1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng và một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân tai biến mạch máu não khi xuất viện tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2013

104 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng và một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân tai biến mạch máu não khi xuất viện tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Như Mai
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thanh Hương
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y học công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Đại cương về tai biến mạch máu não (15)
    • 1.2. Chăm sóc và phục hồi chức năng ở bệnh nhân tai biến mạch máu não (18)
    • 1.3. Nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng ở bệnh nhân TBMMN (20)
    • 1.4. Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (25)
    • 1.5. Thông tin về địa bàn nghiên cứu (27)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (29)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (29)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (29)
    • 2.4. Cỡ mẫu và hương pháp chọn mẫu (30)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (30)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (32)
    • 2.7. Các tiêu chuẩn đánh giá (37)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (38)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (38)
    • 2.10. Hạn chế và sai số của nghiên cứu, biện pháp khắc phục (39)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (40)
    • 3.2. Nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của bệnh nhân TBMMN (42)
    • 3.3. Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của BN TBMMN (51)
    • 3.4. Một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (52)
  • KẾT LUẬN (81)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (84)
  • PHỤ LỤC (88)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

 Bệnh nhân được chẩn đoán TBMMN điều trị nội trú tại bệnh viện Lão khoa Trung ương

 Hồ sơ, bệnh án của bệnh nhân TBMMN

Bệnh nhân mắc bệnh TBMMN có thể được ra viện trong thời gian nghiên cứu, bao gồm những trường hợp được bác sĩ quyết định ra viện khi tình trạng sức khỏe ổn định hoặc khi bệnh nhân và gia đình xin ra viện do lý do kinh tế và hoàn cảnh gia đình.

 Bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân (trong trường hợp bệnh nhân không tỉnh táo) đồng ý tham gia nghiên cứu

 Bệnh nhân chuyển viện khác

 Bệnh nhân bị bệnh viện trả về hoặc gia đình xin về do bệnh quá nặng

 Bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2013 đến tháng 11/2013

Bệnh viện Lão khoa Trung ương là địa điểm điều trị nội trú cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu não (TBMMN) với 7 khoa chuyên biệt, bao gồm Hồi sức cấp cứu, Tâm thần kinh, Nội tổng hợp, Nội tiết-đái tháo đường, Tim mạch, Phục hồi chức năng và Điều trị theo yêu cầu.

Thiết kế nghiên cứu

 Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Cỡ mẫu và hương pháp chọn mẫu

 Áp dụng công thức cho nghiên cứu cắt ngang

 n: Cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu

 Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, Z = 1,96

 p: Tỷ lệ bệnh nhân TBMMN có nhu cầu phục hồi chức năng tại cộng đồng Lấy p = 0,55 1

Với sai số tuyệt đối cho phép là d = 0,08, chúng tôi áp dụng công thức và tính được kích thước mẫu n = 147 Tuy nhiên, trong thực tế, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 164 bệnh nhân ra viện, đủ tiêu chuẩn cho nghiên cứu.

2.4.2 Chọn mẫu tại thực địa

- Áp dụng phương pháp chọn mẫu không xác suất, phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu liên tiếp các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não không nhồi máu (TBMMN) điều trị nội trú tại 7 khoa lâm sàng của bệnh viện Lão khoa Các bệnh nhân được chỉ định xuất viện trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2013 và đủ tiêu chuẩn để tham gia nghiên cứu cho đến khi đạt được cỡ mẫu cần thiết Chẩn đoán TBMMN được thực hiện dựa trên phân loại bệnh tật quốc tế ICD10, với mã bệnh là I60-I64, theo quyết định của các bác sĩ điều trị.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Phiếu đánh giá nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch máu não (TBMMN) bao gồm các nội dung liên quan đến nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng, được xây dựng dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế.

1 Theo Tác giả Lê Thị Thảo, tỉ lệ NB sau TBMMN tại cộng đồng quận Ba Đình phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày là 54,9%

 Thang đo Barthel đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của

2.5.2 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu

 Phiếu đánh giá nhu cầu chăm sóc và PHCN của bệnh nhân TBMMN (Phụ lục 2):

 Phần đánh giá nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân TBMMN: được xây dựng dựa trên hướng dẫn chăm sóc cho BN TBMMN của Bộ Y tế

Phần đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch não được xây dựng dựa trên bảng 23 nhu cầu cơ bản của người tàn tật trong chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của Tổ chức Y tế thế giới, đồng thời loại bỏ những nhu cầu không phù hợp cho trẻ nhỏ và những nhu cầu không liên quan đến đánh giá tại bệnh phòng.

 Phiếu đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của NB TBMMN (theo Barthel) (Phụ lục 3)

Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm với 10 bệnh nhân để thu thập phản hồi Dựa trên kết quả điều tra, chúng tôi đã chỉnh sửa và bổ sung nội dung bộ câu hỏi nhằm đảm bảo phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Cuối cùng, bộ câu hỏi được in ấn để phục vụ cho quá trình điều tra và tập huấn.

2.5.3 Tổ chức thu thập số liệu

Bước 1: Tập huấn (nội dung thu thập số liệu)

 Đối tượng tập huấn: 02 cộng tác viên là giảng viên Khoa Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long

Nội dung của buổi tập huấn bao gồm kỹ năng đánh giá nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng thông qua phiếu điều tra, cùng với kỹ năng đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt của bệnh nhân cũng dựa trên phiếu điều tra.

Bước 2: Điều tra, giám sát

Khi bệnh nhân được chỉ định xuất viện, điều dưỡng trưởng hoặc điều dưỡng phụ trách hành chính của khoa sẽ lập danh sách bệnh nhân dự kiến ra viện và gửi cho điều tra viên để thông báo kế hoạch nghiên cứu và đề nghị hỗ trợ từ các khoa.

Trong giai đoạn thu thập số liệu, mỗi ngày có ít nhất một điều tra viên (ĐTV) có mặt tại bệnh viện trong giờ hành chính để điều tra các trường hợp đủ điều kiện tham gia nghiên cứu ĐTV sẽ gặp gỡ bệnh nhân và gia đình để thực hiện đánh giá trước khi bệnh nhân ra viện thông qua việc khám và phỏng vấn Nếu bệnh nhân không tỉnh táo, ĐTV sẽ phỏng vấn người chăm sóc, người này phải chăm sóc bệnh nhân trong 2 ngày cuối cùng trước khi ra viện và có khả năng cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết Việc phỏng vấn chỉ được thực hiện vào ngày bệnh nhân ra viện.

Trong quá trình điều tra, điều tra viên (ĐTV) nhận biểu mẫu và kế hoạch điều tra, trong khi nghiên cứu viên sẽ đồng hành cùng ĐTV để quan sát và phỏng vấn ít nhất một đối tượng nghiên cứu nhằm hỗ trợ kịp thời những thiếu sót Nghiên cứu viên cũng sẽ thực hiện giám sát điều tra đột xuất trong thời gian tiếp theo, đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập phần lớn số liệu của nghiên cứu.

Bước 3: Thu thập phiếu điều tra

Sau mỗi buổi điều tra, các điều tra viên nộp phiếu cho nghiên cứu viên Nghiên cứu viên sẽ kiểm tra và yêu cầu bổ sung thông tin nếu bệnh nhân vẫn còn trong khoa điều trị Những phiếu không đạt tiêu chuẩn do thiếu thông tin sẽ bị loại bỏ.

Các biến số nghiên cứu

Stt Tên biến Định nghĩa Phân loại

I Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

1 Giới tính Giới tính của ĐTNC Nhị phân Quan sát

2 Tuổi Tính theo năm dương lịch, lấy năm 2013 trừ Liên tục Phỏng vấn

3 Nơi sống Nơi bệnh nhân sinh sống Danh mục Phỏng vấn

4 Khoa điều trị Khoa điều trị mà bệnh nhân xuất viện Danh mục Xem hồ sơ bệnh án

Là tình trạng người bệnh có bệnh nào khác (là yếu tố nguy cơ của

Danh mục Xem hồ sơ bệnh án

6 Số lần bị tai biến

Bị tai biến lần đầu tiên hay từ lần thứ 2 trở đi Nhị phân Xem hồ sơ bệnh án

Nửa người bị liệt của bệnh nhân ở thời điểm trước ra viện

Phân loại Xem hồ sơ bệnh án

8 Chi liệt Chi bị liệt Phân loại Quan sát/hỏi

Rối loạn cơ tròn khi vào viện

BN có bị rối loạn cơ tròn (Bí hoặc đại tiểu tiện không tự chủ) khi vào viện

Nhị phân Xem hồ sơ bệnh án/hỏi

10 Rối loạn cơ tròn khi ra viện

BN có bị rối loạn cơ tròn (Bí hoặc đại tiểu tiện không tự chủ) khi ra viện

Nhị phân Xem hồ sơ bệnh án/ hỏi

11 Được phục hồi chức năng

BN có được tập PHCN lần nằm viện này Nhị phân Xem hồ sơ bệnh án

12 Loại TBMMN BN bị TBMMN thể Danh mục Xem hồ sơ

HUPH nhồi máu não/xuất huyết não hay chưa rõ bệnh án

BN có bất kỳ khớp hạn chế tầm vận động Nhị phân Thăm khám

Tính từ ngày BN vào viện đến khi ra viện (Lấy ngày ra viện trừ đi ngày vào viện)

Rời rạc Xem hồ sơ bệnh án

II Nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng

1 Nhu cầu chăm sóc tư thế đúng

Là nhu cầu lăn trở thay đổi tư thế nằm hay đặt vị thế đúng khi bệnh nhân liệt/yếu vận động

Quan sát, thăm khám, hỏi

2 Nhu cầu chăm sóc hô hấp

Là nhu cầu chăm sóc để đảm bảo hô hấp và phòng các biến chứng về hô hấp

Quan sát, thăm khám, hỏi

3 Nhu cầu chăm sóc nuôi dưỡng

Là nhu cầu chăm sóc để đảm bảo dinh dưỡng và an toàn khi ăn

Quan sát, thăm khám, hỏi

Nhu cầu chăm sóc loét và phòng chống loét

Là nhu cầu chăm sóc để đảm bảo BN không bị loét hoặc chăm sóc vết loét đã có

Quan sát, thăm khám, hỏi

5 Nhu cầu chăm sóc đại tiện

Là nhu cầu chăm sóc khi người bệnh có rối loạn đại tiện (Táo bón, tiêu chảy hay đại tiện

Quan sát, thăm khám, hỏi

6 Nhu cầu chăm sóc tiết niệu

Là nhu cầu chăm sóc khi người bệnh có rối loạn tiểu tiện (bí tiểu hoặc tiểu không tự chủ) và vệ sinh lỗ niệu đạo

Quan sát, thăm khám, hỏi

Nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp

Là nhu cầu chăm sóc phòng tránh hoặc khắc phục thương tật thứ cấp về cơ xương khớp (teo cơ, cứng khớp) và tập vận động

Quan sát, thăm khám, hỏi

BN thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày được hay cần trợ giúp Bao gồm:

- Tự giữ mình sạch sẽ

Quan sát, thăm khám, hỏi

BN giao tiếp một cách dễ dàng hay khó khăn

- Hiểu câu nói đơn giản

- Hiểu các cử chỉ và dấu hiệu khi giao tiếp

Quan sát, thăm khám, hỏi

Thực trạng vận động của bệnh nhân, tự làm dễ dàng, cần trợ giúp hay không thể thực hiện kể cả có trợ giúp Bao gồm:

- Di chuyển được trong bệnh phòng

- Đi bộ được ít nhất 10 bước

Quan sát, thăm khám, hỏi

Nguyện vọng của bệnh nhân và gia đình

Nguyện vọng của bệnh nhân và gia đình

Những vấn đề bệnh nhân và gia đình mong được giúp đỡ để bệnh nhân được chăm sóc và PHCN tại cộng đồng thuận lợi

III Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Khả năng tự thực hiện các hoạt động hàng ngày bao gồm ăn uống, di chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lại, vệ sinh cá nhân, sử dụng nhà vệ sinh, tắm rửa, đi bộ, cũng như lên xuống cầu thang và bậc thềm.

Quan sát, thăm khám, hỏi

HUPH quần áo, kiểm soát đại tiện, kiểm soát tiểu tiện) hay cần sự trợ giúp của người khác ở các mức độ khác nhau

Các tiêu chuẩn đánh giá

2.7.1 Nhu cầu chăm sóc của BN: các nội dung được ghi lại kết quả có/không

Mỗi nhóm nhu cầu, bao gồm toàn thân, hô hấp, dinh dưỡng, chăm sóc tiêu hóa, đại tiện, chăm sóc và phòng chống loét, tiết niệu, và cơ xương khớp, được xác định là có nhu cầu khi ít nhất một trong các nội dung được đánh giá là “có” Tiêu chuẩn đánh giá các nội dung cụ thể trong từng nhóm nhu cầu chăm sóc được trình bày trong phụ lục 5.

- Với nhu cầu chăm sóc chung: Có nhu cầu chăm sóc khi có ít nhất 1 trong 7 nhóm nhu cầu trên

2.7.2 Nhu cầu PHCN: mỗi nội dung đánh giá được cho điểm từ 0-2 hoặc 0-3

 Xác định từng nhu cầu PHCN:

- Không có nhu cầu PHCN (Mức độ 0): Điểm đánh giá là 0

- Nhu cầu PHCN (mức độ 1): Điểm đánh giá là 1

- Nhu cầu PHCN (mức độ 2): Điểm đánh giá là 2

- Nhu cầu PHCN (mức độ 3): Điểm đánh giá là 3 (Một số nội dung)

 Xác định nhu cầu PHCN chung:

- Có nhu cầu PHCN: Khi ít nhất 1 trong 14 nội dung được xác định là có nhu cầu PHCN

- Không có nhu cầu PHCN: Không có bất kỳ nội dung nào trong 14 nội dung được xác nhận là có nhu cầu PHCN

2.7.3 Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Theo thang điểm Barthel, mỗi sinh hoạt được đánh giá từ 0-10 hoặc 0-15 điểm, tùy thuộc vào loại hoạt động, với khoảng cách giữa các mức độ độc lập là 5 điểm Cuối cùng, tổng điểm của mỗi bệnh nhân sẽ được cộng lại và tổng kết.

 Từ 0-85 điểm: Phụ thuộc Trong đó:

- Từ 0-45 điểm: Phụ thuộc hoàn toàn

- Từ 50-85 điểm: Phụ thuộc một phần

Phương pháp phân tích số liệu

Phiếu phỏng vấn sau khi được kiểm tra và làm sạch được nhập bằng chương trình Epidata 3.1 và phân tích với phần mềm SPSS 16.0

Các phân tích thống kê mô tả đã được thực hiện để xác định mối liên quan giữa mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày và một số yếu tố thông qua kiểm định χ2.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu này được triển khai sau khi thông qua Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng

Nghiên cứu đã được sự cho phép của Ban Lãnh đạo Bệnh viện Lão khoa Trung ương

Các đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia, đồng thời không bị phân biệt đối xử nếu từ chối tham gia.

Các số liệu trong nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và được đề xuất sử dụng để nâng cao sức khỏe cộng đồng, không được sử dụng cho các mục đích khác.

Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới Ban Lãnh đạo bệnh viện Lão khoa Trung ương khi nghiên cứu kết thúc.

Hạn chế và sai số của nghiên cứu, biện pháp khắc phục

Do mẫu lựa chọn không xác suất nên tính đại diện bị hạn chế

Sau khi xuất viện, bệnh nhân trở về các cộng đồng khác nhau, dẫn đến kết quả nghiên cứu không phản ánh đúng nhu cầu thực tế tại từng địa phương Điều kiện đánh giá chức năng sinh hoạt hàng ngày không tương thích với môi trường sống của bệnh nhân, và các nhu cầu phục hồi chức năng để tái hòa nhập cộng đồng chưa được đánh giá đầy đủ.

Nghiên cứu chỉ tập trung vào các nhu cầu chăm sóc chính mà chưa đánh giá đầy đủ các khía cạnh quan trọng Về dinh dưỡng, chỉ xem xét vấn đề cho ăn mà chưa đảm bảo khẩu phần ăn hợp lý Đối với chăm sóc tiết niệu, nghiên cứu cũng chưa đề cập đến việc đảm bảo lượng dịch cần thiết cho cơ thể.

2.10.2 Sai số và khắc phục

- Sai số do điều tra: Sự khácnhau giữa các điều tra viên

Sai số nhớ lại là hiện tượng mà câu trả lời của người được phỏng vấn về tiền sử bệnh và một số tình trạng sinh hoạt có thể bị sai lệch do họ không nhớ rõ.

2.10.3 Biện pháp khắc phục sai số

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên

- Nghiên cứu viên là người trực tiếp giám sát điều tra và điều tra ít nhất 10% đối tượng nghiên cứu

- Thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá

- Thử nghiệm bộ công cụ và chỉnh sửa trước khi điều tra

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thông tin xã hội (N4)

Thông tin Số lượng (N) Tỷ lệ %

Cấp cứu 5 3,0 Điều trị theo yêu cầu 18 11,0

Bảng 3.1 cho thấy, trong nghiên cứu, tỷ lệ nam giới (56,1%) cao hơn nữ giới (43,9%) Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người từ 70 tuổi trở lên, chiếm 67%, và phần lớn sống tại Hà Nội (57,3%) Khoa Tâm thần kinh có số lượng đối tượng nghiên cứu nhiều nhất (37,2%), tiếp theo là khoa Nội tổng hợp (17,7%) và Tim mạch (15,2%), trong khi khoa cấp cứu có số lượng ít nhất (3%).

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thông tin về bệnh tật (N4)

Thông tin bệnh tật Số lượng Tỷ lệ %

Số lần bị tai biến

Bị TBMMN lần đầu tiên 109 66,5

Bị TBMMN từ lần thứ 2 trở lên 55 33,5

Bệnh tim 4 2,4 Đái tháo đường 33 20,1

Mức độ liệt của tay tại thời điểm ra viện

Mức độ liệt của chân tại thời điểm ra viện

Liệt cả chi trên và chi dưới 152 92,7

Rối loạn cơ tròn khi nhập viện

Rối loạn cơ tròn khi ra viện

Không 142 86,6 Được tập PHCN lần Có 81 49,4

Thông tin bệnh tật Giá trị trung bình (mean ± std)

Bảng 3.2 cho thấy bệnh nhân có số ngày nằm viện trung bình là 17,9 ± 0,9 ngày Trong nghiên cứu, 33,5% bệnh nhân bị tai biến mạch máu não (TBMMN) từ lần thứ hai trở lên Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp cao nhất, chiếm 66,5%, tiếp theo là bệnh đái tháo đường (20,1%) và bệnh tim thấp nhất (2,4%) Về tình trạng liệt, 6,7% bệnh nhân liệt cả hai bên, 43,3% liệt bên phải, 42,7% liệt bên trái, và 7,3% không bị liệt Đa số bệnh nhân trong tình trạng liệt không hoàn toàn.

Trong nghiên cứu, 92,7% đối tượng bị liệt chi trên và chi dưới Tại thời điểm nhập viện, 18,9% có rối loạn cơ tròn, trong khi 13,4% vẫn gặp tình trạng này khi ra viện Chỉ có 49,4% đối tượng được tham gia chương trình phục hồi chức năng Trong số các loại tai biến mạch não, nhồi máu não chiếm ưu thế với 82,9%, trong khi xuất huyết não và các trường hợp chưa rõ nguyên nhân đều chiếm 8,5% Đáng chú ý, 5,5% bệnh nhân gặp phải di chứng cứng khớp.

Nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng của bệnh nhân TBMMN

Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm nhu cầu chăm sóc

Nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp của bệnh nhân là cao nhất, đạt 92,7%, trong khi nhu cầu chăm sóc về đại tiện thấp nhất, chỉ 18,9% Cụ thể, 56,1% bệnh nhân cần được hỗ trợ tư thế đúng, 36% cần chăm sóc dinh dưỡng, 48,8% cần phòng ngừa loét, 36,6% cần chăm sóc tiết niệu, và 53,6% cần hỗ trợ về hô hấp.

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc tư thế và cơ xương khớp

Nhu cầu Tần số Tỉ lệ

Tập vận động tránh teo cơ, cứng khớp 25 15,3

Chăm sóc tư thế đúng

Chăm sóc loét và phòng loét

Chăm sóc tiêu hóa: đại tiện

Chăm sóc cơ xương khớp

Có nhu cầu Không có nhu cầu

Kết quả ở bảng 3.3 cho thấy:

Về nhu cầu chăm sóc tư thế đúng: có 56,1% bệnh nhân cần được đặt vị thế đúng, 19,5% bệnh nhân cần được lăn trở thường xuyên

Khoảng 15,3% bệnh nhân gặp vấn đề về xương khớp cần tập vận động để tránh teo cơ và cứng khớp Trong số đó, 50,6% bệnh nhân cần được hướng dẫn tập ngồi, 52,4% cần tập đứng, và 49,4% cần tập đi.

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc hô hấp và chăm sóc nuôi dưỡng (N4)

Nhu cầu Tần số Tỉ lệ

Nhu cầu chăm sóc hô hấp

Chăm sóc nội khí quản/mở khí quản 0 0,0

Nhu cầu chăm sóc dinh dưỡng

Bón cho ăn đường miệng 47 28,7

Vệ sinh miệng sau khi ăn 47 28,7 Ăn qua sonde dạ dày 12 7,3 Ăn đường tĩnh mạch 0 0,0

Theo Bảng 3.4, trong số các bệnh nhân, 32% cần được lăn trở, 53,6% cần vỗ rung, và 7,3% cần hút đờm rãi Đặc biệt, không có bệnh nhân nào phải sử dụng nội khí quản hoặc mở khí quản.

Trong việc nuôi dưỡng bệnh nhân, có 28,7% cần được cho ăn qua đường miệng và hỗ trợ vệ sinh miệng sau khi ăn, trong khi 7,3% bệnh nhân ăn qua sonde dạ dày Đáng chú ý, không có bệnh nhân nào phải nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch.

Bảng 3 5 Phân bố bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc loét và phòng chống loét

Giữ da sạch và khô ráo 80 48,8

Vệ sinh sau khi đại/tiểu tiện 60 36,6

Xoa bóp vùng tì đè 32 19,5

Nằm đệm chống loét/chêm lót vùng tì đè 32 19,5

Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy rằng không có bệnh nhân nào bị loét khi xuất viện Để phòng ngừa loét, bệnh nhân cần được hỗ trợ trong việc giữ da sạch và khô (48,8%), thay quần áo (48,2%), vệ sinh sau đại/tiểu tiện (36,6%), thay đổi tư thế (19,5%), sử dụng đệm/chêm lót chống loét và xoa bóp các vùng tì đè.

Bảng 3.6: Phân bố bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc tiết niệu và chăm sóc đại tiện

Nhu cầu Tần số Tỷ lệ %

Cần vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày 60 36,6

Phải đóng bỉm/chụp dương vật/có tấm lót 31 18,9

Cần đặt thông tiểu ngắt quãng 0 0,0

Táo bón 28 17,1 Đại tiện không tự chủ 3 1,8

Theo bảng 3.6, trong số 60 bệnh nhân cần chăm sóc tiết niệu, 36,6% cần hỗ trợ vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày Chỉ có 1,2% bệnh nhân cần chăm sóc thông tiểu lưu, trong khi 18,9% phải thu gom nước tiểu bằng bỉm, chụp dương vật hoặc tấm lót (trong đó 5,5% sử dụng chụp dương vật và 13,4% sử dụng bỉm) Không có bệnh nhân nào được đặt thông tiểu ngắt quãng, và 20,1% bệnh nhân gặp rối loạn tiểu tiện.

Tại thời điểm ra viện, có 18,9% bệnh nhân cần chăm sóc tiêu hóa, trong đó 1,8% do không tự chủ trong đại tiện và 17,1% do bị táo bón Không có bệnh nhân nào gặp phải tình trạng tiêu chảy.

Biểu đồ 3.2: Nhu cầu chăm sóc chung

Có 92,7% bệnh nhân cần chăm sóc khi ra viện, được xác định khi họ có nhu cầu ở ít nhất một nhóm vấn đề chăm sóc.

3.2.2 Nhu cầu phục hồi chức năng

Biểu đồ 3.3: Phân bố nhu cầu PHCN chung

Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị TBMMN vào thời điểm xuất viện có nhu cầu phục hồi chức năng chiếm đa số với 89,6%

Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nhóm nhu cầu PHCN

Theo biểu đồ, trong các nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân TBMMN, nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,1% Tiếp theo là nhu cầu phục hồi chức năng về vận động với 59,1%, trong khi đó, 55,5% bệnh nhân có nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp.

Sinh hoạt hàng ngày Giao tiếp Vận động

Bảng 3.7: Phân loại nhu cầu PHCN (N4)

Không có (Mức độ 0) Tổng

Mức độ 3 Cộng n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Ăn uống 47

Sử dụng nhà vệ sinh

Hiểu câu nói đơn giản

Hiểu các cử chỉ và dấu hiệu khi giao tiếp

Sử dụng cử chỉ, dấu hiệu để giao tiếp mà những người khác hiểu

Sinh hoạt hàng ngàyGiao tiếp HUPH

Di chuyển được trong bệnh phòng

(100) Đi bộ được ít nhất 10 bước

Có đau lưng, đau khớp

Kết quả bảng 3.7 cho thấy, tại thời điểm xuất viện:

Nhu cầu phục hồi chức năng trong sinh hoạt của bệnh nhân rất cao, với 46,4% cần người trợ giúp khi sử dụng nhà vệ sinh, trong khi 14,0% không thể tự làm ngay cả khi có sự hỗ trợ Đặc biệt, 61% bệnh nhân cần phục hồi chức năng để giữ gìn vệ sinh cá nhân, trong đó 40,9% cần trợ giúp hoàn toàn Về việc mặc và cởi quần áo, 48,2% bệnh nhân có nhu cầu, với 32,3% cần trợ giúp một phần và 15,9% không thể tự làm dù có sự hỗ trợ Ngoài ra, 37,8% bệnh nhân cần trợ giúp trong việc ăn uống, từ mức độ cần trợ giúp một phần (28,7%) đến không thể tự làm dù có trợ giúp (9,1%).

Về nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp: Tỷ lệ bệnh nhân TBMMN có nhu cầu nói chiếm cao nhất với 33,6% ở mức độ 1 và 20,1% ở mức độ 2

Nhu cầu phục hồi chức năng vận động rất cao, với 50,6% bệnh nhân không thể tự ngồi mà cần trợ giúp Hơn nữa, 52,4% người bệnh cần hỗ trợ để đứng dậy, và 49,4% cần giúp đỡ để di chuyển trong phòng bệnh Chỉ có 35,3% bệnh nhân có thể tự đi bộ khoảng 10 bước, trong khi 23,8% không thể đi bộ được 10 bước ngay cả khi có người hỗ trợ.

Tỷ lệ bệnh nhân không có nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp cao hơn đối với nhu cầu phục hồi chức năng sinh hoạt và vận động

Bảng 3.8: Phân bố bệnh nhân theo số nhu cầu PHCN (N4)

Không có nhu cầu nào 17 10,4

Kết quả cho thấy 10,4% người bệnh không có nhu cầu về phục hồi chức năng (PHCN) Tỉ lệ người có từ 1 đến 5 nhu cầu PHCN tương đương với nhóm có từ 6 đến 10 nhu cầu, lần lượt là 40,9% và 42% Chỉ có 6,7% bệnh nhân có nhu cầu phục hồi chức năng rất cao, với 11 đến 14 nhu cầu.

3.2.3 Nguyện vọng của bệnh nhân và gia đình

Biểu đồ 3.5: Nguyện vọng của bệnh nhân và người nhà

Biểu đồ 3.5 cho thấy rằng nguyện vọng lớn nhất của bệnh nhân là nhận được hướng dẫn tập luyện và chăm sóc tại nhà, chiếm 85,4% Ngoài ra, 50% mong muốn tham gia các chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng, trong khi 20,1% bệnh nhân và gia đình hy vọng được cung cấp dịch vụ chăm sóc.

90,0 Được hướng dẫn tập và chăm sóc tại nhà Được cung cấp dịch vụ chăm sóc và PHCN tại nhà

Cung cấp thông tin về các cơ sở PHCN tại địa phương Được tham gia chương trình PHCN dựa vào cộng đồng

HUPH sóc và PHCN tại nhà, 15,2% mong được cung cấp thông tin về cơ sở PHCN tại địa phương.

Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của BN TBMMN

Bảng 3.9: Phân bố mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (N4)

Mức độ Tần số Tỷ lệ (%) Độc lập 56 34,1

Theo bảng 3.9, tại thời điểm ra viện, chỉ có 34,1% bệnh nhân có khả năng độc lập, trong khi 65,9% bệnh nhân vẫn phụ thuộc vào sự hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày Cụ thể, 38,4% bệnh nhân phụ thuộc một phần và 27,5% bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc.

Bảng 3.10: Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo mức độ liệt (trong nhóm bệnh nhân liệt 1 bên - N2)

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Không liệt/Liệt không hoàn toàn 101 68,7 46 31,3 147 100

Trong nhóm bệnh nhân liệt hoàn toàn, 100% bệnh nhân đều phụ thuộc vào sự hỗ trợ Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân không liệt hoặc liệt không hoàn toàn, tỷ lệ bệnh nhân phụ thuộc chỉ là 68,7%.

Bảng 3.11: Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo tình trạng cứng khớp

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Trong một nghiên cứu về bệnh nhân, 100% những người có triệu chứng cứng khớp đều phụ thuộc vào sự hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân không bị cứng khớp, chỉ có 63,9% cần sự trợ giúp.

Một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa giới và độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Bảng 3.12 chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày Cụ thể, tỷ lệ nam giới phụ thuộc vào sự hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày là 59,8%, trong khi tỷ lệ này ở nữ giới lên tới 73,6%.

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa giới tính và mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh Cụ thể, nam giới có tỷ lệ phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày chỉ bằng 0,533 lần so với nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tuổi và độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Mức độ Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Bảng 3.13 chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày giữa hai nhóm tuổi: dưới 70 tuổi và từ 70 tuổi trở lên Cụ thể, tỉ lệ phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày ở nhóm từ 70 tuổi trở lên là 70,9%, trong khi nhóm dưới 70 tuổi chỉ có tỉ lệ 55,6% Điều này cho thấy mối liên quan giữa tuổi tác và mức độ độc lập, với những người từ 70 tuổi trở lên có tỉ lệ phụ thuộc cao gấp 1,950 lần so với nhóm dưới 70 tuổi, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p 0,05)

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa được PHCN và độc lập trong sinh hoạt hàng ngày

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Bảng 3.16 chỉ ra sự khác biệt về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày giữa những người chưa PHCN và những người đã PHCN Cụ thể, tỉ lệ phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày của những người chưa PHCN là 62,7%, trong khi tỉ lệ này ở những người đã PHCN là 69,1% Mặc dù có mối liên quan giữa PHCN và mức độ độc lập, tỉ lệ phụ thuộc của người đã PHCN chỉ bằng 0,749 lần so với người chưa PHCN, nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tình trạng rối loạn cơ tròn khi vào viện và độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (N4)

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Bảng 3.17 chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày giữa những người có rối loạn cơ tròn và những người không có rối loạn này khi vào viện Cụ thể, tỉ lệ phụ thuộc khi ra viện của những người có rối loạn cơ tròn đạt 83,9%, trong khi tỉ lệ độc lập của nhóm không có rối loạn chỉ là 61,7% Điều này cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn cơ tròn và mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, với tỉ lệ phụ thuộc của nhóm có rối loạn cao gấp 3,234 lần so với nhóm không có rối loạn, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa loại TBMMN với độc lập trong sinh hoạt hàng ngày trong số các BN xác định được loại TBMMN (N = 150)

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Có sự khác biệt rõ rệt giữa người bị xuất huyết não và người bị nhồi máu não về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày Cụ thể, tỉ lệ phụ thuộc khi ra viện của người xuất huyết não là 42,9%, trong khi người nhồi máu não có tỉ lệ độc lập lên tới 67,6% Điều này cho thấy mối liên hệ giữa loại tai biến và khả năng tự lập của bệnh nhân, với tỉ lệ phụ thuộc của người nhồi máu não cao gấp 2,788 lần so với người xuất huyết não, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa thời gian nằm viện với độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (N = 164)

Phụ thuộc Độc lập Tổng n % n % n %

Bảng 3.19 chỉ ra rằng có sự liên hệ giữa thời gian nằm viện và mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân Những bệnh nhân có thời gian nằm viện ngắn hơn thường thể hiện mức độ độc lập cao hơn trong các hoạt động hàng ngày.

Tỉ lệ phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân trong 18 ngày cao gấp 1,826 lần so với những bệnh nhân nằm viện từ 18 ngày trở lên, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.20: Mối liên quan giữa tình trạng khó khăn về giao tiếp với độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (N = 164)

Khó khăn về giao tiếp

Kết quả từ bảng 3.20 chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa khả năng giao tiếp và mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân Cụ thể, những bệnh nhân gặp khó khăn trong giao tiếp có tỷ lệ phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày cao gấp 6,699 lần so với những bệnh nhân không gặp khó khăn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Để loại bỏ các yếu tố gây nhiễu, chúng tôi đã đưa các yếu tố có mối liên quan vào mô hình phân tích đa biến logistic khi thực hiện phân tích đơn biến.

Bảng 3.21: Phân tích hồi quy đa biến logistic các yếu tố liên quan đến độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày

Yếu tố trong mô hình Hệ số hồi quy (β)

Cỡ mẫu phân tích (n) = 164 (*) = Nhóm so sánh (-) = Không áp dụng Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test) χ 2 = 12,557; df=8 ; p=0,128

Nhóm tuổi, tình trạng rối loạn cơ tròn khi vào viện và khó khăn về giao tiếp là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân Cụ thể, bệnh nhân dưới 70 tuổi có tỉ lệ độc lập cao gấp 2,312 lần so với bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên (p < 0,05) Ngoài ra, bệnh nhân không gặp khó khăn về giao tiếp có tỉ lệ độc lập cao gấp 5,431 lần so với những bệnh nhân có khó khăn trong giao tiếp (p < 0,05) Cuối cùng, bệnh nhân không có rối loạn cơ tròn khi vào viện có tỉ lệ độc lập cao gấp 3,445 lần so với những bệnh nhân có rối loạn cơ tròn (p < 0,05).

4.1 Thông tin chung của ĐTNC

4.1.1 Về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu trên 164 bệnh nhân cho thấy có 92 nam (56,1%) và 72 nữ (43,9%), với tỷ số nam/nữ là 1,28/1 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ tại Bệnh viện Bạch Mai và Nguyễn Văn Triệu tại Hải Dương, cho thấy nam giới mắc TBMMN nhiều hơn nữ giới với tỷ số lần lượt là 2,1/1 và 2/1.

TBMMN chủ yếu xảy ra ở nam giới, có thể do họ hút thuốc và uống rượu nhiều hơn nữ giới Kết quả nghiên cứu cho thấy 87,8% đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi Nghiên cứu của Đào Hữu Đường tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương cũng xác nhận rằng tỷ lệ TBMMN ở người cao tuổi là 86,9% Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc thích nghi, hấp thụ và sử dụng dinh dưỡng, cũng như có sức đề kháng yếu hơn và khả năng phục hồi chậm hơn so với người trẻ Do đó, 87,8% bệnh nhân cao tuổi cần sự chăm sóc và hỗ trợ tích cực từ nhân viên y tế và gia đình.

4.1.2 Một số đ c điểm liên quan đến bệnh tật của đối tượng nghiên cứu

Về số ngày nằm viện

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đạt Anh (2011), Điều dưỡng hồi sức cấp cứu, Nhà xuất bản Y học, tr. 239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng hồi sức cấp cứu
Tác giả: Nguyễn Đạt Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
2. Bệnh viện Lão khoa Trung ương (2010), Báo cáo năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2010
Tác giả: Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Năm: 2010
3. Bệnh viện Lão khoa Trung ương (2011), Báo cáo năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2011
Tác giả: Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Năm: 2011
4. Bộ y tế (1999), Hướng dẫn qui trình kỹ thuật bệnh viện, Nhà xuất bản Y học, tr. 124-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn qui trình kỹ thuật bệnh viện
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
5. Bộ Y tế (2002), Hướng dẫn qui trình chăm sóc người bệnh, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn qui trình chăm sóc người bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
6. Bộ Y tế (2010), Phục hồi chức năng - Sách đào tạo cử nhân điều dưỡng, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng - Sách đào tạo cử nhân điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2010
7. Bộ Y tế (2011), Thông tư Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, Số: 07 /2011/TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
8. Trần Văn Chương (2003), Nghiên cứu phương pháp phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biên mạch máu não, Luận án tiến sỹ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biên mạch máu não
Tác giả: Trần Văn Chương
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2003
9. Trần văn Chương (2010), Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não, Nhà xuất bản Y học, tr. 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não
Tác giả: Trần văn Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
10. Nguyễn Tấn Dũng (2012), Nghiên cứu chất lượng cuộc sống và hiệu quả phục hồi chức năng nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh sau TBMMN tại Đà Nẵng, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chất lượng cuộc sống và hiệu quả phục hồi chức năng nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh sau TBMMN tại Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2012
11. Võ Ngọc Dũng (2010), Nhu cầu và thực trạng phục hồi chức năng của người khuyết tật tại nhà trên địa bàn xã Trung Nghĩa, huyện yên Phong tỉnh, Bắc Ninh năm 2010, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu và thực trạng phục hồi chức năng của người khuyết tật tại nhà trên địa bàn xã Trung Nghĩa, huyện yên Phong tỉnh, Bắc Ninh năm 2010
Tác giả: Võ Ngọc Dũng
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2010
12. Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh (2003), Thần kinh học, Nhà xuất bản Y học, Hồ chí Minh, tr. 377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần kinh học
Tác giả: Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
13. Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não bằng thang điểm Barthel (2007), truy cậpHUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não bằng thang điểm Barthel
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w