1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa nội tim mạch lão học, bệnh viện đa khoa tỉnh khánh hòa năm 2018

117 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa nội tim mạch lão học, bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2018
Tác giả Phan Thị Ánh Mai
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Tuyết Mai
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc người bệnh CSNB của điều dưỡng, nghiên cứu “Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:

Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia và hoàn thành khóahọc

Các Thầy, Cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình họctập

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.BS Trần Thị Tuyết Mai-TTYTDP Khánh Hòa và Ths Nguyễn Thái Quỳnh Chi-Trường ĐHYTCC đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và tập thể lớp cao học QLBV khóa 9TP HCM đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2018

PHAN THỊ ÁNH MAI

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾTTẮT V DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VI TÓM TẮT NGHIÊNCỨU VII

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUANTÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Vai trò, chức năng của người điều dưỡng 5

1.3 Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc điều dưỡng 6

1.4 Một số văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của điềudưỡng 6

1.5 Một số nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng trên thế giới và tạiViệtNam 7

1.6 Sơ lược về Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa và khoa Nội Tim mạch-Lão học……….15

1.7 Khunglýthuyết 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 18

2.1 Đối tượngnghiên cứu 18

2.2 Thời gian và địa điểm nghiêncứu 18

2.3 Thiết kế nghiên cứu 18

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 20

2.6 Phương pháp phân tích số liệu 23

HUPH

Trang 5

2.7 Biến số nghiên cứu 23

2.8 Cách đánh giá trong nghiên cứu 23

2.9 Đạo đức trong nghiêncứu 25

2.10 Hạn chế và các biện pháp khắcphục 25

CHƯƠNG 3:KẾTQUẢ 27

3.1 Việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của điều dưỡng tại Khoa Nội Tim mạch-Lão học……….27

3.1.1 Công tác CSNB của điều dưỡng qua phỏngvấnNB 27

3.1.2 Kết quả quan sát thực hành của điều dưỡng 37

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại khoa Nội Tim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2018 44

3.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng từ phía điều dưỡng 44

3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng từ côngviệc 44

Chương 4:BÀNLUẬN 50

4.1 Việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của điều dưỡng tại Khoa Nội Tim mạch-Lão học……….50

4.1.1 Công tác CSNB của điều dưỡng qua phỏng vấnngườibệnh 50

4.1.2 Thực hành tư vấn, GDSK và kỹ thuật tiêm bắp củađiềudưỡng 56

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại khoa Nội Tim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2018 60

KẾTLUẬN 65

1 Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của điều dưỡng tại Khoa Nội Tim mạch-Lão học 65

HUPH

Trang 6

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của

điều dưỡng 66

KHUYẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Phụ lục 1: PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN NGƯỜI BỆNH VỀ CÔNG TÁC CHĂMSÓC NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH-LÃOHỌC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH KHÁNHHÒA 73

Phụ lục 2: PHIẾU QUAN SÁT ĐIỀU DƯỠNG TƯ VẤN GDSK CHO NGƯỜI BỆNH 82

Phụ lục 3: PHIẾU QUAN SÁT ĐIỀU DƯỠNG THỰC HIỆN TIÊM BẮP 85

Phụ lục 4: HƯỚNG DẪN NỘI DUNG PHỎNG VẤN SÂU 88

Phụ lục 5: HƯỚNG DẪN NỘI DUNG THẢO LUẬN NHÓM 90

Phụ lục 6: ĐÁNH GIÁ QUAN SÁT ĐIỀU DƯỠNG TƯ VẤN GDSK CHO NGƯỜI BỆNH 92

Phụ lục 7: ĐÁNH GIÁ QUAN SÁT ĐIỀU DƯỠNG THỰC HIỆN TIÊM BẮP 94

Phụ lục 8: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 96

HUPH

Trang 7

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiêncứu(n=270) 27 Bảng 3.2 Kết quả chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ănuống(n=270) 29 Bảng 3.3 Kết quả chăm sóc, hỗ trợ người bệnh vệ sinh hàngngày(n=270) 312 Bảng3.4 Kếtquảchămsóc,hỗtrợvềtâmlý,tinhthần chongười bệnh(n=270)323 Bảng 3.5 Kết quả theo dõi, đánh giá ngườibệnh(n=270) 33 Bảng 3.6 Kết quả hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ

(n=270).34Bảng 3.7 Thông tin chung của điều dưỡng tham gia nghiêncứu(n=40) 37 Bảng 3.8 Kết quả quan sát hoạt động tư vấn GDSK cho người bệnh của điều

dưỡng(n=40) 38 Bảng 3.9 Kết quả quan sát kỹ thuật tiêm bắp cho người bệnh của điều dưỡng(n=40) 41 Bảng 3.10 Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ CSNB của điều

dưỡng 50

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Hoạt động tiếp đón người bệnh của ĐDV(n=270) 28 Biểu đồ 3.2 Kết quả tư vấn, hướngdẫnGDSK 36 Biểu đồ 3.3 Đánh giá chung hoạt động TVGDSK của điềudưỡngviên 41

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Chăm sóc điều dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh và góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện tăng sự hài lòng của người bệnh Để nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc

người bệnh (CSNB) của điều dưỡng, nghiên cứu “Thực trạng việc thực hiện

nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa NộiTim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2018” đã

được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 8 năm 2018, tại khoa Nội Tim mạch - Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòavới hai mục tiêu: 1) Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điềudưỡng

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp với định tính (PVS và TLN) 270 bệnh nhân điều trị nội trú đã được phỏng vấn và toàn bộ 40 điều dưỡng của khoa đã được quan sát 2/12 nhiệm vụ của điều dưỡng

Kết quả nghiên cứu qua đánh giá của NB: Hầu hết các tiêu chí trong bảy hoạt động CSNB của ĐDV đều có tỷ lệ đánh giá thực hiện tốt từ 90% trở lên, trong đó, hoạt động tư vấn GDSK có tỷ lệ thực hiện tốt các tiêu chí thấp nhất, nhưng cũng đạt từ 90% đến96%

Kết quả quan sát trực tiếp điều dưỡng cho thấy: Chỉ có 37,5% ĐDV thực hiện đạt hoạt động tư vấn GDSK cho người bệnh Hoạt động thực hiện qui trình kỹ thuật tiêm bắp của ĐDV có tỷ lệ đạt cao 100%.Nghiên cứu định lượng chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV Kết quả PVS, TLN cho thấy: áp lực công việc; môi trường làm việc; công tác đào tạo, tập huấn; công tác kiểm tra giám sát và sự quan tâm của lãnh đạo là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB củaĐDV

Khuyến nghị: Bệnh viện cũng như khoa Nội Tim mạch-Lão học cần có biện pháp giảm tải công việc, tập huấn nâng cao kỹ năng tư vấn GDSK cho ĐDV, tăng

HUPH

Trang 10

cường công tác kiểm tra giám sát, chú trọng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho ĐDV nói riêng và toàn thể NVYT của bệnh viện nói chung

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, chất lượng hoạt động chăm sóc người bệnh (CSNB) là một trong những mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các bệnh viện trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng vì chất lượng CSNB có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, chất lượng cuộc sống và sự hài lòng của người bệnh Chất lượng chăm sóc của điều dưỡng là một phần quan trọng trong toàn bộ chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế vì điều dưỡng là những người tiếp xúc nhiều nhất với người bệnh trong suốt thời gian nằm viện Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ

Y tế, chăm sóc điều dưỡng bắt đầu từ khi tiếp nhận bệnh nhân cho đến lúc bệnh nhân ra viện, bao gồm: tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe; chăm sóc về tinh thần; chăm sóc vệ sinh cá nhân; chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc phục hồi chức

năng…[7]

Tuy nhiên, số lượng điều dưỡng/10.000 dân và tỷ số điều dưỡng, hộ sinh/bác

sĩ ở nước ta hiện nay ít hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới Theo báo cáo của Cục Quản lý Khám chữa bệnh, năm 2013, nước ta chỉcó 1.236 điều dưỡng/10.000 dân, thấp hơn Đan Mạch (17.269), Mỹ (9.815); Singapore (4.700) và Thái Lan (2.077) Tỷ số điều dưỡng, hộ sinh/bác sĩ của nước

ta là 1.8, xếp hàng thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á [10] Do thiếu nhân lực, tình trạng quá tải người bệnh và quá tải công việc làm cho điều dưỡng viên (ĐDV) không có nhiều thời gian chăm sóc, giao tiếp với người bệnh nên không thể thực hiện tốt và đầy đủ nhiệm vụ của điều dưỡng dẫn đến người bệnh kém hài lòng với các dịch vụ chăm sóc của ĐDV Một số nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy áp lực công việc có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động chuyên môn của điều dưỡng Nghiên cứu của Masahiro Shimzutani (2008) cho thấy: khi điều dưỡng làm việc quá sức sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn thần kinh, stress, từ đó sẽ có những hành vi, thái độ không tốt đối với người bệnh khi thực hiện chăm sóc [37] Những bệnh viện có số lượng điều dưỡng đông thì chất lượng chăm sóc cao hơn hẳn các bệnh viện khác [34] và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện đó thấp hơn[33]

HUPH

Trang 12

Tại Việt Nam kết quả một số nghiên cứu cho thấy công tác CSĐD vẫn còn những tồn tại.Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Trâm tiến hành năm 2014 tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) cho thấy 7/12 nhiệm vụ CSNB được ĐDV thực hiện hoàn thành đạt từ 71,4% đến 89,2 % Chiếm tỷ lệ thấp là nhiệm vụ

tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe (GDSK) và chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh (20,2% và 27,2%); đánh giá chung về mức độ hoàn thành 12 nhiệm vụ

CSNB của ĐDV là 60,6% [19] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hồng Mai (2016)

tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn(Bình Định) cho thấy ĐDV thực hiện tương đối tốt công tác theo dõi, đánh giá người bệnh, chiếm 80,6% Một số nội dung chăm sóc ĐDV thực hiện chưa đạt chiếm tỷ lệ cao như công tác tiếp đón người bệnh (75%), công tác chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý tinh thần cho người bệnh (54,6%), hỗ trợ điều trị và phối hợp trong việc thực hiện y lệnh thuốc (89,4%)

[17]

Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, công tác điều dưỡng được thực hiện theo qui định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế [7] Trong quá trình hoạt động từ trước đến nay, bệnh viện chỉ có một nghiên cứu

về điều dưỡng của Nguyễn Thùy Châu tiến hành năm 2014 Kết quả cho thấy: các ĐDV chỉ làm tương đối tốt các chức năng cơ bản; các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh là tình hình nhân lực, bản thân điều dưỡng và sự quan tâm của lãnh đạo khoa[20]

Để có cơ sở nâng cao chất lượng CSĐD, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ

điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa nghiên cứu “Thực trạng việc thực

hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa Nội Tim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2018” đã được tiến hành

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại khoa Nội Tim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm2018

2 Phân tíchmột số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại khoa Nội Tim mạch-Lão học, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm2018

HUPH

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Năm 1965, Hội điều dưỡng Mỹ đưa ra định nghĩa “Điều dưỡng là một nghề

hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe” [6]

Tóm lại điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng dự phòng bệnh và điều trị đáp ứng nhu cầu sức khỏe con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng

đồng và xã hội[6]

Một số khái niệm khác cũng đã được nêu rõ trong Thông tư 07/2011/TT- BYT của Bộ Y tế, đó là:

* Chăm sóc người bệnh trong bệnhviện

Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu

cơ bản của mỗi ngư ời bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều

trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [7]

* Chăm sóc người bệnh toàndiện

Chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD) là sự chăm sóc của người hành nghề và gia đình người bệnh lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu điều trị, sinh hoạt hàng ngày nhằm bảo đảm an toàn, chất lượng và hài lòng của người bệnh [7]

* Chăm sóc điềudưỡng

Chăm sóc điều dưỡng là s ự hỗ trợ , đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết , tư thế,

HUPH

Trang 15

vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ, những chăm sóc về tâm lý cho người bệnh,

hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ có hại từ môi trường bệnh viện và môi trường sống [7]

1.2 Vai trò, chức năng của người điềudưỡng

Vai trò: ĐDV là lực lượng trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho người dân ở

cộng đồng và trong các cơ sở y tế với chi phí hợp lý và hiệu quả; đóng góp tích cực vào việc phòng và kiểm soát bệnh tật thông qua truyền thông, giáo dục nâng cao sức khỏe, khuyến khích lối sống lành mạnh cho người dân trong cộng đồng; duy trì và tăng cường sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đồng thời đóng góp vai trò to lớn làm giảm tử vong sơ sinh, tử vong trẻ dưới một tuổi, tử vong mẹ trong vai trò của người đỡ đẻ có kỹ năng và người cung cấp các dịch vụ

an toàn cho bà mẹ và trẻ sơ sinh[2]

Năm vai trò cơ bản của người điều dưỡng [6]:

1 Người chăm sóc: Chăm sóc là yếu tố cơ bản để thực hành điều dưỡng hiệu quả Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thể thay thế được sự chăm sóc của người điềudưỡng;

2 Người truyền đạt thông tin: Giao tiếp quy định mối quan hệ giữa người bệnh và người điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các nhân viên khác Nó có vai trò quan trọng trong hoạt động của người điềudưỡng;

3 Người giáo viên: Người bệnh cần có thêm kiến thức để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằmviện;

4 Người tư vấn: Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh để nhận biết và đương đầu với những stress về tâm lý hoặc những vấn đề của xãhội;

5 Người biện hộ cho người bệnh: Thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm có những nhu cầu của người bệnh được đápứng

Chức năng: Người điều dưỡng có 3 chức năng [6]:

1 Chủ động thực hiện các hoạt động CSĐD cho ngườibệnh;

2 Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bácsĩ;

3 Tư vấn,GDSK

HUPH

Trang 16

1.3 Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc điềudưỡng

Trong công tác CSNB, người điều dưỡng phải thực hiện nhiệm vụ chăm sóc điều dưỡng (CSĐD) Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, CSĐD bao gồm 12 nhiệm vụ cụ thể như sau[7]:

1 Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho ngườibệnh;

2 Chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho ngườibệnh;

3 Chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh cá nhân hàngngày;

4 Chăm sóc dinh dưỡng cho ngườibệnh;

5 Chăm sócPHCN;

6 CSNB có chỉ định phẫu thuật, thủthuật;

7 Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho ngườibệnh;

8 CSNB giai đoạn hấp hối và người bệnh tửvong;

9 Thực hiện các kỹ thuật điềudưỡng;

10 Theo dõi, đánh giá ngườibệnh;

11 Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc ngườibệnh;

12 Ghi chép hồ sơ bệnh án[7]

1.4 Một số văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của điềudưỡng

Trước đây, người điều dưỡng chủ yếu thực hiện chức năng thụ động, đó là thực hiện y lệnh, phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ, hầu hết công tác chăm sóc cơ bản cho người bệnh được người nhà đảm nhiệm… Chính vì vậy, công tác chăm sóc của điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của người bệnh.Để từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định 526/1993/QĐ-BYT ban hành chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc

người bệnh tại bệnh viện [3].Đến năm 1996, Thông tư 11/1996/TT-BYT ra đời

hướng dẫn tổ chức thực hiện CSNBTD và củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng.Công tác CSNBTD đã được thể chế hoá thành Quy chế CSNBTD trong Quy chế bệnh viện vào năm 1997 [4] Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/BYT-CT của Bộ trưởng Bộ Y tế ra đời đã yêu cầu mọi cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNBTD,

HUPH

Trang 17

các bệnh viện phải tăng cường công tác CSNBTD [5] Để đảm bảo nhân lực triển khai hoạt động CSNB được thường xuyên và liên tục, năm 2008, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 08 Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước [1] Những năm sau đó, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác CSNB, như là Thông

tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác đi ều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [7] và Quyết định số 4858/2013/QĐ-BYT về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [9] Hai văn bản nói trên là sự cập nhật phù hợp giữa các văn bản pháp luật với tình hình thực tế, nâng cao vị thế nghề nghiệp của người điều dưỡng, trao quyền cho các đơn vị vận dụng linh hoạt trong

tổ chức quản lý điều dưỡng, quy định cụ thể về nhiệm vụ chăm sóc nhằm cung cấp đến những dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, hiệuquả

1.5 Một số nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng trên thế giới và tại ViệtNam

1.5.1 Nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụ của điềudưỡng

1.5.1.1 Thực hiện nhiệm vụ tư vấn hướng dẫn giáo dục sứckhỏe

Tư vấn, hướng dẫn GDSK là nhiệm vụ đầu tiên trong 12 nhiệm vụ chuyên môn của ĐDV.Tuy nhiên, một số nghiên cứutrên thế giới và Việt Nam nhận thấy hoạt động này trên thực tế chưa được các ĐDV xem trọng Tác giả Ausserhofer D

và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứuviệc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng

ở một số bệnh viện tại Châu Âu đã đưa ra kết luận chỉ có 41% ĐDV thực hiện nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh [30] Nghiên cứu của hai tác giả M Muntlin, Gunningberg L và Carlsson M (2006) cho thấy có đến 20% người bệnh cho rằng điều dưỡng không thể hiện sự quan tâm đến tình hình bệnh tật của

họ và người bệnh cũng không nhận được những thông tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [36] Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Hưng (2012) cho thấy chỉ có 7,6% người bệnh nhận được hoạt động

tư vấn, hướng dẫn giữ gìn sức khỏe từ các ĐDV [22] Nghiên cứuNguyễn Thị Thùy Trâm (2014) thực hiện tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) cho thấy nhiệmvụtưvấn,hướngdẫnGDSKchongườibệnhlànhiệmvụcómứcđộĐDV

HUPH

Trang 18

hoàn thành khá thấp, chỉ đạt 20,2% [19] Trong khi đó, kết quảnghiên cứu của Chu Anh Văn (2014) và nghiên cứu của Nguyễn Thùy Châu (2014) lại cho thấy hoạt động tư vấn, hướng dẫn GDSK là hoạt động có tỷ lệ ĐDV thực hiện khá cao Tỷ lệ này ở nghiên cứu của Chu Anh Văn là 85,9% [11] và trong nghiên cứu của Nguyễn Thùy Châu là 81,3%[20]

1.5.1.2 Thực hiện các nhiệm vụ chămsóc

Năm 2001, Nguyễn Thị Bích Lưu tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng của các dịch vụ CSĐD thông qua sự hài lòng của người bệnh Nghiên cứu được tiến hành khảo sát trên 175 bệnh nhân ngoại khoa của bệnh viện Banpong, tỉnh Ratchaburi, Thái Lan Kết quả: 59,4% bệnh nhân đánh giá cao và 51% bệnh nhân rất hài lòng với hoạt động chăm sóc của điều dưỡng [38] Khi tìm hiểu về việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc của điều dưỡng thông qua phỏng vấn người bệnh, một số nghiên cứu đã cho thấy, có một số nhiệm vụ không được các điều dưỡng triển khai tốt như hoạt động chăm sóc răng miệng (20%), hay hoạt động lập kế hoạch chăm sóc bệnh nhân (42%) [28, 30] Một số nghiên cứu khác cho thấy, 20% người bệnh cho rằng điều dưỡng không thể hiện sự quan tâm đến tình hình bệnh tật của họ và người bệnh cũng không nhận được những thông tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [36], một số nhu cầu về tâm lý và tinh thần của người bệnh chưa được điều dưỡng đáp ứng tốt[35]

Khi nghiên cứu về mức độ hài lòng của người bệnh với chăm sóc điều dưỡng tại một số bệnh viện công của Ethiopia năm 2014, tác giả Tahir Ahmed và cộng sự đưa ra kết luận 52,75% người bệnh được hỏi hài lòng với kết quả chăm sóc điều dưỡng; 62,71% hài lòng với chuyên môn của điều dưỡng; 55,67% hài lòng với hoạt động chăm sóc của điều dưỡng; 44,85% hài lòng với những thông tin

về bệnh tật do điều dưỡng cung cấp và 55,15% hài lòng với cơ sở vật chất phục vụ người bệnh[39]

Khi nghiên cứu nhu cầu của người bệnh về công tác CSĐD tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, tác giả Trần Ngọc Trung (2012) cho thấy có 93% đến 97,2% người bệnh có nhu cầu về chăm sóc tinh thần; 91,8% đến 98% người bệnh muốn được thay quần áo và ga trải giường; 48,5% đến 73% người bệnh có nhu cầu cần

HUPH

Trang 19

được hỗ trợ vận động, luyện tập phục hồi chức năng và 42,7% đến 56,2% người bệnh cần hỗ trợ vệ sinh cá nhân Trong khi đó, mức độ đáp ứng của các ĐDV đối với các nhu cầu của NB ở các mức độ khác nhau, cụ thể là: 62,1% đế 78,7% NB được đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc tinh thần; 76,6% đến 93,5% được hỗ trợ các hoạt động vệ sinh cá nhân; 65,8% và 67,6% NB được thay ga trải giường và thay quần áo bệnh viện; 91,8% NB được hỗ trợ vận động và chỉ 43,8% NB được hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập phục hồi chức năng[26]

Tác giả Nguyễn Tuấn Hưng khi nghiên cứu thực trạng hoạt động của điều dưỡng tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí (2011) cho thấy có 5/7 nhiệm

vụ được các điều dưỡng thực hiện thường xuyên, đó là: đón tiếp người bệnh, rửa tay thường quy, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, chăm sóc về dinh dưỡng cho người bệnh và cho người bệnh dùng thuốc và theo dõi người bệnh dùng thuốc; 2/7 nhiệm vụ không được các điều dưỡng thực hiện thường xuyên, đó là chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh và chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh

[21]

Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) thực hiện tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) cho thấy: Mức độ hoàn thành chung của 12 nhiệm vụ của điều dưỡng là 60,6%, trong đó mức độ hoàn thành của từng nhiệm vụ theo thứ tự giảm dần như sau: Bảo đảm an toàn, phòng ngừa sai sót chuyên môn (89,2%); ghi chép hồ sơ bệnh án (86,4%); CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật (86,3%); theo dõi, đánh giá người bệnh (85,9%); dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc (76,1%); chăm sóc phục hồi chức năng (73,7%); chăm sóc dinh dưỡng (71,4%); chăm sóc tinh thần (69,5%); CSNB giai đoạn hấp hối/tử vong (63,9%); thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng (57,7%); chăm sóc vệ sinh cá nhân (27,2%) [19] Công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh cũng chưa được các ĐDV thực hiện tốt[19]

Trong nghiên cứu của mình được tiến hành tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014, tác giả Chu Anh Văn đưa ra nhận định: công tác chăm sóc của ĐDV về dinh dưỡng còn chưa đầy đủ, chỉ có 78,9% điều dưỡng biết về nhiệm vụ cân đo người bệnh, báo suất ăn (37,2%), nhắc nhở người bệnh thực hiện chế độ ăn trong suốt quá trình điều trị (60,3%) [11]

HUPH

Trang 20

Khi đánh giá về công tác CSĐD thông qua ý kiến của người bệnh, tác giả Nguyễn Tuấn Hưng đưa ra kết luận người bệnh không thường xuyên nhận được sự chăm sóc của ĐDV ở các hoạt động như: trao đổi, chia sẻ về sức khỏe và bệnh tật khi có nhu cầu (15,2%); hướng dẫn tự chăm sóc hàng ngày (7,6%) và giải thích về bệnh và phương pháp điều trị (3%) [22] Trong khi đó, nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh (2012) lại cho thấy: 4 trong 5 tiêu chí được xếp loại để đánh giá công tác điều dưỡng có tỷ lệ đạt yêu cầu tương đối cao, trên 90%, đó là: tiếp đón người bệnh; chăm sóc về tâm lý, tinh thần; theo dõi, đánh giá người bệnh và thực hiện y

lệnh của bác sĩ [12] Tại Bệnh viện Quân y 110, tác giả Nguyễn Văn Chung (2014)

đã tiến hành khảo sát sự hài lòng của người bệnh/thân nhân người bệnh đến khám

và điều trị nội trú tại bệnh viện Kết quả về công tác chăm sóc điều dưỡng cho thấy người bệnh hài lòng cao với việc thực hiện công khai thuốc hàng ngày (94,85%); Người bệnh cũng hài lòng với công việc chăm sóc của điều dưỡng như trang bị đồ vải (84,79%), và đưa NB đi thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng (75,61%) Tuy nhiên, tỷ lệ hài lòng chỉ đạt mức trung bình khi người bệnh cho rằng đôi khi điều dưỡng vẫn thiếu sự giải thích trước khi thực hiện chăm sóc (chỉ 66,44% hài lòng) [23]

Nguyễn Thùy Châu khi tiến hành nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2014 đưa ra kết luận: ĐDV chỉ làm tương đối tốt các chức năng cơ bản như: theo dõi đánh giá người bệnh (91%); tiếp đón người bệnh (88%); chăm sóc, hỗ trợ tâm lý tinh thần người bệnh (83,2%) Các nội dung hỗ trợ điều trị và phối hợp với bác sỹ; chăm sóc dinh dưỡng hỗ trợ bệnh nhân ăn uống tỷ lệ đánh giá đạt lần lượt là 79,3%; 74% Công tác chăm sóc, hỗ trợ người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày theo đánh giá là chưa được thực hiện tốt, chủ yếu do người nhà chăm sóc 58,5% [20] Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Mai tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn tỉnh Bình Định (2015) cũng cho kết quả tương tự: ĐDV thực hiện tương đối tốt công tác theo dõi, đánh giá người bệnh chiếm 80,6% Các nội dung chăm sóc khác ĐDV thực hiện chưa đạt chiếm tỷ lệ cao như công tác tiếp đón người bệnh chưađạtchiếm75%,côngtácchămsóc,hỗtrợvềtâmlýtinhthầnchongườibệnh

HUPH

Trang 21

chưa đạt chiếm 54,6%, hỗ trợ điều trị và phối hợp trong việc thực hiện y lệnh thuốc

chưa đạt chiếm 89,4% [17]

1.5.1.3 Thực hiện các kỹ thuật điềudưỡng

Một trong những kỹ thuật cơ bản và phổ biến của người điều dưỡng đó là kỹ thuật tiêm Mũi tiêm an toàn (TAT) là mũi tiêm không gây nguy hại cho người được tiêm không gây phơi nhiễm cho người tiêm đối với các nguy cơ có khả năng tránh được và không để lại chất thải nguy hại cho cộng đồng [8] Tiêm không an toàn có thể dẫn đến lây nhiễm các tác nhân gây bệnh đường máu [8] Thấy được tầm quan trọng của kỹ thuật tiêm, một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu kỹ năng thực hành tiêm an toàn của ĐDV

Khảo sát về tiêm an toàn của điều dưỡng-hộ sinh cũng đã được tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh tiến hành tại Bệnh viện phụ sản Tiền Giang năm 2008 Thông qua quan sát thực hành tiêm an toàn của 80 điều dưỡng với 302 mũi tiêm, nghiên cứu đưa ra kết quả: điều dưỡng-hộ sinh rửa tay/ sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm chỉ đạt dưới 15,9%, rút thuốc không đủ liều như sót thuốc, phụt thuốc khi đuổi khí chiếm gần 12%, hơn 20% ĐD-HS còn lưu kim trên lọ sau khi rút thuốc, trên 50% điều dưỡng-hộ sinh không quan sát bệnh nhân (BN) khi tiêm và trên 30% không giúp trở lại tư thế ban đầu sau khi tiêm [18]

Nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh và cộng sự (2013) cho thấy trong 6 bước của qui trình kỹ thuật tiêm trước khi tiến hành can thiệp đều có mức độ tuân thủ thấp Bước chuẩn bị người bệnh là bước có điểm trung bình thấp nhất (1,05+0,23); tiếp đến là bước kỹ thuật tiêm, điểm trung bình chỉ đạt 1,33 +0,47; bước xử lý rác thải là bước có điểm trung bình cao nhất, đạt 1,92+0,26 [15] Nghiên cứu về thực hiện qui trình tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp của ĐDV một số khoa thuộc bệnh viện huyện Bồng Sơn (Bình Định), tác giả Nguyễn Hồng Mai (2016) cũng đã đưa ra kết luận các ĐDV thực hiện quy trình tiêm bắp đạt yêu cầu 48%, truyền dịch đạt chiếm 62% và cao nhất là kỹ thuật tiêm tĩnh mạch đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 82% [17]

Tác giả Quách Thị Hoa và cộng sự khi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017” với bộ công cụ quan sát thực hành tiêm an toàncủa

HUPH

Trang 22

điềudưỡng, đã đưa ra kết luận: 61% ĐDV có kiến thức đạt về tiêm an toàn (TAT)

và 39% ĐDV thực hành đạt về TAT Thao tác sát khuẩn vùng tiêm theo quy định của Bộ Y tế có tỷ lệ đạt thấp (46,6%) và chỉ có 44,5% ĐDV không dùng hai tay để đậy nắp kim tiêm hoặc tháo kim tiêm ra khỏi bơm tiêm[24]

1.5.1.4 Thực hiện các nhiệm vụkhác

Nghiên cứu của Lê Thị Bình (2013) đã sử dụng các phiếu quan sát thực hiện CSNB và bảng kiểm thực hiện qui trình kỹ thuật để khảo sát kỹ năng thực hành của điều dưỡng đã đưa ra kết luận: thực trạng thực hiện quy trình điều dưỡng theo tiêu chuẩn thực hành của điều dưỡng còn yếu Cụ thể: các kỹ năng nhận định, lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện chăm sóc và đánh giá đều ở mức kém và trung bình; kết quả thực hiện các kỹ thuật, thủ thuật chỉ ở mức trung bình và các kỹ năng của ĐDV vẫn còn ở mức kém[14]

Tiến hành khảo sát chức năng chủ động của điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân tại Bệnh viện An Giang, tác giả Lê Thị Tuyết Nga (2008) cho thấy: phần lớn điều dưỡng chưa thật sự quan tâm đến trạng thái tinh thần, thể chất của người bệnh Công việc cơ bản của người điều dưỡng chỉ là theo dõi dầu hiệu sinh tồn và quan tâm sự an toàn của người bệnh [16]

1.5.2 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của điềudưỡng

1.5.2.1 Các yếu tố nhân khẩuhọc

Giới tính của điều dưỡngcũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh Tác giả Ozdemir (2008) khi nghiên cứu về vai trò của ĐDV nam ở Thổ Nhĩ Kỳ đã đưa ra kết luận: nghề điều dưỡng vẫn được coi là nghề phù hợp cho phái nữ, nhưng trong một vài hoạt động CSNB vẫn cần có điều dưỡng nam Có 47,8% sinh viên điều dưỡng nam tin rằng với sức mạnh thể chất nam giới sẽ cải thiện được chất lượng CSNB, đặc biệt là ở các khu vực: hồi sức tích cực (ICU), phòng mổ, khoa cấp cứu, còn khoa Nhi là nơi làm việc thích hợp cho điều dưỡng nữ[27]

Khi nghiên cứu về chức năng chủ động của điều dưỡng trong CSNB tại Bệnh viện An Giang năm 2008, tác giả Lê Thị Tuyết Nga nhận thấy các nhóm tuổi khác

HUPH

Trang 23

nhau có quan tâm, chăm sóc dấu hiệu sinh tồn, thể chất, an toàn cho người bệnh khác nhau Nhóm tuổi trên 40 tuổi chăm sóc tinh thần cho người bệnh tốt hơn các nhóm tuổi còn lại (p<0,05) [16]

Tác giả như Dương Thị Bình Minh (2012), trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của điều dưỡng có ảnh hưởng đến hoạt động CSNB, các điều dưỡng mới ra trường chưa đáp ứng được các yêu cầu của công việc [12] Một số tác giả khác như Lê Thị Bình (2013), Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) và Nguyễn Hồng Mai (2016) cũng đưa ra kết luận: thâm niên công tác, trình độ chuyên môn của điều dưỡng có ảnh hưởng đến hoạt động CSNB của các ĐDV [14, 17,19]

1.5.2.2.Điều kiện làm việc, áp lực công việc

Khi tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng chăm sóc điều dưỡng, phần lớn các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, môi trường làm việc là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất

Kết quả nghiên cứu của Masahiro Shimzutani (2008) cho thấy, khi điều dưỡng làm việc quá sức sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn thần kinh, stress, từ đó sẽ có những hành vi, thái độ không tốt đối với người bệnh khi thực hiện chăm sóc [37] Trong khi đó, 38% điều dưỡng ở Trung Quốc làm việc quá sức, 45% không hài lòng với công việc và 36% bệnh viện được nghiên cứu có mức độ an toàn cho người bệnh thấp[40]

Từ các kết quả nghiên cứu, một số tác giả đã đưa ra khuyến nghị: Khi môi trường làm việc được cải thiện thì chất lượng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng cũng được nâng cao Nghiên cứu của Kelly Scott (2010) cùng với Cơ quan nghiên cứu chất lượng chăm sóc sức khỏe y tế và dịch vụ nhân sinh Mỹ đã chỉ ra rằng, số lượng điều dưỡng có liên quan trực tiếp đến chất lượng chăm sóc người bệnh Những bệnh viện có số lượng điều dưỡng đông thì chất lượng chăm sóc cao hơn hẳn các bệnh viện khác [34] và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện đó thấp hơn [32] Bên cạnh đó, trình độ của điều dưỡng, hoạt động tập huấn nâng cao trình độ cho điều dưỡng cũng là những yếu tố làm tăng chất lượng cung cấp dịch vụ CSĐD cho NB [29, 31, 34] Năm 2014, Danielle Fabiana Cucolo và Márcia Galan Perroca tiến hành nghiên cứu định tính trên 20 điều dưỡng nhằm tìm hiểu các yếu tố liênquan

HUPH

Trang 24

đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Qua nghiên cứu của mình, hai tác giả đã đưa ra kết luận: có 4 yếu tố chính liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc điều dưỡng, đó là 1) Lập kế hoạch, can thiệp và đánh giá chăm sóc; 2) Chương trình đào tạo cho điều dưỡng; 3) Nhân lực thực hiện chăm sóc điều dưỡng và 4) Sự phối hợp với đồng nghiệp [32]

Theo tác giả Lê Thị Tuyết Nga (2008), Dương Thị Bình Minh (2012), thiếu nhân lực, quá tải công việc là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện đầy đủ các hoạt động CSNB của ĐDV [12,16]

1.5.2.3 Sự quan tâm của các cấp liên quan

Bên cạnh đó, trình độ của điều dưỡng, hoạt động tập huấn nâng cao trình độ cho điều dưỡng cũng là những yếu tố làm tăng chất lượng cung cấp dịch vụ CSĐD cho NB [29, 31, 34] Năm 2014, Danielle Fabiana Cucolo và Márcia Galan Perroca tiến hành nghiên cứu định tính trên 20 điều dưỡng nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc điều dưỡng Qua nghiên cứu của mình, hai tác giả đã đưa ra kết luận: có 4 yếu tố chính liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc điều dưỡng, đó là 1) Lập kế hoạch, can thiệp và đánh giá chăm sóc; 2) Chương trình đào tạo cho điều dưỡng; 3) Nhân lực thực hiện chăm sóc điều dưỡng

và 4) Sự phối hợp với đồng nghiệp[32]

Ở Việt Nam, những yếu tố nào có ảnh hưởng/tác động đến hoạt động chăm sóc người bệnh cũng như việc thực hiện các quy trình kỹ thuật của ĐDV? Theo các tác giả Lê Thị Tuyết Nga (2008), Dương Thị Bình Minh (2012), Lê Thị Bình (2013), Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) và Nguyễn Hồng Mai (2016) mức độ hài lòng với công việc đang làm; sự hỗ trợ từ đồng nghiệp; sự quan tâm của lãnh đạo;

sự phân công công việc hợp lý và đảm bảo thu nhập ổn định là những yếu tố làm tăng năng lực của điều dưỡng, đồng thời làm tăng hiệu quả CSNB của điều dưỡng

[12, 14, 16, 17, 19] Các yếu tố khác như: thiếu sơ sở hạ tầng, trang thiết bị; hạn chế

trong kiểm tra, giám sát; sự phối hợp giữ các khoa/phòng chưa tốt đã ảnh hưởng tiêu cực đến công tác CSNB của điều dưỡng [12,17]

HUPH

Trang 25

1.6 Sơ lược về Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa và khoa Nội Tim mạch-Lão học

Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế Khánh Hòa Bệnh viện hiện có:

- Chỉ tiêu được giao 1000 giườngbệnh;

- 21 Khoa Lâm sàng, 8 Khoa Cận lâm sàng, 9 Phòng chức năng và 01 Trung tâm dịchvụ;

- Tổng số nhân lực là: 1261 người, trong đó có 02 Tiến sĩ, 56 Thạc sĩ,14 BSCKII, 77 BSCKI, 92 Bác sỹ; 23 Cử nhân điều dưỡng và 187 Điều dưỡng cao đẳng, 313 Điều dưỡng trung cấp, 20 Y sỹ làm công tác điều dưỡng, 03Cử nhân hộ sinh, 06 Hộ sinh cao đẳng và 33 Hộ sinh trung cấp; 19 Kỹ sư; 23 Cử nhân khác; 7 Dược sỹ đại học; 28 Dược cao đẳng và trung cấp; 12 Dược tá; 06 Cử nhân XN; 91

Kỹ thuật viên cao đẳng và trung cấp; 11 CN kế toán; 33 Kế toán trung cấp; 146 Hộ

lý và nhân viên khác là 60[25]

Là Bệnh viện tuyến đầu của tỉnh Khánh Hòa, trong những năm qua, Bệnh viện đã có những bước phát triển đáng kể: nhân lực tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị được đầu tư đúng mức vì thế chất lượng khám chữa bệnh ngày càng tăng lên và đã tạo được lòng tin trong nhân dân, ngày càng có nhiều bệnh nhân đến khám và điều trị

Khoa Nội Tim mạch-Lão học là 1 trong 21 khoa lâm sàng của bệnh viện, hoạt động lĩnh vực: Khám, điều trị và chăm sóc cho người mắc bệnh lý về tim mạch (Không can thiệp); bệnh lý lão khoa, bệnh nhân lớn tuổi, bệnh mãn tính (lão suy, tai biến mạch máu não, suy tim, tăng huyết áp, suy thận mạn, suy tĩnh mạch chi…) Trước đây khoa Nội Tim mạch-Lão học phục vụ chung cho NB là dân,cán

bộ hưu trí và công nhân viên Do số lượng cán bộ hưu, người có công Cách mạng được quyền ưu tiên từ chính sách xã hội, theo chủ trương của đó Ủy Ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có quyết định thành lập khoa Nội Cán bộ riêng Do đó khoa Nội Tim mạch-Lão học hiện tại chỉ tiếp nhận NB là dân, công nhân viên khối Doanh nghiệp, các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tổng nhânlực

HUPH

Trang 26

của khoa gồm 69 người, trong đó có 04 ThS.BS; 08 BSCKI; 05 BS; 03 CNĐD; 18 ĐDCĐ; 24 ĐDTC; 07 Hộ lý [25]

1.7 Khung lýthuyết

Khung lý thuyết của vấn đề được xây dựng dựa trên Thông tư 07/2011/TT- BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về CSNB trong bệnh viện và Tiêu chuẩn đánh giá mức độ thực hành chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng của Hội Điều dưỡng Việt Nam [7, 13]

Có nhiều phương pháp đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng viên, trong nghiên cứu này, đánh giá thực hiện 12 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng được tiến hành thông qua phỏng vấn người bệnh và quan sát điều dưỡng thực hiện 2 nhiệm vụ tư vấn GDSK và kỹ thuật là tiêm bắp; Ngoài ra phương pháp định tính cũng được sử dụng để đánh giá về hoạt động của điều dưỡng và tìm yếu tố ảnh hưởng

Người bệnh là đối tượng chăm sóc trực tiếp của điều dưỡng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ Do vậy, chính người bệnh đánh giá về hoạt động chăm sóc của điều dưỡng sẽ là một kênh đánh giá có giá trị, đồng thời nó cũng phản ánh được chỉ số quá trình chăm sóc người bệnh.Tuy nhiên, trong khuôn khổ của nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy có một số hoạt động đặc thù của ĐDV, không phù hợp khi lấy ý kiến đánh giá từ phía NB Chính vì vậy, chúng tôi đã không đề cập đến các yếu tố này trong nghiên cứu, đó là: chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và tử vong, ghi chép HSBA, đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong CSNB

Do điều kiện về thời gian và nhân lực hạn chế, phần quan sát, chỉ tiến hành quan sát điều dưỡng thực hiện 01 nhiệm vụ là tư vấn GDSK và 01 kỹ thuật là tiêm

bắp(02 nhiệm vụ này được bôi đen và đánh (*) trong khung lý thuyết).Mặc dù chỉ

quan sát điều dưỡng viên thực hiện 2/12 nhiệm vụ, nhưng kết quả quan sát hai nhiệm vụ chính này cũng có thể đại diện cho các hoạt động nhiệm vụ khác mà điều dưỡng viên thực hiện, đồng thời cũng đủ để đáp ứng mục tiêu 1 của nghiên cứu Tuy nhiên đây cũng là điểm hạn chế của nghiên cứu

HUPH

Trang 27

10 Theo dõi, đánh giá

ngườibệnh;

11 Bảo đảm an toàn

và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trongCSNB;

12 Ghi chép hồ sơ

bệnhán

KẾT QUẢ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH

- Hoạt động kiểmtra,

giámsát

- Hoạt động đào tạo,tập

huấn nâng cao trìnhđộ

- Chế độ khenthưởng

BV/

ĐẠO LÃNH

ĐIỀU

VIỆC:

HUPH

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiêncứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

- Người bệnh điều trị nội trú từ ngày thứ 3 trở lên tại khoa Nội Tim mạch- Lão học và đồng ý tham gia nghiêncứu

Lý do: chọn NB từ ngày thứ 3 trở lên vì đến thời điểm đó NB đã nhận được

sự chăm sóc nhiều từ ĐD, đã cảm nhận được ĐDV chăm sóc tốt hay không tốt và

có được nhận xét khá chính xác về hoạt động chăm sóc NB của ĐDV

- Điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh tại khoa Nội Tim mạch- Lãohọc

Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh không có khả năng tự trả lời các câu hỏi của điều traviên

- Các điều dưỡng làm công tác hành chính hoặc không có mặt tại thời điểm nghiêncứu

2.1.2 Nghiên cứu định tính

Lãnh đạo BV, Điều dưỡng trưởng BV, Điều dưỡng trưởng và ĐDV khoa Nội Tim mạch-Lão học,đại diện người bệnh

2.2 Thời gian và địa điểm nghiêncứu

2.2.1 Thời gian nghiêncứu

Từ tháng 02 đến tháng 8 năm 2018

2.2.2 Địa điểm nghiêncứu

Khoa Nội Tim mạch-Lão học Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa

HUPH

Trang 29

n: số người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện để phỏng vấn

Z2 = 1,96 với độ tin cậy95%

p:làtỷlệ ngườibệnhđánhgiáđượcĐDVchămsóctốtvớip=0,8(tỷlệ ĐDVhoànthànhtốtnhiệmvụtheođánhgiácủangườibệnhtrong nghiêncứu của Nguyễn Hồng Mai, p= 80,6%)

b/ Cỡ mẫu và chọn mẫu cho quan sát trực tiếp một số hoạt động CSNB của điều dưỡng

Chọn mẫu toàn bộ: Tất cả ĐDV trực tiếp làm công tác CSNB tại khoa Nội Tim mạch-Lão học và không thuộc các tiêu chuẩn loại trừ, đều được chọn vào nghiên cứu.Có 45ĐDV đủ tiêu chuẩn lựa chọn đã được mời tham gia vào nghiên cứu Thực tế chúng tôi đã quan sát được 40 ĐDV Lý do: tại thời điểm nghiên cứu

HUPH

Trang 30

có 01 ĐDV nghỉ thai sản, 04 ĐDV đi học và đi công tác

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập sốliệu

2.5.1 Công cụ thu thập sốliệu

2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu địnhlượng

- Đối với phiếu phỏng vấn người bệnh: Phiếu phỏng vấn được xây dựng dựa trên

Thông tư 07/2011 của Bộ Y tế TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về CSNB trong bệnh viện và được thử nghiệm trên 10 người bệnh để kiểm định sự phù hợp

trước khi đưa vào thực hiện (Phụ lục 1,trang70)

- Quan sát hoạt động của ĐDV: Do thời gian và nguồn lực hạn chế, trong khuôn

khổ đề tài này chúng tôi chỉ quan sát trực tiếp 02 hoạt động CSNB của ĐDV, đó là hoạt động tư vấn GDSK cho người bệnh và hoạt động thực hiện y lệnh tiêm bắp cho ngườibệnh

Hoạt động tư vấn GDSK: Bảng kiểm được xây dựng dựa trên Thông tư 07/TT-BYT ngày 26/01/2011 Hướng dẫn công tác điều dưỡng về CSNB trong bệnh viện; Tiêu chuẩn đánh giá mức độ thực hành chức năng nhiệm vụ của điều

dưỡng tại các khoa lâm sàng của Hội Điều dưỡng Việt Nam (Phụ lục 2, trang72)

Bảng kiểm được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức

Thực hiện quy trình tiêm bắp theo Bảng kiểm của Quyết định 3671/QĐ- BYT ngày 27/9/2012 của Bộ Y tế về việc phê duyệt các Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn - Mục Hướng dẫn tiêm an toàn và dựa trên bảng kiểm của bệnh viện

(Phụ lục 3, trang82)

HUPH

Trang 31

2.5.1.2 Công cụ thu thập số liệu địnhtính

Hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thiết kế riêng cho từng đối tượng nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp thu thập sốliệu

2.5.2.1 Thu thập số liệu địnhlượng

❖ Phỏng vấn ngườibệnh:

- Điều tra viên: là 03 điều dưỡng viên thuộc phòng điều dưỡng của bệnh viện

Để đảm bảo thông tin thu thập được chính xác, khách quan, các điều tra viên (ĐTV) không giới thiệu cho người bệnh biết ĐTV là người của phòng điều dưỡng

- Giám sát viên: là nghiên cứuviên

đủ thông tin và đủ cỡmẫu

NCV thực hiện giám sát hỗ trợ các ĐTV trong quá trình thu thập số liệu, đồng thời kiểm tra sự phù hợp của các thông tin trong các phiếu phỏng vấn Khi thấy các thông tin có sự không phù hợp, NCV yêu cầu ĐTV thu thập bổ sung

❖ Quan sát hoạt động củaĐDV:

- Quan sát viên:là 3 cán bộ phòng điều dưỡng đã được tập huấn kỹ về nội

dung của bộ công cụ, thống nhất cách quan sát và cách đánh giá mức độ đạt dựa theo bảng kiểm hướng dẫn tiêu chí đánh giá đã được thiết kếsẵn

- Giám sát viên:NCV giám sát và kiểm tra các phiếu quan sát thu thập được

theo từngngày

- Cách thức thu thậpsố liệu quan sát:Mỗi ĐDV đã được quan sát 3 lần liên

tiếp cho hoạt động tư vấn GDSK và 3 lần liên tiếp cho hoạt động thực hiện

kỹ thuật tiêm bắp trong thời gian nghiêncứu

Do đặc điểm của bệnh viện, việc CSNB chủ yếu diễn ra trong giờ hành

HUPH

Trang 32

chính nên chúng tôi đã tiến hành quan sát ĐDV tại các thời điểm mà hoạt động chăm sóc của điều dưỡng được diễn ra nhiều nhất, đó là vào thời gian sáng từ 8 giờ đến 10 giờ, chiều từ 14 giờ đến 16 giờ;chúng tôi không thực hiện quan sát vào thứ

2.5.2.2 Thu thập số liệu địnhtính

- Phiếu Hướng dẫn PVS được dùng để thu thập thông tin từ Lãnh đạo BV, Trưởng phòng Điều dưỡng, Điều dưỡng trưởng khoa Nội Tim mạch-Lão học

(Phụlục 4,trang85)

- Phiếu Hướng dẫn TLN được dùng để thu thập thông tin từ các ĐDV của

khoa Nội Tim mạch-Lão học (Phụ lục 5,trang87)

- TLN người bệnh: NB đồng ý tham gia nghiên cứu được thông báo trước thời gian và được mời đến phòng giao ban của bệnh viện để các đối tượng có thể trình bày quan điểm của mình mà không chịu bất kỳ áp lực nào từ bên ngoài Đã

có 10 người bệnh tham giaTLN

- TLN điều dưỡng: ĐDV đồng ý tham gia nghiên cứu được thông báo trước thời gian Địa điểm thực hiện TLN là phòng Hành chính khoa Nội Tim mạch- Lão học để thuận lợi cho hoạt động của các ĐDV Thực tế đã có 10 ĐDV tham gia vào TLN trong nghiên cứu của chúngtôi

- 03 đối tượng PVS được đặt trước lịch hẹn Các cuộc PVS đã được tiến hành tại phòng làm việc của các đối tượng, tạo sự thoải mái cho cả NCV và đối tượng nghiêncứu

- Các cuộc PVS, TLN đã được chúng tôi tiến hành và ghi âm khi có sự đồng

ý của đối tượng nghiêncứu

- Nghiên cứu viên đã trực tiếp phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu Đối vớithảoluậnnhóm,NCVchủtrìcuộcthảoluậnnhóm,đồngthờicóthưkýghi

HUPH

Trang 33

chép nội dung chính, kết quả của cuộc thảo luận nhóm

2.6 Phương pháp phân tích sốliệu

2.7 Biến số nghiêncứu

- Nhóm biến số về thông tin nhân khẩu học của người bệnh: tuổi, giới, nghề nghiệp…

- Nhóm biến số về thông tin nhân khẩu học của Điều dưỡng: tuổi, giới, trình

độ chuyên môn, thâm niên côngtác…

- Nhóm biến số về các tiêu chí đánh giá hoạt động chăm sóc điều dưỡng thông qua người bệnh: chăm sóc người bệnh; hỗ trợ điều trị, phối hợp bác sĩ; tư vấn, hướng dẫn GDSK cho ngườibệnh…

- Nhóm biến số về các chỉ số đánh giá hoạt động của điều dưỡng: hướng dẫn nội qui, qui định; hướng dẫn quyền và nghĩa vụ của người bệnh, kỹ thuật tiêm bắp…

- Nhóm biến số định tính: áp lực công việc, điều kiện làm việc, quan hệ

đồng nghiệp… (Phụ lục 8, trang93)

2.8 Cách đánh giá trong nghiêncứu

Hiện nay, Bộ Y tế chưa đưa ra một tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá hoạt động chăm sóc điều dưỡng của ĐDV Qua tham khảo các nghiên cứu của tác giả Dương Thị Bình Minh (2012) và Nguyễn Hồng Mai (2016), trong khuôn khổ của nghiên

HUPH

Trang 34

cứu này, chúng tôi tiến hành đánh giá hoạt động chăm sóc điều dưỡng của ĐDV như sau:

- Đối với hoạt động Tư vấn GDSK: có 8 bước, mỗi bước ĐDV “Thực hiện tốt”

được 1 điểm, “Thực hiện nhưng chưa tốt” được 0,5 điểm và “Không thực hiện” là

0 điểm.Tổng điểm tối đa trung bình của 3 lần quan sát là 8 điểm Điểm cắt 6.4 được chọn sẽ bằng 80% của tổng điểm Dovậy:

Đánh giá Tư vấn giáo dục sức khỏe “Đạt” khi có tổng điểm trung bình của

cả 3 lần quan sát > 6,4 điểm

Tư vấn giáo dục sức khỏe “Chưa đạt” khi có tổng điểm trung bình của cả 3

lần quan sát < 6,4 điểm.(Phụ lục 6, trang89)

-Đối với hoạt động thực hiện kỹ thuật tiêm bắp: có 22 bước, mỗi bước ĐDV

“Thực hiện” được 1 điểm, “Không thực hiện” là 0 điểm Tổng điểm tối đa trung bình của 3 lần quan sát là 22 điểm Điểm cắt 17.6 được chọn sẽ bằng 80% của tổng điểm Do vậy:

ĐDV được đánh giá là “Đạt” phải có tổng điểm trung bình của 3 lần quan sát > 17,6,

Đánh giá “Chưa đạt” khi tổng số điểm trung bình của 3 lần quan sát<17,6

điểm(Phụ lục 7, trang91)

Việc đánh giá các nội dung chăm sóc khi khảo sát ý kiến người bệnh/NNBN về công tác CSNB của điều dưỡng là một dạng đánh giá chỉ số quá trình và được tính nhưsau:

- Phần I: Chăm sóc người bệnh Phần này gồm có 6 mục với 21 câu hỏi Kết quả được mô tả riêng cho từng câu và bệnh nhân đánh giá hoạt động của điều dưỡng theo các mức độ thực hiện, thực hiện tốt và không thựchiện

- Phần II: Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ Phần này gồm có

12 câu hỏi Kết quả được mô tả riêng cho từng câu và bệnh nhân đánh giá hoạt động của điều dưỡng theo các mức độ thực hiện, thực hiện tốt và không thực hiện

- Phần III: Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh Phần này gồm có8câuhỏi.Kếtquảđượcmôtảriêngchotừngcâuvàbệnhnhânđánhgiáhoạt

HUPH

Trang 35

động của điều dưỡng theo các mức độ thực hiện, thực hiện tốt và không thực hiện

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn, phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiêncứu

- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được bảo mật Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nàokhác

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa và Lãnh đạo khoa Nội Tim mạch-Lão học quan tâm, ủnghộ

- Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông quatheo Quyết định số 158/2018/ YTCC-HĐ3 ngày 02 tháng 4 năm2018

2.10 Hạn chế và các biện pháp khắcphục

2.10.1 Hạnchế

- Do nguồn lực và thời gian hạn chế, nên đánh giá thực hiện nhiệm vụ chăm sóc của điều dưỡng chỉ được thực hiện thông qua phỏng vấn người bệnh và quan sát điều dưỡng thực hiện 2/12 nhiệm vụ Tuy nhiên kết quả nghiên cứu đã đáp ứng được mục tiêu do người bệnh tự đánh giá điều dưỡng qua hầu hết các nhiệmvụ

- Nghiên cứu có một số câu hỏi đòi hỏi NB/NNNB phải nhớ lại các hoạt động chăm sóc đã được thực hiện nên sẽ gặp phải sai số nhớlại

- Người bệnh/NNNB có tâm lý e ngại, sợ không được quan tâm nên sẽ không dám trả lời thật những công việc chưa làm được của điềudưỡng

- Việc quan sát trực tiếp công việc của điều dưỡng phụ thuộc một phần vào nhận định chủ quan của ĐTV nên có thể sẽ không có được kết quả chính xác tuyệtđối

Trang 36

bệnh/NNNB để tạo không khí thoải mái, cởi mở trong quá trình thực hiện

- Sử dụng QSV là nhân viên Phòng Điều dưỡng bệnh viện có nhiều kinh nghiệm trong việc giám sát hàng ngày công việc của điều dưỡng để hạn chế saisót

HUPH

Trang 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1 Việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của điều dưỡng tại Khoa Nội Tim mạch- Lãohọc

3.1.1 Công tác CSNB của điều dưỡngqua phỏng vấnNB

3.1.1.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiêncứu

Những thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu được trình bày trong bảng dưới đây

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu(n=270)

Trang 38

Tiếp đón niềm Hướng dẫn về Hướng dẫn về nở,chu đáo thủtụchành quyền lợivà

3.1.1.2 Hoạt động CSNB của điều dưỡng qua phát vấnNB/NNNB

Tiếp đón người bệnh là một trong những hoạt động CSNB của ĐDV Hoạt động này được đánh giá qua 3 tiêu chí: tiếp đón niềm nở, chu đáo; hướng dẫn về thủ tục hành chính và hướng dẫn về quyền lợi và nghĩa vụ

3.1.1.2.1 Tiếp đón ngườibệnh

Biểu đồ 3.1 Hoạt động tiếp đón người bệnh của ĐDV(n= 270)

HUPH

Trang 39

Biểu đồ 3.1 biểu diễn kết quả đánh giá của người bệnh về hoạt động tiếp đón người bệnh của ĐDV ở 3 nội dung: tiếp đón niềm nở chu đáo, hướng dẫn về thủ tục hành chính, hướng dẫn về quyền lợi và nghĩa vụ Có 94,4% người bệnh đánh giá nội dung “tiếp đón niềm nở, chu đáo” đã được thực hiện tốt, chỉ còn 5,6% người bệnh đánh giá thực hiện chưa tốt 91,6% người bệnh đánh giá nội dung

“hướng dẫn về thủ tục hành chính” đã được thực hiện tốt, 8,1% đánh giá thực hiện chưa tốt 95,2% người bệnh đánh giá nội dung “hướng dẫn về quyền lợi và nghĩa vụ” đã được thực hiện tốt, 4,8% đánh giá thực hiện chưa tốt Nghiên cứu định tính cũng cho kết quả tương đồng.Khi được hỏi, NB và ĐDV đều cho biết công tác tiếp đón NB được các ĐDV của khoa thực hiện nhiệt tình và kịpthời

“… Các điều dưỡng ở đây rất nhiệt tình, không chê được, sắp xếp giường,

hướng dẫn các quy định cho người bệnh rất tận tình…” (TLN NB)

“…Tại phòng nhận bệnh, điều dưỡng và bác sĩ tiếp đón niềm nở, khẩn trương phân loại bệnh, ưu tiên cho các bệnh nhân nặng…” (PVS ĐD2)

3.1.1.2.2 Chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ănuống

Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ăn uống được đánh giá qua 7 tiêu chí thế hiện ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Kết quả chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ăn uống (n=270)

2 ĐDV giải thích lý do tại sao nên và

không nên ăn loại thực phẩm nào đó

Trang 40

“…Tất cả các trường hợp bệnh nhân nhập vào khoa điều trị đều được nhân viên y tế sàng lọc và tư vấn dinh dưỡng hợp lý…Đối với những trường hợp bệnh nhân nặng suy dinh dưỡng, bệnh nhân ăn uống kém thì mời chuyên khoa dinh dưỡng hội chẩn và tiết chế dinh dưỡng phù hợp với từng bệnh lý…” (TLN ĐD)

3.1.1.2.3 Chăm sóc, hỗ trợ người bệnh vệ sinh hàngngày

Kết quả hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người bệnh vệ sinh hàng ngày của các ĐDV qua đánh giá của người bệnh được thể hiện qua bảng 3.3

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w