lây nhiễm GBS trước sinh, ampicillin tĩnh mạch là lựa chọn thay thế chấp nhận được Các cephalosporin thế hệ I (cefazolin) được khuyến cáo sử dụng nếu dị ứng với penicilin, tất cả những trường hợp dị ứng penicillin phải được thực hiện kháng sinh
đồ
- Clindamycin chỉ được khuyến cáo điều trị thay thế penicillin ở những trường hợp
có nguy cơ sốc phản vệ cao và kháng sinh đồ cho bằng chứng GBS nhạy cảm với clindamycin
- Vancomycin đường tĩnh mạch là lựa chọn duy nhất được kiểm chứng để điều trị cho những trường hợp có nguy cơ cao dị ứng penicilin và phân lập GBS không nhạy cảm với clindamycin
- Khuyến cáo sử dụng kháng sinh phổ rộng, bao trùm cả GBS, cho những trường hợp nhiễm GBS có nghi ngờ nhiễm khuẩn ối thay vì kháng sinh khuyến cáo cho GBS
- Các can thiệp sản khoa cần thiết không nên trì hoãn sau khi sử dụng liệu pháp kháng sinh 4 giờ
HUPH
Trang 31- Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS chẩn đoán bằng cấy máu hoặc dịch não tủy Xét nghiệm tế bào máu và protein phản ứng C không khuyến cáo để tiên lượng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm Đánh giá nhiễm khuẩn sơ sinh muộn dựa vào dấu hiệu lâm sàng, chẩn đoán dựa vào phân lập GBS từ máu, dịch não tủy hoặc các tiêu điểm khu trú
Bảng 1.3: Khuyến cáo điều trị kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do
GBS trong thai kỳ
Tiền sử có trẻ nhiễm GBS Mang GBS ở thai kỳ trước
Nhiễm GBS đường tiết niệu Mang GBS đường tiểu ở thai kỳ trước Sàng lọc GBS dương tính Sàng lọc GBS âm tính
Không rõ tình trạng nhiễm GBS và
có các điều kiện sau:
+ Sinh non < 37 tuần
1.5 Thực trạng nhiễm GBS, các yếu tố liên quan và mức độ nhạy cảm kháng sinh
1.5.1 Thực trạng nhiễm GBS
1.5.1.1 Các nghiên chiễm GBSan và mứ
Ở châu Á: Năm 2015, Shahrzad Hadavand và cộng sự đã nghiên cứu trên 210 phụ
nữ mang thai tuần 35-37 tại Iran cho kết quả nhiễm GBS là 3,3%, các yếu tố số lần sinh
nở, số lần phá thai và tuổi không ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm này Tất cả các chủng GBS được đưa ra đều nhạy với các kháng sinh penicillin, ampicillin, cephalothin, nitrofurantoin và ciprofloxacin và cả 7 trường hợp đều kháng tetracycline và cotrimoxazole (8) Tại Trung Quốc, tỷ lệ nhiễm GBS là 8,2% trong tổng số 7726 phụ nữ mang thai 35-37 tuần trong nghiên cứu của Wenjing Ji và cộng sự năm 2017 Trong
HUPH
Trang 32nghiên cứu này, 100% các chủng GBS phân lập được nhạy với các kháng sinh penicillin, ceftriaxone, linezolid và vancomycin Trong khi đó 64,9% các chủng GBS kháng với kháng sinh erythromycin, 52,4% với clindamycin và 25,9% với levofloxacin Nghiên cứu này không đề cập đến các yếu tố dịch tễ liên quan (48)
Ở châu Âu: Chiara Matani nghiên cứu trên 255 mẫu bệnh phẩm tại Ý, cho kết quả
25,5% dương tính với GBS Độ nhạy với kháng sinh của các chủng GBS này với kháng sinh glycopeptide là hơn 90%, và độ nhạy thấp hơn với kháng sinh ampicillin: 87,10%
và kháng sinh penicillin: 87,93% Tỷ lệ các chủng GBS kháng với kháng sinh clindamycin
và erythromycin cao: 43,75% và 32,20% Tất cả các chủng GBS được thử nghiệm đều nhạy cảm với các kháng sinh moxifloxacin, linezolid và tigecycline Nghiên cứu không
đề cập đến các yếu tố liên quan (49)
Ở châu Phi: Tỷ lệ mắc GBS ở phụ nữ mang thai là 25,5-28,0% trong nghiên cứu
tại hai địa điểm ở Ghana của Hans-Christian Slotved và cộng sự năm 2010- 6/2013 Dữ liệu cho thấy phụ nữ dưới 20 tuổi hoặc trên 30 tuổi có nguy cơ mang GBS cao hơn đáng
kể so với phụ nữ từ 20- 30 tuổi Số lần nạo phá thai, trình độ học vấn và nhiễm khuẩn đường tiết niệu không được coi là yếu tố nguy cơ đáng kể Nghiên cứu không đề cập đến
sử dụng kháng sinh dự phòng cho phụ nữ và trẻ sơ sinh nhiễm GBS (9)
Ngoài ra có rất nhiều nghiên cứu khác về tỷ lệ nhiễm GBS, các yếu tố nguy cơ và điều trị dự phòng cho trẻ sơ sinh nhiễm GBS
1.5.1.2 Các nghiên c nguy cơ và điề
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tình trạng nhiễm GBS ở thai phụ Tuy nghiên chưa có nhiều đề tài phân tích đến các yếu tố liên quan
Nghiên cứu “Tỷ lệ Streptococcus nhóm âm đạo - trực tràng của các thai phụ và
một số yếu tố liên quan” của Đỗ Khoa Nam năm 2006 ở 200 đối tượng 28 tuần đến 40 tuần chuyển dạ và sinh con tại Bệnh viện Từ Dũ, cho kết quả là thai phụ nhiễm GBS chiếm 17% Tác giả thấy tỷ lệ nhiễm GBS ở khu vực nội thành của thành phố Hồ Chí Minh cao hơn khu vực ngoại thành, độ nhạy với kháng sinh cao nhất ở nhóm augmentin, các kháng sinh đang được CDC khuyến cáo là penicillin và ampicillin có độ nhạy với các
HUPH
Trang 33chủng GBS không cao chỉ chiếm 64,7% và 61,8% Nghiên cứu chỉ khuyến cáo vệ sinh đường sinh dục trong thai kỳ (11)
Năm 2007, Nguyễn Thị Vĩnh Thành đã nghiên cứu tại bệnh viện Từ Dũ trên đối tượng thai 35-37 tuần về “Tỷ lệ nhiễm GBS từ mẹ sang con và các yếu tố liên quan” 18,1% các thai thụ tham gia nghiên cứu nhiễm GBS Tác giả cũng nhận thấy có liên quan giữa nơi ở của thai phụ và tình trạng nhiễm GBS Ở nghiên cứu này tác giả có đề cập đến hiệu quả kháng sinh dự phòng nhưng chưa phân tích cụ thể (10)
Tác giả Trần Quang Hanh đã nghiên cứu “Thực trạng nhiễm liên cầu khuẩn nhóm
B ở phụ nữ có thai và hiệu quả điều trị bằng kháng sinh trong chuyển dạ phòng lây truyền sang con tại bệnh viện Sản Nhi Nghệ An (2018 - 2019)” năm 2020 cho kết quả tỷ lệ nhiễm GBS là 36,3% Nghiên cứu này cho thấy mối tương quan giữa nơi ở, số lần sinh con, thói quen của thai phụ với tình trạng nhiễm GBS 100% các chủng GBS được xác định nhạy với các kháng sinh: penicillin, cephalosphorin, carbapenem, vacomycin Một số kháng sinh khác có tỷ lệ nhạy thấp hơn: levofloxacin nhạy 76,8% (53/60), trung gian 1,5% (1/69), kháng 21,7% (15/69); moxifloxacin nhạy: 79,4% (55/69), trung gian 0,0% (0/69), kháng 20,3% (14/69) (12)
1.5.2 Các yếu tố liên quan của thai phụ
1.5.2.1 Tuc yếu tố liên q
Chưa có sự thống nhất trong sự liên quan giữ tuổi thai phụ và khả năng mắc GBS giữa các nghiên cứu Theo nghiên cứu của Mabashir Ahmah Khan ở Ả Rập Xê Út, cho thấy tỷ lệ nhiễm GBS có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi: cao nhất là 27,4% thuộc nhóm tuổi ≥40 và không nhiễm GBS ở nhóm tuổi <20 tuổi, 15,2% thuộc nhóm tuổi 20- 24 và 14,3% từ 25- 29 tuổi Ở các nhóm tuổi 30- 34 và 35- 40 tuổi, tỷ lệ nhiễm GBS tương tự cũng được quan sát thấy, tương ứng là 9,7% và 9,5% phụ nữ mang thai (43) Tuy nhiên,
tỷ lệ nhiễm GBS là không có sự khác biệt theo các nhóm tuổi theo nghiên cứu của Trần Quang Hanh năm 2018-2019 tại Nghệ An (12)
1.5.2.2 Nơi sinh só s
Tỷ lệ nhiễm GBS của các thai phụ ở các nước đang phát triển là 17,8% và của Châu Á- Thái Bình Dương là 19% (44) Theo 2 nghiên cứu của tác giả Đỗ Khoa Nam và
HUPH
Trang 34Nguyễn Thị Vĩnh Thành tại Bệnh viện Từ Dũ cho rằng có mối liên hệ giữa tỷ lệ nhiễm GBS và nơi sinh sống, cụ thể là nhóm thai phụ ở nội thành có tỷ lệ nhiễm GBS cao hơn
so với tỷ lệ nhiễm GBS của nhóm thai phụ ở ngoại thành (10, 11) Tuy nhiên, theo Mavenyengwa và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại Zimbabwe vào năm 2010 cho thấy những thai phụ ở nông thôn có tỷ lệ nhiễm GBS cao hơn so với những thai phụ sống ở thành thị (45) Còn kết quả nghiên cứu của Valkenburg và cộng sự thực hiện tại Hà Lan thì không thấy mối liên quan giữa nơi ở và nhiễm GBS ở thai phụ (46) Như vậy, qua các nghiên cứu trên chưa có sự thống nhất mối liên quan giữa nhiễm GBS ở phụ nữ mang thai với nơi cư trú
1.5.2.3 Nghl nghi nhiễm GBS của
Có sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm GBS của các thai phụ có các nhóm nghề khác nhau trong nghiên cứu của Abdul Namugongo và cộng sự tại Uganda, trong đó lao động tự do
có tỷ lệ nhiễm GBS cao nhất (47)
1.5.2.4 Tu sự khác nhau về tỷ
Mabashir Ahmah Khan nghiên cứu thấy phụ nữ mang thai có tuổi thai > 42 tuần được phát hiện có tỷ lệ nhiễm GBS cao hơn tỷ lệ nhiễm GBS ở những phụ nữ có tuổi thai
từ 41- 42 tuần, tiếp đó là 39- 40 tuần và 35- 36 tuần Tỷ lệ dương tính GBS tương đối thấp được tìm thấy ở những thai phụ có tuổi thai từ 37- 38 tuần (43)
1.5.2.5 Sabashir Ahmah
Cũng theo nghiên cứu Mabashir Ahmah Khan thấy tỉ lệ nhiễm GBS cao nhất ở những thai phụ sinh con trên 5 lần và không phát hiện trường hợp nào bị nhiễm GBS ở những thai phụ sinh con một lần (43) Nhưng theo kết quả nghiên cứu của Seoud và CS (2010), không thấy mối liên quan giữa số lần mang thai với nhiễm GBS ở âm đạo- trực tràng và kết quả của Valkenburg tại Hà Lan cũng tương tự (46) Như vậy, nhiễm GBS ở thai phụ có liên quan với số lần sinh hay không chưa được thống nhất và vẫn còn là vấn
đề đang tranh cãi trong một số nghiên cứu khác
1.5.2.6 Bing theo nghiên cứu
Theo nghiên cứu của Trần Quang Hanh, thai phụ có biểu hiện viêm âm đạo có tỷ
lệ nhiễm GBS thấp hơn với với các thai phụ không có triệu chứng (12)
HUPH
Trang 351.6 Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City
BVĐKQTVMTC là Bệnh viện đầu tiên trong chuỗi Hệ thống Y tế Vinmec được đưa vào vận hành trong tổng số 07 bệnh viện trên cả nước Thành lập từ 1/2012, BVĐKQTVMTC đã thực hiện sứ mệnh chăm sóc sức khỏe cho người bệnh cả trong nước
và quốc tế đã hơn 10 năm BVĐKQTVMTC là bệnh viện đa khoa đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng chỉ JCI - Chứng chỉ uy tín hàng đầu thế giới về thẩm định chất lượng dịch vụ
y tế, được công nhận trên 90 quốc gia, "Tiêu chuẩn vàng” tại các bệnh viện danh tiếng toàn cầu
Khoa sản là một trong các chuyên khoa trọng điểm của BVĐKQTVMTC Có chức năng theo dõi thai kỳ, khám và điều trị cho phụ nữ mang thai với các bệnh lý đi kèm của thai nhi và phần phụ của thai Tại đây có cung cấp các gói khám theo dõi thai kỳ từ các tuần thai 25 đến lúc sinh Sản phụ được khám và theo dõi sức khỏe trong suốt quá trình mang thai Sàng lọc GBS là chỉ định thường quy đối với tất cả phụ nữ đăng ký sinh tại đây Thông thường xét nghiệm Vi khuẩn nuôi cấy, định danh và kháng thuốc với bệnh phẩm dịch âm đạo sẽ được thực hiện vào tuần thai từ 35-37 theo khuyến cáo của CDC Hòa Kỳ, tuy nhiên với các trường hợp sinh non sẽ được chỉ định theo tình hình thực tế Các mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo của thai phụ sẽ được thực hiện xét nghiệm theo quy trình “Quy trình xét nghiệm vi khuẩn, vi nấm nuôi cấy hệ thống tự động bệnh phẩm dịch sinh dục phụ nữ có thai“ (phụ lục 1) tại khoa xét nghiệm BVĐKQTVMTC trên hệ thống máy định danh và kháng sinh đồ hệ thống tự động kết hợp với các kỹ thuật thủ công
HUPH
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hồ sơ bệnh án của thai phụ tuần 35-37 đến khám tại BVĐKQTVMTC từ năm
2020 đến năm 2021 được chỉ định xét nghiệm vi khuẩn nuôi cấy, định danh và kháng thuốc hệ thống tự động trên bệnh phẩm dịch âm đạo
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Toàn bộ hồ sơ bệnh án của thai phụ đến khám tại BVĐKQTVMTC có chỉ
định làm xét nghiệm vi khuẩn nuôi cấy, định danh và kháng thuốc tự động trên mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo
- Thai phụ có tuổi thai 35-37 tuần tại thời điểm làm xét nghiệm vi khuẩn nuôi
cấy, định danh và kháng thuốc tự động trên mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo Tiêu chuẩn loại trừ:
- Hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin nghiên cứu, bao gồm: thông tin cá
nhân, kết quả xét nghiệm nuôi cấy và kết quả kháng sinh đồ (nếu dương tính với GBS)
2.2 Thời gian thu thập số liệu và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thu thập số liệu: Số liệu được hồi cứu ở giai đoạn từ tháng 1/2020
đến tháng 12/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa xét nghiệm, bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec
Times City, 458 Minh Khai- Hai Bà Trưng-Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu thứ cấp
- Sơ đồ nghiên cứu:
HUPH
Trang 372.4 Cỡ mẫu
Được tính theo công thức:
𝑛 =
𝑍1−𝛼2
2 𝑃(1 − 𝑃)
𝑑2Trong đó:
n là cỡ mẫu mong muốn
P ước tính là 19,1% (theo nghiên cứu của Phan Thị Kim Dung năm 2013 tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương trên 230 thai phụ, tỷ lệ nhiễm GBS là 19,1%)
d: độ chính xác mong muốn là 0,011 (1,1%)
Z(1-α/2): hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% là 1,96
HUPH
Trang 38Từ công thức trên ước tính được cỡ mẫu là 4905 thai phụ
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ: chọn mẫu toàn bộ hồ sơ bệnh án đủ tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu: ước tính 5020 hồ sơ
Bệnh án trích xuất từ phần mềm quản lý bệnh nhân của BVĐKQTVMTC (OH)
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp theo các bước sau:
Bước 1: Trích xuất bệnh án của tất cả sản phụ đến khám tại BVĐKQTVMTC từ phần mềm OH
Bước 2: Lựa chọn các hồ sơ đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu Bước 3: Điền các thông tin phục vụ nghiên cứu vào “Phiếu thu thập thông tin“ (phụ lục 3)
Bước 4: Nhập số liệu bằng phần mềm excel
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu được thu thập bằng phiếu thu thập số liệu (phụ lục 3) và nhập liệu bằng
phần mềm excel
- Số liệu được làm sạch phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0: Mô tả thực trạng
nhiễm khuẩn và kiểm định mối liên quan giữa nhiễm khuẩn và các yếu tố liên quan bằng kiểm định Chi bình phương cho nhiều tỷ lệ, các kết luận phiên giải về mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi giá trị p <0,05
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện thông qua sự đồng ý của Hội đồng đạo đức trường Đại
học Y tế Công cộng theo quyết định số 315/2022/YTCC-HD3 ngày 06/07/2022
- Số liệu được lấy khi có sự đồng ý của ban lãnh đạo BVĐKQTVMTC và ban lãnh
đạo khoa Xét nghiệm
- Tất cả số liệu trong nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn và chỉ phục vụ mục đích
nghiên cứu
HUPH
Trang 392.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Hạn chế, sai số:
- Nghiên cứu viên chưa có kinh nghiệm trong nghiên cứu có thể nhập sai dữ liệu
- Sai số trong xét nghiệm do thực hiện thủ công
2.9.2 Cách khắc phục:
- Nhập lại ngẫu nhiên 10% số liệu để kiểm tra sai số
- Kỹ thuật viên làm xét nghiệm được phân công được đào tạo và đánh giá hàng năm về kỹ thuật nuôi cấy, định danh và kháng sinh đồ
HUPH
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tỷ lệ nhiễm GBS trong thai kỳ và một số yếu tố liên quan
3.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu Số lượng Tỷ lệ
Các thai phụ có tuổi trung bình là 30,43± 4,67 và chủ yếu tập trung ở hai nhóm tuổi 25-<30 chiếm 38,59% và 30-<35 chiếm 34,4% Có 98,69% các thai phụ đến từ thành thị và 74,12% thai phụ là cán bộ viên chức
HUPH