ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Để đảm bảo tính thống nhất trong nghiên cứu, đối tượng được lựa chọn là nhân viên y tế tại 08 Trung tâm y tế ở tỉnh Vĩnh Long, những người trực tiếp tham gia chống dịch trong cộng đồng và bắt buộc phải mặc trang phục phòng hộ cá nhân (PTPHCN) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Tiêu chuẩn lựa chọn là nhân viên y tế làm việc tại 08 Trung tâm y tế huyện, thị xã và thành phố ở tỉnh Vĩnh Long, những người đã tham gia trực tiếp vào công tác chống dịch trong ít nhất 3 tháng từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2021 Đối tượng này phải thực hiện các công việc ngoài trời như lấy mẫu, đo thân nhiệt, phun sát khuẩn và hướng dẫn khai báo y tế, đồng thời có thời gian mặc trang phục phòng hộ cá nhân ít nhất trong một ca làm việc.
Nhân viên y tế sẽ bị loại trừ khỏi nghiên cứu nếu họ không đồng ý tham gia, tham gia không đầy đủ quy trình, hoặc vắng mặt vì lý do như đi công tác hoặc nghỉ phép trong thời gian nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 06/2021 đến tháng 10/2022 Địa điểm: Tại 08/08 Trung tâm y tế huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Thiết kế nghiên cứu
Cỡ mẫu
Đơn vị mẫu là số người tham gia nghiên cứu Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ:
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra
- Z 2 1-α/2: Hệ số tin cậy mức 95%, tương ứng là 1,96
Tỉ lệ ước tính p được chọn là 50% (p = 0,5) do chưa có nghiên cứu tương tự trước đó, nhằm đạt được cỡ mẫu cao nhất cho nghiên cứu về cảm nhận căng thẳng nhiệt.
- d = 0,05 (độ chính xác tuyệt đối)
Theo công thức tính cỡ mẫu, nghiên cứu yêu cầu 85 mẫu Với tỷ lệ từ chối dự kiến là 5%, cỡ mẫu cần thiết để đánh giá là 405 người Tuy nhiên, tổng số mẫu thu thập thực tế đạt 416 mẫu.
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã chọn mẫu từ tất cả các Trung tâm y tế với cùng đối tượng và loại công việc dựa trên nhiệm vụ chính của nhân viên y tế (NVYT) trong hoạt động phòng chống dịch COVID-19 Số lượng NVYT trong nghiên cứu tại các Trung tâm y tế là tương đồng, với mỗi Trung tâm y tế chọn 53 người làm việc ngoài trời, thực hiện các nhiệm vụ như lấy mẫu, đo thân nhiệt, phun sát khuẩn và hướng dẫn khai báo y tế Tất cả đều có thời gian mặc trang phục phòng hộ cá nhân (PTPHCN) ít nhất một ca làm việc kéo dài 4 giờ.
Chúng tôi đã lập danh sách những nhân viên y tế (NVYT) đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn tại các Trung tâm y tế Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được sử dụng để đảm bảo đủ số lượng mẫu tại mỗi Trung tâm y tế tham gia nghiên cứu Cụ thể, mỗi Trung tâm y tế được chọn 53 người.
Bảng 2.1 Tổng hợp NVYT tuyến huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long
Tổng số NVYT tại Trung tâm
Số NVYT không trực tiếp chống dịch
Số NVYT trực tiếp chống dịch
1 Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Long 192 107 85
2 Trung tâm y tế thị xã Bình Minh 181 93 88
3 Trung tâm y tế huyện Bình Tân 178 108 70
4 Trung tâm y tế huyện Tam Bình 198 104 94
5 Trung tâm y tế huyện Trà Ôn 185 102 83
6 Trung tâm y tế huyện Long Hồ 188 95 93
7 Trung tâm y tế Nguyễn Văn Thủ, huyện Vũng Liêm
8 Trung tâm y tế huyện Mang Thít 168 102 66
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ được phát triển dựa trên công cụ nhận thức về mức độ căng thẳng nhiệt của nhân viên y tế khi mặc PTPHCN, được dịch sang tiếng Việt và điều chỉnh cho phù hợp với ngữ cảnh địa phương Nghiên cứu đã thử nghiệm bộ câu hỏi trên 20 nhân viên y tế tại các Trung tâm y tế thông qua hình thức phát vấn, nhằm đánh giá tính phù hợp ngữ nghĩa và đảm bảo không có nội dung trùng lặp Qua đó, định nghĩa biến số, ngôn từ, cấu trúc bộ câu hỏi được hoàn thiện và độ tin cậy của bộ câu hỏi được đánh giá trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức Đối tượng tham gia tự điền vào bảng câu hỏi, giúp thuận lợi cho việc hướng dẫn trực tiếp trong quá trình thu thập dữ liệu.
HUPH ĐTNC, giúp số liệu thu thập được phản ánh chính xác hơn) Bộ câu hỏi gồm các nhóm biến số chính sau đây:
*Biến độc lập (biến đầu vào hoặc yếu tố liên quan):
1 Đặc điểm cá nhân: Tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao, BMI (thể trạng cơ thể: được tính dựa vào công thức: cân nặng (kg)/chiều cao 2 (m 2 )), chuyên môn, thâm niên, thời gian làm việc mỗi tuần
2 Phương tiện phòng hộ cá nhân được sử dụng: bộ trang phục quần áo rời, bộ trang phục bảo hộ liền thân, găng tay, khẩu trang N95 hoặc tương đương, tạp dề bán thấm, mũ, ủng bảo hộ, bao giày, tấm che mặt, kính bảo hộ
Công việc bao gồm lấy mẫu xét nghiệm, đo nhiệt độ bệnh nhân, phun khử khuẩn và hướng dẫn khai báo y tế Môi trường làm việc có thời gian làm việc trong ngày, thời gian mặc trang phục bảo hộ cá nhân (PTPHCN), thời gian nghỉ ngơi và số lượng mẫu cần xử lý.
*Biến phụ thuộc (biến đầu ra)
Cảm nhận căng thẳng nhiệt: Trong nghiên cứu của chúng tôi, NVYT có cảm nhận căng thẳng nhiệt khi có 2 điều kiện sau:
1 Có tất cả những cảm nhận về nhiệt sau:
Cảm nhận về sự thoải mái nhiệt khi mặc PTPHCN: lựa chọn giá trị không (Câu hỏi E1 trong phụ lục 2)
Cảm nhận về sự thay đổi về mồ hôi của nhân viên y tế sau 2 giờ mặc PTPHCN liên tục: lựa chọn giá trị nhiều (Câu hỏi E2 trong phụ lục 2)
Cảm giác nhiệt sau khi thực hiện công việc có thể được phân loại thành các mức độ khác nhau, bao gồm nóng, rất nóng, khó chịu hoặc không thể chịu đựng được.
2 Và với ít nhất 1 cảm nhận về vấn đề sức khỏe do nhiệt: lựa chọn từ ít nhất 1 giá trị trong 11 giá trị sau: khát nước, đổ quá nhiều mồ hôi, mất nước, thở khó khăn, kiệt sức, muốn đến một khu vực thoải mái hơn, đau đầu, chóng mặt, nôn, khác (6, 40) (Câu hỏi F11 trong phụ lục 2)
Nhận thức về hậu quả do căng thẳng nhiệt được khảo sát qua 10 câu hỏi với thang đo Likert từ không đồng ý đến rất đồng ý Các vấn đề được đề cập bao gồm sự không thoải mái khi mặc trang phục bảo hộ cá nhân (PTPHCN), thiếu thời gian nghỉ giải lao, và hiệu suất làm việc giảm khi mặc PTPHCN Ngoài ra, việc giữ cơ thể không mất nước trong ca trực được coi là rất quan trọng, nhưng nhiều người không có thời gian bổ sung nước trong phiên làm việc Nhiều nhân viên cũng không nghỉ để tiết kiệm PTPHCN hoặc để tránh lây COVID-19, và họ thường không ăn hoặc uống để tránh phải đi vệ sinh Cuối cùng, việc uống nước đá được cho là giúp tăng sức chịu nhiệt của nhân viên y tế, trong khi PTPHCN ngăn cản mồ hôi bốc hơi.
6) (Câu hỏi F1-10 trong phụ lục 2)
2.6.2 Cách thức thu thập dữ liệu
Phát phiếu thu thập số liệu cho ĐTNC nhằm đánh giá cảm nhận về nhiệt tác động đến nhân viên y tế khi mặc trang phục phòng hộ cá nhân trong thời gian chống dịch COVID-19 năm 2021 bằng phương pháp hồi cứu.
Tác giả luận văn cùng với cán bộ khoa kiểm soát bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Long đã thiết kế và thử nghiệm bộ câu hỏi, công cụ thu thập dữ liệu Việc triển khai được thực hiện với sự phối hợp của các Chủ tịch Công đoàn cơ sở tại các Trung tâm y tế, nhằm gửi bộ câu hỏi cho đối tượng nghiên cứu tự điền thông qua hình thức phát vấn.
- Các bước thực hiện cụ thể như sau:
Bước 1 : Nghiên cứu viên xin ý kiến chấp thuận của Ban Lãnh đạo Sở Y tế Vĩnh
Công đoàn ngành y tế tỉnh Vĩnh Long đã phối hợp với Ban giám đốc các Trung tâm y tế để thu thập số liệu trên địa bàn, đồng thời thống nhất thời gian và phương pháp thu thập dữ liệu.
Bước 2 : Sau khi đã được đồng ý từ các cấp lãnh đạo, trình giấy giới thiệu của
Trường Đại học Y tế công cộng đã tiến hành nghiên cứu tại các Trung tâm y tế với mục đích rõ ràng Nghiên cứu viên lập danh sách nhân viên y tế (NVYT) đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để thu thập đủ 53 mẫu từ mỗi Trung tâm y tế tham gia nghiên cứu.
Bước 3 : Phối hợp với các Chủ tịch Công đoàn cơ sở tại các Trung tâm y tế phổ
HUPH đã điều chỉnh mục đích và nội dung nghiên cứu để ĐTNC dễ dàng chấp nhận tham gia Đồng thời, HUPH cũng gửi cho ĐTNC bộ câu hỏi thu thập thông tin để ĐTNC tự điền theo hình thức phát vấn.
Sau khi ĐTNC hoàn thành việc điền thông tin vào bộ câu hỏi, điều tra viên sẽ thu lại bộ câu hỏi và kiểm tra lại các thông tin đã ghi Tiếp theo, giám sát viên sẽ tiến hành kiểm tra lại thông tin trong phiếu Cuối cùng, điều tra viên sẽ tổng hợp các phiếu sau khi kết thúc quá trình phát vấn tại từng Trung tâm y tế.
Mỗi Trung tâm thu thập dữ liệu trong một ngày, thực hiện ĐTNC hồi cứu về trải nghiệm căng thẳng nhất khi mặc PTPHCN từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2021 Thời gian thu thập số liệu diễn ra vào tháng 12 năm 2021.
Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu được nhập và quản lý thông qua phần mềm Epidata 3.1, sau đó được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.
Phân tích được thực hiện gồm:
Phân thống kê mô tả cung cấp thông tin dưới dạng tần số n và tỷ lệ % Trong khi đó, phần thống kê phân tích xác định các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến cảm nhận căng thẳng nhiệt của nhân viên y tế thông qua phép kiểm định Chi bình phương (χ2) với mức ý nghĩa thống kê p 480 phút 121 (92,4) 10 (7,6) 131 3,46 (1,57 – 7,61) 0,001 Thời gian NVYT mặc PTPHCN trong ca làm việc
> 240 phút 149 (92,0) 13 (8,0) 162 5,47 (2,54 – 11,8)