ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị TNGTĐB vào viện lần đầu tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Nguyễn Đình Chiểuđáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Bệnh nhân bịtai nạn giao thông đường bộtừ16 tuổi trở lên vào viện tại khoa Cấp cứu.
- Thời gian xảy ra tai nạn cho đến lúc vào viện là trong vòng 6 giờ.
- Vào viện trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2014 đến ngày 30/4/2014.
- Bao gồm bệnh nhân nằm theo dõi tại phòng lưu và bệnh nhân điều trịnội trú.
- Bệnh nhân đủtỉnh táo hoặc có người nhà đi kèm.
- Bệnh nhân hoặc người nhà đi kèm (trên 18 tuổi) đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Nạn nhân TNGTĐB tử vong trước khi đến bệnh viện.
- Bệnh nhân bị tai nạn trên 6 giờ.
- Bệnh nhân không thân nhân và không đủtỉnh táo đểtrảlời phỏng vấn.
- Bệnh nhân hoặc thân nhân (đối với bệnh nhân dưới 18 tuổi hoặc hôn mê) từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014.
- Địađiểm: khoa Cấp cứu, bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tảcắt ngang có phân tích.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2014 đến ngày 30/4/2014, tất cả bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ vào khoa Cấp cứu đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu đều được lựa chọn, với tổng số bệnh nhân đủ tiêu chuẩn là 300.
Phương pháp thu thập số liệu
S ố li ệu sơ cấp đượ c thu th ậ p : sửdụng phiếu phỏng vấn có cấu trúc (Phụlục
Thông tin sẽ được thu thập và ghi nhận sau khi tình trạng bệnh nhân đã ổn định, tức là sau giai đoạn cấp cứu Trong trường hợp bệnh nhân hôn mê hoặc có trạng thái tinh thần không ổn định, việc phỏng vấn sẽ được thực hiện với người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ phiếu HSBA và phần mềm Medisoft Nồng độ cồn trong máu và tình trạng thương tích của bệnh nhân TNGTĐB được ghi nhận từ HSBA Để đánh giá chính xác mức độ trầm trọng của tổn thương, việc đánh giá chỉ được thực hiện sau khi có kết quả cận lâm sàng hoặc sau phẫu thuật, đồng thời tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị tại khoa Chi phí điều trị được thống kê từ phiếu tổng hợp chi phí của từng bệnh nhân từ HSBA hoặc phần mềm Medisoft sau khi bệnh nhân ra viện.
Tất cả thông tin từ phiếu phỏng vấn và phiếu thu thập thông tin thứ cấp sẽ được kiểm tra ngay sau khi thu thập để đảm bảo tính đầy đủ Chi phí điều trị sẽ được bổ sung ngay sau khi bệnh nhân ra viện nhằm hoàn thiện phiếu thu thập dữ liệu trước khi tiến hành nhập liệu.
Đội ngũ nghiên cứu bao gồm một nghiên cứu viên và bốn điều dưỡng viên, tất cả đều được đào tạo bài bản để đảm bảo tính nhất quán trong quá trình thu thập thông tin Các điều tra viên đã thực hành phỏng vấn thử nghiệm trước khi tiến hành thu thập dữ liệu chính thức.
Giảng viên trường Đại học Y tếCông cộng.
Các biến số nghiên cứu
Có ba nhóm biến số: đặc điểm cơ bản của ĐTNC và TNGTĐB; thực trạng sử dụng rượu bia; tình trạng thương tích và chi phí điều trị(Phụlục 1).
Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Các khái niệm sửdụng trong nghiên cứu
Tai nạn giao thông đường bộ là những sự cố gây thương tích do va chạm bất ngờ, không nằm trong ý muốn của con người Những tai nạn này thường xảy ra khi có sự tương tác giữa các phương tiện hoặc giữa phương tiện và người đi bộ.
HUPH cho thấy rằng các đối tượng tham gia giao thông thường gặp phải rủi ro do vi phạm luật lệ hoặc các tình huống bất ngờ, dẫn đến thiệt hại về tính mạng và sức khỏe Đối với chẩn đoán đa chấn thương, bệnh nhân được xác định có từ 2 tổn thương trở lên, trong đó ít nhất 1 tổn thương có nguy cơ đe dọa tính mạng, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và tuần hoàn.
2.7.2 Phân loại mức độtrầm trọng của chấn thương theo điểm AIS
Hệ thống AIS đánh giá mức độ trầm trọng của chấn thương dựa trên sự đồng thuận về giải phẫu học Để đảm bảo độ chính xác, các giải phẫu cần được xác định qua lâm sàng, kết quả thăm dò và tổn thương phát hiện trong quá trình phẫu thuật Việc sử dụng thang đo giải phẫu học mang lại lợi ích vì không yêu cầu đào tạo lâm sàng cho việc thu thập dữ liệu chấn thương, đồng thời đo lường giải phẫu học không bị ảnh hưởng như các yếu tố sinh lý học, bao gồm thời gian từ khi bị chấn thương đến khi điều trị, sơ cứu trước khi nhập viện, sự hiện diện của rượu bia hoặc các chất khác, tuổi tác của bệnh nhân và khả năng bù đắp cho sự mất thể tích khối cơ thể.
Thang điểm được mã hóa theo 6 vùng trên cơ thể: đầu và cổ, mặt, ngực, bụng và khung chậu, chi và vùng thắt lưng, da và tổchức dưới da [35], [36].
Các mức độtrầm trọng được mã hóa từ1 - 6 dựa theo tự điển AIS - 2005.
AIS Mã hóa mức độtrầm trọng
3 Nặng nhưng chưa đe dọa tính mạng
4 Nặng, đe dọa tính mạng
5 Nghiêm trọng, nguy cơ tửvong cao
6 Không có khả năng sống sót
Nguồn: Nguyễn Hữu Tú (2013), Cấp cứu tai nạn thương tích,
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội [36].
Dựa vào thông tin mô tả thương tích từ hồ sơ bệnh án, chúng ta sẽ tính điểm mức độ trầm trọng theo từ điển AIS và ghi lại điểm cho từng tổn thương Mỗi bệnh nhân sẽ có các điểm tương ứng cho các vùng tổn thương trên cơ thể, và điểm MAIS (Maximum Abbreviated Injury Scale) sẽ được xác định là điểm AIS cao nhất trong số các điểm đó.
2.7.3 Một sốtiêu chuẩn đánh giá
Tiêu chu ẩn đánh giá nồng độ c ồ n trong máu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận rằng đối tượng điều khiển phương tiện cơ giới xảy ra tai nạn chủ yếu là nhóm mô tô và xe máy Do đó, nồng độ cồn trong máu của người lái xe máy được phân loại theo quy định của Nghị định số 171/2013/NĐ-CP thành hai nhóm.
- Bình thường: nồng độcồn/máu≤ 50 mg/dl.
- Vượt mức: nồng độcồn/máu > 50 mg/dl.
Tiêu chu ẩn đo lườ ng đơn vị rượ u bia
Nghiên cứu áp dụng1 đơn vị rượu (tương đương10 gram ethanol) [45]:
- 1 cốc = khoảng 220 ml bia 4 - 5%(bia hơi, bia chai, bia lon).
- 1 ly = khoảng 25ml rượu mạnh nồng độ40% (bao gồm cả rượu tựnấu).
Xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập, số liệu sẽ được kiểm tra để đảm bảo tính đầy đủ và chính xác, sau đó được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 Số liệu sau khi nhập sẽ được làm sạch để đảm bảo tính chính xác Phân tích số liệu sẽ được thực hiện bằng phần mềm SPSS 18.0 theo mục tiêu nghiên cứu, áp dụng các thuật toán thống kê mô tả và phân tích với mức ý nghĩa thống kê 95%.
Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học - Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt (Giấy chấp thuận số 062/2014/YTCC-HD3 ngày 11/3/2014), xác nhận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Nội dung nghiên cứu cũng đã nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng Khoa học kỹ thuật bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Kết quả nghiên cứu đã được công bố trước Hội đồng nhà trường và bệnh viện.
Tất cả ĐTNC sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi phỏng vấn, và chỉ tiến hành khi có sự chấp thuận tham gia Chúng tôi cam kết bảo mật thông tin cá nhân của ĐTNC để đảm bảo sự tự nguyện và hợp tác trong quá trình nghiên cứu Các dữ liệu và thông tin thu thập được chỉ được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Cấp cứu của bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, do đó kết quả chỉ phản ánh tình hình tại khu vực này và không thể đại diện cho toàn bộ quần thể Thời gian nghiên cứu ngắn, nguồn lực hạn chế và quy mô nhỏ đã ảnh hưởng đến khả năng xây dựng mô hình TNGT nhập viện điều trị tại bệnh viện trong một giai đoạn cụ thể.
Bệnh nhân vào khoa Cấp cứu trong tình trạng không ổn định, gây khó khăn trong việc thu thập thông tin Khi tình trạng ổn định và có thể cung cấp thông tin, bệnh nhân đã được chuyển sang khoa khác, dẫn đến việc phiếu hỏi phải qua nhiều khoa để hoàn thiện thông tin, kéo dài quy trình và có nguy cơ bị bỏ sót Đối với các trường hợp chấn thương nhẹ theo dõi tại phòng lưu, thời gian lưu lại ngắn khiến việc phỏng vấn gặp khó khăn Hơn nữa, việc đo lường mức độ sử dụng rượu bia có thể không chính xác do phụ thuộc vào ước đoán của người trả lời.
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc tính toán chi phí điều trị cho bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, mà không xem xét chi phí tại các cơ sở y tế khác hoặc các loại chi phí khác liên quan.
Nghiên cứu cũng có thể gặp một sốsai sốtrong quá trình triển khai.
- Việc thu thập số liệu thông qua bộ phiếu phỏng vấn có cấu trúc nên có thể gặp sai sốdo kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên.
Do người được phỏng vấn là nạn nhân bị thương, họ không thể nhớ rõ các sự kiện đã xảy ra; hoặc thông tin chỉ được người nhà kể lại mà không có chứng kiến trực tiếp.
- Trường hợp bệnh nhân hôn mê, mức độ SDRB trước khi xảy ra tai nạn thu thập được chỉdựa vào ước đoán của người chăm sócsau khi nghe kểlại.
- Trong quá trình nhập liệu có thểcó sai sót.
Để hạn chế sai số trong quá trình phỏng vấn, cần tiến hành tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên Bảng câu hỏi phỏng vấn nên được thiết kế hợp lý, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và phù hợp với ngôn ngữ địa phương để người tham gia dễ tiếp cận Thực hiện phỏng vấn thử với 30 bệnh nhân để điều chỉnh câu hỏi cho phù hợp trước khi tiến hành thu thập thông tin chính thức Đồng thời, cần giám sát chặt chẽ việc thu thập số liệu để đảm bảo tính chính xác.
Khi bệnh nhân được chuyển qua nhiều khoa, cần liên hệ với khoa tiếp nhận và tiến hành phỏng vấn ngay khi tình trạng cho phép để tránh bỏ sót thông tin Đối với bệnh nhân đang theo dõi tại phòng lưu, điều tra viên nên thực hiện phỏng vấn ngay khi bệnh nhân đã qua giai đoạn cấp cứu.
Sử dụng các vật dụng quen thuộc như ly và cốc để đo lường mức độ tiêu thụ rượu bia Việc so sánh tình trạng sử dụng rượu bia với thương tích và chi phí điều trị cần dựa vào kết quả nồng độ cồn trong máu để giảm thiểu sai số.
Nghiên cứu viên thực hiện kiểm tra và làm sạch phiếu sau mỗi ngày điều tra trước khi nhập dữ liệu vào máy tính Họ xây dựng bộ nhập liệu với các lệnh kiểm tra dữ liệu và thiết lập ràng buộc bằng phần mềm Epi Data 3.1, nhằm giảm thiểu sai sót trong quá trình nhập liệu tại HUPH.
KẾT QUẢ
Đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu và TNGTĐB
3.1.1 Đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu
B ả ng 3.1 Đặc điể m c ủa đối tượ ng nghiên c ứ u Đặc điểm Tần số(%)
Nơi cư trú Thành thị
249 (83) Trìnhđộhọc vấn Không biết chữ
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trên cấp 3
Nhóm tuổi 25 - 44 chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,7%, tiếp theo là nhóm tuổi 16 - 24 (27%) và 45 - 59 (21,7%) Về giới tính, nam giới chiếm 70,3% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu cư trú ở nông thôn, với tỷ lệ 83% Trình độ học vấn chủ yếu là cấp 2 (38,7%), sau đó là cấp 3 (27%) và cấp 1 (20,7%) Chỉ có 42,3% bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ tham gia bảo hiểm y tế.
Bi ểu đồ 3.1 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo nghề nghi ệ p
Gần 50% đối tượng nghiên cứu là nông dân (27,7%) và lao động tự do (21%), tiếp theo là công nhân (13,7%) và người buôn bán (10%) Học sinh, sinh viên, cán bộ, viên chức và người nội trợ chiếm tỷ lệ tương đương khoảng 6%.
3.1.2 Đặc trưng cơ bản của các trường hợp TNGTĐB
Bi ểu đồ 3.2 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo thờ i gian tai n ạ n trong ngày
Biểu đồ trên cho thấy TNGT xảy ra nhiều nhất là từ 19 - 23 giờ chiếm 31,4%, kế đến là từ13 - 17 giờ(22%), thấp nhất là giờnghỉ trưa 11 - 13 giờ(8%).
Bi ểu đồ 3.3 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo thờ i gian tai n ạ n trong tu ầ n
Tai nạn giao thông thường xảy ra nhiều hơn vào giữa tuần và cuối tuần, với tỷ lệ cao nhất vào ngày thứ tư (23,7%) Ngày thứ năm và thứ bảy cũng ghi nhận tỷ lệ tai nạn cao, lần lượt là 18,7% và 15% Ngược lại, ngày thứ hai có tỷ lệ tai nạn giao thông thấp nhất, chỉ đạt 7,6%.
B ả ng 3.2 Phân b ố ĐTNC theo địa điể m x ả y ra tai n ạ n Địa điểm Tần số(%) Đường xã 89 (29,7)
Quốc lộ 73 (24,3) Đường huyện 65 (21,7) Đường tỉnh 41 (13,7) Đường đô thị 28 (9,3)
Theo thống kê, đường xã là nơi xảy ra tai nạn giao thông (TNGT) nhiều nhất với tỷ lệ 29,7% Tiếp theo là quốc lộ với tỷ lệ 24,3%, trong khi đường huyện cũng có tỷ lệ khá cao là 21,7% Đường đô thị ghi nhận tỷ lệ tai nạn thấp nhất, chỉ đạt 9,3%.
Bi ểu đồ 3.4 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo phương tiệ n s ử d ụ ng
Trong nghiên cứu với 300 đối tượng tham gia, 84% sử dụng mô tô và xe máy làm phương tiện giao thông chính Tỷ lệ người đi xe đạp chỉ chiếm 7,7%, trong khi đó, 6,3% đi bộ Đáng chú ý, không có trường hợp nào sử dụng ô tô.
Bi ểu đồ 3.5 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo phương tiệ n va ch ạ m
Gần phân nửa bệnh nhân bị tai nạn là do va chạm với xe máy (48,7%) và có đến 36% do tựngã, 8,7% do va chạm với ô tô.
B ả ng 3.3 Phân b ố ĐTNC theo vị trí trên phương tiệ n
Vị trí trên phương tiện Tần số(%)
Người ngồi sau 34 (11,3) Đi bộ 19 (6,4)
Theo khảo sát, 82,3% bệnh nhân là người điều khiển phương tiện giao thông, trong đó 72,7% điều khiển mô tô và xe máy, còn lại 9,6% sử dụng các phương tiện khác Chỉ có 11,3% là người ngồi sau và 6,4% là người đi bộ.
B ả ng 3.4 Phân b ố ĐTNC theo chăm sóc trướ c vi ệ n
Chăm sóc trước viện Tần số(%)
Bảng 3.4 cho thấy chỉ có 8,7% bệnh nhân bị TNGT vào viện cho biết là được nhân viên y tế sơ cứu tại hiện trường xảy ra tại nạn.
B ả ng 3.5 Phân b ố ĐTNC theo thờ i gian vào vi ệ n sau tai n ạ n
Thời gian vào viện Tần số(%)
Hơn phân nửa sốbệnh nhân vào viện trong vòng 1 giờ sau khi xảy ra tai nạn(53,7%), 32% vào viện trong vòng 1 - 2 giờ Số bệnh nhân vào viện sau 2 - 6 giờ chỉchiếm 14,3%.
Thực trạng sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu
3.2.1.Sửdụng rượu biatrước tai nạn
B ả ng 3.6 Phân b ố ĐTNC theo nồng độ c ồ n/máu
Nồng độcồn/máu (mg/dl) Tần số(%)
Trong nghiên cứu với 294 bệnh nhân bị tai nạn giao thông đường bộ, có 51,7% bệnh nhân có nồng độ cồn trong máu vượt quá 50 mg/dl, trong đó 51% có nồng độ cồn trên 80 mg/dl Đặc biệt, 86,2% trong số đó là người điều khiển xe máy.
Lái xe máy Khác Tổng
Bi ểu đồ 3.6 Phân b ố t ỷ l ệ lái xe máy theo n ồng độ c ồ n/máu
Trong số 215 người điều khiển mô tô, xe máy, có tới 60,9% có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định theo Luật giao thông đường bộ năm 2008, cụ thể là trên 50 mg/dl.
B ả ng 3.7 Phân b ố ngườ i lái xe máy theo gi ớ i tính và n ồng độ c ồ n/máu
Giới tính Nồng độcồn/máu
Tổng (%) Vượt mức (%) Bình thường (%)
Nam giới điều khiển xe máy có nồng độ cồn/máu vượt mức quy định chiếm đến 72,1%, trong khi tỷlệnàyởnữgiới chỉ có 16,3%.
B ả ng 3.8 Phân b ố ngườ i lái xe máy theo nhóm tu ổ i và n ồng độ c ồ n/máu
Nhóm tuổi Nồng độcồn/máu
Tổng (%) Vượt mức (%) Bình thường (%)
Trong tổng số 215 trường hợp, có 131 người (60,9%) dưới 60 tuổi điều khiển xe máy với nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định, cho thấy tỷ lệ tai nạn ở nhóm này cao hơn so với những người có nồng độ cồn bình thường.
B ả ng 3.9 Phân b ố ngườ i lái xe máy theo nơi cư trú và nồng độ c ồ n/máu
Nơi cư trú Nồng độcồn/máu
Tổng (%) Vượt mức (%) Bình thường (%)
Tỷ lệ lái xe máy ở nông thôn có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép cao hơn 62,5% so với nhóm có nồng độ cồn bình thường Trong khi đó, tại khu vực thành thị, sự chênh lệch này không đáng kể.
B ả ng 3.10 Phân b ố ngườ i lái xe máy theo ngh ề nghi ệ p và n ồng độ c ồ n/máu
Tổng (%) Vượt mức (%) Bình thường (%)
Tỷ lệ nông dân và lao động tự do điều khiển xe máy với nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định lần lượt là 80,4% và 74% Mặc dù các nhóm nghề nghiệp khác như cán bộ viên chức, công an, bộ đội, và những người mất sức, hưu trí có tỷ lệ vào viện không cao, nhưng nồng độ cồn trong máu của họ vẫn cao hơn so với những người có nồng độ cồn bình thường.
B ả ng 3.11 Phân b ố ngườ i lái xe máy theo phương tiệ n va ch ạ m và n ồng độ c ồ n/máu
Tổng (%) Vượt mức (%) Bình thường (%)
Mô tô, xe máy 49 (52,1) 45 (47,9) 94 (100) Ô tô 10 (55,6) 8 (44,4) 18 (100) Đi bộ 1 (33,3) 2 (66,7) 3 (100)
Trong nghiên cứu về các phương tiện va chạm với bệnh nhân, phát hiện rằng trong các trường hợp tự ngã, tỷ lệ có nồng độ cồn trong máu lên đến 73,9% Đặc biệt, có 3 trường hợp không nhớ nguyên nhân tai nạn nhưng đều có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định.
B ả ng 3.12 Phân b ố ngườ i lái xe máy theo th ờ i gian tai n ạ n và n ồng độ c ồ n/máu
Tổng (%) Vượt mức (%) Bình thường (%)
Thống kê cho thấy, sau 11 giờ, tỷ lệ bệnh nhân điều khiển xe máy bị tai nạn giao thông có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định cao hơn so với những bệnh nhân có nồng độ cồn bình thường Đặc biệt, thời gian từ 19 đến 23 giờ ghi nhận tỷ lệ này cao nhất, đạt 75%.
B ả ng 3.13 ĐTNC sử d ụng rượ u bia trong vòng 6 gi ờ trướ c tai n ạ n
Sửdụng rượu bia Nam (%) Nữ(%) Tổng (%)
Chỉ có 147 (49%) người điều khiển phương tiện thừa nhận đã sử dụng rượu bia trong vòng 6 giờ trước khi xảy ra tai nạn, trong khi thực tế có đến 51,7% người điều khiển có nồng độ cồn trong máu trên 50 mg/dl, chủ yếu là nam giới (93,9%).
B ả ng 3.14 Phân b ố ĐTNC theo loại rượ u bia s ử d ụ ng trướ c tai n ạ n
Loại rượu biađã sửdụng Tần số(%)
Trong nhóm ĐTNC, có hơn 70% người thừa nhận đã uống rượu mạnh trong vòng 6 giờ trước khi xảy ra tai nạn, trong khi 24,5% uống bia và 4,8% uống cả rượu và bia.
Bi ểu đồ 3.7 M ức độ SDRB trong vòng 6 gi ờ trướ c tai n ạ n
Có 35,4% bệnh nhân uống khoảng 7 - 10 ly rượu/cốc bia, 17,7% uống trên
10 ly rượu/cốc bia và 2,6% không nhớ đã uống bao nhiêu ly rượu/cốc bia trong vòng 6 giờ trước khi xảy ra tai nạn.
B ả ng 3.15 Phân b ố ĐTNC theo địa điể m s ử d ụng rượ u bia Địa điểm sửdụng rượu bia Tần số(%)
Số người sử dụng rượu bia tại nhà chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,9%, tiếp theo là tại các nhà hàng và quán ăn với tỷ lệ 31,3% Ngoài ra, có 23% người tiêu dùng rượu bia tại các địa điểm khác như nhà bạn bè, nhà họ hàng và nơi làm việc.
3.2.2 Thói quen sửdụng rượu bia
B ả ng 3.16 Phân b ố ĐTNC theo t hói quen s ử d ụng rượ u bia
Thói quen sửdụng Tần số(%)
Trong một cuộc khảo sát với 300 người, 68,6% thừa nhận có thói quen sử dụng rượu bia (SDRB) Trong số đó, 34,6% sử dụng cả rượu và bia, 27% chỉ sử dụng rượu, và 7% chỉ sử dụng bia Ngược lại, 31,4% người tham gia cho biết họ không có thói quen SDRB.
Bi ểu đồ 3.8 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo tầ n su ấ t s ử d ụng rượ u bia
Tần suất sử dụng SDRB từ 1 - 3 lần mỗi tháng chiếm 46%, trong khi 34% người dùng ít hơn 1 lần trong tháng và 16,5% sử dụng từ 1 - 2 lần mỗi tuần Số bệnh nhân có tần suất SDRB từ 3 lần trở lên trong tuần là không nhiều.
Bi ểu đồ 3.9 Phân b ố t ỷ l ệ ĐTNC theo mức độ s ử d ụng rượ u bia
Theo khảo sát, 34% người tham gia cho biết họ tiêu thụ trung bình từ 3 đến 6 ly rượu hoặc cốc bia mỗi lần Trong khi đó, 26,2% cho biết họ uống từ 7 đến 10 ly, và gần 22% người được hỏi uống hơn 10 ly rượu hoặc cốc bia mỗi lần.
B ả ng 3.17 ĐTNC đ ã t ừ ng lái xe sau u ống rượ u bia Đã từng lái xe sau uống rượu bia Tần số(%)
Kết quả cho thấy, trong 206 người có thói quen SDRB thì có đến hơn 80% đã từng lái xe trong vòng 2 giờ HUPH sau khi uống rượu bia.
Tình trạng thương tích và chi phí điều trị
B ả ng 3.18 Phân b ố ĐTNC theo bộ ph ậ n b ị t ổn thương
Bộphận bị tổn thương Tần số(%) Đầu, mặt 105 (35)
Đầu, mặt và chi là những bộ phận bị tổn thương nhiều nhất, chiếm 35% Tiếp theo là tổn thương từ 2 bộ phận trở lên với tỷ lệ 25% Tổn thương ở vùng cổ, ngực và bụng có tỷ lệ rất thấp.
B ả ng 3.19 Phân b ố ĐTNC theo chẩn đoán cu ố i cùng
Chẩn đoáncuối cùng Tần số(%)
Chấn thương, vết thương phần mềm 162 (54)
Gãy xương chi 63 (21) Đa chấn thương 35 (11,7)
Chẩn đoán cuối cùng cho thấy chấn thương phần mềm chiếm tỷ lệ cao nhất với 54%, tiếp theo là gãy xương chi với 21%, đa chấn thương 11,7% và chấn thương sọ não 6,3% Các loại chấn thương khác có tỷ lệ rất thấp.
B ả ng 3.20 Phân b ố ĐTNC theo mức độ tr ầ m tr ọ ng c ủ a t ổ n thương
Mức độtrầm trọng của tổn thương (MAIS) Tần số(%)
Theo thang đo chấn thương rút gọn MAIS, trong số 300 trường hợp ĐTNC, 61% tổn thương được phân loại là mức độ nhẹ, 25% ở mức độ trung bình, và 14% ở mức độ nặng, trong đó có 4% tổn thương rất nghiêm trọng với nguy cơ tử vong cao.
B ả ng 3.21 Phân b ố ĐTNC theo xử trí t ạ i phòng C ấ p c ứ u
Trong số bệnh nhân bị tai nạn giao thông đường bộ vào viện tại phòng Cấp cứu, có đến 57,7% được chỉ định nhập viện Trong khi đó, 39% bệnh nhân được khám, xử trí và cho về nhà, và tỷ lệ chuyển viện rất thấp, chỉ chiếm 2,7%, trong đó 100% là chuyển viện theo yêu cầu.
B ả ng 3.22 Chi phí điề u tr ị (n = 300)
Chi phí điều trị Tối thiểu
Chi phí điều trị tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu được thống kê sau khi bệnh nhân kết thúc đợt điều trị, với chi phí trung bình cho một trường hợp TNGTĐB là 2.170.190 đồng Mức chi phí thấp nhất ghi nhận là 41.000 đồng, trong khi mức cao nhất lên tới 25.074.000 đồng Đáng chú ý, 25% bệnh nhân chỉ phải thanh toán 419.250 đồng trở xuống, trong khi 25% khác phải trả từ 2.127.500 đồng trở lên Cơ cấu chi phí cho thấy chi phí trung bình cho phẫu thuật, thủ thuật là cao nhất (579.740 đồng), tiếp theo là chi phí thuốc (474.700 đồng) và chẩn đoán hình ảnh (435.880 đồng).
Một số yếu tố liên quan giữa việc SDRB với tình trạng thương tích và chi phí điều trị của người điều khiển xe máy
B ả ng 3.23 Liên quan gi ữ a n ồng độ c ồ n/máu v ớ i ch ấn thương đầ u, m ặ t
Nồng độcồn/máu Chấn thương đầu, mặt
Phân tích từ 215 lái xe cho thấy nồng độ cồn trong máu có sự khác biệt rõ rệt liên quan đến tổn thương ở đầu và mặt, với p < 0,01 Những người có nồng độ cồn vượt mức quy định có nguy cơ bị chấn thương đầu và mặt cao gấp 2,7 lần so với những người có nồng độ cồn bình thường.
B ả ng 3.24 Liên quan gi ữ a n ồng độ c ồ n/máu v ớ i ch ẩn đoá n cu ố i cùng
Chấn thương sọnão Đa chấn thương
Phân tích nhóm bệnh nhân lái xe máy cho thấy nồng độ cồn trong máu có sự khác biệt rõ rệt với chấn thương sọ não và đa chấn thương (p < 0,05) Cụ thể, những bệnh nhân có nồng độ cồn/máu vượt mức quy định có nguy cơ bị chấn thương sọ não cao gấp 7,6 lần và đa chấn thương cao gấp 4,6 lần so với những bệnh nhân có nồng độ cồn/máu bình thường.
B ả ng 3.25 Liên quan gi ữ a n ồng độ c ồ n/máu v ớ i m ức độ tr ầ m tr ọ ng c ủ a t ổ n thương
Nồng độ cồn trong máu có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ nghiêm trọng của tổn thương Nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân có nồng độ cồn/máu vượt mức quy định có nguy cơ bị tổn thương nặng cao gấp 5,9 lần so với những bệnh nhân có nồng độ cồn/máu bình thường (p < 0,0001).
B ả ng 3.26 Liên quan gi ữ a n ồng độ c ồ n/máu v ớ i chi phí điề u tr ị (n = 215)
Nồng độcồn/máu Tần số Chi phí điều trị(đồng)
Kết quả kiểm định Independent-Samples T Test cho thấy chi phí điều trị trung bình của 131 lái xe có nồng độ cồn/máu vượt mức là 2.272.660 đồng (độ lệch chuẩn: 309.787 đồng), trong khi chi phí điều trị trung bình của 84 lái xe có nồng độ cồn/máu bình thường là 1.335.180 đồng (độ lệch chuẩn: 328.813 đồng) Sự khác biệt trung bình giữa hai nhóm là 937.486 đồng.
- Kiểm định phương sai (Levene’s Test): có sự khác biệt về phương sai giữa hai nhóm lái xe có nồng độcồn/máuvượt mức và bình thường (p < 0,05).
- Có sựkhác biệt về chi phí điều trị trung bình giữa hai nhóm lái xe có nồng độcồn/máuvượt mức và bình thường (p < 0,05).
BÀN LUẬN
Đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu và TNGTĐB
4.1.1 Đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng SDRB của 300 bệnh nhân TNGTĐB tại khoa Cấp cứu, bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre từ ngày 01/4/2014 đến 30/4/2014 đã cho thấy những kết quả đáng chú ý.
Phần lớn các trường hợp tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) nhập viện thuộc nhóm tuổi từ 25 - 44 (41,7%) và 16 - 24 (27%) Đây là độ tuổi có hoạt động giao tiếp và tham gia giao thông cao, đồng thời cũng là nhóm lao động chính tạo ra của cải cho xã hội Nghiên cứu tại bệnh viện Manipal, Nepal cho thấy 65% nạn nhân TNGT nhập viện thuộc nhóm tuổi 16 - 45 Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương tại hai bệnh viện Việt Đức và Saint Paul cho thấy 41,9% nạn nhân dưới 45 tuổi Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh cũng chỉ ra rằng 57,9% bệnh nhân TNGT nhập viện nằm trong độ tuổi 19 - 39 Cuối cùng, nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh tại BVĐK Đức Giang cho thấy nhóm tuổi 16 - 24 chiếm tỷ lệ cao trong các trường hợp TNGT.
Nam giới tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, SDRB và giao thông so với nữ giới, dẫn đến việc tai nạn giao thông (TNGT) xảy ra nhiều hơn ở nam Nghiên cứu cho thấy 70% bệnh nhân TNGT là nam giới.
Tỷ lệ nam giới trong các nghiên cứu về tình trạng chấn thương do tai nạn giao thông (TNGT) tại Việt Nam dao động từ 66,7% đến 75%, tương tự như các nghiên cứu ở Tây Nepal và Ấn Độ với tỷ lệ trên 80% Đặc biệt, nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Thái cho thấy tỷ lệ nam giới là 66,7% trong số 152 nạn nhân tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Hơn nữa, 83% đối tượng nghiên cứu cư trú tại vùng nông thôn, phù hợp với thực tế là nhiều người làm nghề nông và TNGT thường xảy ra ở đường xã Nghiên cứu của Badrinarayan Mishra cũng xác nhận rằng tỷ lệ bệnh nhân sống ở nông thôn cao hơn thành thị, đạt 65,8%.
Vềtrìnhđộhọc vấn, phần lớnĐTNCtrảlời có trìnhđộhọc vấn cấp 2 và cấp
Theo Bảng 3.1, tỷ lệ người được phỏng vấn có trình độ học vấn cấp 2 và cấp 1 lần lượt là 38,7% và 20,7%, trong khi cấp 3 chiếm 27% Gần 1/2 số người phỏng vấn là nông dân và lao động tự do So với nghiên cứu năm 2002 của Phan Mộng Hương, tỷ lệ bệnh nhân có trình độ học vấn cấp 2 và cấp 1 đã giảm (38,7% so với 41,2% và 20,7% so với 35,2%), trong khi tỷ lệ bệnh nhân có trình độ cấp 3 lại tăng cao (27% so với 15,8%) Điều này phản ánh sự gia tăng trình độ dân trí trong xã hội.
Gần 50% đối tượng nghiên cứu là nông dân (27,7%) và lao động tự do (21%), cho thấy đây là hai nhóm có tỷ lệ lạm dụng rượu bia cao nhất Nghiên cứu của tác giả Mai Anh về thực trạng sử dụng rượu bia và các yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia ở nam giới trong độ tuổi lao động tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên đã chỉ ra vấn đề này.
Nghiên cứu của Pankaj Bayan và cộng sự năm 2007 tại tỉnh Bắc Ninh cho thấy, trong số bệnh nhân tai nạn giao thông, người lao động không có tay nghề chiếm tỷ lệ cao nhất (46%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương, trong đó lao động tự do cũng chiếm tỷ lệ lớn (27,7%), tiếp theo là nông dân.
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh chỉ ra rằng nhóm đối tượng làm nghề nông chiếm tỷ lệ 34,8%, trong khi lao động tự do là 15,7% Tương tự, nghiên cứu gần đây của Phạm Hồng Thái cho thấy tỷ lệ nông dân và lao động tự do bị tai nạn giao thông lần lượt là 48,6% và 27,5%, cho thấy sự phổ biến cao của những nhóm này trong các vụ tai nạn.
Theo nghiên cứu, có 42,3% bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) cho biết họ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), trong khi tỷ lệ này chỉ là 29,3% theo tác giả Nguyễn Lan Hương Tuy nhiên, những người điều khiển phương tiện cơ giới bị TNGT và có nồng độ cồn/máu vượt mức cho phép sẽ không được bảo hiểm chi trả viện phí, mặc dù họ có tham gia BHYT Điều này được quy định rõ trong Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC.
4.1.2 Đặc trưng cơ bản của các trường hợp TNGTĐB
Kết quả nghiên cứu cho thấy tai nạn giao thông (TNGT) xảy ra chủ yếu vào ban đêm, đặc biệt từ 19 - 23 giờ, chiếm tỷ lệ cao nhất là 31,4% Thời gian này trùng hợp với việc người lao động trở về nhà và giới trẻ đi chơi, gặp gỡ bạn bè Sự xuất hiện của SDRB làm giảm phản xạ của người điều khiển phương tiện, cùng với điều kiện chiếu sáng không đủ trên đường, đã góp phần làm gia tăng TNGT Nghiên cứu của Pankaj Bayan cho thấy tai nạn thường xảy ra nhiều nhất từ 20 - 24 giờ (35,4%), trong khi S.M Pathak và Col A.K Jindal ghi nhận tỷ lệ cao nhất từ 18 - 22 giờ (43,7%) Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương cũng chỉ ra rằng TNGT thường xảy ra từ 19 giờ 30 phút đến 23 giờ.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh, thời gian xảy ra tai nạn giao thông (TNGT) cao nhất là từ 19 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút, chiếm 26,4% Trong khi đó, tác giả Tạ Văn Trầm cho rằng thời gian TNGT nhiều nhất là từ 18 giờ đến 21 giờ.
Nghiên cứu cho thấy tai nạn giao thông (TNGT) thường xảy ra nhiều vào cuối tuần và các dịp lễ, tết Cụ thể, tai nạn xảy ra nhiều nhất vào ngày thứ tư với tỷ lệ 23,7%, tiếp theo là thứ năm và thứ bảy với tỷ lệ lần lượt là 18,7% và 15% (Biểu đồ 3.3) Kết quả này có sự khác biệt so với một số nghiên cứu trước đây.
Nghiên cứu của Pankaj Bayan, S.M Pathak và A.K Jindal tại Ấn Độ cho thấy tai nạn xảy ra nhiều nhất vào ngày Chủ nhật, chiếm tỷ lệ 25,9%.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lan Hương chỉ ra rằng tai nạn giao thông (TNGT) thường xảy ra vào cuối tuần, đặc biệt là vào thứ Sáu và Chủ Nhật Sự khác biệt này có thể do số liệu nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian ngắn từ 01/4/2014 đến 30/4/2014, trong đó có ngày Giỗ tổ Hùng Vương và Lễ 30/4, cả hai đều rơi vào thứ Tư, dẫn đến số bệnh nhân TNGT vào viện cao nhất trong thời gian này.
Theo báo cáo sơ kết quý I năm 2014 của Ban An toàn giao thông tỉnh Bến Tre thì TNGT xảy ra nhiều nhất ở đường tỉnh (35,5%) và đường huyện (34,4%)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh cho thấy tai nạn giao thông (TNGT) chủ yếu xảy ra trên các tuyến quốc lộ (95,7%) Tuy nhiên, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cảnh báo rằng TNGT ở khu vực nông thôn, đặc biệt trên các tuyến đường liên xã và liên ấp, đang gia tăng với mức độ đáng lo ngại, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn giao thông Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng đường xã là nơi xảy ra TNGT nhiều nhất (29,7%), điều này chưa được ghi nhận trong báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Nguyên nhân có thể do đường xã ít được tuần tra và người dân không trình báo khi xảy ra TNGT Mặc dù nhiều tuyến đường liên ấp, liên xã đã được bê tông hóa và nâng cấp, nhưng tình trạng giao thông phức tạp, mật độ lưu thông cao và sự chủ quan của người tham gia giao thông như phóng nhanh, vượt ẩu đã dẫn đến tai nạn.
Thực trạng sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu
4.2.1 Sửdụng rượu biatrước tai nạn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 294 bệnh nhân TNGTĐB được xét nghiệm nồng độ cồn/máu, trong đó 51,7% có nồng độ cồn trên 50 mg/dl và 51% có nồng độ trên 80 mg/dl Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương (33,4% trên 50 mg/dl và 29,4% trên 80 mg/dl) và Nguyễn Thùy Linh (27,9% trên 50 mg/dl) Tuy nhiên, vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Tạ Văn Trầm tại BVĐK trung tâm Tiền Giang, nơi có 70% bệnh nhân TNGT có nồng độ cồn trên 80 mg/dl.
Trong một nghiên cứu về 215 người điều khiển mô tô và xe máy, có đến 60,9% có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định (trên 50 mg/dl) Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ lái xe với nồng độ cồn vượt mức quy định khá cao Cụ thể, nghiên cứu của Badrinarayan Mishra cho thấy 46,4% trong số 69 lái xe có bằng chứng tiêu thụ rượu, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương chỉ ra rằng 60% người điều khiển phương tiện giao thông có nồng độ cồn trong máu.
HUPH có nồng độ cồn trong máu trên 50 mg/dl chiếm đến 83,1%, cao gấp 3,2 lần so với những người không lái xe, cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Việc lái xe sau khi sử dụng rượu bia phản ánh ý thức kém của người tham gia giao thông Các quy định kiểm soát nồng độ cồn/hơi thở của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới được triển khai trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ.
Phân tích nhóm điều khiển mô tô, xe máy cho thấy nồng độ cồn vượt mức quy định chủ yếu ở nam giới (72,1%) và nhóm tuổi dưới 60, với đa số bệnh nhân sống ở nông thôn (62,5%) Tỷ lệ nông dân và lao động tự do lần lượt là 80,4% và 74% Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh tại Hà Nam và Ninh Bình năm 2011 Những đặc điểm này cần được chú trọng khi lựa chọn đối tượng cho các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao ý thức về an toàn giao thông.
Trong các trường hợp tự ngã, tỷ lệ lái xe có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép lên đến 73,9%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương (65%) Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là bệnh nhân TNGTĐB vào viện trong vòng 6 giờ sau tai nạn, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương là trong vòng 8 giờ Sau khi sử dụng rượu bia, người điều khiển giao thông có thể không làm chủ được tay lái và xử lý tình huống kém, dẫn đến nguy cơ tai nạn Điều này cho thấy khả năng tự ngã của người lái xe sau khi sử dụng rượu bia là hoàn toàn có thể xảy ra Việc nâng cao ý thức và không sử dụng rượu bia khi lái xe sẽ giúp giảm đáng kể tai nạn giao thông đường bộ.
Theo thống kê, nhóm điều khiển xe máy bị tai nạn giao thông vào viện cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định cao nhất là 75% trong khoảng thời gian từ 19 - 23 giờ Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lan Hương cũng xác nhận rằng bệnh nhân có nồng độ cồn trong máu chiếm tỷ lệ cao nhất.
Khoảng thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút là thời điểm diễn ra nhiều hoạt động liên hoan và tiệc tùng, dẫn đến gia tăng lưu lượng giao thông Gần đây, tình hình vi phạm luật giao thông trở nên phức tạp, trong đó nguyên nhân liên quan đến rượu bia được đánh giá là nghiêm trọng Việc say rượu bia thường gắn liền với các hành vi vi phạm tốc độ và đi sai phần đường, tạo ra những trở ngại lớn cho công tác bảo đảm trật tự và an toàn giao thông.
Kết quả xét nghiệm cho thấy 51,7% bệnh nhân TNGTĐB có nồng độ cồn/máu trên 50 mg/dl, nhưng chỉ 49% thừa nhận đã sử dụng rượu bia trong vòng 6 giờ trước tai nạn, chủ yếu là nam giới Nghiên cứu của Pankaj Bayan cho thấy 46,2% bệnh nhân cũng báo cáo việc uống rượu Tỷ lệ bệnh nhân có SDRB trước khi tham gia giao thông theo Nguyễn Thùy Linh là trên 40%, với nam giới chiếm 93,1% Một số nghiên cứu khác của Nguyễn Lan Hương và Phan Mộng Hương ghi nhận tỷ lệ này thấp hơn 40% Trong những năm gần đây, nhu cầu và xu hướng SDRB trong các bữa tiệc và quan hệ công tác ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở thanh, thiếu niên không nghề nghiệp, dẫn đến việc vi phạm trật tự an toàn giao thông và tăng nguy cơ TNGT.
Trong nhóm đối tượng tai nạn, có hơn 70% người thừa nhận đã uống rượu mạnh trong vòng 6 giờ trước khi xảy ra tai nạn, trong khi chỉ có 4,8% uống cả rượu và bia Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh cho thấy tỷ lệ uống rượu thấp hơn (40%), nhưng tỷ lệ uống cả rượu và bia lại cao hơn nhiều (29%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng đa số đối tượng tai nạn là nông dân và lao động tự do có thu nhập thấp, điều này giải thích tỷ lệ bệnh nhân sử dụng rượu mạnh rất cao.
Trong một nghiên cứu, 35,4% bệnh nhân cho biết đã tiêu thụ khoảng 7-10 ly rượu hoặc cốc bia, trong khi 17% uống hơn 10 ly và 2,6% không nhớ số lượng đã uống trong 6 giờ trước tai nạn (Biểu đồ 3.7) Tỷ lệ bệnh nhân không nhớ rõ lượng rượu bia đã uống trước tai nạn thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Lan Hương (36,3%) và Nguyễn Thùy Linh (28%) [9], [13].
Hầu hết bệnh nhân tiêu thụ một lượng lớn rượu, với khoảng hơn 7 ly rượu hoặc cốc bia, chiếm tỷ lệ cao Đặc biệt, điều đáng lo ngại là hơn 90% trong số này là những người điều khiển mô tô và xe máy.
Trong số những người thừa nhận có sử dụng rượu bia trước khi xảy ra tai nạn, tỷ lệ uống tại nhà chiếm 44,9% So với nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh, tỷ lệ này cũng tương đương với 41,8% Mặc dù uống rượu tại nhà, nhiều người vẫn điều khiển xe máy tham gia giao thông, đặc biệt là nông dân và lao động tự do, cho thấy ý thức kém của người tham gia giao thông.
4.2.2 Thói quen sửdụng rượu bia
Rượu bia đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là ở Bến Tre, và được xem như một nét văn hóa đặc trưng Việc uống rượu bia không chỉ để giao tiếp mà còn thể hiện mối quan hệ xã hội và tính cách cá nhân, đồng thời góp phần gắn kết cộng đồng Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong số 300 đối tượng tham gia, có đến 68,6% thừa nhận thói quen sử dụng rượu bia, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương tại bệnh viện Việt Đức và Saint Paul (53,5%), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thùy Linh tại Hà Nam và Ninh Bình (90%).
Trong số bệnh nhân có thói quen sử dụng SDRB, chỉ 2% uống gần như mỗi ngày, 18% uống ít nhất 1 lần mỗi tuần, và 46% có tần suất sử dụng từ 1 - 3 lần mỗi tháng Nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương cũng cho thấy trong nhóm ĐTNC, 7,3% cho rằng họ uống mỗi ngày, 17,4% uống ít nhất 1 lần mỗi tuần, và 48,6% có tần suất 1 - 3 lần mỗi tháng.
Theo khảo sát, 26,2% người tham gia cho biết họ tiêu thụ khoảng 7 - 10 ly rượu hoặc bia mỗi lần, trong khi gần 22% uống hơn 10 ly Điều này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ có thói quen sử dụng rượu bia ở mức độ nguy cơ cao, theo định nghĩa của Viện Quốc gia về Lạm dụng rượu và Nghiện rượu.
Một số yếu tố liên quan giữa việc SDRB với tình trạng thương tích và chi phí điều trị của người điều khiển xe máy
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên hệ giữa nồng độ cồn trong máu và các chấn thương ở vùng đầu mặt, cũng như chẩn đoán chấn thương sọ não và đa chấn thương Điều này ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của tổn thương và chi phí điều trị trong nhóm người điều khiển xe máy.
4.4.1 Liên quan giữa nồng độ cồn/máu với tình trạng thương tích
Phân tích 215 người lái xe máy cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nồng độ cồn trong máu và các chấn thương ở đầu, mặt (p < 0,01) Những người có nồng độ cồn vượt mức quy định có nguy cơ bị chấn thương đầu, mặt cao gấp 2,7 lần so với những người có nồng độ cồn bình thường Nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương cũng chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa nồng độ cồn trong máu và chấn thương đầu, mặt (p < 0,05); cụ thể, những người có nồng độ cồn trên 50 mg/dl có nguy cơ chấn thương đầu cao gấp 2,1 lần và chấn thương mặt cao gấp 1,6 lần so với những người có nồng độ cồn từ 1 - 50 mg/dl.
Nghiên cứu cho thấy nồng độ cồn/máu có sự liên quan đáng kể đến chấn thương sọ não và đa chấn thương (p < 0,05) Cụ thể, bệnh nhân có nồng độ cồn/máu vượt mức quy định có nguy cơ bị chấn thương sọ não cao gấp 7,6 lần và đa chấn thương cao gấp 4,6 lần so với những người có nồng độ cồn/máu bình thường Điều này phù hợp với thực tế rằng khi nồng độ cồn/máu trên 50 mg/dl, phản xạ giảm, dẫn đến khả năng kiểm soát kém trong tình huống tai nạn, gây ra tổn thương phức tạp hơn Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thùy Linh cho thấy bệnh nhân TNGT có sử dụng rượu bia có nguy cơ bị chấn thương sọ não cao gấp hơn 2 lần so với những người không sử dụng (p < 0,0001).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh cho thấy bệnh nhân SDRB khi tham gia giao thông có nguy cơ chấn thương sọ não cao gấp 3,8 lần so với những bệnh nhân không mắc SDRB, với giá trị p < 0,05.
Theo TCYTTG thì thời gian phảnứng của một lái xe say rượu có thểgiảm từ
Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ cồn trong máu có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ nghiêm trọng của tổn thương trong các vụ tai nạn giao thông Cụ thể, những bệnh nhân có nồng độ cồn vượt mức quy định có khả năng bị tổn thương nặng (MAIS 3+) cao gấp 5,9 lần so với những người có nồng độ cồn bình thường Ngoài ra, tai nạn liên quan đến rượu thường gây ra hậu quả nghiêm trọng do không sử dụng thiết bị bảo hộ và vượt quá tốc độ giới hạn Kết quả từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh cũng cho thấy những bệnh nhân có tình trạng say rượu bia (SDRB) có nguy cơ bị tổn thương nặng cao gấp 2,9 lần so với những bệnh nhân không có tình trạng này.
4.4.2 Liên quan giữa nồng độ cồn/máu với chi phí điều trị Để tìm hiểu mối liên quan giữa việc SDRB với chi phí điều trị của nhóm điều khiển xe máy, chúng tôi sửdụng kiểm định Independent-Samples T Test đểso sánh chi phí điều trị giữa 2 nhóm có nồng độ cồn/máu vượt mức quy định và bình thường Kết quả cho thấy, chi phí điều trị trung bình của 131 lái xe có nồng độ cồn/máu vượt mức là 2.272.660 đồng (độ lệch chuẩn: 309.787 đồng) và của 84 lái xe có nồng độ cồn/máu bình thường là 1.335.180 đồng (độ lệch chuẩn: 328.813 đồng) Vì kết quảkiểm định Levene’s Test cho thấy: có sựkhác biệt về phương sai giữa hai nhóm lái xe có nồng độcồn/máu vượt mức và bình thường (p < 0,05) nên kiểm định t không ghép cặp với giả định hai phương sai không bằng nhau được sử dụng Kết quả cho thấy, chi phí điều trị trung bình của nhóm lái xe có nồng độ cồn/máu vượt mức cao hơn nhóm lái xe có nồng độ cồn/máu bình thường là 937.486 đồng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Một số nghiên cứu cũng cho thấy chi phí điều trị trung bình của nhóm bệnh nhân có SDRB cao hơn nhóm không SDRB; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thùy Linh thì chi phí điều trị
Nhóm có SDRB có HUPH trung bình cao hơn 1.531.657 đồng so với nhóm không có SDRB (p < 0,0001) [13] Nghiên cứu của Nguyễn Lan Hương cũng cho thấy chi phí điều trị của bệnh nhân có cồn/máu cao hơn so với bệnh nhân không có cồn/máu [9].
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra mối liên quan giữa nồng độ cồn trong máu và mức độ trầm trọng của chấn thương giao thông theo thang điểm MAIS Tuy nhiên, do thiết kế nghiên cứu cắt ngang và thời gian thực hiện ngắn, cũng như việc phân tích dựa vào quần thể đến bệnh viện, kết quả chỉ dừng lại ở việc mô tả mối liên hệ giữa việc sử dụng rượu bia với tình trạng thương tích và chi phí điều trị Hơn nữa, dữ liệu tại hiện trường vụ tai nạn thường không được thu thập đầy đủ, do thiếu thông tin từ cảnh sát hoặc nạn nhân tự đến bệnh viện, dẫn đến việc không có thông tin về tốc độ, làn đường, và phương tiện bảo hiểm, từ đó hạn chế khả năng phân tích sâu hơn.
Việc thu thập thông tin về SDRB trước khi tham gia giao thông và thói quen SDRB hàng ngày chỉ mang tính chất tương đối Mặc dù đã áp dụng biện pháp giảm thiểu sai số bằng cách sử dụng hình ảnh ly/cốc để giúp bệnh nhân đo lường chính xác hơn, nhưng vẫn không thể tránh khỏi sai số Do đó, khi so sánh mối liên quan giữa SDRB với tình trạng thương tích và chi phí điều trị, chúng tôi đã chọn kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu thay vì thông tin phỏng vấn về việc có hay không SDRB trước khi tham gia giao thông.
Nghiên cứu cho thấy một số bệnh nhân nhập viện muộn sau 2 giờ Bên cạnh đó, chúng tôi vẫn chưa thống kê được thời gian từ khi uống rượu bia đến khi xảy ra tai nạn.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu chỉ phản ánh mức độ tại thời điểm kiểm tra, trong khi thực tế nồng độ cồn của người tham gia giao thông có thể cao hơn nhiều.
Nghiên cứu này chỉ thống kê chi phí điều trị trực tiếp mà không xem xét các chi phí khác, do đó không thể xác định tổn thất kinh tế mà bệnh nhân, gia đình và xã hội phải chịu Hơn nữa, chi phí điều trị trung bình cho một trường hợp tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) được nêu trong nghiên cứu chưa phản ánh chính xác thực tế, vì một số bệnh nhân chưa hoàn tất quá trình điều trị do chuyển đến cơ sở khác, xin về hoặc bỏ viện.