ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Với cấu phần nghiên cứu định lượng
+ Các ca sinh thường diễn ra tại Khoa Đẻ A2 và D3 vào thời điểm nghiên cứu
Các ca sinh thường được thực hiện từ tuần 36 của thai kỳ theo chỉ định của bác sĩ, miễn là không có biến chứng xảy ra cho cả sản phụ và trẻ sơ sinh.
+ Sau khi sinh có các biến chứng về sản phụ và trẻ sơ sinh
+ Sản phụ không hợp tác trong quá trình thực hiện quy trình
+ Hộ sinh trực tiếp thực hiện quy trình tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3 vào thời điểm nghiên cứu
+ Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chí loại trừ: Đối tượng nghỉ sinh con, đi học trên 30 ngày,… không có mặt tại Bệnh viện vào thời điểm tiến hành nghiên cứu
2.1.2 Với cấu phần nghiên cứu định tính
- Nhóm nhân viên y tế thực thiện quy trình chuyên môn: Các hộ sinh tham gia trực tiếp quy trình tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3
- Nhóm cán bộ quản lý: Lãnh đạo Phòng Điều dưỡng, Khoa Đẻ A2 và
- Nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ: sản phụ sau đẻ thường tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3
- Tiêu chí lựa chọn: Đối tượng có mặt tại Bệnh viện vào thời điểm tiến hành nghiên cứu
+ Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
+ Đối tượng nghỉ sinh con, đi học trên 30 ngày,… không có mặt tại Bệnh viện vào thời điểm tiến hành nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 3 năm 2020 đến hết tháng 9 năm 2020
- Địa điểm: Tại khoa đẻ A2 và khoa đẻ D3 -Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp cắt ngang, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Trong đó, nghiên cứu định lượng được thực hiện trước, sau đó nghiên cứu định tính được tiến hành dựa trên kết quả thu được từ nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện để mô tả thực trạng việc thực hiện da kề da và cho trẻ bú sớm trong quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trong năm 2020.
Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện da kề da và cho trẻ bú sớm trong quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội vào năm 2020.
2.4.1 Cỡ mẫu cho cấu phần định lượng
Quan sát thực hiện quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh
Số ca quan sát được tính bằng công thức ước tính cỡ mẫu một tỷ lệ trong điều tra mô tả cắt ngang:
+ n : cỡ mẫu tối thiểu cần quan sát
Tỷ lệ các ca sinh thường không được hộ sinh thực hiện da kề da và bú sớm là 0,41, theo nghiên cứu về chăm sóc thiết yếu.
Tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017, tỷ lệ các ca sinh thường không được thực hành da kề da và bú sớm là 41%, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi sinh.
+ d (sai số tối đa có thể chấp nhận) = 0,07
Cỡ mẫu được tính toán là n = 189 Để đảm bảo tính chính xác và loại trừ các quan sát phiếu thông tin, nghiên cứu đã quyết định tăng thêm 5% số quan sát so với cỡ mẫu đã tính.
Vậy tổng cộng có 200 ca sinh thường cần quan sát
Trên thực tế, nghiên cứu tiến hành quan sát đủ 200 ca sinh thường như dự kiến
2.4.2 Cỡ mẫu cho cấu phần định tính
2.4.2.1 Phỏng vấn sâu (PVS): có 3 cuộc PVS, bao gồm:
- 01 cuộc PVS Trưởng Phòng Điều dưỡng
- 01 cuộc PVS Trưởng Khoa Đẻ A2
- 01 cuộc PVS Trưởng Khoa Đẻ tự nguyện D3
2.4.2.2 Thảo luận nhóm (TLN): 02 cuộc bao gồm:
- 01 cuộc với nhóm hộ sinh trực tiếp tham gia quy trình
- 01 cuộc với nhóm sản phụ sau đẻ
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu trong cấu phần định lượng
Quan sát thực hiện quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh:
Số lượt quan sát tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3 được phân bổ theo tỷ lệ 62% và 38%, tương ứng với 124 và 76 trường hợp Các ca đẻ thường đều thỏa mãn tiêu chí lựa chọn, và mỗi hộ sinh có thể được quan sát nhiều lần trong quy trình.
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để lựa chọn các ca quan sát tại từng Khoa Các ca đẻ thường đáp ứng tiêu chí lựa chọn và được quan sát từ khi bắt đầu nghiên cứu cho đến khi đạt đủ số lượng theo cỡ mẫu dự kiến.
Quan sát viên sẽ thực hiện việc quan sát ca đẻ thường trong khung giờ hành chính từ 08h00 đến 17h00 hàng ngày, bắt đầu từ tháng 05 năm 2020, cho đến khi đạt đủ số lượng mẫu dự kiến.
2.5.3 Phương pháp chọn mẫu trong cấu phần định tính
Nhóm cán bộ quản lý PVS được chọn mẫu chủ đích, bao gồm các đối tượng lãnh đạo như Trưởng Phòng Điều dưỡng, Trưởng Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3.
2.5.3.2 Thảo luận nhóm với hộ sinh và nhóm sản phụ sau đẻ: chọn mẫu chủ đích Nhóm hộ sinh tham gia TLN bao gồm 5 hộ sinh cọc 1 khoa đẻ A2, 4 hộ sinh cọc 1 khoa đẻ D3 Nhóm sản phụ sau sinh bao gồm: 4 sản phụ sau đẻ trước khi ra viện khoa đẻ thường A2 và D3
Biến số, nội dung nghiên cứu được xây dựng để trả lời các mục tiêu nghiên cứu
Biến số nghiên cứu của nghiên cứu định lượng gồm 2 nhóm chính, bao gồm:
- Các biến số liên quan tới thông tin chung của hộ sinh (15 biến số):
+ Đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo
+ Kiến thức về da kề da và cho trẻ bú sớm (8 biến số)
- Các biến số thể hiện thực trạng thực hiện quy trình da kề da và tư vấn hướng dẫn cho trẻ bú sớm của hộ sinh: 11 biến số
Các nội dung chính của nghiên cứu định tính bao gồm :
- Quan điểm của các ĐTNC về ý nghĩa của việc thực hiện da kề da và cho trẻ bé sớm
- Tình hình triển khai thực hiện quy trình tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 bao gồm sự chuẩn bị của nhân viên y tế, kiến thức và kỹ năng của hộ sinh, cũng như sự hỗ trợ từ gia đình và môi trường bệnh viện Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc mẹ và bé, góp phần vào sự thành công của quy trình này.
+ Các yếu tố về nhân lực (hộ sinh): Trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, kiến thức, thái độ, thực hành da kề da và cho trẻ bú sớm
+ Các yếu tố về tài chính: Giá dịch vụ, thù lao chi trả cho hộ sinh thực hiện quy trình
Các yếu tố quản lý và quản trị trong lĩnh vực y tế bao gồm các quy định và hướng dẫn từ Bộ Y tế, cũng như các quy định và hướng dẫn cụ thể của từng bệnh viện và khoa Ngoài ra, các bối cảnh khác như tình trạng quá tải và áp lực từ cơ chế tự chủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành các cơ sở y tế.
Các yếu tố ảnh hưởng đến người sử dụng dịch vụ bao gồm trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, cũng như kiến thức và thái độ về việc chăm sóc da kề da và cho trẻ bú sớm.
2.7 Phương pháp thu thập thông tin
2.7.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Quan sát thực hiện quy trình da kề da và tư vấn thực hành cho trẻ bú sớm của hộ sinh
Công cụ thu thập thông tin là bảng kiểm dành cho quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh Bảng kiểm này được xây dựng dựa trên tài liệu Hướng dẫn chuyên môn về Chăm sóc Bà mẹ, trẻ sơ sinh năm 2014, theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10 tháng 11 năm 2014, nhằm phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi sinh.
- Cách thức thu thập thông tin:
Phương pháp chọn mẫu
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu trong cấu phần định lượng
Quan sát thực hiện quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh:
Số lượt quan sát tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3 được phân bổ theo tỷ lệ 62% và 38%, tương ứng với 124 và 76 trường hợp Các ca đẻ thường đều thỏa mãn tiêu chí lựa chọn, và mỗi hộ sinh có thể được quan sát nhiều lần trong quy trình.
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để lựa chọn các ca quan sát tại từng Khoa Các ca đẻ thường đáp ứng tiêu chí lựa chọn và được quan sát từ khi bắt đầu nghiên cứu cho đến khi đạt đủ số lượng theo cỡ mẫu dự kiến.
Quan sát viên sẽ thực hiện việc quan sát ca đẻ thường trong khung giờ hành chính từ 08h00 đến 17h00 hàng ngày, bắt đầu từ tháng 05 năm 2020, cho đến khi đạt đủ số lượng mẫu dự kiến.
2.5.3 Phương pháp chọn mẫu trong cấu phần định tính
Nhóm cán bộ quản lý PVS được chọn mẫu chủ đích, bao gồm các đối tượng lãnh đạo như Trưởng Phòng Điều dưỡng, Trưởng Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3.
2.5.3.2 Thảo luận nhóm với hộ sinh và nhóm sản phụ sau đẻ: chọn mẫu chủ đích Nhóm hộ sinh tham gia TLN bao gồm 5 hộ sinh cọc 1 khoa đẻ A2, 4 hộ sinh cọc 1 khoa đẻ D3 Nhóm sản phụ sau sinh bao gồm: 4 sản phụ sau đẻ trước khi ra viện khoa đẻ thường A2 và D3.
Biến số nghiên cứu
Biến số, nội dung nghiên cứu được xây dựng để trả lời các mục tiêu nghiên cứu
Biến số nghiên cứu của nghiên cứu định lượng gồm 2 nhóm chính, bao gồm:
- Các biến số liên quan tới thông tin chung của hộ sinh (15 biến số):
+ Đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo
+ Kiến thức về da kề da và cho trẻ bú sớm (8 biến số)
- Các biến số thể hiện thực trạng thực hiện quy trình da kề da và tư vấn hướng dẫn cho trẻ bú sớm của hộ sinh: 11 biến số
Các nội dung chính của nghiên cứu định tính bao gồm :
- Quan điểm của các ĐTNC về ý nghĩa của việc thực hiện da kề da và cho trẻ bé sớm
- Tình hình triển khai thực hiện quy trình tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
Các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 bao gồm sự chuẩn bị của nhân viên y tế, môi trường bệnh viện, và sự hỗ trợ từ gia đình Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của quy trình chăm sóc mẹ và bé, góp phần cải thiện sức khỏe và sự phát triển của trẻ sơ sinh.
+ Các yếu tố về nhân lực (hộ sinh): Trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, kiến thức, thái độ, thực hành da kề da và cho trẻ bú sớm
+ Các yếu tố về tài chính: Giá dịch vụ, thù lao chi trả cho hộ sinh thực hiện quy trình
Các yếu tố quản lý và quản trị trong lĩnh vực y tế bao gồm các quy định và hướng dẫn từ Bộ Y tế, cũng như các quy định và hướng dẫn cụ thể của từng bệnh viện và khoa Ngoài ra, các bối cảnh khác như tình trạng quá tải và áp lực từ cơ chế tự chủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành các cơ sở y tế.
Các yếu tố ảnh hưởng đến người sử dụng dịch vụ bao gồm trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, cũng như kiến thức và thái độ về việc chăm sóc da kề da và cho trẻ bú sớm.
Phương pháp thu thập thông tin
2.7.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Quan sát thực hiện quy trình da kề da và tư vấn thực hành cho trẻ bú sớm của hộ sinh
Công cụ thu thập thông tin là bảng kiểm thực hiện quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm của hộ sinh Bảng kiểm này được xây dựng dựa trên tài liệu Hướng dẫn chuyên môn về Chăm sóc Bà mẹ, trẻ sơ sinh năm 2014, theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10 tháng 11 năm 2014, nhằm phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn về Chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi sinh.
- Cách thức thu thập thông tin:
Thời gian quan sát bắt đầu từ tháng 05 năm 2020, trong đó các quan sát viên sẽ theo dõi các ca đẻ thường trong khung giờ hành chính từ 08h00 đến 17h00 cho đến khi đạt đủ số lượng mẫu dự kiến Thông tin về khoảng thời gian này đã được công khai tới tất cả các đối tượng trước khi nghiên cứu được tiến hành.
Đối tượng quan sát viên chỉ tập trung vào các ca sinh thường với thai kỳ từ 36 tuần trở lên, đồng thời không có biến chứng sau sinh cho cả mẹ và con.
➢ Gồm 4 người bao gồm học viên và 3 điều dưỡng trưởng khối - Phòng Điều dưỡng, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Các quan sát viên được đào tạo bài bản về quy trình chấm điểm và quan sát theo bảng kiểm Trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức, họ sẽ thực hiện các quan sát thử nghiệm để làm quen với bảng kiểm Bốn quan sát viên sẽ thống nhất phương pháp quan sát và cách chấm điểm nhằm đảm bảo độ chính xác cao và giảm thiểu sai số.
Khi thu thập số liệu, quan sát viên sử dụng bảng kiểm để theo dõi trực tiếp quy trình da kề da và việc cho trẻ bú sớm của hộ sinh.
2.7.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Công cụ thu thập thông tin là hướng dẫn dành cho lãnh đạo các Khoa/Phòng thuộc Bệnh viện và hướng dẫn PVS cho sản phụ Nội dung của PVS được phát triển dựa trên Khung lý thuyết của nghiên cứu.
- Cách thức thu thập thông tin:
Các nghiên cứu viên sẽ liên hệ với đối tượng nghiên cứu để giới thiệu về mục đích của cuộc phỏng vấn Khi đối tượng đồng ý tham gia, hai bên sẽ thống nhất thời gian và địa điểm phỏng vấn phù hợp, đảm bảo chỉ có sự tham gia của đối tượng nghiên cứu và hai nghiên cứu viên Đối với các lãnh đạo Khoa/Phòng thuộc Bệnh viện, cuộc phỏng vấn sẽ được thực hiện tại phòng làm việc riêng của từng người.
+ Với các sản phụ, cuộc phỏng vấn tiến hành ngay tại bệnh phòng
Cuộc phỏng vấn sâu (PVS) sẽ được thực hiện bởi hai nghiên cứu viên, trong đó một người điều hành phỏng vấn theo hướng dẫn đã chuẩn bị, và một người làm thư ký, là cộng tác viên kiêm cán bộ Phòng Điều dưỡng của Bệnh viện Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn dao động từ 30 đến 40 phút.
HUPH phút Thời gian thu thập thông tin PVS vào tuần đầu của tháng 05 năm
- Công cụ thu thập: hướng dẫn TLN hộ sinh Nội dung TLN được xây dựng dựa trên Khung lý thuyết của nghiên cứu
- Cách thức thu thập thông tin:
+ Cuộc thảo luận nhóm được tiến hành trực tiếp tại phòng giao ban của từng khoa đẻ
Cuộc khảo sát được thực hiện bởi hai nghiên cứu viên, trong đó một người là tác giả luận văn và người còn lại là thư ký, đồng thời là cán bộ Phòng Điều dưỡng của Bệnh viện Thời gian phỏng vấn dao động từ 20 đến 30 phút, và thông tin được thu thập trong tuần đầu của tháng 05 năm 2020.
Tiêu chuẩn đánh giá
Bảng kiểm quan sát quy trình da kề da và hướng dẫn trẻ bú sớm của hộ sinh bao gồm 32 tiêu chí, mỗi tiêu chí được đánh giá theo 3 mức điểm: 2 điểm cho việc thực hiện hoàn thiện, 1 điểm cho việc thực hiện chưa hoàn thiện hoặc thiếu bước, và 0 điểm cho việc không thực hiện.
Tổng điểm tối đa cho quy trình da kề da và hướng dẫn trẻ bú sớm của hộ sinh là 64 điểm Nghiên cứu năm 2017 về chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, để đạt chuẩn thực hành EENC, hộ sinh cần hoàn thành tất cả các tiêu chí trong bảng kiểm Nếu có tiêu chí không đạt yêu cầu hoặc không thực hiện, đánh giá sẽ không đạt Do đó, trong nghiên cứu này, chỉ những ca có tổng điểm 64 trở lên được coi là đạt về thực hành quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm, trong khi các ca có điểm thấp hơn sẽ không đạt.
Phương pháp phân tích số liệu
- Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
Số lượng (n) và tỷ lệ (%) là công cụ quan trọng để mô tả các biến định tính, trong khi trung bình và độ lệch chuẩn thường được áp dụng cho biến định lượng có phân bố chuẩn Đối với biến định lượng không có phân bố chuẩn, trung vị, giá trị tối thiểu và tối đa là những chỉ số thích hợp để mô tả.
- Tổng hợp ý kiến từ bảng ghi và bản gỡ băng các cuộc PVS và TLN
- Hệ thống các ý kiến chủ đạo của từng vấn đề và phân tích, trích dẫn theo các mục tiêu nghiên cứu.
Đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ được thực hiện sau khi được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo Quyết định số 88/2020/YTCC-HD3 Hội đồng này căn cứ vào các tiêu chuẩn đạo đức của Bộ Y tế và các tiêu chuẩn quốc tế để xem xét và thông qua nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu cần được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn Họ phải đồng ý tham gia và có quyền từ chối bất kỳ lúc nào.
Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến đối tượng nghiên cứu và số liệu từ cuộc phỏng vấn sẽ được bảo mật Dữ liệu thu thập được chỉ được sử dụng cho mục đích học tập.
Dữ liệu nghiên cứu đã được chia sẻ với các bên liên quan, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho bệnh viện, Khoa Đẻ và hộ sinh tại hai Khoa trong việc giải quyết các vấn đề liên quan.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số thông tin chung về hộ sinh tại các Khoa nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát kiến thức và thực hành chăm sóc thiết yếu của 100 hộ sinh tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3 của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội Kết quả từ Phiếu khảo sát cho thấy các ĐTNC có những đặc điểm đáng chú ý.
Bảng 3.1: Một số thông tin chung của hộ sinh tại các Khoa nghiên cứu (n0)
STT Nội dung thông tin Tỷ lệ ĐTNC (%)
2 Tôn giáo Không theo tôn giáo nào 98,0
3 Trình độ chuyên môn Đại học 41,0
4 Thời gian công tác của hộ sinh tại Bệnh viện
Toàn bộ hộ sinh được khảo sát là nữ và dân tộc Kinh Đa phần không theo tôn giáo (98,0%) Chỉ có 2 hộ sinh theo đạo Công giáo
Phần lớn ĐTNC nằm trong độ tuổi từ 26 đến 35 tuổi (51,0%) và từ 36 đến 40 tuổi (28,0%) Có 10 đối tượng từ 25 tuổi trở xuống (10,0%) và 11 đối tượng trên 40 tuổi (11,0%)
Trong nhóm nữ hộ sinh, tỷ lệ có trình độ đại học cao nhất đạt 41,0%, tiếp theo là nhóm trình độ trung cấp với 34,0% Cuối cùng, 25,0% còn lại sở hữu bằng cao đẳng.
Đa phần ĐTNC đã có thời gian công tác tại Bệnh viện từ 10 đến 14 năm, chiếm 40,0% Nhóm có thâm niên từ 5 đến 9 năm chiếm 38,0% Ngoài ra, có 12 ĐTNC làm việc dưới 4 năm và 10 trường hợp có thâm niên trên 15 năm tại Bệnh viện (Bảng 3.1).
Các hộ sinh tham gia khảo sát đã làm việc tại Bệnh viện ít nhất 7 tháng, với thời gian công tác lâu nhất lên đến 32 năm Trung bình, thời gian làm việc của các hộ sinh trong nghiên cứu là 10,2 năm.
3.2 Thực trạng thực hiện da kề da và cho trẻ bú sớm trong chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trên sản phụ đẻ thường của hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020
Bảng 3.2: Tỷ lệ mức độ thực hiện các thao tác chuẩn bị trước sinh của hộ sinh
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
1 Kiểm tra nhiệt độ phòng; tắt quạt, bật đèn sưởi
2 Rửa tay (lần thứ nhất) 178 89,0 22 11,0 0 0,0
3 Đặt lên bụng mẹ tấm vải khô 200 100,0 0 0,0 0 0,0
4 Chuẩn bị khu hồi sức sơ sinh 179 89,5 21 10,5 0 0,0
5 Kiểm tra bóng và mặt nạ có hoạt động không
6 Kiểm tra bóng hút (máy hút) 193 96,5 7 3,5 0 0,0
7 Rửa tay (lần thứ hai) 69 34,5 120 60,0 11 5,5
8 Đeo 2 đôi găng tay vô khuẩn 170 85,0 30 15,0 0 0,0
9 Sắp xếp kẹp rốn, panh, kéo… theo thứ tự dễ sử dụng
10 Kiểm tra đủ điều kiện (TSM phồng căng, ngôi thập thò âm
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n % hộ) thì tiến hành đỡ đẻ
Trong 10 thao tác chuần bị trước sinh, có 1 thao tác được tất cả 200 lượt đỡ đẻ thực hiện đạt yêu cầu trong các lần quan sát 9 thao tác còn lại ghi nhận có trường hợp có thực hiện nhưng không đạt hoặc không thực hiện
Rửa tay lần thứ hai là thao tác duy nhất mà hộ sinh không thực hiện trong 5,5% trường hợp Trong số những trường hợp thực hiện, 60,0% không đạt yêu cầu do hộ sinh rửa tay không đúng cách, không đảm bảo vô khuẩn, và chỉ thực hiện qua loa để nhanh chóng tiếp tục quy trình.
Các thao tác thường không đạt yêu cầu bao gồm sắp xếp kẹp rốn, panh, kéo với tỷ lệ 22,3%, đeo 2 đôi găng tay vô khuẩn chiếm 15,0%, và rửa tay lần đầu với 11,0% (Bảng 3.2).
Bảng 3.3: Tỷ lệ mức độ thực hiện các thao tác cần làm ngay sau khi sinh của hộ sinh (N 0)
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
1 Đọc to thời điểm sinh, giới tính 200 100,0 0 0,0 0 0,0
2 Lau khô cho trẻ trong 5 giây ngay sau sinh 156 78,0 44 22,0 0 0,0
Lau khô trẻ theo trình tự (mắt, mặt, đầu, ngực, tay, chân, lưng, mông…)
5 Cho trẻ tiếp xúc da kề da 200 100,0 0 0,0 0 0,0
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
6 Phủ người và đầu trẻ bằng tấm vải khô, đội mũ cho trẻ 187 93,5 13 6.5 0 0
7 Tư vấn cho mẹ về những dấu hiệu đòi bú của trẻ 65 32,5 127 63,5 8 4,0
8 Tổng thời gian trẻ được tiếp xúc da kề da (theo quan sát) 102 51,0 98 49,0 0 0
Sau khi sinh, có 8 thao tác quan trọng cần thực hiện cho mẹ và con Trong số đó, 3 thao tác đã được tất cả 200 lượt đỡ đẻ thực hiện đạt yêu cầu trong các lần quan sát, bao gồm: đọc to thời điểm sinh, thông báo giới tính của trẻ, bỏ tấm vải ướt và cho trẻ tiếp xúc da kề da.
Chỉ có một thao tác mà hộ sinh không thực hiện là tư vấn cho mẹ về các dấu hiệu đòi bú của trẻ, bao gồm chảy nước dãi, mở miệng, lè lưỡi/liếm, gặm tay và bò trườn Tỷ lệ không thực hiện thao tác này là 4,0%.
Trong quá trình chăm sóc trẻ, có 5 thao tác thường được thực hiện nhưng không đạt hiệu quả như mong đợi Đầu tiên, việc lau khô trẻ trong 5 giây chỉ đạt 22% Thứ hai, lau khô trẻ theo trình tự đúng chỉ đạt 56% Thứ ba, việc phủ người và đầu trẻ bằng tấm vải khô, cũng như đội mũ cho trẻ, chỉ đạt 6,5% Thứ tư, tư vấn về những dấu hiệu đòi bú đạt 63,5%, tương tự như tư vấn những dấu hiệu đòi bú của trẻ cũng đạt 63,5% Cuối cùng, việc phủ người trẻ bằng tấm vải khô mà không đảm bảo thời gian tiếp xúc da kề theo hướng dẫn của Bộ Y tế (từ 60-90 phút) chỉ đạt 49%.
Bảng 3.4: Thời gian trung bình da kề da của 2 khoa đẻ
Khoa phòng Thời gian trung bình
Khoa đẻ A2 55 phút 30 phút 90 phút
Khoa đẻ D3 70 phút 50 phút 90 phút
Tính chung 2 Khoa 68,5 phút 30 phút 90 phút
Trong nghiên cứu, tổng thời gian trung bình tiếp xúc da kề da là 68,5 phút Cụ thể, khoa đẻ A2 có thời gian tiếp xúc trung bình là 55 phút, trong khi khoa đẻ D3 là 70 phút (Bảng 3.4) Thời gian tiếp xúc da kề da ngắn nhất được ghi nhận ở khoa đẻ A2 với chỉ 30 phút.
Bảng 3.5: Tỷ lệ mức độ thực hiện các thao tác hiện hướng dẫn mẹ đặt đúng tư thế của trẻ bú mẹ của hộ sinh (N 0)
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
1 Trẻ ôm sát vào bụng mẹ 80 40,0 65 32,5 55 27,5
2 Đảm bảo mẹ nâng toàn bộ cơ thể trẻ 148 74,0 32 16,0 20 10,0
3 Đảm bảo tai, vai và hông trẻ trên một đường thẳng 115 57,5 47 23,5 38 19
4 Mặt trẻ đối diện với bầu vú, mũi đối diện núm vú 117 58,5 0 0 83 41,5
Cả 4 thao tác hướng dẫn mẹ đặt đúng tư thế của trẻ đều có tỷ lệ hộ sinh làm nhưng không đạt hoặc không làm 41,5% số lượt quan sát hộ sinh không hướng dẫn sản phụ để mặt trẻ đối diện với bầu vú, mũi đối diện núm vú; 27,5% số lượt quan sát hộ sinh không hướng dẫn sản phụ ôm sát trẻ để bụng trẻ áp sát vào bụng mẹ, 44% số lượt quan sát hộ sinh không hướng dẫn sản phụ nâng đỡ trẻ đảm bảo tai, vai và hông trẻ trên một đường thẳng, 10% số lượt hộ sinh không hướng dẫn mẹ nâng đỡ toàn bộ cơ thể trẻ (Bảng 3.5)
Bảng 3.6: Tỷ lệ mức độ thực hiện các thao tác hướng dẫn mẹ tự giúp trẻ ngậm bắt vú của hộ sinh (N 0)
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
1 Hướng dẫn sản phụ biết chạm 200 100,0 0 0,0 0 0,0
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n % môi trẻ vào núm vú mẹ
Hướng dẫn sản phụ chờ miệng trẻ mở rộng trước khi đưa trẻ tới ngậm vú
Hướng dẫn sản phụ đưa trẻ tới ngậm sâu vào vú mẹ với môi dưới của trẻ ở phía dưới núm vú
Trong 100% lượt quan sát, hộ sinh đã hướng dẫn sản phụ cách chạm môi trẻ vào núm vú mẹ Tuy nhiên, có 19,5% lượt quan sát cho thấy hộ sinh không hướng dẫn sản phụ chờ miệng trẻ mở rộng trước khi đưa trẻ tới ngậm vú Bên cạnh đó, 15% lượt quan sát không có hướng dẫn về việc đưa trẻ tới ngậm sâu vào vú mẹ với môi dưới của trẻ ở phía dưới núm vú Tỷ lệ hộ sinh thực hiện nhưng chưa đạt hai thao tác này lần lượt là 17,5% và 19%.
Bảng 3.7: Tỷ lệ mức độ thực hiện các thao tác hướng dẫn mẹ biết được dấu hiệu của ngậm bắt vú tốt của hộ sinh (N 0)
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
1 Cằm trẻ chạm vào bầu vú 123 61,5 0 0 77 38,5
2 Miệng trẻ mở rộng, má phồng 120 60,0 27 13,5 73 26,5
3 Môi dưới của trẻ trề ra ngoài 146 73,0 24 12,0 30 15,0
Vùng quầng vú phía trên nhìn thấy nhiều hơn phần bên dưới miệng trẻ
Cả 4 thao tác trên đều ghi nhận hộ sinh không thực hiện hướng dẫn cho sản phụ Trong đó tỷ lệ không hướng dẫn thao tác cằm trẻ chạm vào bầu vú là 38,5%, miệng trẻ mở rộng, má phồng 26,5%, môi dưới của trẻ trề ra ngoài 15% và vùng quầng vú phía trên nhìn thấy nhiều hơn phía dưới miệng trẻ là 28% (Bảng 3.7)
Bảng 3.8: Tỷ lệ mức độ thực hiện việc hướng dẫn mẹ biết được dấu hiệu bú tốt của hộ sinh (N 0)
Có làm, chưa hoàn thiện Không làm n % n % n %
Trẻ bú với nhịp mút sâu và chậm 88 44,0 35 17,5 77 38,5
Khi bú, thỉnh thoảng trẻ ngừng lại nghỉ một khoảng ngắn; không phát ra âm thanh khi mút
Mẹ cảm thấy bầu vú rỗng sau khi cho bú (nên cho trẻ bú hết một bên sau đó mới chuyển sang bên kia)
Thực trạng thực hiện da kề da và cho trẻ bú sớm trên sản phụ đẻ thường của hộ
Tất cả 100 hộ sinh tại Khoa Đẻ A2 và Khoa Đẻ tự nguyện D3 của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đều là nữ và thuộc dân tộc Kinh, với 98% không theo tôn giáo Độ tuổi chủ yếu của các hộ sinh là từ 26 đến 35 (51%) và 36 đến 40 (28%) Thời gian công tác của họ chủ yếu từ 10 đến 14 năm (40%), với trung bình là 10,2 năm Đội ngũ hộ sinh kết hợp giữa cán bộ có kinh nghiệm lâu năm và cán bộ trẻ, tạo sự kế thừa quan trọng trong công việc Việc nắm rõ quy trình và điều kiện của Khoa giúp họ thực hiện quy trình da kề da và cho trẻ bú sớm hiệu quả, nhưng cũng có thể dẫn đến thói quen làm việc lặp đi lặp lại, ảnh hưởng đến chất lượng quy trình.
Trong nhóm nữ hộ sinh, tỷ lệ có bằng đại học cao nhất đạt 41,0%, tiếp theo là nhóm trình độ trung cấp với 34,0% và 25,0% còn lại có bằng cao đẳng Sự hiện diện của nhiều hộ sinh trình độ trung cấp tạo ra áp lực lớn đối với công tác lập kế hoạch và đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ tại Bệnh viện.