ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu a) Số liệu sơ cấp:
- Lãnh đạo (Giám đốc, Phó Giám đốc phụ trách công tác xét nghiệm, Phó Giám đốc phụ trách công tác phòng, chống dịch) của bệnh viện
- Lãnh đạo các khoa, phòng có người bệnh điều trị nội trú
- Nhân viên y tế tại các khoa, phòng có người bệnh điều trị nội trú
- Nhân viên y tế trực tiếp thực hiện công tác xét nghiệm tại bệnh viện b) Số liệu thứ cấp:
- Lượt người bệnh điều trị nội trú tại các bệnh viện trong thời gian từ ngày 21/7/2021 – 31/12/2021
- Các báo cáo, dữ liệu xét nghiệm SARS-CoV-2 người bệnh điều trị nội trú của bệnh viện
- Các báo cáo, dữ liệu xét nghiệm SARS-CoV-2 người bệnh điều trị nội trú có thời gian từ ngày 21/7/2021 – 31/12/2021;
Cán bộ y tế đã tham gia nghiên cứu và công tác chỉ đạo, được đào tạo về xét nghiệm SARS-CoV-2, đồng thời thực hiện xét nghiệm cho bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021.
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ: Loại trừ khi có một trong ba tiêu chuẩn sau:
- Cán bộ y tế không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Cán bộ y tế chƣa đƣợc tập huấn công tác xét nghiệm SARS-CoV-2
- Cán bộ y tế chưa tham gia thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện trong giai đoạn từ ngày 21/7/2021 – 31/12/2021.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp kết hợp song song định lƣợng và định tính
Phần định lƣợng nhằm đáp ứng mục tiêu 1, phần định tính nhằm bổ sung làm rõ các thông tin trong mục tiêu 1 và đáp ứng mục tiêu 2.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu này chọn ba cơ sở y tế đại diện cho thành phố Đà Nẵng, bao gồm Bệnh viện Đà Nẵng, Trung tâm Y tế quận Thanh Khê và Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng, với mô hình và quy mô khác nhau.
Bệnh viện Đà Nẵng là bệnh viện đa khoa hạng 1, có lượt khám bệnh ngoại trú và điều trị nội trú/ngày cao nhất tại Đà Nẵng Bệnh viện được Sở Y tế thẩm định đủ điều kiện thực hiện xét nghiệm RT-PCR cho COVID-19, tích cực xét nghiệm cho bệnh nhân nội trú và hỗ trợ các đơn vị khác Bệnh viện cũng tham gia điều trị bệnh nhân COVID-19 nặng tại Bệnh viện Phổi và TTYT huyện Hòa Vang, đồng thời quản lý chuyên môn tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Việc chọn Bệnh viện Đà Nẵng để nghiên cứu là hợp lý, đại diện cho hệ thống bệnh viện tuyến thành phố và các bệnh viện chuyên khoa trên địa bàn.
Trung tâm Y tế quận Thanh Khê là bệnh viện tuyến huyện hạng 2 thuộc Sở Y tế, với lượng khám bệnh ngoại trú và điều trị nội trú/ngày thấp nhất tại Đà Nẵng Trong giai đoạn 2020 – 2021, trung tâm không thu dung và điều trị COVID-19, cũng như chưa thực hiện kỹ thuật xét nghiệm RT-PCR chẩn đoán COVID-19 Mẫu bệnh phẩm được lấy và vận chuyển đến các đơn vị đủ điều kiện xét nghiệm khác Việc chọn Trung tâm Y tế quận Thanh Khê cho nghiên cứu là hợp lý, đại diện cho các cơ sở y tế có lượng khám, chữa bệnh thấp và chưa có hệ thống xét nghiệm RT-PCR tại Đà Nẵng.
Bệnh viện Hoàn Mỹ là một cơ sở y tế tư nhân, có lượng khám bệnh ngoại trú và điều trị nội trú/ngày ở mức trung bình so với các bệnh viện tư nhân khác trong thành phố Trong giai đoạn 2020 – 2021, bệnh viện đã phải thực hiện phong tỏa để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.
Bệnh viện Hoàn Mỹ đã được Sở Y tế thẩm định đủ điều kiện thực hiện xét nghiệm RT-PCR cho COVID-19 trong hai đợt dịch vào tháng 8/2020 và tháng 6/2021 Bệnh viện không chỉ thực hiện xét nghiệm cho bệnh nhân mà còn cung cấp dịch vụ xét nghiệm COVID-19 cho khách hàng có nhu cầu Việc chọn Bệnh viện Hoàn Mỹ làm đối tượng nghiên cứu là hợp lý, vì nó đại diện cho các bệnh viện tư nhân tại thành phố Đà Nẵng.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách thu thập toàn bộ báo cáo và dữ liệu xét nghiệm SARS-CoV-2 của bệnh viện đối với bệnh nhân điều trị nội trú trong khoảng thời gian từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021.
Nghiên cứu định tính được thực hiện tại mỗi bệnh viện với sự tham gia có chủ đích của 19 người, tổng cộng có 57 đối tượng nghiên cứu là nhân viên y tế tham gia vào phần nghiên cứu này.
Hai lãnh đạo bệnh viện, bao gồm Giám đốc và Phó Giám đốc phụ trách công tác xét nghiệm hoặc Phó Giám đốc phụ trách công tác phòng, chống dịch, đã tham gia phỏng vấn sâu.
Hai trưởng khoa Khoa điều trị người bệnh nội trú đã tham gia phỏng vấn sâu, tập trung vào Khoa Nội Tổng hợp và Khoa Hồi sức tích cực Lý do lựa chọn này là vì Khoa Nội Tổng hợp có nhiều bệnh nhân nội trú thuộc các nhóm bệnh khác nhau, trong khi Khoa Hồi sức tích cực có bệnh nhân có nguy cơ cao và dễ bị tổn thương nặng nếu mắc COVID-19.
+ 05 nhân viên y tế thực hiện trực tiếp công tác xét nghiệm SARS-CoV-2 tại bệnh viện tham gia thảo luận nhóm
Mười nhân viên y tế từ các khoa điều trị bệnh nhân nội trú tại bệnh viện đã tham gia thảo luận nhóm Năm khoa điều trị được chọn bao gồm khoa nội, khoa ngoại, khoa sản, khoa truyền nhiễm và khoa phục hồi chức năng, với mỗi khoa được lựa chọn ngẫu nhiên.
02 nhân viên y tế (đảm bảo 01 bác sĩ, 01 điều dƣỡng) trong số các nhân viên y tế có lịch trực bệnh viện tại khoa vào ngày thực hiện thảo luận nhóm.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.4.2 Thời gian thu thập thông tin
- Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng
- Trung tâm Y tế quận Thanh Khê:
Trung tâm Y tế quận Thanh Khê không trang bị máy xét nghiệm RT-PCR và thực hiện việc lấy mẫu gửi đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật để xét nghiệm, bao gồm các mẫu từ cộng đồng và hộ gia đình theo kế hoạch của thành phố Đối với xét nghiệm nhanh, trung tâm chủ yếu thực hiện cho các trường hợp tại đơn vị Trong khi đó, Bệnh viện Đà Nẵng và Bệnh viện Hoàn Mỹ có máy xét nghiệm RT-PCR, không chỉ phục vụ cho các đối tượng của đơn vị mà còn thực hiện xét nghiệm cho các mẫu từ cộng đồng và hộ gia đình theo kế hoạch xét nghiệm của thành phố.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu
Bước 1: Xây dựng các chỉ số mô tả kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện
- Căn cứ văn bản để xác định và xây dựng các chỉ số mô tả cần thu thập để đánh giá:
+ Công văn số 1385/BCĐQG ngày 19/3/2020 của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 về rút kinh nghiệm tổ chức phân luồng, cách ly người nghi nhiễm COVID-19 (55);
+ Quyết định số 5833/QĐ-BYT ngày 24/12/2021 của Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chí đánh giá chất lƣợng phòng xét nghiệm SARS-CoV-2 (58);
+ Công văn số 3209/SYT-NVY ngày 21/7/2021 của Sở Y tế thành phố Đà Nẵng (68)
Kết quả của bước này là các chỉ số mô tả kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện
Bước 2: Tham khảo ý kiến chuyên gia
Theo ý kiến của Lãnh đạo Sở Y tế thành phố Đà Nẵng và Lãnh đạo các bệnh viện, cần thu thập các chỉ số mô tả để đánh giá thực trạng công tác xét nghiệm SARS-CoV-2 nhằm giám sát chủ động COVID-19 tại bệnh viện.
Bước 3: Hoàn thiện các chỉ số mô tả kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện
Sau khi tham khảo ý kiến từ các chuyên gia, chúng tôi đã xác định lại các chỉ số cần thu thập trong năm 2021 tại bệnh viện nhằm hoàn thiện biểu mẫu nghiên cứu (Phụ lục 2).
Sử dụng biểu mẫu nghiên cứu soạn sẵn theo Phụ lục 2 để thu thập các thông tin, các biến số tại bệnh viện phục vụ mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Tại mỗi bệnh viện, với sự đồng ý của Ban Giám đốc, nghiên cứu viên tiến hành thu thập thông tin từ Phòng Kế hoạch Nghiệp vụ, Phòng Xét nghiệm và Phòng Tổ chức để thu thập các văn bản liên quan đến xét nghiệm SARS-CoV-2 trong năm 2021 Họ thu thập các quy định, sổ sách ghi chép, báo cáo và thống kê dữ liệu về xét nghiệm SARS-CoV-2, đồng thời thực hiện phỏng vấn sâu với Ban Giám đốc và thảo luận nhóm với nhân viên y tế để có thêm thông tin Sau đó, nghiên cứu viên phân tích các báo cáo và số liệu, cũng như các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
Dựa vào khung lý thuyết với các yếu tố ảnh hưởng như chính sách và quy định của Bộ Y tế, Sở Y tế Đà Nẵng, nhân lực xét nghiệm, trang thiết bị, tài chính và thông tin truyền thông, chúng tôi đã xây dựng hướng dẫn PVS, TLN Sau đó, chúng tôi tham khảo ý kiến của các chuyên gia quản lý để bổ sung và hoàn thiện hướng dẫn này.
Sử dụng Hướng dẫn PVS và Hướng dẫn TLN được soạn sẵn để phỏng vấn sâu (Phụ lục 2) và thảo luận nhóm (Phụ lục 3) để làm rõ Mục tiêu 2
PVS và TLN được thực hiện tại phòng giao ban của bệnh viện, do tác giả nghiên cứu thực hiện Quá trình này bao gồm việc ghi âm và ghi chép các thông tin thu thập được từ PVS và TLN.
Phỏng vấn sâu với Giám đốc hoặc Phó Giám đốc phụ trách xét nghiệm và phòng, chống dịch là một bước quan trọng, được thực hiện theo Hướng dẫn PVS đã chuẩn bị sẵn.
- Thảo luận nhóm bằng Hướng dẫn TLN bao gồm các câu hỏi, chủ đề thảo luận chuẩn bị sẵn.
Các chỉ số, biến số nghiên cứu
Các chỉ số và thông tin được thu thập nhằm mô tả kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021, theo Công văn số 3209/SYT-NVY của Sở Y tế thành phố Đà Nẵng Bảng chỉ số và thông tin nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết.
Bảng 2.1 Các chỉ số, thông tin nghiên cứu
Stt Chỉ số, thông tin Nguồn thu thập
I Nhóm chỉ số của Mục tiêu 1: Các chỉ số kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện
Tổng số người bệnh nội trú từ ngày 21/7/2021 –
31/12/2021 (chia theo tháng, theo khoa, phòng người bệnh nội trú)
Hệ thống quản lý người bệnh nội trú năm 2021
Nhóm các chỉ số về kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú:
- Số lượng người bệnh nội trú theo thời gian, theo khoa phòng điều trị tại bệnh viện từ ngày
- Số lƣợng xét nghiệm sàng lọc trên các nhóm người bệnh nội trú, phương pháp xét nghiệm, mẫu đơn/gộp, theo thời gian, theo khoa, phòng từ
Báo cáo kết quả xét nghiệm sàng lọc năm 2021
Từ ngày 21/7/2021, số mẫu xét nghiệm dương tính của bệnh nhân nội trú được phân loại theo các nhóm bệnh, phương pháp xét nghiệm, mẫu đơn hoặc mẫu gộp, cũng như theo thời gian và khoa, phòng.
- Tỷ lệ xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị (%) theo phương pháp xét nghiệm, theo thời gian, theo khoa, phòng, bộ phận
- Tỷ lệ bệnh nhân dương tính/số mẫu xét nghiệm
II Nhóm chỉ số của Mục tiêu 2: Yếu tố ảnh hưởng hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện
Nhóm chỉ số năng lực xét nghiệm của bệnh viện bao gồm: phòng xét nghiệm đã được công nhận hoặc tự công bố đạt An toàn sinh học cấp II trở lên; số mẫu đơn xét nghiệm tối đa mỗi ngày; số mẫu xét nghiệm được lấy tối đa mỗi ngày; và các loại xét nghiệm triển khai kỹ thuật sinh học phân tử từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021 tại bệnh viện.
Báo cáo năng lực xét nghiệm năm 2021của BV kết hợp với phỏng vấn sâu
Chỉ số liên quan đến trang thiết bị, vật tƣ, sinh phẩm: Số lƣợng vật tƣ, sinh phẩm, máy móc, trang thiết bị theo từng chủng loại từ ngày
Báo cáo trang thiết bị năm
Nhóm chỉ số liên quan đến nhân lực xét nghiệm
COVID-19 tại bệnh viện: Số lƣợng nhân viên, trình độ chuyên môn, tập huấn, kinh nghiệm…
Báo cáo nhân sự năm 2021của BV
Nhóm chỉ số, thông tin về quy trình/hướng dẫn thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 từ ngày
Quy trình xét nghiệm của
5 Nhóm chỉ số, thông tin liên quan đến cơ sở vật Phỏng vấn sâu kết hợp
HUPH chất của bệnh viện: Khu vực riêng, lối đi riêng, nguồn điện dự phòng để xét nghiệm SARS-CoV-
Từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021, hai bệnh nhân nội trú đã được theo dõi tại khu vực cách ly tạm thời của bệnh viện Việc quan sát thực tế và đối chiếu với báo cáo cơ sở vật chất năm 2021 của bệnh viện là cần thiết Ngoài ra, cần thu thập các dữ liệu thứ cấp để phục vụ cho công tác nghiên cứu.
- Số người bệnh nội trú theo thời gian, theo khoa phòng điều trị tại bệnh viện từ ngày 21/7/2021 – 31/12/2021;
- Số mẫu xét nghiệm người bệnh nội trú theo phương pháp xét nghiệm, mẫu đơn/gộp, theo thời gian, theo khoa, phòng từ ngày 21/7/2021 – 31/12/2021;
Từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021, số mẫu xét nghiệm của bệnh nhân nội trú dương tính được phân loại theo các nhóm bệnh nhân, phương pháp xét nghiệm, mẫu đơn hoặc mẫu gộp, cũng như theo thời gian và khoa, phòng.
- Phòng xét nghiệm đã đƣợc công nhận hoặc tự công bố đạt An toàn sinh học cấp II trở lên;
- Số lƣợng vật tƣ, sinh phẩm, máy móc, trang thiết bị theo từng chủng loại từ ngày 21/7/2021 – 31/12/2021 tại bệnh viện;
- Số lƣợng nhân viên theo trình độ chuyên môn, tập huấn, kinh nghiệm…
- Số đối tƣợng và số mẫu thực hiện xét nghiệm tại các cơ sở y tế nghiên cứu: (Phụ lục 1: Bảng biến số) c) Chủ đề nghiên cứu định tính:
Chính sách và quy định của Bộ Y tế, Sở Y tế Đà Nẵng, cùng với hướng dẫn từ bệnh viện, có tác động lớn đến hiệu quả của hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 đối với bệnh nhân nội trú.
Quan điểm chỉ đạo về khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, cùng với việc thích ứng an toàn và linh hoạt, có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện.
- Nhân lực ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS- CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện
Trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm và cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét nghiệm cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện.
Tài chính và kinh phí đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét nghiệm cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện.
Để khắc phục các khó khăn và vướng mắc trong hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện, nhiều biện pháp đã được áp dụng Những biện pháp này bao gồm cải tiến quy trình xét nghiệm, tăng cường đào tạo nhân viên y tế, và nâng cao trang thiết bị y tế Đồng thời, việc tăng cường thông tin và hướng dẫn cho bệnh nhân cũng góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và hiệu quả của quá trình xét nghiệm.
Các tiêu chuẩn đánh giá
Các chỉ số và số liệu đánh giá hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện được thu thập từ dữ liệu thứ cấp, dựa trên các tiêu chuẩn và quy định của Bộ Y tế và Sở Y tế Thời gian khảo sát diễn ra từ ngày 21/7/2021 đến 31/12/2021, tập trung vào nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu và quy trình thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2 tại bệnh viện.
Phương pháp phân tích số liệu
- Tổng hợp kết quả thu thập thông tin, báo cáo, dữ liệu
- Số liệu sau khi thu thập sẽ được rà soát, kiểm tra và làm sạch trước khi xử lý
- Số liệu định lƣợng đƣợc nhập bằng phần mềm Excel 2016 và đƣợc xử lý, phần tích bằng các hàm công thức của phần mềm Excel 2016
- Gỡ băng ghi âm và sử dụng máy tính ghi chép lại một cách trung thực
- Trích dẫn thông tin theo chủ đề tương ứng.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này mang tính chất mô tả và không thực hiện bất kỳ can thiệp nào đối với đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu đã được phê duyệt và cho phép theo Quyết định số.
276/2022/YTCC-HD3 ngày 27/6/2022 của Hội đồng Đạo đức thuộc Trường Đại học Y tế công cộng
Nghiên cứu này nhận được sự chấp thuận từ Ban Giám đốc và sự hỗ trợ của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đà Nẵng, Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng và Trung tâm Y tế quận Thanh Khê Các trường hợp tham gia nghiên cứu đều tự nguyện và được thông báo rõ ràng về mục đích cũng như nội dung của nghiên cứu Tất cả thông tin cá nhân được bảo mật và chỉ được sử dụng hoặc công bố khi có sự cho phép của đối tượng nghiên cứu.
3.1 Kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện từ ngày 21/7/2021
3.1.1 Đối tượng xét nghiệm sàng lọc, tần suất, tỷ lệ, phương pháp xét nghiệm sàng lọc
Bảng 3.1 Kết quả về đối tượng xét nghiệm, tần suất, tỷ lệ, xét nghiệm tại bệnh viện Đối tƣợng
Bệnh viện Đà Nẵng Bệnh viện Hoàn Mỹ Trung tâm Y tế quận Thanh Khê
Số lƣợt xét nghiệm của đối tƣợng (%) (b)
Phương pháp xét nghiệm Tổng số đối tƣợng
Phương pháp xét nghiệm Tổng số đối tƣợng
Phương pháp xét nghiệm RT-PCR
Người bệnh sau khi khám ngoại trú cần chuyển điều trị nội trú
1 lần khi có chỉ định
1 lần khi nhập viện điều trị nội trú
1 lần khi nhập viện điều trị nội trú
Người bệnh có chỉ định phẫu thuật
1 lần khi có chỉ định
1 lần khi có chỉ định phẩu thuật cấp cứu
1 lần khi có chỉ định phẩu thuật cấp cứu
Người bệnh có chỉ định xử lý cấp cứu, hồi sức tại Khoa khám bệnh, cấp cứu; thực hiện khẩn các can
1 lần khi có chỉ định
1 lần khi có chỉ định phẩu thuật cấp cứu
1 lần khi có chỉ định phẩu thuật cấp cứu
HUPH Đối tƣợng Tổng số đối tƣợng
Số lƣợt xét nghiệm của đối tƣợng (%) (b)
Phương pháp xét nghiệm Tổng số đối tƣợng
Phương pháp xét nghiệm Tổng số đối tƣợng
Phương pháp xét nghiệm RT-PCR
10 thiệp, thủ thuật tại các đơn vị hồi sức tích cực, chống độc ; chỉ định can thiệp tim, mạch máu cấp cứu
Người bệnh có chỉ định thực hiện khẩn các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh
1 lần khi có chỉ định
1 lần khi có chỉ định phẩu thuật cấp cứu
1 lần khi có chỉ định phẩu thuật cấp cứu
Ghi chú: Tỷ lệ % tại cột số lƣợt xét nghiệm là tỷ lệ % lƣợt xét nghiệm của nhóm đối tƣợng so với tổng số đối tƣợng
Cách tính: Tử số (b) * 100% / Mẫu số: (a)
Kết quả tại bảng 3.1 cho thấy, tại BV Đà Nẵng, theo tần suất quy định của Sở
Sau khi khám ngoại trú, 100% người bệnh cần chuyển vào điều trị nội trú thực hiện xét nghiệm Đối với người bệnh có chỉ định phẫu thuật, tỷ lệ thực hiện xét nghiệm đạt 80,9% Trong trường hợp cấp cứu và hồi sức, các can thiệp tại đơn vị hồi sức tích cực và chống độc có tỷ lệ xét nghiệm là 91,1% Tương tự, người bệnh có chỉ định thực hiện khẩn các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cũng đạt 91,1% Xét nghiệm nhanh được sử dụng phổ biến với tỷ lệ 89,73%, trong khi đó, các trường hợp xét nghiệm RT-PCR mẫu đơn hoặc mẫu gộp 10 - 20 chiếm phần còn lại.
Tại BV Hoàn Mỹ, 100% bệnh nhân cần chuyển từ khám ngoại trú sang điều trị nội trú thực hiện xét nghiệm, trong khi 82,3% bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật và 100% bệnh nhân cần can thiệp cấp cứu cũng được xét nghiệm Đối với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khẩn cấp, tỷ lệ xét nghiệm đạt 98,4% Test nhanh chiếm 87,2% trong tổng số xét nghiệm, phần còn lại là RT-PCR mẫu đơn hoặc mẫu gộp 10-20 Tại TTYT quận Thanh Khê, 100% bệnh nhân chuyển từ khám ngoại trú sang điều trị nội trú cũng thực hiện xét nghiệm, nhưng chỉ 29,1% bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật Tỷ lệ xét nghiệm cho can thiệp cấp cứu và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khẩn cấp là 88,3% Test nhanh được sử dụng chủ yếu với 85,3%, trong khi phần còn lại được gửi đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật để thực hiện xét nghiệm RT-PCR.
Tại cả 3 bệnh viện, người bệnh có chỉ định phẫu thuật, xử lý cấp cứu, hồi sức, và thực hiện các can thiệp khẩn cấp tại đơn vị hồi sức tích cực và chống độc Ngoài ra, có chỉ định can thiệp tim mạch cấp cứu và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh với tỷ lệ tương đối cao Tuy nhiên, việc thực hiện các chỉ định này chưa đảm bảo quy định của Sở Y tế, bao gồm các trường hợp phẫu thuật, cấp cứu và can thiệp khẩn cấp.
3.1.2 Kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện theo thời gian a) Bệnh viện Đà Nẵng
Bảng 3.2 trình bày kết quả xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Đà Nẵng, bao gồm số lượt xét nghiệm và số trường hợp dương tính theo thời gian.
Số trường hợp xét nghiệm Số trường hợp dương tính
RT-PCR Test nhanh Đơn (a) Gộp 10 (b) Đơn (d) Gộp 10 (e) (g)
Ghi chú: Tỷ lệ % ở cột (a), (b), (c) đƣợc tính bằng (a) hoặc (b) hoặc (c) * 100 /(a+b+c)
Tỷ lệ phần trăm ở các cột (d), (e), (g) được tính bằng công thức \((d) \text{ hoặc } (e) \text{ hoặc } (g) \times \frac{100}{(d+e+g)}\) Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy, trong tháng 11, Bệnh viện Đà Nẵng ghi nhận số trường hợp dương tính cao nhất với 396 trường hợp, trong đó có 21 mẫu đơn, chiếm tỷ lệ đáng kể.
Trong tháng, 0,6% số đối tượng được xét nghiệm, với 44 trường hợp mẫu gộp, chiếm 1,33% tổng số Số lượng test nhanh đạt 331 trường hợp, tương đương 10% tổng số đối tượng Tại Bệnh viện Đà Nẵng, có 28.984 trường hợp được xét nghiệm test nhanh, chiếm 89,7% Trong đó, số trường hợp test nhanh dương tính là 534, chiếm 70,8% tổng số trường hợp dương tính được phát hiện.
Bảng 3.3 Kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện theo thời gian tại bệnh viện Đà Nẵng
Số xét nghiệm thực hiện tại đơn vị
Số đối tƣợng tại đơn vị
Tỷ lệ xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị (%)
Tỷ lệ BN dương tính/số mẫu xét nghiệm (%)
Số XN thực hiện cho các đơn vị khác hoặc theo yêu cầu của thành phố
Số xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị (A)
Tổng số xét nghiệm tại đơn vị
Tại bệnh viện Đà Nẵng, tỷ lệ xét nghiệm RT-PCR mẫu đơn và gộp đã giảm dần từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2021, trong khi tỷ lệ xét nghiệm bằng phương pháp test nhanh lại tăng lên trong cùng khoảng thời gian Tổng cộng có 754 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 được phát hiện thông qua cả ba phương pháp xét nghiệm.
HUPH b) Bệnh viện Hoàn Mỹ
Bảng 3.4 trình bày kết quả xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Hoàn Mỹ, bao gồm số lượt xét nghiệm và số trường hợp dương tính theo thời gian.
Số trường hợp xét nghiệm Số trường hợp dương tính
Test nhanh Đơn Gộp 10 Đơn Gộp 10
Cách tính: tương tự bảng 3.2
Tháng 10 ghi nhận số trường hợp dương tính cao nhất với 56 trường hợp, trong đó mẫu đơn có 3 trường hợp (0,5%), mẫu gộp 28 trường hợp (4,2%) và test nhanh 25 trường hợp (3,8%) Tại BV Hoàn Mỹ, tổng số xét nghiệm test nhanh là 11.687 trường hợp, chiếm 87,2%, với 125 trường hợp dương tính, tương đương 63,4%.
Bảng 3.5 Kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện theo thời gian tại bệnh viện Hoàn Mỹ
Số xét nghiệm thực hiện tại đơn vị
Số đối tƣợng tại đơn vị
Tỷ lệ xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị
Tỷ lệ BN dương tính/số mẫu xét nghiệm (%)
Số xét nghiệm thực hiện cho các đơn vị khác hoặc theo yêu cầu của thành phố
Số xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị
Tổng số xét nghiệm tại đơn vị
Cách tính: tương tự bảng 3.3
Tại BV Hoàn Mỹ, tỷ lệ xét nghiệm RT-PCR mẫu đơn và gộp đã giảm dần từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2021, trong khi tỷ lệ xét nghiệm bằng phương pháp test nhanh lại tăng dần trong cùng khoảng thời gian này.
197 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 được phát hiện bằng cả 3 phương pháp xét nghiệm/14.103 trường hợp tại BV
HUPH c) Trung tâm Y tế quận Thanh Khê
Bảng 3.6 trình bày kết quả xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện theo thời gian tại TTYT quận Thanh Khê, bao gồm số lượt xét nghiệm và số trường hợp dương tính.
Số trường hợp xét nghiệm Số trường hợp dương tính
Test nhanh Đơn Gộp 10 Đơn Gộp 10
Cách tính: tương tự bảng 3.2
Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy, trung bình có từ 10 đến 20 ca dương tính mỗi tháng, với sự gia tăng đáng kể vào tháng 12, ghi nhận 138 trường hợp dương tính Trong đó, mẫu đơn có 12 trường hợp, chiếm 2,4% tổng số đối tượng, mẫu gộp có 19 trường hợp, chiếm 3,8%, và xét nghiệm nhanh có 107 trường hợp, chiếm 21,5% Tại TTYT quận Thanh Khê, tổng số xét nghiệm nhanh là 3.598 trường hợp, chiếm 85,3%, trong đó có 137 trường hợp dương tính, tương đương 71%.
Bảng 3.7 Kết quả hoạt động xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2 cho người bệnh nội trú tại bệnh viện theo thời gian tại Trung tâm Y tế quận Thanh Khê
Số xét nghiệm thực hiện tại đơn vị
Số đối tƣợng tại đơn vị
Tỷ lệ xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị
Tỷ lệ BN dương tính/số mẫu XN (%)
Số xét nghiệm thực hiện cho các đơn vị khác hoặc theo yêu cầu của thành phố
Số xét nghiệm các đối tƣợng tại đơn vị
Tổng số xét nghiệm tại đơn vị
12/2021 29.610 498 30.108 513 1,3 3,5 95,2 2,4 3,8 21,5 Tổng cộng 603.822 4.218 608.040 4.493 3,7 11,0 85,3 0,5 0,8 3,2 Cách tính: tương tự bảng 3.3
Tại TTYT quận Thanh Khê, tỷ lệ xét nghiệm RT-PCR mẫu đơn và gộp đã giảm dần từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2021, trong khi đó, tỷ lệ xét nghiệm bằng phương pháp test nhanh lại tăng dần trong cùng khoảng thời gian.