ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối với nghiên cứu định lượng:
+ Người nhiễm HIV có tuổi ≥ 16 tuổi
+ Thời gian điều trị ARV đủ 12 tháng trở lên
+ Có đủ sức khỏe tỉnh táo để trả lời các câu hỏi phỏng vấn
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Thời gian điều trị ARV < 12 tháng
+ Không đủ sức khỏe để tỉnh táo trả lời các câu hỏi phỏng vấn
+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu
Đối với nghiên cứu định tính:
Cán bộ lãnh đạo PKNT bệnh viện đa khoa Đồng Tháp
Cán bộ y tế chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám
Bệnh nhân đăng ký chăm sóc, điều trị ARV tại PKNT bệnh viện đa khoa Đồng Tháp.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016
- Địa điểm nghiên cứu: tại PKNT bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp.
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả phối hợp, nghiên cứu định lượng và định tính.
Cỡ mẫu: Chọn toàn bộ
Từ tháng 04 năm 2015 đến tháng 04 năm 2016, 150 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đã đăng ký điều trị tại PKNT Bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp theo tiêu chuẩn chọn mẫu.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn đối tượng tham gia nghiên cứu định lượng bằng cách lấy mẫu toàn bộ các đối tượng phù hợp với tiêu chí, dựa trên hồ sơ bệnh án và danh sách các bệnh nhân đang được điều trị ARV tại PKNT bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp, ước tính khoảng 150 bệnh nhân.
- Chọn đối tượng tham gia nghiên cứu định tính:
01 Lãnh đạo PKNT Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp
+ 01 Cán bộ y tế chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám
Phỏng vấn sâu 10 bệnh nhân phù hợp với tiêu chí chọn vào
Thảo luận nhóm người nhiễm HIV đang điều trị ARV 2 nhóm ( mỗi nhóm10 người)
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu
Phương pháp định lượng bao gồm:
- Bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân điều trị ARV
- Bảng thu thập số liệu về tình trạng sức khỏe và điều trị ARV
Phương pháp định tính bao gồm:
-Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo và cán bộ chăm sóc điều trị PKNT
- Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu bệnh nhân HIV tại PKNT
- Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm bệnh nhân đang điều trị ARV
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu định lượng:
- Phối hợp với PKNT lên danh sách đối tượng tham gia phỏng vấn
Điều tra viên đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp các bệnh nhân đang điều trị ARV tại Phòng khám Nhiệt đới Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, đồng thời thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và sổ quản lý bệnh nhân HIV/AIDS tại đây.
- Nơi phỏng vấn đảm bảo tính riêng tư, không bị quấy rầy trong suốt thời gian phỏng vấn, người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái, dễ chịu
Điều tra viên là cán bộ của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh, đã được tập huấn về nghiên cứu trước khi thu thập số liệu Giám sát viên là nghiên cứu viên của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh.
Đối với nghiên cứu định tính:
Điều tra viên đã liên hệ trực tiếp với trưởng phòng khám nội tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp để trình bày lý do nghiên cứu và xin phép thực hiện phỏng vấn sâu với trưởng phòng khám cùng các cán bộ điều dưỡng chăm sóc điều trị.
- Phỏng vấn sâu 10 bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị ARV đủ tiêu chuẩn
- Thảo luận nhóm: trên nhóm bệnh nhân đã được chọn vào tiêu chuẩn nghiên cứu chọn 10 người tham gia thảo luận nhóm.
Các biến số nghiên cứu
Các biến số được chia thành 2 nhóm lớn theo từng mục tiêu nghiên cứu :
Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả kết quả điều trị ARV sau 12 tháng cho bệnh nhân HIV tại phòng khám ngoại trú của bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp, trong năm 2016.
Bao gồm các nhóm biến số:
- Nhóm biến số kết quả điều trị chăm sóc của phòng khám đối với BN HIV
Nhóm biến số kết quả trước và sau điều trị của bệnh nhân đang điều trị ARV bao gồm các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng như tình trạng sức khỏe được bác sĩ đánh giá, tình trạng nhiễm trùng cơ hội, tình trạng dinh dưỡng, cân nặng và kết quả xét nghiệm tế bào CD4.
- Nhóm biến số về tư vấn hỗ trợ cho bệnh nhân HIV của CBYT
- Nhóm biến số về thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân
- Nhóm biến số về tiếp cận và sử dụng dịch vụ tại PKNT
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc điều trị, chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp trong năm 2016.
- Những thuận lợi, khó khăn trong công tác điều trị, chăm sóc, tư vấn hỗ trợ người nhiễm HIV
- Những thuận lợi, khó khăn của bệnh nhân HIV trong quá trình được điều trị, chăm sóc, tư vấn hỗ trợ
Các chỉ số, biến số cần đánh giá
TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại biến
Tuổi (tính theo năm dương lịch) của đối tượng đến thời điểm điều tra theo dương lịch
A2 Giới tính Nam – Nữ Nhị phân Quan sát
Khu vực mà đối tượng thường xuyên cư trú thành thị/ nông thôn Nhị phân Phỏng vấn
A4 Dân tộc Dân tộc của đối tượng theo giấy chứng minh nhân dân Danh mục Phỏng vấn
Công việc chính tạo thu nhập hiện tại của đối tượng Danh mục Phỏng vấn
A6 Trình độ học vấn Lớp học cao nhất đối tượng đã qua Thứ hạng Phỏng vấn
Tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tượng Danh mục Phỏng vấn
Tình trạng kinh tế gia đình
Phân loại tình trạng gia đình hiện tại của người HIV: Hộ nghèo/ cận nghèo/ không nghèo
B KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHĂM SÓC
Số bệnh nhân được tiếp cận các dịch vụ điều trị chăm sóc HIV/AIDS Nhị phân Hồi cứu
Các giai đoạn biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân trong quá trình điều trị
Số tế bào lympho T trong máu người nhiễm HIV Rời rạc Hồi cứu
B4 Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội
Bệnh nhân có điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội do HIV hay không: Có/Không
B5 Điều trị nhiễm trùng cơ hội
Bệnh nhân có điều trị những bệnh nhiễm trùng cơ hội kèm theo không:
Bệnh nhân có được khám phát hiện lao hay không: Có/Không Nhị phân Điều trị
B7 Điều trị dự phòng lao bằng INH
Bệnh nhân có uống INH dự phòng khi không mắc lao tiến triển không?:
Bệnh nhân có đang sử dụng phác đồ thuốc lao hoặc vừa kết thúc phác đồ lao hay không?: Có/Không
Tình trạng bệnh nhân sau khi kết thúc điều trị (đợt điều trị):
- Không nhiễm trùng cơ hội
- Tăng số lượng tế bào CD4
Kết quả điều trị theo thời gian không đạt về mặt lâm sàng và miễn dịch Nhị phân Hồi cứu
C THỰC HÀNH VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN
C1 Quên thuốc Bệnh nhân quên uống thuốc theo đúng thời gian quy định: Có/Không Nhị phân Phỏng vấn
Cách xử trí tại nhà đối tượng áp dụng khi phát hiện ra mình quên thuốc Danh mục Phỏng vấn
Có dùng biện pháp để không quên thuốc
Bệnh nhân có dùng biện pháp để tránh quên thuốc: Có/Không Nhị phân Phỏng vấn
Biện pháp để tránh quên thuốc
Các biện pháp mà đối tượng dùng để tránh quên thuốc Danh mục Phỏng vấn
Bệnh nhân uống đủ liều thuốc được chỉ định, đúng thời gian, đúng cách:
Bệnh nhân dễ dàng đi đến sử dụng các dịch vụ của PKNT: Có/Không Nhị phân Phỏng vấn
Cơ sở vật chất tại phòng khám có sạch sẽ, tiện lợi Nhị phân Phỏng vấn
Tinh thần, thái độ của cán bộ y tế
Tinh thần, thái độ vui vẽ, thoải mái của CBYT khi tiếp cận với bệnh nhân: Có/Không
Các yếu tố thuận lợi trong các hoạt động của phòng khám ngoại trú và của bệnh nhân Định tính Phỏng vấn sâu
Khó khăn Những khó khăn của phòng khám của bệnh nhân trong quá trình điều trị Định tính Phỏng vấn sâu
Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích số liệu định tính
Sau khi thu thập thông tin, tiến hành gỡ băng ghi âm để phân tích và tổng hợp theo chủ đề Thông tin trong từng chủ đề sẽ được so sánh và đối chiếu giữa các nguồn cung cấp và phương pháp thu thập.
Phân tích định tính giúp xác định thông tin cần thiết để trả lời các câu hỏi chính của nghiên cứu, từ đó làm rõ mục tiêu nghiên cứu Ngoài ra, thông tin thu được từ nghiên cứu định tính còn hỗ trợ giải thích các dữ liệu từ nghiên cứu định lượng.
Phân tích số liệu định lượng
Làm sạch và nhập số liệu bằng phần mềm EPIDATA, trong đó thực hiện nhập lại 10% tổng số phiếu điều tra để đánh giá chất lượng nhập liệu Đồng thời, chạy thử phần mềm xử lý số liệu để phát hiện các lỗi do nhập liệu sai sót và không hợp lệ.
- Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích số liệu
Dữ liệu phân tích được căn cứ vào Quyết định 3047/QĐ-BYT ngày 22 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, quy định về Hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Các vấn đề đạo đức được thảo luận kỹ lưỡng với tất cả thành viên trong nhóm, nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đạo đức Thông tin của bệnh nhân điều trị ARV được bảo mật tuyệt đối, bao gồm họ tên, địa chỉ và thông tin cá nhân khác Không ghi họ tên bệnh nhân trên bất kỳ phiếu thu thập số liệu nào, chỉ sử dụng mã số bệnh nhân Tất cả thành viên trong nhóm cam kết không tiết lộ thông tin cá nhân của bệnh nhân Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích nghiên cứu và chỉ tiến hành khi có sự đồng ý của họ Tính bí mật của thông tin thu thập được đảm bảo, và các số liệu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Toàn bộ đề cương nghiên cứu cần được hội đồng nhà trường xem xét và phê duyệt theo quy trình xét duyệt đạo đức rút gọn, đồng thời phải có sự đồng ý của lãnh đạo Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp.
Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi về PKNT để nâng cao các hoạt động chất lượng chăm sóc và điều trị ARV cho người nhiễm HIV/AIDS.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Nghiên cứu này chỉ được thực hiện tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, do đó các số liệu thu thập chỉ có giá trị trong phạm vi hạn chế Cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo trên diện rộng hơn để có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề.
Sai lệch thông tin do đối tượng không nói thật hoặc không nhớ chính xác Sai lệch thông tin có thể do đối tượng không hiểu rõ câu hỏi
Do chủ quan của điều tra viên trong quá trình thu thập số liệu, sai số trong quá trình nhập số liệu và phân tích số liệu
- Định nghĩa rõ ràng đối tượng cần khảo sát căn cứ tiêu chuẩn được chọn và tiêu chuẩn loại ra
- Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, rõ ràng, dễ hiểu
Tất cả những người tham gia nghiên cứu đều được tập huấn kỹ lưỡng và thống nhất về cách phỏng vấn theo mẫu phiếu thu thập số liệu đã được hiệu chỉnh Phiếu này đã trải qua nhiều lần tập huấn phỏng vấn thử để loại bỏ những tình huống và từ ngữ gây hiểu lầm, đồng thời bổ sung các lựa chọn phát sinh Các câu hỏi trong phiếu nghiên cứu chủ yếu là câu hỏi có sẵn, giúp người tham gia dễ dàng lựa chọn, tránh tình trạng không thể nêu ra ý kiến do vấn đề tâm lý.
- Tạo không khí thân mật, thoải mái trong quá trình phỏng vấn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)
Nữ 73 48,7 Địa chỉ Thành thị 110 73,3
Tình trạng hôn nhân Độc thân 28 18,7
Hộ nghèo và cận nghèo 67 44,7
Trong nghiên cứu với 150 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới chiếm 51,3% và nữ giới chiếm 48,7% Đối tượng bệnh nhân chủ yếu nằm trong độ tuổi lao động, với 10,7% ở độ tuổi 25-29 và 79,3% trong độ tuổi từ 30-50 Người trẻ nhất là 20 tuổi và người lớn tuổi nhất là 57 tuổi.
Trong nghiên cứu, lao động tự do chiếm 31,4%, nông dân 23,3%, buôn bán-dịch vụ 14,7%, nội trợ 13,3%, công nhân 12,7%, cán bộ nhân viên 3,3%, và 1,3% là bệnh nhân thất nghiệp Đặc biệt, 46,7% người nhiễm HIV thuộc học ấp II, trong đó có 10% bệnh nhân mù chữ Về tình trạng hôn nhân, 78,7% bệnh nhân có gia đình, 18,7% độc thân, và 2,6% đã ly dị hoặc ly thân.
Về tình hình kinh tế, số bệnh nhân nằm trong diện hộ nghèo và cận nghèo chiếm 44,7%, còn lại 55,3% là những bệnh nhân không nghèo.
Kết quả điều trị, chăm sóc, tư vấn hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
3.2.1 Kết quả điều trị chăm sóc:
Bảng 3.2: Cân nặng trung bình của bệnh nhân sau quá trình điều trị ARV: Thời gian Cân nặng trung bình (Kg)
Khi bắt đầu điều trị, cân nặng trung bình của bệnh nhân là 51,36 ± 8,56 kg Sau 6 tháng điều trị, cân nặng trung bình tăng lên 52,56 ± 8,003 kg, và sau 12 tháng, cân nặng trung bình đạt 54,07 ± 7,84 kg Sự tăng cân này diễn ra dần dần theo thời gian, cho thấy sự đáp ứng tích cực với liệu pháp ARV.
Bảng 3.3: Chỉ số xét nghiệm CD4 sau thời gian điều trị ARV 6 tháng,12tháng
Trong giai đoạn bắt đầu điều trị, 38,7% bệnh nhân có chỉ số CD4 dưới 100, 51,3% có chỉ số từ 100 đến dưới 350, 8% từ 350 đến dưới 500, và chỉ 2% từ 500 trở lên Sau 6 tháng điều trị ARV, tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số CD4 dưới 100 giảm xuống còn 8,6%, trong khi tỷ lệ từ 100 đến dưới 350 tăng lên 54,7%, từ 350 đến dưới 500 chiếm 22,7%, và từ 500 trở lên đạt 14% Đến 12 tháng điều trị, chỉ số CD4 dưới 100 chỉ còn 2,7%, tỷ lệ từ 100 đến dưới 350 giảm xuống 49,3%, trong khi tỷ lệ từ 350 đến dưới 500 giữ nguyên 22,7% và từ 500 trở lên tăng lên 25,3% Sự gia tăng của chỉ số CD4 theo thời gian cho thấy bệnh nhân đáp ứng tốt với thuốc ARV.
Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm Trùng cơ hội theo thời gian điều trị ARV Đặc điểm
Nhận xét: Ở giai đoạn bắt đầu điều trị ARV, trong số 150 người bệnh nhiễm
HIV/AIDS có 70 người bệnh có nhiễm trùng cơ hội (chiếm tỷ lệ 46,7%) Sau 6
HUPH tháng điều trị ARV, giảm còn 27 người bệnh có nhiễm trùng cơ hội (chiếm tỷ lệ
18%) Sau 12 tháng điều trị ARVchỉ còn lệ 12,7% nhiễm trùng cơ hội giảm rất rõ qua thời gian , chứng tỏ hiệu quả của ARV
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ bệnh nhân điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội theo thời gian điều trị
Sau 6 tháng điều trị ARV, 66,7% trong số 100 bệnh nhân được điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội Tuy nhiên, sau 12 tháng điều trị, tỷ lệ này giảm xuống còn 53,3% Điều này cho thấy rằng sau thời gian điều trị, số bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng cơ hội đã giảm rõ rệt.
Bảng 3.5: Tỷ lệ bệnh nhân được khám phát hiện lao Đặc điểm
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số 150 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, có 9 người được phát hiện mắc lao sau 6 tháng điều trị ARV, chiếm tỷ lệ 6% Ngược lại, 141 bệnh nhân không có dấu hiệu mắc lao sau thời gian điều trị này, chiếm tỷ lệ 94%.
HUPH người bệnh được khám phát hiện lao sau 12 tháng điều trị ARV (chiếm tỷ lệ 6%) và
141 người bệnh được khám và không phát hiện lao sau 12 tháng điều trị ARV (chiếm tỷ lệ 94%)
Bảng 3.6: Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị dự phòng lao Đặc điểm Điều trị dự phòng lao
6 tháng Điều trị dự phòng lao
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Trong 150 người bệnh nhiễm HIV/AIDS, sau 6 tháng điều trị
Trong nghiên cứu về điều trị ARV, có 23 bệnh nhân được điều trị dự phòng lao, chiếm 15,3%, trong khi 127 bệnh nhân không được điều trị dự phòng lao, chiếm 84,7% Sau 12 tháng điều trị ARV, số bệnh nhân được điều trị dự phòng lao giảm còn 20, chiếm 13,3%.
130 người bệnh không được điều trị dự phòng lao (chiếm tỷ lệ 86,7%).
Bảng 3.7: Kết quả sau 12 tháng điều trị ARV Kết quả sau 12 tháng điều trị
ARV Tần số Tỷ lệ (%)
Không đạt (thất bại điều trị) 19 12,7 Đạt ( Điều trị tốt ) 131 87,3
Nhận xét: Trong 150 người bệnh nhiễm HIV/AIDS, sau 12 tháng điều trị
ARV có 19 người bệnh không đạt ( thất bại điều trị ) chiếm tỷ lệ 12,7%) và 131 người bệnh có kết quả điều trị đạt (điều trị tốt) chiếm tỷ lệ 87,3%
Bảng 3.8: Giai đoạn lâm sàng theo thời gian điều trị ARV
Bắt đầu điều trị ARV
Nhận xét: Ở giai đoạn bắt đầu điều trị, trong 150 người bệnh nhiễm
Trong số 150 người bệnh nhiễm HIV/AIDS, có 1 người ở giai đoạn lâm sàng 1 (0,7%), 86 người ở giai đoạn lâm sàng 2 (57,3%), và 63 người ở giai đoạn lâm sàng 3 (42%), không có ai ở giai đoạn lâm sàng 4 Sau 6 tháng điều trị ARV, tỷ lệ người bệnh ở giai đoạn lâm sàng 1 tăng lên 18,7% với 28 người, giai đoạn 2 chiếm 64,7% với 97 người, và giai đoạn 3 giảm xuống 16,6% với 25 người Sau 12 tháng điều trị ARV, có 44 người ở giai đoạn lâm sàng 1 (29,3%), 98 người ở giai đoạn lâm sàng 2 (65,4%), và 8 người ở giai đoạn lâm sàng 3.
Tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn lâm sàng 3 là 5,3%, trong khi không có bệnh nhân nào ở giai đoạn lâm sàng 4 Điều này chứng tỏ hiệu quả của liệu pháp ARV đã cải thiện tình trạng lâm sàng theo thời gian.
3.2.2 Thực hành về tuân thủ điều trị của bệnh nhân :
Bảng 3.9: Tỷ lệ Bệnh nhân quên uống thuốc ARV Đặc điểm Bệnh nhân quên uống thuốc
Nhận xét: Trong 150 bệnh nhân tham gia điều trị ARV, có 53 bệnh nhân quên uống thuốc (chiếm 35,3%) và còn lại 97 bệnh nhân không quên uống thuốc (chiếm 64,7%)
Bảng 3.10: Tỷ lệ bệnh nhân có số lần quên thuốc
Bệnh nhân quên uống thuốc Tần số Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Trong tổng số 53 bệnh nhân quên uống thuốc, có 39 bệnh nhân quên uống từ 1-2 lần (chiếm 73,6%), còn lại 14 bệnh nhân quên uống >2 lần (chiếm 26,4%)
Bảng 3.11: Tỷ lệ các biện pháp khi quên uống thuốc
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Uống bù cùng lúc 2 liều 8 15,1
Uống ngay sau khi nhớ 28 52,8
Bỏ liều đó, uống liều kế tiếp 17 32,1
Trong một nghiên cứu về biện pháp khắc phục khi quên uống thuốc của 53 bệnh nhân, có 15,1% bệnh nhân (8 người) đã chọn uống bù cùng lúc 2 liều Đáng chú ý, 52,8% bệnh nhân (28 người) đã quyết định uống ngay sau khi nhớ, trong khi 32,1% (17 người) đã bỏ liều đó và uống liều kế tiếp Không có bệnh nhân nào sử dụng biện pháp khác.
Biểu đồ 3.2: Biện pháp để tránh quên uống thuốc
Trong nghiên cứu với 150 bệnh nhân, có 117 bệnh nhân (78%) đã áp dụng biện pháp để tránh quên uống thuốc, trong khi 33 bệnh nhân (22%) không sử dụng biện pháp nào.
Bảng 3.12: Tỷ lệ bệnh nhân dùng các biện pháp để tránh quên thuốc Biện pháp tránh quên thuốc Tần số Tỷ lệ (%)
Nhờ người thân nhắc 18 15,4 Đồng hồ báo 86 73,5 Để thuốc ở vị trí dễ thấy 14 12,0
Nhận xét: Trong tổng số bệnh nhân dùng các biện pháp để tránh quên thuốc
Trong số 118 bệnh nhân, có 15,4% (18 bệnh nhân) sử dụng biện pháp nhờ người thân nhắc nhở, 73,5% (86 bệnh nhân) chọn biện pháp sử dụng đồng hồ báo, và 12% (14 bệnh nhân) để thuốc ở vị trí dễ lấy.
Bảng 3.13: Tỷ lệ bệnh nhân có tuân thủ đúng trong quá trình điều trị Bệnh nhân tuân thủ điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số 150 bệnh nhân tham gia điều trị, có 98% (147 bệnh nhân) tuân thủ đúng quy trình điều trị, trong khi chỉ có 2% (3 bệnh nhân) không tuân thủ.
3.2.3 Kết quả tư vấn hỗ trợ cho bệnh nhân HIV/AIDS:
Bảng 3.14: Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn hỗ trợ trước điều trị
Hỗ trợ tư vấn trước điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số 150 bệnh nhân điều trị HIV/AIDS, 100% đã nhận được tư vấn hỗ trợ trước khi bắt đầu điều trị, không có bệnh nhân nào thiếu sự tư vấn này.
Bảng 3.15: Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn hỗ trợ mỗi lần đến khám
Hỗ trợ tư vấn trước điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Trong mỗi lần khám, có 148 trên 150 bệnh nhân được tư vấn hỗ trợ, chiếm tỷ lệ 98,7% Chỉ có 2 bệnh nhân không nhận được tư vấn, tương đương 1,3%.
Bảng 3.16: Tỷ lệ bệnh nhân nhận được các loại tư vấn hỗ trợ trong quá trình điều trị
Tư vấn hỗ trợ điều trị Tần số Tỷ lệ (%)
Tác dụng phụ của thuốc ARV 146 98,6
Trong quá trình điều trị cho 150 bệnh nhân, có đến 98,6% (146 bệnh nhân) được tư vấn hỗ trợ tuân thủ điều trị và tác dụng phụ của thuốc ARV Bên cạnh đó, 98% (145 bệnh nhân) được tư vấn về dự phòng lây truyền, cùng với các vấn đề khác liên quan đến sức khỏe.
Bảng 3.17: Tỷ lệ bệnh nhân được hỗ trợ từ phòng khám
Hỗ trợ từ phòng khám Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số 150 bệnh nhân tham gia điều trị, 144 bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ từ phòng khám, chiếm 96%, trong khi chỉ có 6 bệnh nhân không được hỗ trợ, chiếm 4%.
Bảng 3.18: Tỷ lệ bệnh nhân nhận được các hỗ trợ từ phòng khám
Hỗ trợ bệnh nhân Tần số Tỷ lệ (%)
Hỗ trợ chi phí nằm viện 2 1,3
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nam giới chiếm 51,3%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây, như của Vũ Công Thảo (72,8%), Võ Minh Tuệ (71,8%), Lê Bửu Châu (79,1%), Hà Thị Nguyền (66%) và Phạm Thế Cương (59,81%) Ngược lại, tỷ lệ nữ giới đạt 48,7%, cao hơn so với các nghiên cứu của Vũ Công Thảo (27,2%), Tô Minh Tuệ (28,2%) và Lê Bửu Châu (20,9%).
Trong nghiên cứu, 79,3% bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS thuộc nhóm tuổi từ 30-50, tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây như của Vũ Công Thảo (54,5%), Tô Minh Tuệ (40,9%), Lê Bửu Châu (31,5%), Hà Thị Nguyền (50%) và Phạm Thế Cương (47,66%) Điều này cho thấy bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS chủ yếu nằm trong độ tuổi lao động, ảnh hưởng đến khả năng cống hiến sức lao động của họ.
HUPH giảm và mất khả năng lao động, tạo gánh nặng cho xã hội, ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước [25], [13]
Trong nghiên cứu này, đa số bệnh nhân HIV/AIDS chỉ đạt trình độ học vấn từ cấp 1 (26,7%) đến cấp 2 (46,7%), thấp hơn so với nghiên cứu của Bùi Nhung Hằng năm 2012, nơi tỷ lệ bệnh nhân có trình độ cấp 2 là 62,5% So với nghiên cứu của Tô Minh Tuệ, tỷ lệ bệnh nhân có trình độ tiểu học là 38,2% và trung học cơ sở là 41,8%, trong khi nghiên cứu của Lê Bửu Châu cho thấy tỷ lệ này lần lượt là 20,9% và 52,3% Nghiên cứu của Trần Xuân Thanh năm 2012 cũng chỉ ra sự khác biệt trong trình độ học vấn của bệnh nhân HIV/AIDS tại các phòng khám ngoại trú tỉnh Bắc Giang.
Năm 2012, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV ở nhóm có trình độ tiểu học đạt 6,2%, cao hơn so với nhóm có trình độ trung học cơ sở là 59,1% Nghiên cứu của Tạ Thị Lam Hương cũng cho thấy tỷ lệ này cao hơn ở nhóm tiểu học (18,6%) và thấp hơn ở nhóm trung học cơ sở (50,3%) Trong khi đó, nghiên cứu của Hà Thị Nguyền ghi nhận tỷ lệ tuân thủ thấp hơn ở nhóm tiểu học (35%) và cao hơn ở nhóm trung học cơ sở (40%).
Trong nghiên cứu này, đa số bệnh nhân HIV/AIDS có nghề nghiệp tự do, chiếm 31,4% Tỷ lệ này cao hơn 3,6% so với nghiên cứu của Tô Minh Tuệ và cao hơn 23,6% so với nghiên cứu của Tạ Thị Lam Hương Tuy nhiên, tỷ lệ này lại thấp hơn 10,1% so với nghiên cứu của Trần Thanh Xuân, nơi tỷ lệ bệnh nhân có nghề tự do là 41,5%.
Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS tại Trung tâm y tế dự phòng quận 6 là 71,3%, thấp hơn so với nghiên cứu của Vũ Công Thảo (72,9%) và Hà Thị Nguyền (40%) Đặc biệt, tỷ lệ nông dân trong nghiên cứu này chỉ chiếm 23,3%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 80% được ghi nhận trong nghiên cứu của Tô Minh Tuệ.
[34], cao hơn so với nghiên cứu của Hà Thị Nguyền (5%) và cao hơn so với nghiên cứu của Trần Xuân Thanh (16,8%) [25], [28]
Trong nghiên cứu này, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 100%, cao hơn so với nghiên cứu của Hà Thị Nguyền (97%) và Tô Minh Tuệ (11,8%) [25], [34].
Trong nghiên cứu này, phần lớn bệnh nhân sống tại khu vực thành thị, chiếm 73,3%, cao hơn so với tỷ lệ 66,7% được ghi nhận trong nghiên cứu của Lê Bửu Châu.
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ cao hơn so với nghiên cứu của Phạm Thế Cương (44,9%) và Đinh Minh Lộc năm 2012 về chẩn đoán và kết quả điều trị lao ở bệnh nhân Lao/HIV tại tỉnh Đồng Tháp (25,6%).
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh có gia đình đạt 78,7%, cao hơn so với nghiên cứu của Tô Minh Tuệ (75,5%), Vũ Công Thảo (54,5%), Hà Thị Nguyền (29%) và Nguyễn Thị Mỹ Tiên (44%), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Tạ Thị Lam Hương (64,2%).
- Tỷ lệ người bệnh độc thân chiếm 18,7%, tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của
Tô Minh Tuệ có tỷ lệ 20,9%, thấp hơn so với nghiên cứu của Vũ Công Thảo (27,5%), Hà Thị Nguyền (47%) và Nguyễn Thị Mỹ Tiên (44,4%), nhưng cao hơn nghiên cứu của Tạ Thị Lam Hương (11,8%).
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh thuộc hộ nghèo và cận nghèo là 44,7%, thấp hơn so với nghiên cứu của Tạ Thị Lam Hương, ghi nhận tỷ lệ 45,6% [19].
Kết quả điều trị chăm sóc, tư vấn hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
4.2.1 Kết quả điều trị chăm sóc:
4.2.1.1 Cân nặng trung bình của bệnh nhân sau quá trình điều trị ARV:
Trong nghiên cứu này, cân nặng trung bình của bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị là 51,36 ± 8,56 kg Sau 6 tháng điều trị, cân nặng trung bình của bệnh nhân đã tăng lên 52,56 ± 8,003 kg.
12 tháng, cân nặng trung bình tăng lên nằm trong khoảng 54,07± 7,84 kg Sau 6
Trong nghiên cứu này, HUPH đã điều trị ARV cho 150 bệnh nhân, cho thấy cân nặng trung bình tăng 1,20±8.56 kg sau khi bắt đầu điều trị và 2,71±7,84 kg sau 12 tháng, mặc dù vẫn thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Trần Xuân Thanh Điều này cho thấy chỉ số cân nặng trung bình của bệnh nhân đã có sự cải thiện đáng kể Về chế độ dinh dưỡng, người nhiễm HIV/AIDS cần có khẩu phần ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như gạo, ngô, khoai, thịt, cá, trứng, sữa và rau quả, nhằm đáp ứng nhu cầu protein và năng lượng cao hơn để chống lại virus Theo tài liệu từ Viện nghiên cứu phát triển xã hội ISDS9 (2008), người nhiễm HIV nên ăn ít nhất 6 lần mỗi ngày, và việc sụt cân liên tục sau 6 tháng điều trị ARV có thể là dấu hiệu của thất bại điều trị lâm sàng.
4.2.1.2 Chỉ số xét nghiệm CD4 bắt đầu điều trị
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số CD4 dưới 100 ở giai đoạn bắt đầu điều trị là 38,7%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Trần Xuân Thanh (44,9%), Lê Bửu Châu (67,3%), Tạ Thị Lan Hương (42,9%) và Vũ Công Thảo (57,3%), đồng thời cũng không đạt tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV của Bộ Y tế (≤ 350 tb/mm3 và