1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016

114 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã Đắk Ndrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, năm 2016
Tác giả Nguyễn Văn Ty
Người hướng dẫn PGS – TS Trần Hữu Bích
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nhằm mục đích cung cấp thêm thông tin về kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai có tác động như thế nào đến ý định NCBS

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN TY

MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ THAM GIA VÀO CHĂM SÓC TRƯỚC SINH CỦA NAM GIỚI VỚI DỰ ĐỊNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN CỦA BÀ MẸ MANG THAI TẠI XÃ ĐẮK NDRUNG, HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG, NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

PGS – TS Trần Hữu Bích

Hà Nội, 2016

HUPH

Trang 3

Lời cảm ơn Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Chương trình cao học Y tế công cộng, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình từ các thầy,

cô trong và ngoài Trường Đại học Y tế công cộng, địa phương triển khai nghiên cứu, cơ quan công tác, bạn bè và gia đình

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS,TS Trần Hữu Bích, thầy giáo hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của tôi, người đã tận tình hướng dẫn, góp ý về chuyên môn, cũng như động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn của mình một cách tốt nhất

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và thực hành nghiên cứu trong thời gian theo học tại Trường

Tôi sẽ luân ghi nhớ sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi của lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Đắk Song và những đồng nghiệp đanh công tác tại Trạm Y tế xã Đắk NDRung đã hỗ trợ tôi hoàn thành nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn và chia sẻ kết quả này đến tập thể cơ quan, những

người bạn, người thân và gia đình, những người đã luân ủng hộ, hỗ trợ và động viên tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt chương trình học tập, cũng như thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình

Xin chân trọng cảm ơn!

Đăk Song, ngày 20 tháng 11 năm 2016

Nguyễn Văn Ty

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC……… ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… iii

DANH MỤC BẢNG……… … iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ……… v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU… ……… … vi

ĐẶT VẤN ĐỀ……….…… 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……….……3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… ….…4

1.1.Một số khái niệm……… …….4

1.2 Cơ sở khoa học của việc bú sớm sau sinh……….…… 5

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng……….5

1.2.2 Lợi ích của việc NCBSM………6

1.2.3 Các chiến lược quốc gia về dinh dưỡng……….6

1.3 Thực trạng về NCBSM……….………8

1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ và sự tham gia của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ……… …….…… 9

1.5 Một số nghiên cứu về sự tham gia của người cha vào quá trình chăm sóc PNMT – sinh nở - nuôi dưỡng trẻ nói chung……….12

1.6 Một số nghiên cứu về mối liên quan với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai……….15

1.7 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu xã Đắk NDrung……….16

CÂY VẤN ĐỀ ………18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ….…… 19

HUPH

Trang 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu……… ……….19

2.2 Thời gianvà địa điểm nghiên cứu……… 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu……… …… 17

2.4 Phương pháp chọn mẫuvà cỡ mẫu ……… ………… 19

2.5 Phương pháp thu thập số liệu……….……… 19

2.6 Các biến số NC………23

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá trong NC……… 25

2.8 Phương pháp phân tích số liệu……… ……… ……….26

2.9.Đạo đức nghiên cứu……… 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… ……… 28

3.1 Thông tin chung của mẫu nghiên cứu……… 28

3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới……… ……… 30

3.3 Thực trạng dự định về NCBSMHT của bà mẹ……… 45

3.4 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai………46

Chương 4 BÀN LUẬN………… 49

4.1.Thực trạng kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai……… ……… 49

4.2 Dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai……….………… 52

4.3 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai……… 53

4.4 Hạn chế của đề tài NC……….55

KẾT LUẬN………… ……… ………… ………57

KHUYẾN NGHỊ………….……… ……….……….59

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… …….…….……….61

PHỤ LỤC……… ………62

HUPH

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBYT : Cán bộ y tế

ĐTV : Điều tra viên

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

GĐ : Gia đình

GSV : Giám sát viên

KAP : Kiến thức, thái độ, thực hành

NC : Nghiên cứu

NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ

NCBSMHT : Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung về nam giới……….28

Bảng 3.2 Thông tin chung về bà mẹ……… 29

Bảng 3.3 Thông tin chung về hộ gia đình……… 29

Bảng 3.4 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh……….30

Bảng 3.5 Kiến thức của nam giới về cho con bú sớm………31

Bảng 3.6 Kiến thức của nam giới về NCBSM hoàn toàn……… 32

Bảng 3.7 Kiến thức của nam giới về việc cho trẻ bú tiếp tục……… 33

Bảng 3.8 Thái độ của nam giới với việc cho con bú sớm sau sinh………… 35

Bảng 3.9 Thái độ của nam giới với việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu… 36

Bảng 3.10 Thái độ của nam giới với việc hỗ trợ NCBSM và chăm sóc trẻ 37

Bảng 3.11 Vai trò của nam giới trong việc hỗ trợ vợ đi khám thai ………….40

Bảng 3.12 Vai trò của nam giới trong việc chăm sóc người vợ mang thai tại HGĐ……… 42

Bảng 3.13 Dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai……… ……… 45

Bảng 3.14.Mối liên quan giữa Kiến thức, thái độ, và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai 47

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1 Phân bố tổng điểm kiến thức của nam giới về NCBSM …… 34 Biểu đồ 3 2 Tổng điểm kiến thức của nam giới về NCBSM ……… 35 Biểu đồ 3 3 Phân bố tổng điểm thái độ của nam giới về NCBSM …….….39 Biểu đồ 3 4 Tổng điểm thái độ của nam giới về NCBSM ……….….40 Biểu đồ 3.5 Phân bố tổng điểm thực hành chăm sóc PNMT tại hộ GĐ…….44 Biểu đồ 3.6 Tổng điểm thực hành chăm sóc PNMT tại hộ GĐ……….45 Biểu đồ 3.7 Phân bố tổng điểm dự định NCBSMHT của bà mẹ…… …….46 Biểu đồ 3.8 Tổng điểm dự định NCBSMHT của bà mẹ…… ……….47

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nhằm mục đích cung cấp thêm thông tin về kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai có tác động như thế nào đến ý định NCBSMHT của bà mẹ mang thai Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mối liên quan giữa kiến thức, thái

độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa

mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã Đắk NDrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, năm 2016” Với mục tiêu mô tả thực trạng và xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSM hoàn toàn của bà mẹ, từ đó đánh giá được vai trò tiềm năng của nam giới trong việc chăm sóc PNMT và NCBSMHT Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2016 Thiết kế NC cắt ngang phân tích được sử dụng với sự tham gia của 174 cặp vợ chồng phụ nữ đang mang thai từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 37 Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu kết hợp phỏng vấn và phát phiếu tự điền với bộ câu hỏi có cấu trúc Kết quả cho thấy kiến thức của nam giới về các vấn đề liên quan đến chăm sóc PNMT và NCBSM là khá hạn chế Đặc biệt là sự hiểu biết liên quan đến số lần cần đi khám thai và các biện pháp chăm sóc cần thiết cho PNMT Nhìn chung thái độ của nam giới đối với việc chăm sóc trước sinh và NCBSM là khá tích cực Tuy nhiên vẫn còn khoảng 20% - 30% nam giới ủng hộ một số quan điểm lạc hậu

về vấn đề mang thai và NCBSM Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ nam giới đưa vợ đi khám thai là khá cao Tuy nhiên sự tham gia của họ vào quá trình này là còn hạn chế, tỷ lệ nam giới được cán bộ y tế tư vấn trong khi đưa vợ đi khám thai còn thấp Nam giới cho thấy

họ tham gia khá tích cực vào quá trình chăm sóc PNMT tại HGĐ Đặc biệt là chăm sóc

về dinh dưỡng, tinh thần, và đỡ đần việc nhà Kết quả NC cũng chỉ ra rằng các bà mẹ mang thai không có dự định NCBSMHT là khá cao (64%) Phân tích hai biến cho thấy những nam giới có thái độ về NCBSM và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh không đạt có khả năng các bà mẹ không có dự định NCBSMHT cao hơn gấp 3,7 lần nhóm còn lại và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cho sự phát triển tốt của trẻ Sữa mẹ cung cấp cho trẻ nhiều chất dinh dưỡng cần thiết, những kháng thể chống bệnh tật giúp trẻ khỏe mạnh [3],[52] Trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa

mẹ sẽ chóng lớn, phát triển đầy đủ về thể lực cũng như trí tuệ [16] Đối với người mẹ, việc cho con bú giúp nhanh co hồi tử cung, giảm nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng sau

đẻ, đồng thời làm chậm quá trình mang thai trở lại trong giai đoạn cho con bú.Theo khuyến cáo của WHO các bà mẹ nên cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh, nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung hợp lý và bú mẹ kéo dài tới 24 tháng hoặc lâu hơn [49],[52]

Theo đánh giá của cán bộ TTYT huyện và cán bộ trạm y tế xã Đắk NDrung mặc

dù có được tư vấn nhưng chỉ có khoảng 60% các bà mẹ cho con bú ngay sau khi sinh, NCBSMHT trong 6 tháng đầu theo đúng định nghĩa là hầu như không có và đa số là các bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung từ tháng thứ 3 và 4 Kết quả phỏng vấn sơ bộ một số cặp

vợ chồng có con dưới 1 tuổi trên địa bàn xã Đắk NDrung cho thấy đa số những người

vợ biết được một số lợi ích của việc NCBSM, nhưng phần lớn đều cho rằng chỉ cần cho trẻ bú hoàn toàn 3-4 tháng, sau đó nên cho trẻ ăn bổ sung cho cứng cáp hơn Đối với những người chồng, phần lớn họ đều cho thấy sự hiểu biết khá nghèo nàn về NCBSM, rất ít người biết về việc phải cho trẻ bú ngay giờ đầu sau đẻ và nên cho trẻ bú đến 24 tháng tuổi Đa số họ đều có quan niệm sữa mẹ là không đủ năng lượng nuôi dưỡng trẻ, cần cho ăn thêm sữa ngoài và cho ăn dặm sớm Bên cạnh đó, hầu như tất cả các ông chồng đều thể hiện thái độ khá tích cực trong việc hỗ trợ/chia sẻ với vợ trong chăm sóc trẻ và thực hiện việc nhà, tất cả đều thể hiện mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng một cách tốt nhất

Xã Đắk NDrung là xã nghèo của huyện Đắk Song có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cao Người dân trong xã chủ yếu là làm nông nghiệp, nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đối với người chồng/người cha do chưa tiếp

HUPH

Trang 11

xúc được nhiều với các thông tin xã hội cập nhật và một phần do mải mê mưu sinh cuộc sống Bên cạnh đó vẫn còn những hủ tục mang tính địa phương như cho trẻ ăn bổ sung sớm trước 6 tháng để trẻ cứng cáp hơn, vắt bỏ sữa non trước khi cho trẻ bú …

Để trả lời cho câu hỏi thực trạng kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai tại xã Đắk NDrung như thế nào và liệu có mối liên quan nào giữa kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai hay không Qua đó có cái nhìn cụ thể hơn về kiến thức, thái độ và vai trò của nam giới trong chăm sóc trước sinh và hỗ trợ NCBSM từ đó có thể tiến hành các can thiệp nâng cao tỷ lệ NCBSMHT tại địa bàn xã Đắk NDrung thông qua việc tác động lên các đối tượng này Hơn nữa thì cho đến thời điểm hiện tại ở địa phương vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm

hiểu về vấn đề này Từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã Đắk NDrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, năm 2016” Kết quả của nghiên cứu này

sẽ giúp cho chính quyền và ngành y tế địa phương có định hướng và triển khai công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được toàn diện và hiệu quả hơn

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của nam giới có vợ mang thai tại xã Đắk NDrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, năm 2016

2 Mô tả sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai tại xã Đắk NDrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, năm 2016

3 Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai tại xã Đắk NDrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, năm 2016

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm về bú sớm sau sinh, nuôi con bằng sữa mẹ và dự định NCBSMHT

Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp tối ưu nhằm đảm bảo cho sự phát triển tốt của trẻ cũng như có lợi cho sức khỏe người mẹ WHO và UNICEF đã khuyến cáo nên cho trẻ bú sớm trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau khi sinh, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung từ 6 tháng tuổi và tiếp tục NCBSM đến 2 tuổi hoặc lâu hơn [49],[52] Một số khái niệm thống nhất về việc nuôi dưỡng trẻ bằng sữa

mẹ đã được WHO, UNICEF và đại diện một số tổ chức quốc tế đưa ra như sau: Cho trẻ

bú sớm sau sinh: là việc trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh Sữa non: Là sữa đầu tiên được tiết ra từ lúc sinh đến ngày thứ 2-3 sau đẻ có màu vàng, kết cấu keo dính và chứa nhiều kháng thể Sữa chuyển tiếp: Là sữa có từ ngày thứ 6 đến ngày thứ

15 sau đẻ Sữa ổn định: Là sữa bắt đầu có từ ngày thứ 15 và tiếp tục được tiết ra ổn định cho đến khi cai sữa [52] Cai sữa: Là sự chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng từ sữa

mẹ tới vai trò của các thực phẩm trong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ bú mẹ [29] Nuôi con bằng sữa mẹ: Là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc được nuôi bằng sữa mẹ được vắt ra Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: Trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, không được ăn thêm bất cứ thức ăn nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vắc xin và các thứ thuốc cần thiết khác) Bú mẹ chủ yếu: Là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ, tuy nhiên trẻ có thể nhận được thêm nước uống đơn thuần hoặc một số dung dịch dinh dưỡng như nước đường hoặc các loại thức ăn lỏng cổ truyền với số lượng ít Nuôi con bằng sữa bình: Cho trẻ bú bằng bình sữa, bất kể sữa gì trong bình kể cả sữa mẹ đã vắt ra cho vào bình [51] Dự định là một dấu hiệu của sự sẵn sàng để thực hiện một hành vi nhất định của một người, và nó được coi là tiền đề trực tiếp của hành vi Dự định dựa trên thái độ hướng đến hành vi, chuẩn mực chủ quan, và nhận thức về kiểm soát hành vi [19] Dự định NCBSMHT trong 6

HUPH

Trang 14

tháng đầu là sự sẵn sàng, quyết tâm của một người phụ nữ mang thai để thực hiện hành

vi cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau khi sinh [19],[42]

1.2 Cơ sở khoa học của việc bú sớm sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ

Sữa mẹ là một dịch thể sinh học chứa nhiều yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào có thể thay thế được [52]

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ

Trong sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng như protein, glucid, lipit, vitamin và khoáng chất đủ cho trẻ phát triển trong 6 tháng đầu Các chất dinh dưỡng đó lại ở tỷ lệ thích hợp và dễ hấp thu đáp ứng với sự phát triển nhanh của trẻ [52] Sữa mẹ là thức ăn duy nhất mà trẻ nhỏ cần trong khoảng 6 tháng đầu đời Sữa mẹ luân tự nhiên, tinh khiết, sạch sẽ và có nhiệt độ thích hợp Sữa mẹ thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng thay đổi của trẻ Sữa mẹ giúp bảo vệ cho trẻ khỏi bị bệnh tật, dị ứng, béo phì và các chứng bệnh khác [3]

1.2.1.1 Protein, glucid, lipid

Thành phần protein trong sữa mẹ tuy có ít hơn sữa động vật nhưng lại có đủ các acid amin cần thiết với tỷ lệ cân đối đồng thời lại dễ hấp thu Protein của sữa mẹ gồm cacein kết cấu mềm, dễ hấp thu hơn so với sữa động vật [48] Lipid trong sữa mẹ có nhiều acid chuỗi dài, không no cần thiết dễ hấp thu và nhiều acid béo mà vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển hệ thần kinh ở trẻ như DHA và AR, không có ở sữa động vật Với hàm lượng 5,5g/100ml, lipid cung cấp một nửa lượng calo cho trẻ bú

mẹ Glucid trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose, hàm lượng 7g/10ml

1.2.1.2 Vitamin và muối khoáng

Vitamin trong sữa mẹ đủ để cung cấp cho trẻ trong 4-6 tháng đầu khi bà mẹ được ăn uống đầy đủ Ngoại trừ vitamin D là vitamin mà cơ thể tự tổng hợp khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời Lượng sắt và kẽm trong sữa mẹ tuy ít nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thu nên vẫn thỏa mãn nhu cầu của trẻ Tỷ lệ ca/p cân đối nên trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít bị còi xương và thiếu máu hơn những trẻ nuôi bằng sữa bò [52]

HUPH

Trang 15

1.2.1.3 Các yếu tố miễn dịch trong sữa mẹ

Trong sữa mẹ có nhiều yếu tố quan trọng có vai trò bảo vệ cơ thể mà trong sữa

bò và các loại sữa khác không có được Trong đó có hai yếu tố chính là:

 Glubulin miễn dịch: Chủ yếu là IgA chống lại các bệnh đường ruột

 Bạch cầu giúp cho trẻ chống lại các bệnh do vi sinh vật gây ra như vi khuẩn, virut, nấm, v.v [52]

1.2.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi dưỡng hợp lý trong những năm đầu tiên, đặc biệt là những tháng đầu tiên sau sinh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sống còn, lớn lên và phát triển toàn diện của trẻ ở độ tuổi trưởng thành Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp tự nhiên,

an toàn, kinh tế và hiệu quả để bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em Do thành phần và tính chất ưu việt như vậy nên NCBSM là biện pháp dinh dưỡng tối ưu cho trẻ [3],[52] Trẻ

bú sữa mẹ sẽ chóng lớn, phát triển đầy đủ về thể lực cũng như trí tuệ sau này [16] 1.2.3 Các chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng:

Ngày 22/02/2001, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 21/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2001 – 2010, trong đó

có mục tiêu nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về dinh dưỡng hợp lý với mong muốn tăng tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ ốm

từ 20,2% năm 2000 lên 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010; tăng tỷ lệ bà mẹ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn 4 tháng đầu từ 31,1% năm 2000 lên 45% vào năm 2005

và 60% vào năm 2010; tỷ lệ nữ thanh niên được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức làm mẹ đạt 25% vào năm 2005 và 40% vào năm 2010; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ [7]

Ngày 27/12/2006, Căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ

Y tế ra quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động nuôi dưỡng trẻ nhỏ giai đoạn 2006 – 2010, trong đó mục tiêu tăng tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6

HUPH

Trang 16

tháng đầu từ 12,5% năm 2005 lên 25% năm 2010; tỷ lệ trẻ được bú sớm sau sinh (trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh) tăng lên 90% vào năm 2010 [1]

Sau 10 năm thực hiện chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng đã đạt được những kết quả nhất định, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ ốm tăng từ 44,5% năm 2005 lên 67% vào năm 2009, tỷ lệ nữ thanh niên được huấn luyện

về dinh dưỡng và kiến thức làm mẹ đạt 28% vào năm 2005 và 44% vào năm 2010; đạt chỉ tiêu Chiến lược đề ra Tuy nhiên, tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ còn thấp (trong 4 tháng là 29,3%; 6 tháng là 19,6%), mặc dù tỷ lệ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ đạt 93%, chưa đạt chỉ tiêu chiến lược đề ra [14]

Ngày 22/02/2012, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ra quyết định số 226/QĐ-TTg

về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; trong đó với mục tiêu nâng cao hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng hợp lý thì mong muốn tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt 27% vào năm 2015 và đạt 35% vào năm 2020; tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đúng đối với trẻ ốm đạt 75% vào năm 2015 và 85% vào năm 2020; tỷ lệ

nữ thanh niên được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức cơ bản về làm mẹ đạt 60% vào năm 2015 và 75% vào năm 2020 [8]

Bên cạnh đó, năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 21/2006/NĐ-CP về việc cấm quảng cáo các loại sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi nhằm mục đích giảm tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn sớm trước 6 tháng tuổi [2]

Mặt khác, với việc thông qua chế độ nghỉ thai sản 6 tháng của Quốc hội gần đây cho thấy, Chính phủ Việt Nam đang tăng cường nỗ lực trong việc nâng cao tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, từ đó đạt được mục tiêu Chiến lược Quốc gia về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhỏ, qua đó thực hiện tốt các mục tiêu thiên niên kỷ về

bà mẹ và trẻ em

HUPH

Trang 17

1.3 Thực trạng về nuôi con bằng sữa mẹ

1.3.1 Trên thế giới

Trong mỗi gia đình, với mỗi cặp vợ chồng, người cha/người chồng luôn đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ đơn thuần là người mang lại thu nhập chính, họ còn tích cực tham gia vào công việc gia đình và chăm sóc các thành viên khác, đặc biệt là các bà mẹ mang thai và trẻ nhỏ Các nghiên cứu gần đây đã cung cấp bằng chứng về mối liên quan giữa vai trò của người cha/người chồng trong gia đình, với thực hành chăm sóc cũng như tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ Theo báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2009 của UNICEF cho thấy, chỉ có 38% trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn; 55% trẻ từ 6 – 9 tháng tuổi và 50% trẻ từ 20 – 23 tháng tuổi được tiếp tục cho bú sữa mẹ Trong đó, tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn ở các nước đang phát triển là 39% và tỷ lệ này ở nhóm nước kém phát triển là 37% Tương

tự, tỷ lệ trẻ được tiếp tục cho bú sữa mẹ cho đến 24 tháng tuổi ở các nước đang phát triển là 51% và tỷ lệ này trong nhóm nước kém phát triển là 64% [3]

1.3.2 Tại Việt Nam

Theo kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam MISC 3 năm 2006 cho thấy, tỷ lệ trẻ em dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn thấp, chỉ đạt 16,9%, thấp hơn rất nhiều so với khuyến nghị Tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ sớm trong 1h đầu sau sinh mới đạt 57,8% và tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ trong vòng 1 ngày đầu sau sinh là 88,4% [9] Theo kết quả điều tra giám sát dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng thực hiện năm 2010 trên 63 tỉnh thành trong cả nước cho thấy, tỷ lệ trẻ được bú mẹ trong vòng 1h đầu sau sinh là 61,7% và tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi được bú sữa mẹ đạt 97,9% là một kết quả khả quan sau 10 năm thực hiện Chiến lược Quốc gia Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là tương đối thấp: Tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ đạt 19,6%; tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ chủ yếu trong 6 tháng đầu tuy có cao hơn nhưng cũng chỉ là 31% Bên cạnh đó, tỷ lệ trẻ được bú mẹ cho đến 1 tuổi là 77%, nhưng tỷ lệ này đối với trẻ dưới 2 tuổi chỉ là 22,1% [13]

HUPH

Trang 18

1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ và sự tham gia của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ

Theo kết quả nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện Đại học Cork, Ireland cho thấy,

tỷ lệ trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là 62,7%; 37,3% trẻ được nuôi bằng sữa bột; và có sự khác biệt về sự tham gia của người cha trong việc NCBSM giữa nhóm được nuôi bằng sữa mẹ và nhóm được nuôi bằng sữa ngoài: Tỷ lệ người cha trong nhóm trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có trao đổi và cùng vợ quyết định việc NCBSM cao hơn so với nhóm trẻ nuôi bằng sữa ngoài; kiến thức về lợi ích NCBSM và thông tin nhận được về NCBSM trong nhóm người cha của trẻ được nuôi bằng sữa mẹ cao hơn so với người cha trong nhóm không NCBSM Bên cạnh đó, thái độ về NCBSM của người cha trong nhóm trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít tiêu cực hơn so với người cha trong nhóm trẻ được nuôi bằng sữa bột về việc: 1) chỉ cung cấp thông tin về NCBSM cho người mẹ; 2) quyết định NCBSM chỉ do mẹ của trẻ; 3) cho trẻ ăn sữa bột là tiện lợi hơn; 4) NCBSM khó khăn hơn so với việc cho trẻ ăn sữa bột; 5) NCBSM ở nơi công cộng là xấu hổ [18]

Để tìm hiểu nhận thức của nam giới đối với việc NCBSM nhằm tiến hành các can thiệp tăng cường sự hỗ trợ việc NCBSM, một nghiên cứu định tính được tiến hành tại Honolulu, Hawaii với những nam giới là chồng của phụ nữ mang thai hoặc các bà mẹ mới sinh được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết nam giới tham gia nghiên cứu đều hiểu rằng NCBSM có lợi ích đối với sức khỏe của trẻ nhỏ Tuy nhiên, những người tham gia nghiên cứu vẫn chưa tham gia vào quá trình quyết định NCBSM, họ đều tin rằng cho trẻ ăn sữa bột là thuận tiện hơn, họ cảm thấy mình không có vai trò trong việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ và cảm thấy không thoải mái với việc người vợ cho con bú ở nơi công cộng [47]

HUPH

Trang 19

Theo kết quả nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện phụ sản Manisa, Thổ Nhĩ

Kỳ cho thấy, mặc dù có tới 92,1% người cha mong muốn con của họ được bú sữa mẹ, nhưng chỉ có 58,6% người cha có thảo luận điều này với bà mẹ của trẻ Và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 88,7% người cha cảm thấy hạnh phúc khi giúp đỡ vợ các công việc nhà để vợ cho con bú Bên cạnh đó, có 57,6% người cha biết rằng cho con bú sẽ có lợi ích cho cả mẹ và trẻ Khoảng một nửa trong số các đối tượng nghiên cứu (48,8%) cảm thấy thích thú khi đến tham dự một chương trình giáo dục về NCBSM cho cha Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, trình độ học vấn của cha, quy mô hộ gia đình và việc tiếp cận thông tin về NCBSM có ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ của cha đối với việc NCBSM (p <0,05) Điều này cho thấy, mặc dù người cha mong muốn trẻ được bú sữa

mẹ nhưng không chia sẻ suy nghĩ đó với vợ của họ Và nghiên cứu cũng cho thấy rằng kiến thức của họ về việc NCBSM còn hạn chế, do đó cần những chương trình cung cấp kiến thức và thông tin về NCBSM cho những người cha để tăng cường sự tham gia của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ NCBSM [46]

Năm 2007, với mục đích tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu và NCBSM cho đến 24 tháng tuổi, tác giả Putthakeo P tiến hành một nghiên cứu cắt ngang tại 40 làng thuộc thủ đô Viêng Chăn của Lào Kết quả cho thấy,

tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục được bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi lần lượt là 19,2% và 18,6% Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu với sự tham gia của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ NCBSM (OR: 9,03, 95% CI (1,21-67,57) và sự trao đổi thông tin giữa vợ và chồng trong việc NCBSM (OR: 5,20, 95% CI (2,34-11,56) [38]

Nghiên cứu của Lê Lan Hương năm 2007 tại Lương Sơn, Hòa Bình cho thấy, kiến thức của người chồng về chăm sóc trước sinh thấp, chỉ có 27% người chồng có kiến thức đạt về chăm sóc trước sinh Vẫn còn 33,8% người chồng cho rằng phụ nữ mang thai chỉ cần ăn uống như bình thường; 26,8% cho rằng cần lao động như bình thường; 25% không biết tác dụng của tiêm phòng uốn ván và 20,6% không biết tác

HUPH

Trang 20

dụng của viên sắt; 85,1% đối tượng có thái độ tốt đối với việc chăm sóc phụ nữ mang thai Thực hành về chăm sóc phụ nữ mang thai của đối tượng nghiên cứu: 89,9% có trao đổi với vợ về các vấn đề chăm sóc trước sinh Chỉ có 30,2% người chồng có trao đổi với vợ về chế độ ăn, 22% thường xuyên trao đổi về chế độ lao động, 43% trao đổi

về việc tiêm phòng và chỉ có 40,5% trao đổi về vấn đề uống viên sắt; 42,1% khuyên vợ không nên lao động nặng trong thời gian mang thai; 88,2% người chồng có giúp đỡ vợ các công việc gia đình, trong đó 33,8% thường xuyên giúp vợ nấu cơm, 20,4% giúp vợ mua thức ăn, 54,4% ĐTNC có con thứ 2 thường xuyên giúp vợ chăm sóc con cái; 85,4% người chồng đưa vợ đến cơ sở y tế để khám thai; 73% đưa vợ đến cơ sở y tế để tiêm phòng và 98,2% đưa vợ đến cơ sở y tế để sinh [5]

Với mục đích tìm hiểu sự tham gia của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu, tác giả Trần Hữu Bích tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên tổng số 547 cặp vợ chồng có con dưới 3 tuổi tại Chí Linh, Hải Dương Kết quả chỉ ra rằng, những người cha có thái độ tích cực đối với việc tham gia vào công việc gia đình thì dường như họ sẽ tham gia vào công việc nhà nhiều gấp 2,61 lần so với những người khác Những người cha tham gia chăm sóc trẻ sớm dường như đưa trẻ đi tiêm phòng nhiều gấp 3 lần và tham gia vào việc ngủ cùng trẻ nhiều gấp 1,9 lần [11] Nghiên cứu can thiệp của tác giả Trần Hữu Bích tại Chí Linh tỉnh Hải Dương tiến hành trong 2 năm (2010 – 2011) về vai trò của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu cho thấy, có sự thay đổi về kiến thức, thái độ và sự tham gia của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ NCBSM: Kiến thức của người cha về NCBSMHT tăng từ 15% năm 2010 lên 25,8% năm 2011 Thái độ của người cha về NCBSMHT tăng từ 34% năm 2010 lên 38% năm 2011 [12] Ngoài ra, khi so sánh thực hành của người cha trong việc hỗ trợ bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu giữa Chí Linh Hải Dương với Thanh Hà là địa bàn với các đặc điểm tương tự nhưng không có can thiệp cho thấy, người cha tại địa bàn can thiệp tham gia nhiều và tích cực hơn vào

hỗ trợ bà mẹ NCBSMHT trong các giai đoạn trước, trong và sau sinh [22]

HUPH

Trang 21

1.5 Một số nghiên cứu về sự tham gia của người cha vào chăm sóc phụ nữ mang thai - sinh nở - nuôi dưỡng trẻ nói chung

Trong quá trình mang thai, sự quan tâm chăm sóc về mặt tâm lý, tình cảm và thể chất, sự chia sẻ đỡ đần việc nhà luân là những yếu tố quan trọng tạo sự ổn định về mặt sức khỏe cho bà mẹ, từ đó đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất của thai nhi Bên cạnh đó, việc hỗ trợ người vợ trong việc tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc trước sinh cũng là rất quan trọng

Liên quan đến thực hành NCBSM, các nghiên cứu cũng cho thấy rằng thực hành NCBSM có mối liên quan với các yếu tố cá nhân và vai trò của người cha trong gia đình như nghề nghiệp [27], trình độ học vấn [15],[25], sự hài lòng về giới tính của con [27], sở thích và thái độ liên quan đến việc chăm sóc dinh dưỡng cho con [26] Hai tác giả là Bar–Yam, N và Darby L trong nghiên cứu vào năm 1997 đã tổng hợp y văn của các nghiên cứu trước đó đã khẳng định người cha ảnh hưởng đến quá trình NCBSM thông qua bốn cơ chế: 1) Quyết định NCBSM, 2) Trợ giúp lúc cho bú đầu tiên, 3) Tổng thời gian NCBSM, và 4) Tác động lên các yếu tố nguy cơ của việc cho bú bình [20] Trong khi đó các tác giả Susin, L R [45] và E R Giugliani [31] lại chứng minh kiến thức về NCBSM của người cha có mối liên quan đến tỷ lệ và thời gian NCBSM Đi sâu hơn trong chủ đề này, nghiên cứu can thiệp của Wolfberg, A J., B Michels và cộng sự

đã chứng minh người cha tương lai có thể ảnh hưởng đến quyết định của bà mẹ trong việc cho trẻ bú hay dừng thức ăn công thức [53] Nghiên cứu can thiệp của Susin, L R

và E R Giugliani (2008) với cỡ mẫu lớn hơn đã cho thấy việc cải thiện kiến thức và nâng cao vai trò của người cha trong NCBSM làm tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong các tháng đầu [44] Trong nghiên cứu của Tổ chức UNICEF tiến hành trong năm 2008 tại Việt Nam, người chồng trong gia đình có một vai trò quan trọng trong hỗ trợ NCBSM nói riêng, chăm sóc trẻ nói chung Hơn một nửa các ông bố được phỏng vấn cho biết họ tham gia vào nuôi dưỡng trẻ, chăm sóc trẻ và đảm đương việc

HUPH

Trang 22

nhà, giúp việc với các công việc như: Giúp vợ chăm sóc và cho con ăn uống; Trông con, tắm cho con; Đôi khi nấu ăn và giặt giũ, anh ấy đã đỡ đần vợ [17]

Nghiên cứu của các tác giả Martin, L.T và M.J MeNamara, trước năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của sự tham gia của người cha trong quá trình mang thai và liên quan đến việc nhận dịch vụ chăm sóc trước sinh và hành vi hút thuốc lá của bà mẹ Nghiên cứu này cũng xem xét các yếu tố dự đoán về sự tham gia của người cha trong quá trình mang thai Dữ liệu của 5.404 phụ nữ và các chồng của họ

từ một nghiên cứu dọc thuần tập (ECLS-B) được sử dụng để kiểm tra mối liên quan giữa sự tham gia của cha trong quá trình mang thai và hành vi của bà mẹ Phân tích hồi quy tuyến tính và logistic được sử dụng để kiểm soát các yếu tố nhiễu Kết quả cho thấy phụ nữ có các chồng tham gia trong thời kỳ mang thai của họ có nhiều khả năng gấp 1,5 lần được chăm sóc trước sinh trong ba tháng đầu và trong số những người hút thuốc lúc thụ thai, lượng tiêu thụ thuốc lá của họ giảm 36% so với phụ nữ mà chồng không tham gia vào quá trình mang thai (p = 0,09) Người cha có học vấn dưới trung học có sự tham gia vào việc mang thai của vợ ít hơn đáng kể Trong khi đó những đối tượng là người làm cha lần đầu và những người cha mong muốn vợ mang thai nhiều khả năng tham gia hơn Nghiên cứu đưa ra kết luận các lợi ích tích cực về sự tham gia của người cha nhưng còn thiếu nhiều bằng chứng, đây có thể là các dự báo của hành vi của bà mẹ trong thời gian trước khi sinh, cải thiện sự tham gia của người cha có thể tác động quan trọng cho sức khỏe của vợ và con của họ [33]

Cũng tương tự như chủ đề trên, nghiên cứu của Mullany, B.C và S Becker (2007) được thực hiện tại Nepel với mục đích đo lường tầm ảnh hưởng của việc đưa người chồng vào các can thiệp giáo dục y tế trước sinh lên thực hành sức khỏe của bà

mẹ sau sinh Tác giả đã trích dẫn nhiều nghiên cứu cho rằng người đàn ông khi được đưa vào các can thiệp sức khỏe sinh sản có thể tăng cường kết quả tích cực về mặt sức khỏe Vì vậy một thử nghiệm lâm sàng có phân bổ ngẫu nhiên và nhóm chứng được thiết kế để kiểm tra tác động của việc đưa nam giới vào giáo dục trước sinh lên thực

HUPH

Trang 23

hành khám thai thường xuyên, chăm sóc sức khỏe và chuẩn bị sinh nở của các bà mẹ Tổng cộng 442 phụ nữ đang nhận các dịch vụ khám thai thường xuyên trong quý hai của thai kỳ được chọn ngẫu nhiên thành ba nhóm: Những người phụ nữ nhận giáo dục với chồng của họ, những phụ nữ nhận được giáo dục một mình và những người phụ nữ không nhận được giáo dục Các can thiệp giáo dục bao gồm hai buổi học 35 - phít (phút?) Tất cả phụ nữ được theo dõi cho đến sau khi sinh nở Những phụ nữ nhận được giáo dục với chồng có nhiều khả năng tham gia khám sau đẻ hơn những phụ nữ đã nhận được giáo dục một mình [RR = 1,25, 95%CI = (1,01,1,54)] hoặc không có giáo dục [RR= 1,29, 95%CI = (1,04,1,60)] Những phụ nữ nhận được giáo dục với chồng của họ cũng có khả năng chuẩn bị sinh nở cao gấp 3 lần so với nhóm chứng [RR = 1,99, 95%

CI = (1,10,3,59)] Kết quả nghiên cứu này cho thấy việc đưa nam giới vào các dịch vụ chăm sóc trước sinh sẽ đem đến tác động tích cực lên hành vi và tình trạng sức khỏe của các bà mẹ trước và sau sinh [35]

Trong giai đoạn từ khi sinh con đến khi con cái trưởng thành, người cha luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nuôi nấng, dạy bảo và sự trưởng thành của con cái Các tác giả Erlandsson, K và K Christensson và Fagerberg, I (2008) đã thực hiện nghiên cứu mô tả vai trò của người cha trong việc chăm sóc trẻ ngay sau khi sinh,

NC mô tả những sự trải nghiệm của người cha khi chăm sóc trẻ sơ sinh với vai trò là người chăm sóc chính trong những giờ đầu tiên, khi trẻ được tách khỏi mẹ Các kết quả

mô tả một quá trình vận động hướng tới sự gắn kết cha - con đặc trưng bởi những sự thay đổi đột ngột và dần dần khi người cha đảm bảo nhận trách nhiệm ngày càng tăng đồng thời phải luôn tìm hiểu về đứa con của mình [28] Khu trú vào sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ, nghiên cứu của Trần Hữu Bích tiến hành năm 2004 tại Chí Linh, Hải Dương cho thấy việc người cha tham gia trong việc chăm sóc sức khỏe của con giúp giảm nguy cơ mắc các tình trạng thiếu cân và thấp còi ở trẻ nhỏ [21] Một nghiên cứu thuần tập tại Brazil của Darci và cộng sự năm 2008 đã đưa ra bằng chứng những trẻ

HUPH

Trang 24

có cha thường xuyên vắng nhà có xu hướng phát triển trí tuệ kém hơn những đứa trẻ khác [40]

1.6 Một số nghiên cứu về mối liên quan đến dự định NCBSMHT

Qua một số kết quả nghiên cứu, có thể thấy rằng, kiến thức, sự tự tin về NCBSMHT có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với dự định NCBSMHT và thực hành NCBSMHT của bà mẹ Theo kết quả nghiên cứu của Chezem J và cộng sự [23], kiến thức NCBSMHT có tương quan mạnh mẽ với sự tự tin NCBSMHT (r = 0,262; p

= 0,025) và thời gian NCBSMHT thực tế (r = 0,455; p = 0,001) So với phụ nữ có dự định NCBSMHT, những người có dự định nuôi dưỡng kết hợp, thời gian NCBSMHT ngắn hơn (p = 0,022), và ít có khả năng đạt được mục tiêu NCBSMHT của họ (p = 0,034) Theo nghiên cứu của Gudina Egata và cộng sự [32], một nghiên cứu cắt ngang trên 860 cặp bà mẹ và trẻ ở phía đông Ethiopia từ tháng 7 – 8/2011 Kết quả cho thấy các bà mẹ không tiếp cận được thông tin y tế, và các bà mẹ có kiến thức về thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thấp thì có nhiều khả năng không thực hiện NCBSMHT trong 6 tháng đầu

Theo kết quả nghiên cứu của Sharon E Kotan [42], yếu tố nhân khẩu học như: Tuổi, chủng tộc, giáo dục, thu nhập hộ gia đình, kinh nghiệm cho con bú và được giáo dục nuôi dưỡng trẻ nhỏ chưa đủ cơ sở để khẳng định có liên quan đến dự định cho con

bú Chỉ có yếu tố số con sinh của người mẹ có ý nghĩa thống kê (p = 0,026) với dự định NCBSMHT Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định được mối liên quan có ý nghĩa thống

kê giữa: Các chỉ số kiến thức cho con bú (p = 0,001), các chỉ số về sự tự chủ (p = 0,003), chỉ số về những rào cản tâm lý (p = 0,0029), chỉ số rào cản thời gian và hạn chế môi trường xã hội (p = 0,001), chỉ số rào cản thiếu hỗ trợ xã hội (p = 0,004) với dự định NCBSM

Trên cơ sở tìm hiểu dự định và những yếu tố ảnh hưởng đến dự định NCBSMHT của những bà mẹ ở Syria và Jordan, Nemch Abmad Al-Akour và cộng sự [36] đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang so sánh với 1200 PNMT từ 18 tuổi trở lên ở hai Quốc

HUPH

Trang 25

gia trên (600 PNMT/Quốc gia) Kết quả cho thấy, 77,2% ĐTNC của Syria và 76,2% ĐTNC của Jordan có dự định NCBSMHT Qua phân tích hồi quy đa biến, một số yếu

tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến dự định NCBSMHT của PNMT ở hai Quốc gia trên được tìm thấy, đó là: Thái độ tích cực NCBSMHT; có kinh nghiệm NCBSMHT;

và nhận được sự hỗ trợ từ bạn đời

Trên cơ sở tìm hiểu dự định và những yếu tố ảnh hưởng đến dự định NCBSMHT của những bà mẹ mang thai tại Thành phố Quảng Ngãi từ tháng 11/2013 đến tháng 5/2014 tác giả Huỳnh Ngọc Viễn [4] đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang với 231 PNMT Kết quả cho thấy, tỷ lệ ĐTNC có hiểu biết đúng và đầy đủ một số kiến thức cơ bản về NCBSMHT trong 6 tháng đầu còn thấp và không đồng đều Còn khoảng trên 30% ĐTNC không dự định NCBSMHT trong 6 tháng đầu, trong đó dự định cho con

bú sữa mẹ và sữa bột là 27,3%; và gần 4% ĐTNC dự định NCBSMHT ít hơn 6 tháng Một số yếu tố liên quan đến dự định NCBSMHT trong 6 tháng đầu được tìm thấy qua phân tích hồi quy Logisties đa biến, đó là: Kiến thức chung về NCBSMHT trong 6 tháng đầu (Biết đúng và đầy đủ như thế nào là NCBSMHT trong 6 tháng đầu) (p= 0,009; KTC 1,1-1,4); Niềm tin về hành vi NCBSMHT trong 6 tháng đầu (p= 0,02; KTC 1,1-2,3); Niềm tin về chuẩn mực NCBSMHT trong 6 tháng đầu (p = 0,03; KTC 1,1 – 2,7)

1.7 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu xã Đắk NDrung

Xã Đăk NDrung là xã vùng 3 thuộc huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, nằm ở phía tây nam của huyện Đắk Song, cách trung tâm huyện 17 km về phía tây nam có diện tích tự nhiên 6.834 ha Kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém, đời sống của người dân chủ yếu dựa vào cây cà phê, hồ tiêu và nương rẫy , Có tổng số 10.123 nhân khẩu, 2.360 hộ, số trẻ em dưới 1 tuổi là: 280 trẻ, số PNMT trong năm: 280 Xã có 20 thôn

Hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân gồm có 1 trạm y tế với 7 cán bộ y tế

và 20 y tế thôn

HUPH

Trang 26

Hình 1 Địa bàn xã Đắk N'Drung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông

HUPH

Trang 27

CÂY VẤN ĐỀ: Mối liên quan giữa vai trò của người cha và dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai

Thái độ về việc chăm sóc thể chất và tinh thần cho người mẹ

Thái độ về việc tham gia vào việc nhà và chăm sóc con Thái độ

về NCBSM cho bú sớm, NCBSM hoàn toàn và tiếp tục

Thái độ thiếu tích cựu

không muốn cho con bú

Yếu tố cá nhân: tuổi

Dự định NCBSMHT của bà mẹ

mang thai thấp

Thực hành chăm sóc vợ khi mang thai: đưa vợ đi khám thai, giúp đỡ việc nhà, chăm sóc trẻ.Tình cảm vợ chồng

Kiến thức của người cha về: Chăm sóc thai nghén và sau đẻ

NCBSM: cho bú sớm, NCBSM hoàn toàn và tiếp tục

HUPH

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ cặp vợ, chồng của PNCT từ tuần 8 đến 37 (tính đến 1/4/2016) đang cư trú và sinh sống trên địa bàn xã Đắk NDrung

Những đối tượng không ở cùng hộ gia đình với nhau hoặc có vợ, chồng đang cư trú và sinh sống ngoài địa bàn xã Đắk NDrung sẽ bị loại ra khỏi NC Đối tượng không có khả năng trả lời các câu hỏi do bệnh nặng, các vấn đề tâm thần hoặc thần kinh cũng bị loại ra khỏi NC Đối tượng không hợp tác chỉ được xác định khi điều tra viên tới vận động tại hộ gia đình 3 lần không thành công cũng sẽ được loại khỏi NC

2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02/2016 đến tháng 07/2016 Tại Xã Đắk NDrung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, chọn toàn bộ các cặp

vợ chồng thỏa mãn tiêu chí là các cặp vợ chồng có vợ đang mang thai từ tuần thứ

8 đến 37 tuần (tính đến ngày 1/4/2016) đang cư trú trên địa bàn xã Đắk NDrung đạt các tiêu chuẩn nói trên đưa vào nghiên cứu Chọn mẫu được tiến hành thông qua 2 bước Bước 1, lập danh sách toàn bộ phụ nữ mang thai từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 37 (tính đến ngày 1/4/2016) theo sổ quản lý thai nghén của TYT xã Bước

2, chọn tất cả các cặp vợ chồng đạt tiêu chuẩn lựa chọn và đưa vào nghiên cứu Tổng số cặp vợ chồng đủ điều kiện tham gia vào nghiên cứu tại xã là 185 cặp vợ chồng Trong đó tổng số cặp vợ chồng đã tiếp cận được và tham gia vào nghiên cứu là 174 cặp vợ chồng, ngoài ra, có 11 cặp vợ chồng không tiếp cận được và không tham gia vào nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

HUPH

Trang 29

Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp thu thập, phỏng vấn và phát vấn (phát phiếu tự điền) không khuyết danh Công cụ thu thập số liệu (phiếu điều tra) gồm 2 phần: Phần phỏng vấn: ĐTV phỏng vấn các đối tượng với phần lớn nội dung của

bộ câu hỏi, ngoại trừ phần đánh giá thái độ Phần phát vấn: Sau khi kết thúc phỏng vấn, ĐTV đưa ra phiếu tự điền để các đối tượng trả lời các câu hỏi liên quan đến thái độ về NCBSM và chăm sóc thai nghén, tình cảm vợ chồng, dự định NCBSM của bà mẹ Riêng đối tượng không biết chữ, các ĐTV hỗ trợ đọc hỏi để đối tượng

PV lựa chọn các câu trả lời.Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, cây vấn đề, tham khảo các nghiên cứu đã tiến hành trước đó có nội dung về thực hành NCBSM của bà mẹ, thực hành hỗ trợ của người cha và được chỉnh sửa cho phù hợp với địa bàn nghiên cứu [3],[4],[5],[6],[12],[21],[22]

2.5.2 Cách tổ chức thu thập số liệu:

Bước 1: Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Sau khi bộ câu hỏi được xây dựng xong, chúng tôi tiến hành điều tra thử 10 cặp vợ chồng đang sinh sống ở một xã khác của huyện Đắk Song có các điều kiện KT- XH, tập quán, văn hóa, ngôn ngữ tương đồng với xã Đắk NDrung để kiểm tra tính nhất quán, logic, ngôn ngữ

và phản ứng của đối tượng PV, sau đó chỉnh sửa công cụ cho phù hợp trước khi tiến hành điều tra trên quần thể NC

Bước 2: Sau khi chỉnh sửa và hoàn thiện bộ công cụ, tập huấn cho điều tra viên Bước 3: Liên hệ với địa phương, nhận danh sách hộ gia đình và trao đổi kế hoạch làm việc, xây dựng kế hoạch điều tra cụ thể tại địa bàn nghiên cứu

Bước 4: Tiến hành điều tra tại thực địa: Nghiên cứu viên trực tiếp phỏng vấn đối tượng nghiên cứu tại thực địa cùng 5 phỏng vấn viên thuộc biên chế trạm y tế

xã Đắk NDRung Lịch /thời gian PV được ĐTV thông báo đến đối tượng trước 2 ngày Theo lịch đã hẹn ĐTV đến tiếp cận đối tượng phỏng vấn tại hộ gia đình, ĐTV chào hỏi, giới thiệu mục đích cuộc điều tra và cho đối tượng đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu (phu lục 5) Sau khi đối tượng PV đọc kỹ và ký vào bản đồng ý tham gia NC, ĐTV tiến hành PV nếu được sự đồng ý của họ Đối với các đối tượng không hợp tác, ĐTV hỏi lý do và xin gặp vào thời gian khác

HUPH

Trang 30

thuận lợi hơn Chỉ ngừng tiếp cận đối tượng khi ĐTV đã tiếp cận 3 lần khác nhau

mà không thành công Với mỗi đối tượng PV, ĐTV đều giải thích và trả lời tất cả các câu hỏi liên quan đến mục đích PV, quyền lợi và nghĩa vụ của đối tượng PV

Để đảm bảo tính chính xác và khách quan của số liệu lấy từ bộ câu hỏi, trong quá trình phỏng vấn, các ĐTV được yêu cầu đọc chậm và rõ ràng các câu hỏi để đối tượng PV tự lựa chọn, ĐTV không được giải thích thêm bất kỳ sự gợi ý hay nhận xét nào Sau khi đã PV xong, ĐTV phát phiếu tự điền để đối tượng tham gia điền một cách độc lập, riêng biệt không có ai tham gia Sau đó ĐTV kiểm tra lại các phần đã thu thập để đảm bảo tất cả các phần nội dung trong bộ câu hỏi đã được hoàn thành ĐTV hỏi lại đối tượng NC có còn câu hỏi gì không, nếu không thì chi trả tiền bồi dưỡng đối tượng tham gia nghiên cứu và chào tạm biệt, hẹn gặp lại nếu cần làm rõ thêm thông tin Sau mỗi ngày điều tra, phiếu được kiểm tra và rà soát nhằm phát hiện những lỗi sai hoặc thiếu sót để rút kinh nghiệm, điều chỉnh và bổ sung kịp thời

2.5.3 Quá trình giám sát và đảm bảo chất lượng thu thập số liệu:

Một bản hướng dẫn quy trình giám sát/đảm bảo chất lượng đã được nhóm

NC thiết kế để giúp cho quá trình giám sát được tiến hành theo một quy trình thống nhất, GSV là 2 cán bộ thuộc khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản trung tâm y tế huyện, quy trình này được tiến hành như sau:

* Giám sát trực tiếp/giám sát hỗ trợ: Trong các cuộc phỏng vấn đầu tiên, ĐTV được các GSV đi cùng để hỗ trợ Các GSV đưa ra các phản hồi liên quan đến kỹ năng PV, tính chính xác và đầy đủ thông tin thu thập vào sau mỗi cuộc PV hoặc cuối mỗi ngày PV

* Giám sát trực tiếp: GSV rút thăm 10% số phiếu điều tra của mỗi ĐTV và tiếp cận lại đối tượng tham gia nghiên cứu nhằm đảm bảo ĐTV tiếp cận đúng đối tượng và đánh giá độ chính xác của thông tin được thu thập Kết quả giám sát cũng được phản hồi ngay với ĐTV Các phiếu điều tra được thu lại ngay vào cuối mỗi buổi điều tra để rà soát lại nội dung của phiếu, nếu chỗ nào còn thiếu

sót/chưa rõ thì GSV hỏi lại ĐTV và nếu cần thiết thì tiếp cận lại đối tượng tham

HUPH

Trang 31

gia nghiên cứu.Trước khi quá trình nhập liệu được tiến hành, các thành viên của nhóm nghiên cứu và các nhập liệu viên tiến hành rà soát một lần nữa nội dung của các phiếu PV, các sai sót/lỗi thông tin được phát hiện đều được yêu cầu ĐTV kiểm tra lại thông tin của đối tượng nghiên cứu

2.5.4 Các biện pháp khống chế sai số

Trong quá trình thiết kế và tiến hành NC có thể gặp các loại sai số tiềm tàng sau:

+ Sai số nhớ lại: Nghiên cứu có thu thập các thông tin trong quá khứ trong

các khoảng thời gian khác nhau, tối đa là 9 tháng trước khi phỏng vấn (VD: việc hỏi về thực hành chăm sóc trước sinh của người chồng ở lần mang thai hiện tại tính từ lúc người vợ mang thai) nên có thể gặp phải sai số nhớ lại Các biện pháp sau được sử dụng để hạn chế loại sai số này

- Trong quá trình thiết kế công cụ, lựa chọn khoảng thời gian nhớ lại (recall interval) phù hợp với tần số sự kiện Khoảng thời gian càng ngắn càng tốt nhưng phải đủ dài để đo lường chính xác sự tham gia của người chồng VD, chọn một tháng thay vì chọn cả quá trình người vợ mang thai

- ĐTV được hướng dẫn kỹ trong việc nêu rõ các mốc thời gian khi tham gia PV Các lỗi gặp phải khi PV được nhắc nhở và sửa kịp thời khi giám sát

+ Sai số do công cụ thu thập thông tin: Để khắc phục hạn chế này, bộ câu

hỏi sau khi thiết kế được điều tra thử (pre - test) tại một xã khác của huyện để kiểm tra các tiêu chí như ngôn ngữ, tính nhất quán, tính logic của bộ câu hỏi cũng như phản ứng của đối tượng PV Các công cụ được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi điều tra chính thức

+ Sai số do ĐTV/chất lượng phỏng vấn: Việc thu thập số liệu do các ĐTV

khác nhau thực hiện có thể dẫn đến sai số do kỹ năng phỏng vấn của ĐTV Khắc phục: Tập huấn ĐTV kỹ lưỡng, chuẩn bị tốt trước khi tiến hành thu thập số liệu,

có quy trình giám sát/đảm bảo chất lượng thu thập số liệu toàn diện và chặt chẽ

+ Sai số do mất đối tượng nghiên cứu: Đây là một sai số thường xảy ra

trong các nghiên cứu cắt ngang khi đối tượng nghiên cứu không có mặt tại địa

HUPH

Trang 32

điểm nghiên cứu hoặc từ chối tham gia Các giải pháp khắc phục: Xác định tiêu chuẩn loại trừ ra khỏi nghiên cứu và áp dụng tiêu chuẩn này khi xây dựng khung mẫu nhằm tránh các trường hợp đối tượng không thể tham gia vào nghiên cứu mặc

dù có tên trong danh sách chọn mẫu Đảm bảo lợi ích của đối tượng nghiên cứu khi đồng ý tham gia Lịch PV được thông báo tới đối tượng PV trước 2 ngày để đối tượng sắp sếp tham gia Trong trường hợp quá bận việc, ĐTV thảo luận với đối tượng PV để tìm ra thời điểm PV thích hợp hơn Với mỗi đối tượng PV không hợp tác/từ chối tham gia ĐTV có trách nhiệm hỏi rõ lý do và cố gắng tiếp cận và thuyết phục ít nhất 3 lần Nếu cả 3 lần không thành công thì ĐTV có trách nhiệm báo cáo với GSV để tìm biện pháp giải quyết GSV tiếp cận đối tượng một lần nữa, tìm hiểu lý do và thuyết phục đối tượng (nếu cần) Đối tượng chỉ được coi là

từ chối tham gia khi được GSV chứng thực điều đó

2.6 Các biến số nghiên cứu:

2.6.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Các đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu bao gồm: Thông tin nhân khẩu học về bà mẹ, thông tin chung về nam giới, thông tin chung về các

đặc điểm hộ gia đình Quy mô hộ gia đình:Gia đình hạt nhân: Cặp vợ chồng đối

tượng PV không sống chung với ai khác (ngoại trừ con cái của họ, nếu có) dưới

một mái nhà Gia đình mở rộng: Cặp vợ chồng đối tượng PV đang sống chung với

bố mẹ, anh chị em hoặc họ hàng (không kể con cái của họ, nếu có) dưới một mái

nhà

Trình độ học vấn: là cấp học cao nhất mà ĐTNC đạt được Trong đó:Tiểu

học: ĐTNC được coi là có TĐHV tiểu học khi đã hoàn thành hết lớp 4 (hệ 10 năm) hoặc lớp 5 (hệ 12 năm) của chương trình giáo dục tiểu học.Trung học cơ sở: ĐTNC được coi là có TĐHV trung học cơ sở khi đã hoàn thành hết lớp 7 (hệ 10 năm) hoặc hết lớp 9 (hệ 12 năm) Trung học phổ thông: ĐTNC được coi là có TĐHV trung học phổ thông khi đã hoàn thành hết lớp 10 (hệ 10 năm) hoặc hết lớp

12 (hệ 12 năm) Cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp: ĐTNC được coi là

có TĐHV này khi đã hoàn thành xong khóa học theo quy định của BGDĐT

HUPH

Trang 33

Điều kiện kinh tế gia đình: Nghèo: Thu nhập bình quân < 400.000 đồng/người/tháng; Cận nghèo: Thu nhập bình quân từ 401.000 – 520.000

đồng/người/tháng; Không nghèo: Thu nhập bình quân > 520.000 đồng/người/tháng

(Đây là mức chuẩn nghèo áp dụng cho khu vực nông thôn theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015)

2.6.2 Kiến thức của nam giới về nuôi con bằng sữa mẹ

Kiến thức của nam giới về nuôi con bằng sữa mẹ trong nghiên cứu được đánh giá thông qua các nhóm kiến thức về NCBSM bao gồm 14 nội dung với 4 nhóm: Kiến thức về lợi ích của sữa mẹ, kiến thức về bú sớm sau sinh, kiến thức về NCBSMHT, kiến thức về bú mẹ tiếp tục

2.6.3 Thái độ của nam giới về nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc trước sinh

Thái độ của nam giới về nuôi con bằng sữa mẹ trong nghiên cứu được đánh giá thông qua các quan điểm thái độ về NCBSM bao gồm 4 nội dung: Thái độ đối với việc chăm sóc người vợ khi mang thai, thái độ đối với việc cho trẻ bú sớm sau sinh, thái độ đối với việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu, thái độ đối với việc hỗ trợ người vợ NCBSM và chăm sóc trẻ

2.6.4 Sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai tai

hộ gia đình

Sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai tại hộ gia đình dựa trên tham khảo nghiên cứu của Trần Hữu Bích và cộng sự Công cụ nghiên cứu (bộ câu hỏi) được tác giả cung cấp bao gồm 7 nội dung: Đưa vợ đi khám thai, ở bên cạnh vợ trong lúc vợ khám thai, được cán bộ y tế tư vấn trong lúc đưa vợ đi khám thai, biết được các nội dung người vợ được tư vấn khi khám thai, chăm sóc về tinh thần và tình cảm, chăm sóc về dinh dưỡng và thể chất, chia sẻ công việc gia đình

2.6.5 Nhóm biến độc lập

HUPH

Trang 34

Bao gồm 3 nội dung: Tổng điểm kiến thức về NCBSM, tổng điểm thái độ, tổng điểm tham gia vào chăm sóc PNMT

2.6.6 Biến số phụ thuộc

Dự định NCBSMHT của bà mẹ

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu

Kiến thức: Điểm kiến thức của nam giới liên quan đến các chủ đề về

NCBSM (bao gồm cả các phần chăm sóc trước sinh) được tính dựa trên số đáp án đúng mà đối tượng trả lời được Mỗi đáp án đúng là 1 điểm (từ câu 13 – 29, PL2) Vậy điểm kiến thức có thể dao động từ 0 đến 34 (tổng số 34 đáp án) Giá trị trung

vị (16 điểm) được sử dụng làm điểm cắt để phân loại đối tượng PV thành hai mức

có kiến thức đạt (> = 16 điểm) và không đạt (<16 điểm)

Thái độ: Sử dụng thang đo Likert Scale để đo lường thái độ của nam giới

với việc NCBSM Có 5 quan điểm được sử dụng để đo lường thái độ, trong đó có các quan điểm tích cực và không tích cực xen kẽ nhau Với mỗi quan điểm sẽ có 5 mức độ đánh giá: Rất không đồng ý, không đồng ý, không biết, đồng ý và rất đồng

ý Cách tính điểm:

Quan điểm tích cực Quan điểm không tích cực

Tổng số điểm tối thiểu đạt được là 19 điểm và tối đa là 95 điểm (tương đương với 19 câu hỏi) Giá trị trung vị được sử dụng phân loại đối tượng nghiên cứu thành hai loại, có thái độ đạt và có thái độ không đạt

Điểm đánh giá sự tham gia của nam giới vào chăm sóc thai nghén được tính dựa trên số các hành vi tích cực mà đối tượng PV trả lời Do một số nam giới

có vợ chưa đi khám thai nên nhóm nghiên cứu không sử dụng điểm cho việc hỗ trợ vợ đi khám thai mà chỉ đánh giá sự chăm sóc và hỗ trợ đối với người vợ tại hộ

HUPH

Trang 35

gia đình (từ câu 37 – 43, PL2) Các câu hỏi này có mức độ thường xuyên của hành

vi tích cực, nếu đối tượng thực hiện hành vi ở mức độ thường xuyên (4 lần trở lên/tháng) được tính 2 điểm, với mức thỉnh thoảng (1 -3 lần/tháng) được tính 1 điểm Do vậy điểm tham gia có thể giao động từ 0 – 14 (tương đương với 7 câu) Giá trị trung vị (8 điểm) được sử dụng làm điểm cắt để phân loại đối tượng PV thành hai mức có sự tham gia đạt và không đạt

Điểm đánh giá dự định NCBSMHT của bà mẹ (từ câu III.1.2.3 phần phát vấn, PL2) Tính điểm từ 1-6 điểm cho mỗi câu và như vậy điểm thấp nhất là 3 và cao nhất là 18 Phân bố tổng điểm dự định NCBSMHT không chuẩn nên giá trị trung vị được sử dụng làm điểm cắt để phân loại đối tượng PV thành hai mức không dự định và có dự định NCBSMHT

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được làm sạch (như đã nêu ở trên) trước khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 Số liệu được nhập 2 lần bằng 2 nhập liệu viên độc lập nhằm tránh sai số trong quá trình nhập liệu Sau đó các nghiên cứu viên dùng phần mềm SPSS 16.0 chạy test Frequency cho tất cả các biến để so sánh kết quả nhập liệu của hai nhập liệu viên Mọi sự khác biệt tìm thấy đều được đối chiếu với phiếu PV hoặc thông tin gốc của đối tượng Các giá trị mất (missing), các giá trị bất thường/ngoài khoảng (outlier) và lỗi do mã hóa đều được kiểm tra Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả phân tích được chia thành 2 phần: Phần mô tả: Sử dụng các thông số như tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình, trung

vị, v,v…

Phần phân tích: Phân tích hai biến đưa ra những nhận định về mối liên quan đến kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia trong chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định NCBSMHT của bà mẹ mang thai bằng các kiểm định thống kê cho sự khác biệt của giá trị trung bình, kiểm định χ2, tỷ số chênh (OR) và khoảng tin cậy 95%

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

HUPH

Trang 36

Các đối tượng nghiên cứu điều được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp thuận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu Mọi thông tin cá nhân về các đối tượng nghiên cứu, số liệu của cuộc điều tra được giữ kín để đảm bảo tính riêng tư của các đối tượng nghiên cứu Các số liệu, thông tin thu thập được đảm bảo chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không phục vụ cho mục đích nào khác Đề cương nghiên cứu được thông qua Hội Đồng Đạo Đức – Trường Đại Học Y Tế Công Cộng theo quyết định số 090/2016/YTCC – HD3

“V/v chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH” ngày 29 tháng 2 năm 2016 Trước khi tiến hành triển khai trên thực địa Việc triển khai nghiên cứu đề tài này đã được sự đồng ý của TTYT huyện Đắk Song và UBND xã Đắk NDrung

HUPH

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Tổng số có 174 cặp vợ chồng PNCT trên địa bàn xã Đắk NDrung được chọn vào nghiên cứu dưới đây là một số đặc điểm của nhóm đối tượng NC

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về nam giới

HUPH

Trang 38

Bảng 3.2 Thông tin chung về bà mẹ

Bảng 3.3 Thông tin chung về hộ gia đình

Trang 39

Bảng 3.3 cho biết có 64,9% các cặp vợ chồng sống riêng (gia đình hạt nhân) Có 80,5% đối tượng tự nhận định tình trạng kinh tế gia đình thuộc loại trung bình Có 37,4% có vợ đang mang thai đứa con đầu tiên ở thời điểm điều tra 3.2 Kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới

3.2.1.Kiến thức về các vấn đề liên quan đến NCBSM

3.2.1.1 Chăm sóc thai nghén

Bảng 3.4 Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh

Biết 1 phụ nữ mang thai cần đi khám thai tối thiểu 3 lần 76 43,7 Biết các biện pháp chăm sóc PNMT

HUPH

Trang 40

Bảng 3.5 Kiến thức của nam giới về việc cho con bú sớm

Biết lợi ích của việc cho con bú sớm với trẻ

Biết lợi ích của việc cho con bú sớm với mẹ

Bảng 3.5 cho thấy chỉ có khoảng 64,9% nam giới cho rằng bà mẹ nên cho con bú sớm sau sinh và hơn 1/2 trong số họ biết sữa có ngay sau khi đẻ gọi là sữa non hoặc sữa đầu Hơn một nửa trong số họ (61,5%) biết bú sữa non – thức ăn tốt nhất cho trẻ 39,7% biết Trẻ có nhiều sữa mẹ hơn để bú Còn biết lợi ích của việc cho con bú tốt đối với mẹ thì chủ yếu ĐTNC nêu được: Kích thích sữa về, thông tia sữa (58,6%); Giúp tử cung co hồi nhanh (52,9%)

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Địa bàn xã Đắk N'Drung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Hình 1. Địa bàn xã Đắk N'Drung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (Trang 26)
Bảng 3.1. Thông tin chung về nam giới - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.1. Thông tin chung về nam giới (Trang 37)
Bảng 3.2. Thông tin chung về bà mẹ - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.2. Thông tin chung về bà mẹ (Trang 38)
Bảng  3.3  cho  biết  có    64,9%    các  cặp  vợ  chồng  sống  riêng  (gia  đình  hạt  nhân) - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
ng 3.3 cho biết có 64,9% các cặp vợ chồng sống riêng (gia đình hạt nhân) (Trang 39)
Bảng 3.5. Kiến thức của nam giới về việc cho con bú sớm - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.5. Kiến thức của nam giới về việc cho con bú sớm (Trang 40)
Bảng 3.6. Kiến thức nam giới về NCBSM hoàn toàn - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.6. Kiến thức nam giới về NCBSM hoàn toàn (Trang 41)
Bảng 3.7. Kiến thức của nam giới về việc cho trẻ bú tiếp tục - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.7. Kiến thức của nam giới về việc cho trẻ bú tiếp tục (Trang 42)
Bảng 3.8. Thái đ - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.8. Thái đ (Trang 44)
Bảng 3.9. Thái độ của nam giới với việc NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.9. Thái độ của nam giới với việc NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng (Trang 45)
Bảng 3.10. Thái độ của nam giới với việc hỗ trợ NCBSM và chăm sóc trẻ. - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.10. Thái độ của nam giới với việc hỗ trợ NCBSM và chăm sóc trẻ (Trang 46)
Bảng 3 .11.Vai trò của người chồng trong việc hỗ trợ vợ đi khám thai - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3 11.Vai trò của người chồng trong việc hỗ trợ vợ đi khám thai (Trang 49)
Bảng 3.12.Vai trò của người chồng trong việc chăm sóc người vợ mang thai - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.12. Vai trò của người chồng trong việc chăm sóc người vợ mang thai (Trang 51)
Bảng 3.13. Dự đ - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.13. Dự đ (Trang 54)
Bảng 3.14. Mối liên quan gi - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
Bảng 3.14. Mối liên quan gi (Trang 56)
Phụ lục 4: Bảng các biến số và chỉ số nghiên cứu  1.Thông tin chung: - Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới với dự định nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của bà mẹ mang thai tại xã đắk ndrung, huyện đắk song, tỉnh đắk nông, năm 2016
h ụ lục 4: Bảng các biến số và chỉ số nghiên cứu 1.Thông tin chung: (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w