CHÂU THỊ KIM PHỤNG THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC TRƯỚC, TRONG VÀ NGAY SAU ĐẺ CỦA BÀ MẸ NGƯỜI DÂN TỘC Ê ĐÊ TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- ĐĂK LẮK NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Trang 1CHÂU THỊ KIM PHỤNG
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC TRƯỚC, TRONG
VÀ NGAY SAU ĐẺ CỦA BÀ MẸ NGƯỜI DÂN TỘC Ê ĐÊ TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- ĐĂK LẮK NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN NƠI SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 2CHÂU THỊ KIM PHỤNG
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC TRƯỚC, TRONG
VÀ NGAY SAU ĐẺ CỦA BÀ MẸ NGƯỜI DÂN TỘC Ê ĐÊ TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- ĐĂK LẮK NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN NƠI SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS Đinh Thị Phương Hòa
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 31.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ - trẻ sơ sinh trước, trong và
1.2.5 Dịch vụ chăm sóc trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh 111.2.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh của bà mẹ 13
HUPH
Trang 42.4.2 Cỡ mẫu của nghiên cứu định tính 20
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính 232.7 Biến số nghiên cứu định lượng, chủ đề nghiên cứu định tính 24
3.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và ngay sau sinh của bà mẹ
Trang 51.1.Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và ngay sau đẻ 58
HUPH
Trang 6(Chồng, ba mẹ chồng/ba mẹ đẻ của bà mẹ dân tộc Ê Đê sinh con tại CSYT) 85
Trang 7TVSS Tử vong sơ sinh
TVM-TVSS Tử vong mẹ- Tử vong sơ sinh
UNICEF The United Nations Children's Fund: Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc UNFPA United Nations Population Fund: Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc
VH-XH Văn hóa- Xã hội
WHO World Health Organization: Tổ chức Y tế thế giới
YSSN Y sỹ sản nhi
HUPH
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.4 Số lần bà mẹ sinh con và số con hiện có (n = 209) 30Bảng 3.5 Những nơi đã từng sinh con và tiền sử sinh con trước đây của các bà mẹ
Bảng 3 9 Người đỡ đẻ cho bà mẹ khi sinh con tại nhà (n=18) 33
Bảng 3 11.Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh tại cơ sở y tế và tại nhà (n=209) 36
Bảng 3 19 Lý do bà mẹ lựa chọn sử dụng dịch vụ tại cơ sở y tế (n=191) 43Bảng 3 20 Lý do bà mẹ không lựa chọn sinh con tại CSYT (n=18) 44Bảng 3.21.Yếu tố chiphí cho dịch vụ CSSKBM tại cơ sở y tế (n=191) 45Bảng 3.22 Sự hài lòng của bà mẹ khi sử dụng dịch vụ tại CSYT (n=191) 46
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Chăm sóc phụ nữ trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ đã được khảng định là bảo đảm sức khoẻ cho bà me, an toàn cho cuộc sinh và cho trẻ ra đời với một khởi đầu tốt đẹp Tuy nhiên, nhiều bà mẹ -trẻ sơ sinh (BM-TSS) người dân tộc Ê
Đê chưa được nhận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc này Để có cơ sở can thiệp cải thiện chăm sóc sức khoẻ cho BM-TSS, nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ của bà mẹ người dân tộc Ê đê trước, trong và ngay sau đẻ và
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh của bà mẹ người dân tộc Ê
đê ở 4 xã thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk năm 2021
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên đối tượng 209 BM người dân tộc Ê Đê có con < 1 tuổi tại thời điểm điều tra Kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc phỏng vấn trực tiếp BM Thảo luận nhóm và Phỏng vấn sâu được thực hiện với một số đối tượng liên quan trực tiếp đến chăm sóc BM-TSS Thời gian thu thập số liệu từ tháng 7 - 11 năm 2021
Kết quả: Tỷ lệ BM sử dụng dịch vụ khám thai đủ 3 lần trong 3 thời kỳ là 20,1%;
4 lần là 27,8 % Tỷ lệ BM khám thai sớm trong 3 tháng đầu là 20,1% Có 18/209 BM (8,6%) sinh con tại nhà Đối với những trường hơp đẻ tại CSYT, tỷ lệ TSS nhận được các chăm sóc thiết yếu (CSTY) như được nằm da kề da với mẹ ngay sau khi sinh, bú mẹ sớm trong vòng giờ đầu sau sinh và tiêm phòng Viêm gan B là 92,2%, 92,2% và 94,2% Tất cả (100%) trẻ sinh tại CSYT đều được tiêm phòng Vitamin K1 Những trẻ sinh tại nhà nhận được rất ít các dịch vụ này: chỉ 5,5% số trẻ được nằm da kề da với mẹ, 27,7% được bú mẹ sớm và không có trẻ nào được tiêm phòng Vitamin K1 Tỷ lệ BM được chăm sóc sau sinh là 51,2% Hầu hết (91,4%) các BM chọn sinh con tại CSYT với các
lý do chính là được tư vấn trong thời kỳ mang thai, tin tưởng vào dịch vụ chăm sóc bảo đảm an toàn cho mẹ và con Yếu tố liên quan đến lựa chọn sinh tại nhà của các BM là: kinh tế nghèo, không khám thai, đã sinh con từ 3 lần trở lên (p<0,05) Một số yếu tố
HUPH
Trang 10khác như bà mẹ xấu hổ, ngại tiếp xúc với người lạ khi sinh con cũng liên quan đến lựa chọn sinh con tại nhà
Khuyến nghị: Mạng lưới y tế xã, phường cần tăng cường truyền thông về nội dung làm mẹ an toàn đến các nhóm phụ nữ chuẩn bị mang thai, sinh đẻ và vận động họ
sử dụng các dịch vụ chăm sóc trong thời gian mang thai và lựa chọn sinh con tại CSYT Đối với các cuộc đẻ tại nhà: cần được nhân viên y tế xã, phường hỗ trợ cung cấp dịch vụ chăm sóc sau sinh tại nhà Đối với các CSYT có cung cấp dịch vụ đỡ đẻ, cần duy trì và thúc đẩy thực hiện các chăm sóc thiết yếu cho BM-TSS theo đúng khuyến nghị của Bộ
Y tế
HUPH
Trang 11Quá trình thai nghén, sinh đẻ là một hiện tượng sinh lý bình thường của người phụ nữ và phần lớn các trường hợp mang thai, sinh đẻ diễn ra một cách suôn sẻ Tuy nhiên, vẫn còn có một số phụ nữ trải qua các giai đoạn này không được thuận lợi Theo báo cáo năm 2019 WHO ước tính, trên thế giới khoảng 810 phụ nữ tử vong mỗi ngày
do các nguyên nhân liên quan đến việc mang thai và sinh đẻ và 99 % các ca tử vong xảy ra ở các nước thu nhập trung bình và thấp [35]
Việc sử dụng dịch vụ y tế là rất cần thiết để hỗ trợ cho thai phụ và thai nhi tránh được một số nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe [12] Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng tất cả phụ nữ mang thai cần được khám thai ít nhất 04 lần trước khi sinh [32]
Ở Việt Nam, tỉ lệ tử vong mẹ của Việt Nam đã giảm đáng kể từ 165/100.000 ca
đẻ sống năm 2002 xuống còn 46/100000 ca đẻ sống vào năm 2019 [25] Cùng với xu hướng giảm về tử vong mẹ, tỷ lệ tử vong sơ sinh cũng giảm rõ rệt Số ước tính mới nhất của WHO năm 2019 là 10,5‰, thấp hơn tỷ lệ ước tính chung cho các nước khu vực Đông Nam Á (13‰) và đã giảm được 9% so với năm 2014 [42]
Thách thức lớn nhất trong chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh là sự khác biệt về các vùng miền Tử vong mẹ ở 225 huyện dân tộc thiểu số miền núi và huyện vùng sâu vùng xa nhất vẫn ở mức 104/100.000 ca đẻ sống[39] Tỷ lệ tử vong mẹ trong các nhóm dân tộc thiểu số cao hơn 04 lần so với nhóm dân tộc Kinh [39] Tử vong sơ sinh ở một
số huyện vùng Tây nguyên như Tumarong, Cư Kuin cao gấp 2 lần so với số liệu ước tính chung trong toàn quốc [22] Một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến tình trạng này là sự khác biệt đáng kể trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm thu nhập vẫn tồn tại [9]
Để giải quyết những bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, bà mẹ, trẻ
sơ sinh và trẻ em giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc, Chính phủ Việt Nam đã
“cam kết nâng cao năng lực của hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các vùng dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa” Chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ trước, trong và ngay sau khi sinh là những thực hành cơ bản đảm bảo an toàn cho cuộc đẻ Đây là những chăm sóc quan trọng nhất trong các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao sức khoẻ, giảm tử vong bà mẹ, trẻ sơ sinh ở mọi vùng
HUPH
Trang 12miền trong tiến trình thực hiện đạt mục tiêu phát triển bền vững hậu Thiên niên kỷ
số dân số trên địa bàn (10)
Xã Cư Êbua, Hoà Khánh, Ea Tu và Ea Kao nằm ở vùng ven thành phố cách trung tâm thành phố từ 15-20km, trực thuộc thành phố có tỷ lệ người dân tộc cao nhất với đa số là người dân tộc Ê đê là người dân tộc bản địa Trong tổng số phụ nữ trên15 tuổi trở lên 28.185, số phụ nữ dân tộc Ê đê 15-49 chiếm tới 6.165 người (21%)[17, 38].Theo số liệu báo cáo 12 tháng năm 2020, tại địa bàn 4 xã Cư Êbua, Hoà Khánh, Ea Tu và Ea Kao có 209 trường hợp bà mẹ người Ê đê sinh con Đã có 17 trường hợp sinh con tại nhà và đẻ rơi, 02 trường hợp uốn ván sơ sinh, 02 trường hợp đã tử vong do uốn ván rốn Tỷ lệ bà mẹ dân tộc thiểu số khám thai 4 lần 3 thời kỳ là 30%, trong
đó khám thai lần đầu trước 16 tuần là: 20% ; Tỷ lệ tiêm phòng uốn ván ở phụ nữ đẻ người
Ê đê 75%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh dân tộc thiểu số được chăm sóc thiết yếu: 45% [17, 37, 38]
Để có cơ sở khoa họcxây dựng các chương trình can thiệp nhằm cải thiện tình trạng chăm sóc sức khoẻ các bà mẹ người dân tộc Ê đê trong thời gian mang
thai và sinh đẻ trên địa bàn thành phố, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và ngay sau đẻ của bà mẹ người dân tộc Ê Đê tại thành phố Buôn Ma Thuột- Đăk Lắk năm 2021 và một số yếu tố ảnh
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản trước, trong
và ngay sau đẻ của bà mẹ người dân tộc Ê đê tại 4 xã thuộc thành phố Buôn Ma
Thuột- Đăk Lắk năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh của bà mẹ người dân tộc Ê đê tại 4 xã thuộc thành phố Buôn Ma Thuột- Đăk Lắk năm 2021
HUPH
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Sử dụng dịch vụ y tế: Sử dụng dịch vụ y tế là nhu cầu của người dân nhằm
bảo vệ và nâng cao sức khỏe của họ Sử dụng dịch vụ y tế có thể cho mục đích phòng bệnh hoặc điều trị bệnh hoặc sử dụng các dịch vụ y tế khác tại cơ sở y tế công lập hoặc y tế tư nhân tại các tuyến cơ sở y tế [6]
Dịch vụ chăm sóc trước sinh: là quá trình theo dõi, chăm sóc bà mẹ tại cơ sở
y tế (CSYT) được thực hiện bởi nhân viên Y tế (NVYT) đã qua đào tạo, từ khi bắt đầu có thai cho đến trước khi chuyển dạ Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng
“tất cả phụ nữ mang thai cần được khám thai ít nhất 04 lần trước khi sinh, với lần khám đầu tiên diễn ra trong 03 tháng đầu mang thai (<16 tuần tuổi) Các đợt khám thai giúp cho việc lập kế hoạch trước khi sinh và sinh con an toàn với sự hỗ trợ của nhân viên y tế có chuyên môn, vì nếu không đi khám thai những phụ nữ có thai này
có thể sẽ không tìm kiếm dịch vụ đỡ đẻ của người có chuyên môn trong khi sinh Thông qua việc PNCT sử dụng dịch vụ khám thai, các nhân viên y tế (NVYT) có thể khuyến khích và thúc đẩy những PNCT thực hiện các hành vi và thói quen tốt khác như khám sức khỏe sau khi sinh, tiêm chủng, thực hành cho con bú đúng cách
và sử dụng dịch vụ và các biện pháp KHHGĐ”[2, 6]
Ba nội dung: “Đo huyết áp, xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm máu là các chỉ
số cơ bản nhất trong CSTS.Phụ nữ có nguy cơ mắc các tai biến sản khoa cũng cần được phát hiện thông qua dịch vụ CSTS, và các NVYT cần tư vấn cho phụ nữ và bạn tình của họ về các yếu tố nguy cơ trong thời kỳ mang thai, lúc chuyển dạ và lúc sinh”
Dịch vụ chăm sóc trong và ngay sau sinh: Là dịch vụ Y tế được thực hiện tại
cơ sở Y tế, chăm sóc BM-TSS từ lúc chuyển dạ sinh đến hết 24 giờ đầu sau sinh tức
là vào ngày thứ nhất sau sinh, bao gồm các chăm sóc thiết yếu (CSTY) cơ bản và các chăm sóc thường quy tại một cuộc đẻ cho BM-TSS theo qui định, nhằm phát hiện những trường hợp không được bình thường để xử trí kịp thời, đồng thời hướng dẫn bà mẹ biết cách chăm sóc bản thân và cho trẻ được khỏe mạnh [27, 29]
HUPH
Trang 15- Chăm sóc bà mẹ:Chăm sóc cho bà mẹ trong và ngay sau sinh gồm các CSTY cơ bản tại CSYT như kẹp cắt dây rốn muộn có kiểm soát; tiêm thuốc Oxytocin gây co hồi tử cung; xoa đáy tử cung 15 phút/lần sau liên tục trong 2 giờ đầu sau khi nhau thai sổ ở giai đoạn 3, cho trẻ bú ngay sau sinh Để bảo đảm có được các chăm sóc thiết yếu, bà mẹ sinh con cần có sự tham gia hỗ trợ của CBYT
và nơi sinh con có đầy đủ phương tiện thiết yếu Sau những chăm sóc thiết yếu sớm,
bà mẹ sẽ được cung cấp cách dịch vụ thường qui như uống Vitamin A ngay, đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng và theo dõi các diễn biến bất thường sau đẻ[27, 41]
- Chăm sóc thiết yếu TSS: gồm những CSTY cơ bản và những chăm sóc thường quy cho TSS ngay sau khi trẻ vừa lọt lòng mẹ trong ngày đầu sau sinh, nhằm bảo đảm cho TSS thích nghi đáp ứng với môi trường sống bên ngoài dạ con Các bước chăm sóc thiết yếu cho TSSngay sau sinh bao gồm gồm là lau khô; Đặt trẻ trên bụng/ngực mẹ tiếp xúc da với da và kéo dài ít nhất là 90 phút; Cắt rốn chậm (ngay sau khi động mạch rốn ngừng đập); Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn sớm trong 1 giờ đầu ngay sau sinh [27, 41] Tiếp theo là nhữngchăm sóc thường quy bao gồm: Chăm sóc rốn (để rốn hở, không bôi đắp bất cứ thứ gì lên mặt rốn), cân; đo; nhỏ thuốc mắt cho trẻ; thăm khám toàn thân; tiêm vitamin K1đề phòng xuất huyết não
và tiêm vắc xin phòngviêm gan siêu vi B [27, 29]
Dịch vụ chăm sóc 42 ngày sau sinh: Là dịch vụ y tế được thực hiện bởi cán
bộ y tế, thăm khám tại nhà hoặc tại CSYT cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong thời kỳ sau đẻ từ khi xuất viện cho đến khi kết thúc thời kỳ hậu sản 42 ngày sau đẻ.[27]
Đẻ tại cơ sở y tế: là những trường hợp bà mẹ mang thai đến tại CSYT nhà
nước hay tư nhân để sinh con dưới sự theo dõi và chăm sóc của CBYT có tay nghề
đỡ đẻ[27]
Người đỡ đẻ có kỹ năng: là CBYT gồm hộ sinh (HS), bác sĩ (BS), Y sĩ sản
nhi (YSSN), là những người được tập huấn thực hành thành thạo một cách bài bản
về kỹ năng đỡ đẻ và CSTY theo qui trình cơ bản Để giúp chẩn đoán và xử trí, tiên lượng tất cả những trường hợp mang thai, sinh con trong thời gian mang thai, quá trình chuyển dạ và ngay sau sinh một cách chuẩn xác, chuyển tuyến kịp thời các trường hợp biến chứng ở BM-TSS[27, 29]
HUPH
Trang 16Cô đỡ thôn buôn:là đối tượng phụ nữ người DTTS sinh sống tại các buôn, đã
được tham gia học tập ngắn hạn hay liên tục trong 6 tháng về những kỹ năng truyền thông trực tiếp làm mẹ an toàn (LMAT); thành thạo biết cách đỡ đẻ sạch một cách bài bản, tham gia hỗ trợ đỡ đẻ cho các trường hợp sinh tại nhà xảy ra ngoài ý muốn; biết cách chăm sóc BM-TSS trong và ngay sau sinh; tư vấn vận động bà mẹ mang
thai sinh con tại CSYT[35]
Tư vấn chăm sóc trước, trong và ngay sau sinh:trước khi thực hiện quy trình
chăm sóc thiết yếu,đỡ đẻ cho bà mẹ hay thực hiện thủ thuật cho BM-TSS, gia đình
và bà mẹ đã được CBYT tư vấn hướng dẫn về lợi ích của việc chăm sóc sớm cho BM-TSS, để họ an tâm hợp tác, giúp họ biết cách chăm sóc bản thân và trẻ để phát hiện sớm kịp thời nguy cơ tai biến, nhằm hạn chế những hậu quả của nó đem lại là TVM-TVSS ngay sau sinh[27, 28]
Dịch vụ sẵn có về CSSKBM-TSS:“Là nhân sự bao gồm nhân viên đã được
tập huấn chuyên sâu về sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em ví dụ như cấp cứu sản khoa; Thuốc sử dụng trong CSTS gồm sắt; axít folic; vắc-xin chống uốn ván; Thuốc
sử dụng trong cấp cứu sản khoa theo Quyết định 5231 của Bộ Y tế Đào tạo bao gồm đào tạo về chăm sóc trẻ sơ sinh; CSSS; chăm sóc cấp cứu sản khoa; KHHGĐ; SKSS vị thành niên; và điều trị các bệnh LTQĐTD” (16)
1.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ - trẻ sơ sinh trước, trong và ngay sau sinh
1.2.1.Trên thế giới
Chương trình “Làm mẹ An toàn và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, trong các thập kỷ gần đây,và các can thiệp về cải thiện SKSS, sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em ngày càng được ưu tiên thực hiện ở các quốc gia đang phát triển Trên phạm vi toàn cầu, nhiều tiến bộ đã đạt được, đặc biệt là tiến bộ
về giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em (6) Đánh giá kết quả thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ gia đoạn 1990 – 2015 cho thấy so năm 1990, tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em đã giảm 45% và 50% vào năm 2015[15] Tuy nhiên, các kết quả đạt được không đồng đều giữa các nơi và vấn về bình đẳng, công bằng trong SKSS, bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em giữa các quốc gia trên thế giới và trong cùng một quốc gia vẫn còn tồn tại
HUPH
Trang 17Trong cùng một quốc gia, vẫn còn có sự bất bình đẳng về khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em giữa các nhóm dân cư có mức độ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) cao và thấp, giữa các nhóm dân tộc thiểu số và đa số,
và những người sống ở nông thôn và thành thị [15, 35]
Thế giới, theo WHO năm 2019,“ khoảng 810 phụ nữ tử vong mỗi ngày Có đến 99% các ca tử vong xảy ra ở các nước thu nhập trung bình và thấp[35] Tỷ lệ tử vong và bệnh tật của mẹ cao nhất trong các nhóm dân nghèo ở khu vực cận Saha-ra Châu Phi và các quốc gia Nam Á Tỷ lệ tử vong mẹ ở cả 2 khu vực này chiếm hơn 85% tổng số ca tử vong mẹ trên toàn thế giới [15] Trong năm 2009, ước tính trên toàn thế giới có khoảng 2,6 triệu ca thai chết lưu và khoảng 3/4 trong số đó xảy ra ở Nam Á và khu vưc cận Sahara châu Phi [1] Điều cần nhấn mạnh là phần lớn các trường hợp tử vong này có thể phòng tránh được nếu phụ nữ tiếp cận được các dịch
vụ y tế chất lượng cao trong thời gian họ mang thai và sinh con Nhiều nghiên cứu
đã khảng định là hầu hết các hệ thống y tế đều mang lại lợi ích cho nhóm phụ nữ có
ưu thế trong xã hội hơn những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, tuy nhiên ngay cả khi các dịch vụ CSSKBM có đầy đủ về mặt kỹ thuật và có thể tiếp cận được thì những dịch vụ này vẫn không được sử dụng tối đa nếu không phù hợp hoặc không phải là mong muốn của bệnh nhân [18] Như vậy, các thách thức liên quan đến việc tiếp cận công bằng các dịch vụ CSSKBM có tính chất hai mặt: thách thức từ phía cung cấp dịch vụ và thách thức từ có nhu cầu nhận dịch [14] Do đó, chúng ta cần nghiên cứu và tìm hiểu thêm những yếu tố ảnh hưởng cụ thể trong việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong các cộng đồng dân cư thiệt thòi để đảm bảo tiếp cận công bằng cho tất cả mọi người
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam có 75% dân số sống ở khu vực nông thôn và khoảng 19% dân số
là người dân tộc thiểu số (DTTS)[20] Hiện vẫn còn sự khác biệt về tỷ lệ biết chữ giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng có mức độ phát triển KTXH khác nhau, nam và nữ, và giữa các nhóm dân tộc, đặc biệt là ở dân tộc H’mong [35] Việt Nam
là quê hương của 53 nhóm DTTS và hầu hết các dân tộc này đều sống ở những vùng núi, vùng sâu vùng xa với sự phát triển KTXH hạn chế và điều kiện giao
HUPH
Trang 18thông khó khăn Do đó, việc đảm bảo tất cả phụ nữ có thể tiếp cận bình đẳng tới các dịch vụ y tế chất lượng trong quá trình mang thai và sinh con là một thách thức rất lớn Các trung tâm y tế chất lượng cao thường được đặt tại các khu vực đô thị Các yếu tố về phía cung cấp dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích
sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSKBM Các dịch vụ y tế có chất lượng kém, chi phí quá cao, không thích hợp với bối cảnh địa phương hoặc không đáp ứng nhu cầu cụ thể của người dân địa phương thường dẫn tới tình trạng người dân ít sử dụng Đối với những phụ nữ DTTS có mong muốn tiếp cận hệ thống y tế côngthì e ngại bởi với các đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng và tập quán truyền thống của các DTTS Chính vì vậy đã có nhiều chính sách, chiến lược nhằm chú ý ưu tiên nhiều can thiệp cho các dân tộc miền núi Năm 2012, Bộ Y tế đã phê duyệt “Kế hoạch Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, ưu tiên Làm mẹ An toàn và Chăm sóc Trẻ Sơ sinh giai đoạn 2011-2015”, ưu tiên tập trung vào các nhóm dân cư và các khu vực chưa được tiếp cận dịch vụ [9] Để giải quyết những bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em (CSSKSS/ SKBM/TSS) giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc, Chính phủ Việt Nam đã
“cam kết nâng cao năng lực của hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các vùng DTTS và vùng sâu vùng xa” Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy sự khác biệt đáng kể trong các kết quả và các chỉ số tiếp cận các dịch vụ CSSKSS/SKBM/TSS/TE giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm thu nhập vẫn tồn tại Mặc dù tỉ số tử vong mẹ của Việt Nam đã giảm đáng kể từ 165/100.000 ca đẻ sống năm 2002 xuống còn 69/100.000 ca đẻ sống vào năm 2010 [3] nhưng tỷ lệ này ở 225 huyện DTTS miền núi và huyện xa xôi nhất vẫn ở mức 104/100.000 ca đẻ sống [12] Tỷ lệ tử vong mẹ trong các nhóm DTTS cao hơn 04 lần so với nhóm dân tộc Kinh [26] Tỷ lệ phụ nữ DTTS sinh con tại nhà ở các tỉnh miền núi phía Bắc rất cao, chiếm khoảng 40- 60% tổng số các ca đẻ, trong khi hầu hết các phụ nữ người Kinh và phụ nữ sống ở vùng đồng bằng đều sinh đẻ tại các cơ
sở y tế [26] Kết quả “điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS) năm 2006” cho thấy các yếu tố như dân tộc, mức sống hộ gia đình và giáo dục đều ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc trước sinh và trong khi sinh do
HUPH
Trang 19những nhân viên y tế có tay nghề đỡ [32] Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau, tuy nhiên, yếu tố dân tộc có ảnh hưởng lớn hơn hai yếu tố mức sống hộ gia đình và giáo dục So với số liệu quốc gia, phụ nữ DTTS thuộc các hộ nghèo có nguy
cơ không tiếp cận tới được các dịch vụ chăm sóc trước sinh cao hơn ba lần và không được đỡ đẻ bởi nhân viên y tế có chuyên môn trong lúc sinh cao hơn sáu lần Các kết quả này cho thấy dân tộc là một yếu tố xã hội quan trọng ảnh hưởng tới việc
sử dụng các dịch vụ CSSKBM tại Việt Nam, phụ nữ DTTS là một nhóm rất thiệt thòi Số liệu hiện có cũng cho thấy rằng phụ nữ của nhiều cộng đồng DTTS và phụ
nữ sống ở vùng sâu vùng xa sử dụng các dịch vụ CSSKBM còn thấp [32]
1.2.3 Dịch vụ chăm sóc bà mẹ trước sinh
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo rằng“ tất cả phụ nữ mang thai cần được khám thai ít nhất 04 lần trước khi sinh, với lần khám đầu tiên diễn ra trong 03 tháng đầu mang thai (<16 tuần tuổi thai).Thông qua việc PNCT sử dụng dịch vụ khám thai, các nhân viên y tế (NVYT) có thể khuyến khích và vận động những PNCT thực hiện các hành vi và thói quen tốt khác như khám sức khỏe sau khi sinh, tiêm chủng, thực hành cho con bú đúng cách và sử dụng dịch vụ và các biện pháp KHHGĐ [30] Ngoài việc quản lý tiền sản giật và tiêm phòng ít nhất hai liều uốn ván trong thời gian mang thai, phụ nữ khi đi khám trước sinh ít nhất cần được đo huyết áp, phân tích nước tiểu, máu để xác định bệnh thiếu máu và các nhiễm trùng khác”[34] Phụ nữ có nguy cơ mắc các tai biến sản khoa cũng cần được phát hiện thông qua dịch vụ CSTS, và các NVYT cần tư vấn cho phụ nữ và bạn tình của họ về các yếu tố nguy cơ trong thời kỳ mang thai, lúc chuyển dạ và lúc sinh Ở nước ta tỷ
lệ phụ nữ có thai được khám thai ít nhất 1 lần trước khi sinh là 96%, và có su hướng bất bình đẵng giữa các nhóm dân tộc và vùng miền, phụ nữ DTTS và phụ nữ nông thôn sử dụng dịch vụ ít hơn.Theo nghiên cứu năm 2017 của Trung tâm nghiên cứu Trường Đại học Toronto, Canada và Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong tại Hà Nội thực hiện về “Những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và
kế hoạch hóa gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam” được Quĩ Dân số Liên hợp quốc phối hợp với Bộ Y tế hỗ trợ, thì “tỷ lệ khám thai 1 lần ở phụ nữ người DTTS là 73%, trong khi đó tỷ lệ trung bình toàn quốc là 94%.[24].Có 16%
HUPH
Trang 20phụ nữ DTTS được khám thai 04 lần trở lên so với mức trung bình của quốc gia là 74%.Tỷ lệ khám thai trong 03 tháng đầu mang thai là thấp nhất so với các giai đoạn sau của quá trình mang thai: 42% phụ nữ DTTS khám thai trong 03 tháng đầu, trong khi tỷ lệ khám thai ở 03 tháng giữa và 03 tháng cuối lần lượt là 55% và 51%.”[24] Trong đó“11 nội dung chăm sóc tiền sản được thực hiện đúng theo khuyến cáo của WHO, có 44% phụ nữ DTTS được đo huyết áp, 30% được xét nghiệm nước tiểu ít nhất một lần và 25% đã được lấy mẫu máu Tỷ lệ nhận cả 03 dịch vụ trên là 18% (so với trung bình toàn quốc là 56%)” Kết quả cho thấy chỉ có một số ít phụ nữ đã được nhận gói CSTS thiết yếu trong quá trình mang thai Tỷ lệ nhận dịch vụ dự phòng trước sinh cao hơn, gồm phòng ngừa uốn ván (68%), bổ sung sắt và axit folic (54%), dự tính ngày sinh (58%) Tỷ lệ nhận các nội dung khác của chăm sóc trước sinh đều dưới 50% , gồm tư vấn dinh dưỡng và vệ sinh (45%), cảnh báo các dấu hiệu nguy hiểm (39%), khám lâm sàng (30%), đo chiều cao và cân nặng trong thai
kỳ (40%), chẩn đoán, điều trị và dự phòng sốt rét (8%)[24]
1.2.4 Dịch vụ chăm sóc bà mẹ trong và sau sinh
Vì nguy cơ tử vong mẹ là cao nhất ngay sau khi sinh và trong vòng 24-48 giờ sau khi sinh, nên sự có mặt NVYT có trình độ chuyên môn trong khi sinh là một can thiệp quan trọng để ngăn ngừa tử vong cho mẹ và trẻ sơ sinh Đỡ đẻ an toàn đòi hỏi một người đỡ đẻ đã được đào tạo về chuyên môn (nữ hộ sinh, bác sĩ hoặc điều dưỡng), một môi trường thuận lợi (đầy đủ thuốc, thiết bị, hệ thống chuyển tuyến và chính sách) và sự chấp nhận của cộng đồng đối với các dịch vụ chăm sóc thai sản
Những người cung cấp dịch vụ phải có kỹ năng, tính chuyên nghiệp để thực hiện đủ đầy các bước tiên lượng cho một cuộc đẻ, thông qua quá trình thăm khám, theo dõi, hướng dẫn chăm sóc Chăm sóc đầy đủ các bước cơ bản cho cuộc sinh giúp bà mẹ có trải nghiệm tốt trong quá trình sinh con, làm giảm rủi ro TVM (95%), giảm nguy cơ chảy máu sau sinh do hậu quả tai biến khi chuyển dạ (67%), giảm TVSS (40%) do ngạt [41] Vấn đề trọng tâm của phụ nữ mang thai và sinh con ở CSYT hoặc sử dụng dịch vụ y tế chất lượng trước trong và ngay sau sinh đây được coi là vấn đề then chốt để giảm TVM đã góp phần hoàn thiện Mục tiêu thiên niên
kỷ thứ số 5 là giảm ¾ TVM vào năm 2015 so với năm 1990 [26]
HUPH
Trang 21Ở Việt Nam, sự khác biệt vẫn tồn tại giữ các vùng miền và các nhóm dân cư, trong đó nhóm phụ nữ DTTS thì tỷ lệ này có sự chệnh lệch lớn Tỷ lệ phụ nữ DTTS sinh con tại nhà ở các tỉnh miền núi phía Bắc rất cao, chiếm khoảng 40- 60% tổng
số các ca đẻ, trong khi hầu hết các phụ nữ người Kinh và phụ nữ sống ở vùng đồng bằng đều sinh đẻ tại các cơ sở y tế [36] Kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS) năm 2006 cho thấy các yếu tố như dân tộc, mức sống hộ gia đình và giáo dục đều ảnh hưởng đến việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc trước sinh và trong khi sinh do những nhân viên y tế có tay nghề đỡ [8]
Cải thiện sức khỏe phụ nữ và trẻ em là một chính sách ưu tiên ở Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã ban hành“ Chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản và Kế hoạch Quốc gia về Làm mẹ An toàn Năm 2012, Bộ Y tế đã phê duyệt Kế hoạch Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, ưu tiên Làm mẹ An toàn và Chăm sóc Trẻ
Sơ sinh giai đoạn 2011-2015, ưu tiên tập trung vào các nhóm dân cư và các khu vực chưa được tiếp cận dịch vụ”[9] Để giải quyết những bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em (CSSKSS/SKBM/TSS) giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc, Chính phủ Việt Nam đã “cam kết nâng cao năng lực của hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các vùng DTTS và vùng sâu vùng xa” Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy sự khác biệt đáng kể trong các kết quả và các chỉ số tiếp cận các dịch vụCSSKSS/SKBM/TSS/TE giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm thu nhập vẫn tồn tại Mặc dù tỉ số tử vong mẹ của Việt Nam đã giảm đáng kể từ 165/100.000 ca
đẻ sống năm 2002 xuống còn 69/100.000 ca đẻ sống vào năm 2010 [3] nhưng tỷ lệ này ở 225 huyện DTTS miền núi và huyện xa xôi nhất vẫn ở mức 104/100.000 ca
đẻ sống [39] Tỷ lệ tử vong mẹ trong các nhóm DTTS cao hơn 04 lần so với nhóm dân tộc Kinh [26]
1.2.5 Dịch vụ chăm sóc trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh
Dịch vụ chăm sóc TSS trong và ngay sau sinh là một quá trình can thiệp y tế liên tục từ khi trẻ vừa lọt lòng mẹ đến khi trẻ sinh ra, trẻ được chăm sóc toàn diện trong ngày đầu sau sinh (trong vòng 24 giờ đầu sau sinh) bởi những can thiệp đơn thuần gồm các CSTY và chăm sóc thường quy có thể thực hiện được ở tất cả các
HUPH
Trang 22tuyến y tế [27, 41] Chăm sóc sơ sinh sớm cho trẻ được thực hiện ngay tại phòng đỡ
đẻ của CSYT ở các tuyến, góc hồi sức và trang thiết bị cho dịch vụ này không đòi hỏi chi phí lớn lắm, nhưng qui trình chăm sóc là các thao tác thực hiện theo trình
tự, đem lại hiệu quả tốt nhất cho trẻ Tiếp theo, là các chăm sóc thường quy như tiêm phòng vắc xin Viêm gan siêu vi B, tiêm vitamin K1 phòng xuất huyết não, để rốn hở, cân, đo trẻ và thăm khám trẻ cần được làm ngay sau lần bú đầu tiên của trẻ [27]
Mặc dù các chăm sóc trong và sau đẻ ngay cho trẻ đã được chứng minh là hiệu quả nhất trong các can thiệp về giảm TVSS, nhưng việc thực hiện lại chưa được hoàn chỉnh và đó cũng là lý do TVSS vẫn giảm chậm hơn so với tử vong trẻ
em giai đoạn sau sơ sinh Theo kết quả của một số nghiên cứu tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong trẻ em < 5 tuổi đã giảm hơn một nữa trong vòng vài thập kỷ qua, nhưng TVSS giảm không đáng kể, dẫn đến số TVSS chiếm 70-75% tổng số tử vong trẻ em < 1 tuổi và hơn 50% số tử vong <5 tuổi Ước tính tỷ suất TVSS là 9,5‰, trong đó TVSS sớm từ (0-6 ngày tuổi) là 6,9‰ và TVSS muộn (7-28 ngày tuổi) là 2,6‰ Nguyên nhân chính gây TVSS là đẻ non (15%), ngạt (11%), nhiễm khuẩn (7%) [30] Nguy cơ TVSS cao nhất khi chào đời vừa mới lọt lòng mẹ vào ngày thứ nhất sau sinh, theo ước tính có khoảng 45% số ca TVSS xảy ra trong ngày đầu chắc chắn có liên quan đến các CSTY trong và ngay sau đẻ [30] Phần lớn, những trường hợp tử vong này có thể ngăn ngừa và giảm được bằng các can thiệp đơn giản như ủ
ấm, lau khô, cho trẻ bú mẹ sớm và có thể triển khai tại hộ gia đình được thực hành bởi các thành viên trong gia đình Theo ước tính, nếu những can thiệp cơ bản này được bao phủ 99% trở lên thì có thể giảm tỷ xuất TVSS từ 41-72%, [41] Bên cạnh
đó sự khác biệt rõ rệt giữa TVSS ởnhóm DTTS và nhóm dân tộc kinh và khoảng cách này hầu như không thay đổi trong nhiều năm nay Tỷ lệ TVSS người DTTS cao gấp gần 4 lần so với trẻ người dân tộc Kinh[30] Sự khác biệt còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế Tử vong các trẻ sơ sinh trong các gia đình nghèo, cận nghèo cao gấp 2 lần ở những gia đình không nghèo Tiếp cận y tế, thiếu chăm sóc phù hợp trong và ngay sau sinh là nguy cơ mắc bệnh và tử vong cao ở các nhóm trẻ này.CSSS sớm tạo cơ hội để phụ nữ DTTS tiếp nhận thông tin và hỗ trợ thực hành
HUPH
Trang 23các hành vi nuôi con lành mạnh và đây là những hành vi quan trọng quyết định sức khỏe và sự sống còn của mẹ và trẻ Các hành vi lành mạnh bao gồm việc cho con
bú, dinh dưỡng hợp lý trong thời gian cho con bú, tư vấn về chăm sóc trẻ sơ sinh và
kế hoạch hóa gia đình[24]
Để đạt được phát triển mục tiêu hậu Thiên niên kỷ đến năm 2030 về cải thiện SKBM-TE được chăm sóc và bảo vệ, một số chương trình Y tế- Dân số đã, đang hoạt động có hiệu quả rõ rệt, giảm nguy cơ TVM –TVSS trong thời gian mang thai
và ngay cuộc đẻ Năm 2014, Bộ Y tế đã triển khai, thực hiện Qui trình chuyên môn CSTY trước trong và ngay sau sinh cho BM-TSS tại tất cả các tuyến y tế ở 63 tỉnh thành trên cả nước nhằm giảm thiểu sự cách biệt trong tỷ lệ tiếp cận dịch vụ ở nhóm dân cư yếu thế hơn đặc biệt là nhóm phụ nữ người DTTS [9]
Với sự khác biệt trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc giữa các vùng miền, cũng như giữa người Kinh và dân tộc thiểu số, đã có một số nghiên cứu về tiếp cận sử dụng dịch vụ chăm sóc bà mẹ của người dân tộc.Nghiên cứu của Nguyễn Thi Ngọc Bích năm 2013 tại phụ nữ dân tộc ở tỉnh Nghệ An cho thấy có 57,7% bà mẹ sinh con tại nhà chỉ với 5,9% có nhân viên y tế hỗ trợ Còn tồn tại một số thực hành chăm sóc TSS chưa đảm bảo nhưdùng cật nứa cắt rốn cho con, tỷ lệ bà mẹ cho con
bú trong vòng 1 giờ sau sinh chỉ chiếm 47,9% (39) Tác giả Lê Thị Ánh Nguyệtnghiên cứu về thực trạng chăm sóc trong và ngay sau sinh cho bà mẹ- trẻ sơ sinh người dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Dak Lak cho thấy tỷ lệ phụ nữ đi khám thai 4 lần chỉ đạt 12%; chưa đến một nửa số bà mẹ sinh con tại CSYT (41,7%) và vì thế tỷ lệ TSS của các bà mẹ này được chăm sóc thiết yếu (40)
Sinh con tại nhà có nhiều nguy cơ cho cả mẹ và cho con nhưng tại sao vẫn còn nhiều phụ nữ lại có lựa chọn này Cũng đã có một số nghiên cứu được thực hiện
và đã có một số can thiệp giảm tỷ lệ đẻ tại nhà nhưng thực tế vẫn chưa đạt được như mong muốn Đó cũng là lý do vẫn phải có nhiều nghiên cứu tiếp tục về nội dung này
1.2.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh của bà mẹ
Tư vấn lựa chọn nơi sinh là một nội dung trong chăm sóc trước sinh nhằm khuyến khích bà mẹ đến nơi sinh an toàn nhất là CSYT Tuy nhiên do một số lý do
HUPH
Trang 24cá nhân, gia đình và cộng đồng vẫn có một số phụ nữ lựa chọn sinh tại nhà, đặc biệt là phụ nữ người dân tộc Một số nghiên cứu đã đưa ra một số yếu tố liên quan đến lựa chọn nơi sinh như sau
1.2.6.1 Các yếu tố đă ̣c trưng cá nhân
Tuổi:Trong nghiên cứu của Magadi và Agwanda (2017) cho thấy, số bà mẹ
trẻ tuổi sử dụng dịch vụ y tế cao hơn ở số bà mẹ lớn tuổi và có nhiều khả năng tìm kiếm dịch vụ chăm sóc Y tế về SKBM cao hơn [29]
Số lần sinh con:Ở những bà mẹ lần đầu mang thai, thường có chiều hướng
đến CSYT để được chăm sóc y tế hơn ở những lần mang thai tiếp theo, do họ chưa
có kinh nghiệm, cũng như tự ý thức được mối nguy liên quan đến sinh nở của các thai phụ lần đầu sinh con Kết quả nghiên cứu của Chakraborty, N, et al (2013) cho thấy, số lần sinh con và số con tăng lên có xu hướng giảm sinh con tại CSYT Ngoài lý do đã có một số kinh nghiệm về mang thai và sinh đẻ, các bà mẹ có nhiều con thường là các bà mẹ có trình độ học vấn thấp, kinh tế gia đình khó khăn, hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ y tế[29]
Trình độ học vấn: Bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn thì khả năng tiếp cận
và sử dụng dịch vụ y tế nhiều hơn Họ nhận thức và hiểu biết được lợi ích của việc khám thai và sinh con tại CSYT, mối nguy cơ của việc sinh con, nơi cung cấp dịch
vụ an toàn, đảm bảo là BM-TSS được chăm sóc tốt hơn[29]
1.2.6.2 Yếu tố về phía gia đình
Vị trícủa bà mẹ trong gia đình: gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định
việc chăm sóc SKBM-TSS Trong nhiều gia đình quyết định của bà mẹ ruột hoặc bà
mẹ chồng có ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn sử dụng dịch vụ do bản thân mong muốn, đặc biệt là đối với các bà mẹ trẻ Các bà mẹ lớn tuổicó thể lựa chọn dịch vụ CSSKBM mà họ mong muốn nhất, tuy nhiên không phải lúc nào lựa chọn của họ cũng an toàn Các bà mẹ lớn tuổi tuy có một số kinh nghiệm nhưng lại ít cập nhật kiến thức nên nhiều khi có những lựa chọn có thể là nguy hiểm.[29]
Hỗ trợ củagia đình: Theo tác giả Pachauri, S (2011) cho thấy, cấu trúc gia
đình cũng liên quan đến chăm sóc SKBM Sự quan tâm chăm sóc của chồng cũng đóng góp một phần cải thiện SKBM, làm giảm TVM-TVSS từ gánh nặng của bệnh
HUPH
Trang 25tật Với tác giả Bùi Thị Thu Hà và các cộng sự (2014) cho thấy, những bà mẹ được người chồng đưa đi khám bệnh hay khám thai thì khả năng nhận dịch vụ tại CSYT cao gần gấp 3 lần ở bà mẹ không được chồng đưa đi Bà mẹ hay nói chuyện về sức khỏe của mình và thai nhi với chồng, thì khả năng cao là sinh con tại CSYT Bên cạnh chồng, những người có tuổi cũng ảnh hưởng lớn đến chăm sóc SKBM Tại Đông Timor, mẹ chồng và bà nội là người quyết định cho bà mẹ sinh con tại CSYT[7, 46].[41]
Kinh tế hộ gia đình: Trong nghiên cứu của Chakraborty,N, (2013) cho thấy,
ảnh hưởng của gia đình có thu nhập ổn định, kinh tế phát triển có ảnh hưởng tích cực đến việc lựa chọn dịch vụ y tế khi mang thai và sinh con, những bà mẹ này thường chọn sinh con ở các CSYT có chất lượng Bà mẹ nghèo, cận nghèo có thể gặp nhiều bất cập trong việc chi trả cho các chi phí đi lại ăn ở, dịch vụ y tế thuốc men bên ngoài là cản trở lớn cho việc lựa chọn sinh con tại CSYT Một số nghiên cứu cho thấy, bà mẹ thuộc diện cận nghèo, nghèo thường SCTN với sự hỗ trợ của
bà đỡ chưa qua đào tạo đỡ đẻ Chọn địa điểm sinh con và người đỡ cho bà mẹ cũng
là một minh chứng chosự bất bình đẳng giữa người nghèo và người giàu [47]
1.2.6.3 Yếu tố cộng đồng
Phong tục tập quán: Theo tổng kết của WHO“phụ nữ DTTS vẫn thích sinh
con tại nhà mặc dù họ sống ở gần các cơ sở y tế Tuy nhiên, bằng chứng từ các nước khác cho thấy rằng phụ nữ nghèo có xu hướng ngừng sử dụng dịch vụ chăm sóc thai sản truyền thống khi họ có thể tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc thai sản chuyên nghiệp, chất lượng tốt, với mức chi phí phải chăng”[10] Mặc dù quá trình này có thể mất một thời gian Về phía cung cấp cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ chăm sóc thai sản.Các dịch vụ y tế nếu không thích hợp với bối cảnh địa phương hoặc không đáp ứng nhu cầu cụ thể của người dân địa phương thường không thu hút được người sử dụng Sự hạn chế trong khả năng sẵn có của dịch vụ y tế, khả năng tiếp cận tới dịch vụ hoặc khả năng chi trả có thể là những nguyên nhân chính giải thích cho sự khác biệt trong việc tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ CSSKBM của phụ nữ DTTS Hơn nữa, các yếu tố khác như dịch vụ chăm sóc thai sản chất lượng thấp, thiếu trang thiết bị hoặc nhân sự [21], và
HUPH
Trang 26có những cơ sở y tế quy định sản phụ phải nằm ngửa khi sinh con, hoặc các thành viên trong gia đình không được phép có mặt trong phòng sản
Phong tục không khám thai khi mang thai và sinh con tại nhà của người DTTS đã được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu ở Việt Nam Phụ nữ DTTS quan niệm việc mang thai sinh con là chuyện bình thường dễ dàng, không cần can thiệp
gì, xấu hổ e ngại gặp CBYT của người DTTS Đây cũng là rào cản phong tục tập quán ở người DTTS sống ở Tây Nguyên nói chung, người dân tộc Ê đê nói riêng Đặc trưng của người dân tộc Ê đê là quyết định về nơi sinh là rất quan trọng vì dân tộc này theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có quyền trong gia đình hơn các dân tộc khác, nó cũng làm ảnh hưởng gây cản trở, những quan niệm không đúng này có liên quan đến việc sử dụng dịch vụ CSSKBM[10, 45]
1.2.6.4 Chính sách và quản trị: Người DTTS được cấp BHYT, và đã được
BHYT chi trả cho các dịch vụ được cung cấp bởi các CSYT công lập và dân lập, nhưng nhiều người DTTS, đặc biệt những người thiệt thòi nhất chưa hiểu rõ về điều kiện được hưởng BHYT và cách thức hoạt động của BHTY CSTS và đặc biệt là dịch vụ khi sinh còn gồm các chi phí gián tiếp không được BHYT chi trả, ví dụ như phí đi taxi, thuốc, ăn uống, chi phí cho người đi cùng và các khoản phí không chính thức Quan trọng hơn cả chi phí tài chính có lẽ là chi phí cơ hội, ví dụ như mất cơ hội kiếm tiền khi đi sinh con tại các CSYT [24] Tại một số nơi phụ nữ làm việc đồng áng cho đến khi sinh và họ cảm thấy cần phải đi làm trở lại ngay sau khi sinh
do cả áp lực tài chính và mong muốn của gia đình Điều này giải thích tại sao một
số phụ nữ tới CSYT khám thai một hoặc hai lần để kiểm tra tình trạng thai kỳ nhưng sau đó không tiếp tục đi khám nữa [7]
1.2.6.5 Dịch vụ y tế
Sự sẵn có: Hành vi tìm kiếm dịch vụ của bà mẹ người DTTS đã chứng minh
rằng, không đi khám thai là nguyên nhân bà mẹ lựa chọn SCTN, do không biết được ngày dự kiến sinh, nên không chủ động đến CSYT để được chăm sóc Sử dụng dịch vụ khám thai đầy đủ các nội dungtrong đó có nội dung truyền thông tư vấn, hướng dẫn bà mẹ biết cách chăm sóc bản thân và cho trẻ cũng như phát hiện
những dấu hiệu bất thường cần phải đến CSYT [21, 40]
HUPH
Trang 27Một số rào cản về dịch vụ y tế như thiếu CBYT, thiếu cơ sở vật chất trang thiết bị hoặc chi phí cao đều ảnh hưởng đến sử dụng của khách hàng Chất lượng dịch vụ cũng rất quan trọng để thu hút việc sử dụng dịch vụ Chất lượng dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào số lượng CBYT mà còn kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ phục vụ, đặc biệt với những phụ nữ người DTTS họ rất e ngại tiếp xúc với bác sỹ hoặc CBYT chăm sóc SKBM là nam giới, cũng như việc thực hiện đúng quy trình
kỹ thuật Bên cạnh đó,đầy đủ trang thiết bị và cơ sở vật chất là yếu tố lựa chọn nơi sinh của các bà mẹ [32]
Truyền thông vận động:việc tham gia vận động của chính quyền địa phương
có liên quan đến lựa chọn sử dụng dịch vụ y tế khi mang thai và sinh con của các bà
mẹ Sự chấp nhận của cộng đồng đối với dịch vụ chăm sóc SKBM-TSS trước trong
và ngay sau sinh, như thiếu sự quan tâm trong truyền thông vận động của những người có uy tín như chi hội trưởng phụ nữ, cũng dẫn đến dịch vụ tư vấn sử dụng dịch vụ y tế khi có thai và sinh con không được chấp nhận thì có khả năng phụ nữ DTTS không được khám thai và sinh con tại nhà rất cao gấp 2,0 lần so với các bà
mẹ đã được vận động [24, 32]
1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Thành phố Buôn Ma Thuột là thành phố trực thuộc tỉnh Đắk Lắk, là trung tâm của khu vực Tây nguyên Có diện tích tự nhiên 37.718 ha, dân số 375.590; trong đó nữ chiếm 188.703, phụ nữ 15- 49 tuổi có chồng 59.525, hiện có 17 dân tộc anh em đang sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 12%, và chủ yếu là dân tộc Ê đê chiếm 11%[3][17] Phụ nữ dân tộc thiểu số là hộ nghèo chiếm 30%
Xã Cư Êbua, Hoà Khánh, Ea Tu và Ea Kao là 4 xã trực thuộc thành phố Buôn Ma Thuột có tỷ lệ người dân tộc cao nhất với đa số là người dân tộc Ê đê Tổng số phụ nữ từ 15-49 tuổi 28.185, số phụ nữ dân tộc Ê đê 15-49 chiếm tới 6.165 người (21%), Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, năm 2019 hộ nghèo của 4 đơn vị này trung bình từ 3,5% đến 4,34%.[17,
37, 38]
Trong những năm gần đây, dịch vụ CSSKBM trên địa bàn thành phố không ngừng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người dân trên địa bàn Chính
HUPH
Trang 28sách cấp thẻ BHYT miễn phí cho đối tượng là người DTTS cũng được triển khai đồng bộ Nhưng tỷ lệ phụ nữ DTTS trên địa bàn sử dụng dịch vụ chăm sóc thai kỳ còn thấp Theo số liệu báo cáo 12 tháng năm 2020, tại địa bàn 4 xã Cư Êbua, Hoà Khánh, Ea Tu và Ea Kao có 209 trường hợp bà mẹ người dân tộc Ê đê sinh con Đã
có 17 trường hợp sinh con tại nhà và đẻ rơi, 02 trường hợp uốn ván sơ sinh, 02 trường hợp tử vong do uốn ván rốn Tỷ lệ bà mẹ dân tộc thiểu số khám thai 4 lần trong 3 thời kỳ : 30%, trong đó khám thai lần đầu trước 16 tuần là: 20% ; Tỷ lệ trẻ
sơ sinh của bà mẹ dân tộc thiểu số được chăm sóc thiết yếu: 45% [17, 37, 38]
1.4 Khung lý thuyết
* Dịch vụ y tế
- Sự có sẵn của các dịch vụ chăm sóc thai kỳ; trong cuộc đẻ; sau đẻ.Khả năng tiếp cận
thai lần đầu trước 16 tuần,
tiêm phòng uốn ván, tư vấn
dinh dưỡng, Tư vấn nơi đẻ
CS trong đẻ :
- Đẻ tại cơ sở y tế;
- Người đở đẻ có kỹ năng;
Lựa chọn nơi sinh
Sau đẻ:
Chăm sóc thiết yếu, khám sau đẻ sinh
HUPH
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cảbà mẹ người dân tộc Ê Đê có con < 12 tháng tuổi tại thời điểm điều tra của 4 xã EaKao, Hòa Khánh, Ea Tu và Cư Êbua tại thành phố Buôn Ma Thuột- Đăk Lắk năm 2021
2.1.1 Đối tượng trong nghiên cứu định lượng
2.1.1.1 Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ người DTTS Ê Đê có con <12 tháng tuổi kể cả đẻ thường và đẻ mổ tại thời điểm điều tra của 4 đơn vị xã: EaKao, Hòa Khánh, Ea Tu và Cư Êbua tại thành phố Buôn Ma Thuột- Đăk Lắk năm 2021
Bà mẹ tự nguyện, chấp thuận tham gia phỏng vấn
2.1.1.2 Tiêu chí loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Không có khả năng trả lời câu hỏi của bà mẹ (câm, điếc);
- Địa điểm: 4 Xã: EaKao, Hòa Khánh, Ea Tu và Cư Êbua tại thành phố Buôn
Ma Thuột- Đăk Lắk năm 2021
HUPH
Trang 302.3 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu của nghiên cứu định lượng:
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
Trong đó:
+ n: Số bà mẹ tối thiểu phải điều tra
+ p: là tỷ lệ sinh con tại nhà của Phụ nữ dân tộc Ê đê theo báo cáo thống kê của Trung tâm Y tế thành phố Buôn Ma Thuột năm 2020 là 13% nên chúng tôi chọn
p = 0,13
+ d: Là sai số tuyệt đối giữa mẫu và quần thể nghiên cứu, chọn d = 0,05 + Z(1-α/2) = Hệ số tin cậy, với mức tin cậy 95%, ta có Z(1-α/2) = 1,96 Thay vào công thức, ta được:
- Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là: n = 173
- Chọn thêm 20% cỡ mẫu ta lấy thêm 35 mẫu
Như vậy chọn cỡ mẫu nghiên cứu cao nhất là 208 Khung mẫu có 209 bà mẹ nên chọn mẫu toàn bộ là 209 bà mẹ người dân tộc Ê Đê sinh con nhỏ hơn 12 tháng tuổi Chúng tôi chọn toàn bộ 209 bà mẹ tham gia phỏng vấn, trong quá trình điều tra không có trường hợp nào từ chối, hoặc không trả lời phỏng vấn Nên số phiếu hiện
thực hiện đầy đủ 209 bà mẹ tham gia trả lời câu hỏi thực tế
2.4.2 Cỡ mẫu của nghiên cứu định tính
- Thiết kế nghiên cứu định tính nhằm trả lời bổ sung cho mục tiêu 2
- Phỏng vấn sâu (PVS) với 10 cuộc: 4 CBYT làm công tác CSSKSS tại 4 TYT; 2 CĐTB của 2 xã; 4 chi hội trưởng chi hội phụ nữ (Mỗi xã chọn 1 người)
- Thảo luận nhóm (TLN) với 5 cuộc (tổng số 30 người), mỗi cuộc TLN với 6 người bao gồm:
+ Nhóm bà mẹ và nhóm người nhà
HUPH
Trang 31+ Nhóm đẻ tại CSYT (EaTu)
+ Nhóm đẻ tại nhà (xã Hòa Khánh)
+ Nhóm không đi khám thai (xã Cư ÊBua)
+ Nhóm người nhà của PN đẻ tại nhà (Eakao)
+ Nhóm người nhà của PN không đi khám thai (Hòa khánh)
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ, với đơn vị mẫu là bà mẹ người dân tộc Ê đê có con dưới 12 tháng tuổi đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu với cách chọn như sau:
- Lập danh sách toàn bộ 209 bà mẹ người dân tộc Ê đê có con dưới 12 tháng tuổisinh sống tại địa bàn nghiên cứu 4 xã EaKao, Hòa Khánh, Ea Tu và Cư Êbua thành phố Buôn Ma Thuột- Đăk Lắk năm 2021
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Chọn mẫu có chủ đích:
- Nhân viên Y tế: chọn 4 CBYT làm công tác CSSKSS tại 4 xã; 2 CĐTB tại hai xã có CĐTB hoạt động(xãHoà khánh và xã Cư êbua)
- Bà mẹ sinh con tại CSYT và người thân (chồng/mẹ đẻ/mẹchồng) của họ
- Bà mẹ không sinh con tại CSYT và người thân (chồng/mẹ đẻ/mẹchồng) họ
để tiến hành PVS hoặc TLN
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Nghiên cứu định lượng
2.6.1.1 Công cụ thu thập số liệu: nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn để
phỏng vấn.Nội dung chăm sóc trong và ngay sau đẻ được tham khảo từ hướng dẫn quốc gia về dịch vụ CSSKSS của Bộ Y tế [4, 5] Bộ câu hỏi sau khi biên soạn được thử nghiệmtrong địa bàn không thuộc địa bàn nghiên cứu Mục đích của việc thực nghiệm để phát hiện những sai sót, những nội dung không phù hợp và chỉnh sửa một số câu từ cho phù hợp với người dân địa phương trước khi thu thập số liệu chính thức Nội dung bộ câu hỏi bao gồm các thông tin đặc điểm cá nhân của bà
mẹ, môi trường chung sống, điều kiện VH-XH của bà mẹ như (nơi sinh, người đỡ
HUPH
Trang 32đẻ, người quyết định, lý do sinh con, phương pháp sinh con, phương tiện tiếp cận đến CSYT, kinh tế gia đình, cơ cấu gia đình, phong tục tập quán, truyền thông vận động ) của bà mẹ Các dịch vụ CSTY (tiếp xúc da với da, ủ ấm, cho trẻ bú ngay sau sinh, bà mẹ có được xoa dạ con, tiêm oxytocin thuốc phòng chảy máu sau sinh ) và các chăm sóc thường quy (như ngay sau sinh trẻ có được cân đo không? Tiêm vitamin K phòng xuất huyết não cho trẻ ngay cử bú đầu tiên tại phòng sinh, tiêm phòng vắc xin viêm gan siêu vi B tại phòng tiêm chủng và có phiếu theo dõi,
bà mẹ uống vitamin A sau sinh ).Sự thăm khám sau sinh của các bà mẹ Bộ câu
hỏi đã được hoàn thiện ở (Phụ lục 2)
2.6.1.2 Địa điểm thu thập số liệu
Tại nhà các bà mẹ ở 4 Xã: EaKao, Hòa Khánh, Ea Tu và Cư Êbua đến phỏng vấn trực tiếp Đến gia đình BM đầu tiên trong danh sách đã điều tra tại mỗi xã Trong trường hợp BM đi vắng không gặp thì phải hẹn và đến lần sau (bà mẹ hẹn nhiều nhất là 3 lần)
2.6.1.3 Điều tra viên
Điều tra viên là YTTB Mỗi TYT chọn 1 YTTB tham gia điều tra Tiêu chí lựa chọn điều tra viên là người DTTS Ê Đê thành thạo tiếng kinh, thông thạo đường
xá đi lại từ các buôn trong xã để thực hiện điều tra, biết địa chỉ từng nhà của bà mẹ mới sinh con có con dưới 1 tuổi trong đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Nội dung từng phần, câu hỏi của bộ câu hỏi đã thử nghiệm và thiết kế sẵn, kỹ năng hỏi phỏng vấn và phương pháp điều tra đã được tập huấn kỹ cho các YTTB
Mỗi điều tra viên chịu trách nhiệm phỏng vấn ĐTNC tại một xã đã được phân công, dưới sự giám sát của học viên là nghiên cứu viên của lớp Thạc sỹ Y tế Công Cộng khóa 23-2b, Trường đại học Y tế Công Cộng Việc tiến hành điều tra phỏng vấn được thực hiện sau khi lên kế hoạch thời gian điều tra phỏng vấn Trên
cơ sở danh sách đã được lập và mời các bà mẹ tham gia phỏng vấn nghiên cứu Điều tra viên đến nhà bà mẹ, chào hỏi và đọc trang thông tin của mục đích nghiên cứu cho ĐTNC nghe và tiến hành phỏng vấn, với sự đồng ý tự nguyện tham gia của
BM, điền các thông tin vào phiếu phỏng vấn (phụ lục 2)
2.6.1.4 Giám sát viên
HUPH
Trang 33Học viên lớp Thạc sỹ Y tế Cộng Cộng khóa 23-2b Trường Đại học Y tế Công cộng là giám sát viên cũng là nghiên cứu viên, có trách nhiệm theo dõi giám sát thường xuyên liên tục, xem kiểm tra lại phiếu phỏng vấn có đạt theo yêu cầu không, đề nghịđiều tra viên hỏi, khai thác bổ sung thêm những thông tin còn thiếu ở từng câu hỏi trong bộ câu hỏi, rà soát chỉnh sửa những thông tin chưa phù hợp và hoàn thành ngay tại gia đình bà mẹ đã điều tra
Người làm nghiên cứu đã kiểm tra toàn bộ phiếu điều tra trước khi nhập vào phần mềm quản lý nhập liệu Epidata 3.1, như xem các thông tin ghi đầy đủ và đạt yêu cầu, rồi ghi mã số phiếu từ 1 đến 199 đã thu thập
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính
2.6.2.1 Thảo luận nhóm
Người thực hiện thảo luận nhóm (TLN) là học viên trực tiếp điều hành Thư ký cho cuộc TLN là CĐTB của 4 TYT (mỗi TYT xã chọn 1 YTTB người dân tộc Ê Đê thành thạo tiếng Kinh và tiếng Ê Đê) Địa điểm TLN là tại TYT của mỗi
xã Bộ công cụ hướng dẫn TLN (từ phụ lục 3 đến phụ lục 6) Học viên làm việc trực tiếp với các ĐTNC, mời ĐTNC tham gia TLN, hướng dẫn họ tham gia, thống nhất thời gian TLN cụ thể Đọc và giới thiệu về Trang thông tin nghiên cứu của mục đích nghiên cứu, nếu bản thân họ đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu, xin chữ ký của ĐTNC vào phần cuối phiếu phỏng vấn Sau đó ghi biên bản và ghi
âm cuộc TLN
2.6.2.2 Phỏng vấn sâu
Học viên trực tiếp thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) Địa điểm PVS tại nhà đối với chi hội trưởng và YTTB tại TYT đối với CBYT là Trạm trưởng và chuyên trách Bộ công cụ PVS xem phụ lục (phụ lục 7 - 10), học viên đã liên hệ trực tiếp với các ĐTNC và mời họ tham gia vào nghiên cứu để PVS Học viên đọc cho ĐTNC nghe về mục đích và giới thiệu thông tin nghiên cứu, sau khi họ đồng ý tham gia nghiên cứu, xin phép được ghi âm, hướng dẫn họ và xin chữ ký vào phiếu, tiến hành ghi bên bản, ghi âm cuộc phỏng vấn để thu thập thông tin có liên quan đến mục đích nghiên cứu
HUPH
Trang 342.7 Biến số nghiên cứu định lượng, chủ đề nghiên cứu định tính
2.7.1 Các biến số nghiên cứu định lượng (Phụ lục 1)
- Biến phụ thuộc: Là biến số lựa chọn nơi sinh dùng để mô tả hay đo lường vấn đề nghiên cứu gồm có: Nơi sinh con, người đỡ đẻ; người quyết định địa điểm nơi sinh con; lý do lựa chọn sinh con tại nhà và tại CSYT
- Biến độc lập: Nhóm các yếu tố có thể liên quan ảnh hướng đến việc lựa chọn nơi sinh con, các yếu tố này dựa theo khung lý thuyết chia thành các nhóm sau:
- Đặc điểm của bà mẹ: Thông tin cá nhân như(tuổi, nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, bảo hiểm y tế (BHYT)) và lịch sử sản khoa (số lần sinh con, số con hiện có, nơi sinh con trước đây, những bất thường của lần sinh con gần đây nhất)
- Nhóm biến số về nguồn lực: Môi trường chung sống gia đình của bà mẹ (điều kiện kinh tế gia đình, cơ cấu gia đình, người quyết định) và các yếu tố VH-XH tiếp cận đến CSYT, truyền thông vận động)
- Nhóm biến số liên quan đến dịch vụ chăm sóc: Nơi khám thai, số lần khám thai, nơi đã sinh con, tư vấn chăm sóc, các chăm sóc thường quy và CSTY cho BM-TSS gồm thông báo giờ trẻ sinh ra; để trẻ nằm trên ngực mẹ; cho trẻ bú ngay sau khi sinh trong giờ đầu; cân, đo trẻ, chăm sóc rốn; tiêm phòng vắc xin Viêm gan siêu vi B; tiêm thuốc Oxytocin phòng chảy máu cho bà mẹ; xoa dạ con 15 phút/1lần duy trì trong 90 phút; uống vitamin A sau sinh cho bà mẹ phòng thiếu vi chất cho trẻ; người đỡ đẻ, vị trí, tư thế nằm sinh con của bà mẹ
2.7.2 Nội dung nghiên cứu định tính
Tập trung khai thác các thông tin của bà mẹ và người nhà bà mẹ: Điều kiện kinh tế gia đình, chi phí cho một cuộc sinh đẻ, địa điểm sinh con, ai là người quyết định nơi sinh, người đỡ đẻ và các dịch vụ chăm sóccho bà mẹ, những trải nghiệm của bà mẹ SCTN và tại CSYT, những khó khăn gặp phải khi bà mẹ SCTN, các lý
do bà mẹ lựa chọn SCTN mà không lựa chọn sinh con tại CSYT, các yếu tố cản trở lựa chọn nơi sinh và sử dụng dịch vụ CSTY Để có cơ sở cho những giải pháp đề xuất cụ thể, từ đó hạn chế tình trạng SCTN không được chăm sóc thiết yếu cơ bản
HUPH
Trang 35Phỏng vấn sâu đối với CBYT: Trạm trưởng quản lý tại TYT và CBYT trực tiếp làm công tác chăm sóc BM-TSS, tập trung khai thác tình hình sinh con của bà
mẹ người Ê Đê trên địa bàn; các dịch vụđã được triển khai thực hiện chăm sóc trong
và ngay sau sinh cho BM-TSS sinh tại TYT; những khó khăn trong công tác triển khai (phong tục tập quán sinh con tại nhà của bà mẹ, tiếp cận dịch vụ CSTYtại nhà của bà mẹ ) Là người có tầm ảnh hưởng, có vai trò quyết định, là người hiểu rõ về hoạt động CSSKSS, nêu những biện pháp khắc phục đề xuất tăng số bà mẹ nhận dịch vụ tại CSYT, hạn chế tối thiểu số bà mẹ con sinh tại nhà, sinh con không có CBYT đỡ đẻ
Đối với chính quyền địa phương cụ thể hơn đó là thôn trưởng: Sự tham gia của chi hội trưởng được coi là người có uy tín với cộng đồng, sự vận động tuyền truyền bà mẹ đến CSYT để nhận được đầy đủ dịch vụ chăm sóc trong và ngay sau sinh khi bà mẹ sinh con
2.8 Các tiêu chuẩn đánh giá
Dựa trên tiêu chí đánh giá của Bộ Y tế (2016) Hướng dẫn Quốc gia quy định dịch vụ CSSKSS; Quyết định 4673/QĐ-BYT, chuyên môn cho BM-TSS trong và ngay sau sinh
Đo lường tiêu chí đánh giá các biến qua phỏng vấn ĐTNC có hoặc không theo hướng dẫn của bộ câu hỏi, ví dụ: có đi khám thai? =1, không đi khám thai= 2; nếu có có khám thì thời gian nào? Trước16 tuần đầu =1, sau 16 tuần = 2 và tương tự cho trẻ bú và thời gian cho trẻ bú…
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phương pháp làm sạch- quản lý số liệu
Kiểm tra các phiếu được thu thập, xem có tính hợp lệ hay chưa, bổ sung chỉnh sửa những nội dung còn thiếu hay sai sót tại địa bàn điều tra phỏng vấn trước
và sau khi nhập vào máy vi tính
2.9.2 Xử lý số liệu
* Số liệu cho nghiên cứu định lượng
Số liệu được nhập vào máy vi tính bằng phần mềm Epidata 3.1 và được phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0 Kết quả phân tích số liệu được trình
HUPH
Trang 36bày dưới dạng các bảng, áp dụng các phân tích mô tả: Tính tần số (n), tỷ lệ phần trăm (%) Để xác định mối liên quan trong phân tích đơn biến, đo lường tìm sự khác biệt giữa việc lựa chọn nơi sinh của bà mẹ với các yếu tố liên quan, gồm có: Nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, kinh tế gia đình, số lần sinh con, số con hiện có, số lần khám thai, khoảng cách, người quyết định Áp dụng fisher’s exact test tính OR, 95 % CI và p, với mức p< 0,05 hay p< 0,001 có ý nghĩa thống kê
* Dữ liệu nghiên cứu định tính
Gỡ băng ghi âm các cuộc TLN, PVS, mã hóa các nội dung, thông tin, sau đó đánh vi máy dưới dạng Word văn bản Trích dẫn mã hóa nội dung theo mục tiêu, chủ đề nghiên cứu đã áp dụng được từ các cuộc TLN, PVS bổ sung, giải thích cho kết quả Một số nội dung thông tin mà ĐTNC cung cấp đã được minh họa, trích dẫn
ở phần dưới bảng của kết quả nghiên cứu định lượng
2.10 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thông qua theo Quyết định số 229/2021/YTCC-HD3, ngày 13/05/2021 Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y
tế công cộng.Nghiên cứu đã được sự đồng ý và chấp thuận của lãnh đạo Trung tâmY tế thành phố Buôn Ma Thuột, ủy ban nhân dân 4 xã EaKao, Hòa Khánh, Ea
Tu và Cư ÊBua tại thành phố Buôn Ma Thuột- Đăk Lắk
Nghiên cứu không gây phiền hà, không ảnh hưởng đến tâm lý hay sức khỏe của ĐTNC Trước khi tham gia phỏng vấn ĐTNC ở PVS, TLN, bà mẹ có con dưới
1 tuổi tại cộng đồng đã được giải thích về nội dung và mục đích của nghiên cứu, họ hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu, không có sự ép buộc Đối tượng nghiên cứu có thể từ cối tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào nếu không đồng ý
Bảo mật các thông tin liên quan đến ĐTNC bằng cách mã hóa, được trình bày dưới dạng bảng biểu, phân tích dưới dạng vô danh Nhằm mục đích chỉ phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học Với kết quả nghiên cứu, số liệu được cung cấp đến nhà quản lý tại địa phương, lãnh đạo chuyên môn lĩnh vực CSSKSS
và công bố trên các trang bài báo khoa học Tiếp tục làm cơ sở xây dựng kế hoạch
HUPH
Trang 37can thiệp y tế tại thành phố Buôn Ma Thuột, mục đích tăng tỷ lệ nhận dịch vụ chăm sóc cho BM-TSS trước trong và và ngay sau sinh tại CSYT
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục của nghiên cứu
* Sai số
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện cho bà mẹ DTTS đã sinh con, thu thập thông tin từ lúc thời gian mang thai nên chắc chắn có sai số do bà mẹ không nhớ hết các sự kiện Sai số do bà mẹ không nhớ rõ một số sự kiện liên quan đến cuộc đẻ hay
có một số câu hỏi thuộc chuyên môn và thực hành của CBYT có thể không khai thác hết từ bà mẹ (Ví dụ: thực hành xoa đáy tử cung, tiêm Oxytocin cho bà mẹ, tiêm vitamin K1, vắc xin Viêm gan siêu vi B cho trẻ sơ sinh)
* Biện pháp khắc phục:
Học viên đã trực tiếp hỏi và sử dụng các từ địa phương để diễn tả đúng thực hành như “xoa bụng dưới sau đẻ” “tiêm thuốc phòng chảy máu” “tiêm thuốc phòng xuất huyết não”, còn tiêm vắc xin Viêm gan siêu vi B xem phiếu theo dõi sau tiêm
Nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thử nghiệm bộ công cụ trước và chỉnh sửa một số nội dung và câu từ cho phù hợp với ĐTNC trước khi đưa vào điều tra chính thứcđể hạn chế tối đa sai số nhớ lại
Chúng tôi chọn ĐTNC là bà mẹ sinh con dưới 1 tuổi, bà mẹ, mới vừa xảy ra trong vòng 1 năm qua tính đến thời điểm phỏng vấn điều tra, với những thao tác chăm sóc trực tiếp của người đỡ đẻ trên cơ thể bà mẹ và trẻ, nên khả năng nhớ của bà mẹ rất lâu
Chọn ĐTV am hiểu về CSTY và chăm sóc thường quy cơ bản cho bà mẹ và trẻ trong và ngay sau sinh Họ được tập huấn kỹ trước khi tiến hành điều tra chính thức, tham gia cùng nhóm nghiên cứu thử nghiệm bộ câu hỏi, giám sát thường xuyên, chặt chẽ của nghiên cứu viên, để chỉnh sửa những thiếu sót kịp thời
HUPH
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thông tin cá nhân và gia đình bà mẹ
Bảng 3.1 Thông tin về cá nhân bà mẹ (n = 209)
Trong số 209 bà mẹ tham gia nghiên cứu, bà mẹ ít tuổi nhất là 16 tuổi và nhiều tuổi nhất là 45 tuổi, với tuổi trung bình 26,2± 7,4 tuổi Số bà mẹ có trình độ học vấn tiểu học, mù chữ chiếm 46% Đa số bà mẹ làm nông nghiệp chiếm (81,3%)
và có thẻ BHYT (100%) Đa số các bà mẹ đang có chồng chiếm tỷ lệ 96,7%
HUPH
Trang 39Bảng 3.2 Thông tin gia đình của bà mẹ (n = 209)
Cơ cấu gia đình
HUPH
Trang 403.1.2 Thông tin về lịch sử sản khoa của bà mẹ
Bảng 3.4 Số lần bà mẹ sinh con và số con hiện có (n = 209)
HUPH