PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Học sinh thừa cân béo phì đang học trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9) tại trường THCS Đống Đa và Phương Mai, thành phố Hà Nội
Phụ huynh (cha mẹ/người nuôi dưỡng trẻ chính) của những học sinh thừa cân béo phì nói trên
* Tiêu chuẩn lựa chọn: Đồng ý tham gia nghiên cứu
Có khả năng tham gia cân, đo nhân trắc, vòng eo, lấy máu và trả lời phỏng vấn
Không đồng ý tham gia nghiên cứu Điều kiện sức khỏe không thể tham gia cân, đo nhân trắc, vòng eo, lấy máu và trả lời phỏng vấn
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: 1/2015 đến 7/2015 Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Đống Đa và trường THCS Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ:
Trong đó: n: Số trẻ cần điều tra
HUPH p: Ước lượng tỷ lệ mắc HCCH trên trẻ thừa cân, béo phì (Theo nghiên cứu của Hà Văn Thiệu p = 31,37%)
Z: hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì Z =1,96 α: mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5% d: sai số cho phép = 0,05
Tính ra được cỡ mẫu điều tra là 330 đối tượng
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Bước đầu tiên là lập danh sách tất cả học sinh TC BP trong độ tuổi từ 11 đến 15 tại hai trường THCS Đống Đa và THCS Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội, với tổng số học sinh là 1233.
Bước 2: Sau khi lập danh sách theo lớp tuổi các đối tượng TC BP, tính khoảng cách mẫu k = N/n, với N là tổng số đối tượng TC BP là 1233 và n là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 330 Kết quả tính được k = 4 Tiếp theo, tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống với khoảng cách k đã tính.
Bước 3: Tại mỗi lớp tuổi, ngẫu nhiên chọn 1 đối tượng từ 4 đối tượng đầu tiên trong danh sách làm điểm xuất phát Các đối tượng tiếp theo được chọn theo nguyên tắc cách đối tượng đầu tiên 4 đơn vị Nếu gọi R là đối tượng đầu tiên được chọn, thì đối tượng thứ 2 sẽ là R + 4.
4 sẽ là R + 2.4 Cứ như vậy cho đến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu là 330 đối tượng
Tuổi Tổng số trẻ TC-BP
Số trẻ cần xác định HCCH
Trong trường hợp không tiếp cận được với đối tượng hoặc đối tượng không đồng ý tham gia tiếp nghiên cứu, chọn người tiếp theo trong danh sách đối tượng
TC BP tương ứng với từng độ tuổi để thay thế Phụ huynh của 330 học sinh TC
BP cũng được chọn để tiến hành phỏng vấn.
Phương pháp thu thập số liệu và các tiêu chí đánh giá
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đã tiến hành đo vòng eo, huyết áp và xét nghiệm máu cho 330 đối tượng nhằm chẩn đoán hội chứng chuyển hóa (HCCH) Đồng thời, phỏng vấn 330 đối tượng và phụ huynh của họ để tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố này.
2.5.1.1 Thu thập số liệu nhân trắc Đo vòng eo: Đo bằng thước dây không co giãn, kết quả ghi theo cm với một số lẻ Đo vòng eo theo hướng dẫn của WHO: Đối tượng đứng thẳng, trọng lượng dồn đều lên 2 chân Đo vòng eo ở mốc giữa xương sườn 12 và gai chậu trước trên thời điểm đối tượng thở ra hết, vòng dây thước song song với mặt phẳng ngang
2.5.1.2 Thu thập số liệu lâm sàng và cận lâm sàng Đo huyết áp: Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) với dụng cụ sử dụng là huyết áp điện tử OMRON Đối tượng được đo huyết áp 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 phút Kết quả được ghi theo đơn vị mmHg với số trung bình của lần đo thứ 2 và thứ 3
Xét nghiệm sinh hóa yêu cầu lấy 5 ml máu tĩnh mạch khi đói, với thời gian nhịn ăn từ 10 đến 16 tiếng Mẫu máu sẽ được cho vào ống chống đông, sau đó ly tâm để lấy huyết thanh, và được bảo quản lạnh trước khi gửi về labo sinh hóa của Viện Dinh dưỡng để thực hiện các xét nghiệm Triglycerid, HDL C và Glucose máu.
2.5.1.3 Thu thập số liệu để tìm hiểu mối liên quan
Phỏng vấn về thói quen ăn uống, hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ khác được thực hiện theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Bộ câu hỏi đã được thiết kế và thử nghiệm trước khi triển khai, bao gồm hai phần: phỏng vấn trẻ em và phỏng vấn phụ huynh hoặc người chăm sóc trẻ.
HUPH sẽ tiến hành phỏng vấn phụ huynh khi họ đưa con đến trường để đo vòng eo, huyết áp và lấy máu Nếu phụ huynh không thể đến trường do bận rộn, điều tra viên sẽ liên hệ qua email hoặc điện thoại để thực hiện phỏng vấn Phương pháp này phù hợp với địa bàn nghiên cứu.
Hà Nội nơi các phụ huynh có trình độ dân trí cao, sử dụng email và điện thoại thường xuyên
2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu
* Bước 1: Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu
Xây dựng kế hoạch đo vòng eo, huyết áp và xét nghiệm hóa sinh
Xây dựng kế hoạch phòng chống sốc cho học sinh khi lấy máu, hủy mẫu máu khi xét nghiệm xong
Bộ câu hỏi phỏng vấn được xây dựng dựa trên khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các nghiên cứu liên quan đến thói quen ăn uống, hoạt động thể lực, cùng với các yếu tố nguy cơ của Hội chứng chuyển hóa Sau khi hoàn thiện, bộ câu hỏi sẽ được thử nghiệm và điều chỉnh nếu cần thiết để đảm bảo phù hợp với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu.
Bước 2: Tập huấn cho cán bộ đo vòng eo, đo huyết áp, phỏng vấn và kỹ thuật viên lấy máu của Viện Dinh dưỡng, dự kiến khoảng 8 người Kỹ thuật viên lấy máu sẽ thuộc Khoa Hóa sinh và Chuyển hóa Dinh dưỡng, trong khi cán bộ đo vòng eo, đo huyết áp và phỏng vấn sẽ đến từ Khoa Dinh dưỡng và Các bệnh mạn tính không lây cùng một số khoa phòng liên quan.
+ Mục đích cuộc điều tra + Tập huấn kỹ thuật chuẩn: đo vòng eo, đo huyết áp, lấy máu, phỏng vấn đối tượng và phòng chống sốc cho học sinh
* Bước 3: Điều tra, giám sát
Sau khi hoàn tất tập huấn, các điều tra viên và kỹ thuật viên sẽ liên hệ với Lãnh đạo cùng các thầy cô liên quan tại hai trường để nhận danh sách học sinh cần được điều tra.
Các điều tra viên và kỹ thuật viên bắt đầu quá trình điều tra bằng cách nhận biểu mẫu và kế hoạch Giám sát viên sẽ đồng hành cùng các điều tra viên để quan sát các bước như đo vòng eo, đo huyết áp, phỏng vấn và lấy máu từ 5 đối tượng, nhằm kịp thời hỗ trợ và khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra.
* Bước 4: Thu thập mẫu xét nghiệm và phiếu phỏng vấn
Sau khi hoàn tất việc thu thập, điều tra viên và kỹ thuật viên gửi phiếu phỏng vấn cùng mẫu xét nghiệm cho giám sát viên Giám sát viên sẽ kiểm tra số lượng và chất lượng của các phiếu và mẫu, đồng thời thực hiện kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu phỏng vấn và mẫu xét nghiệm Nếu không đạt yêu cầu, điều tra viên hoặc kỹ thuật viên sẽ phải thực hiện lại quy trình.
2.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá
2.5.3.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ số BMI [21] Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em từ 5 đến 19 tuổi dựa trên chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index BMI) theo tuổi bằng công thức:
BMI = cân nặng/chiều cao bình phương (kg/m 2 )
Ở lứa tuổi vị thành niên, cơ thể đang trong giai đoạn phát triển và chiều cao chưa ổn định, do đó không thể áp dụng một ngưỡng BMI giống như người lớn Thay vào đó, cần đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào BMI theo tuổi và giới tính của trẻ.
Sử dụng quần thể tham khảo của WHO với các điểm ngưỡng sau: Điểm ngưỡng Nhận định
2SD ≤ BMI ≤ + 1SD Bình thường
BMI < 2SD Suy dinh dưỡng
BMI < 3SD Suy dinh dưỡng nặng
2.5.3.2 Đánh giá tình trạng mắc HCCH
Xác định HCCH theo tiêu chuẩn của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) đối với trẻ em thừa cân béo phì theo tiêu chuẩn của WHO
Theo tiêu chuẩn của IDF [50], xác định HCCH khi có béo bụng tiêu chí tiên quyết và thêm 2 yếu tố trong số 4 yếu tố còn lại:
Béo bụng (béo phì trung tâm) khi vòng eo ≥ 90 th percentile (Theo tiêu chuẩn vòng eo của người Hồng Kông (châu Á) [46] phụ lục 8, 9 trang 112, 113)
Rối loạn Triglycerid khi Triglycerid ≥ 150 mg/dL (1,7mmol/l)
Rối loạn HDL C khi HDL C ≤ 40 mg/dL (1,03 mmol/l)
Rối loạn Huyết áp khi Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc HA tâm trương
Rối loạn Glucose máu khi Glucose máu lúc đói ≥ 100 mg/dL (5,6 mmol/l)
Các biến số sử dụng trong nghiên cứu
+ Phần 1: Phỏng vấn đối tượng trẻ
Nhóm biến số quan trọng liên quan đến đặc điểm của trẻ bao gồm: tuổi, giới tính, cân nặng hiện tại, chiều cao hiện tại, chỉ số khối cơ thể (BMI), vòng eo hiện tại, huyết áp, triglycerid, HDL C và mức glucose trong máu.
Nhóm biến số về tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ bao gồm tần suất ăn mỳ ăn liền, thịt, tôm, cua, cá, trứng, sữa, pho mát, bơ, bánh kẹo, nước ngọt, nước có ga, snack/bim bim, hoa quả và rau xanh, được ghi nhận theo tuần hoặc tháng.
Nhóm biến số về thói quen ăn uống của trẻ bao gồm số bữa chính trong ngày, số bát cơm trong các bữa chính, và việc trẻ có ăn sáng hay không Ngoài ra, cần xem xét thức ăn sáng của trẻ là do gia đình tự chế biến hay mua từ cửa hàng Thói quen ăn vặt, ăn đêm, và ăn mặn của trẻ cũng rất quan trọng, cùng với sở thích ăn bánh kẹo ngọt, các món xào rán, và thức ăn nhanh.
Nhóm biến số về hoạt động thể lực của trẻ bao gồm phương tiện đi học hàng ngày, thời gian ngồi học trong ngày, và các hoạt động thường làm trong thời gian nghỉ giải lao ở trường Ngoài ra, việc chơi thể thao sau giờ học cũng rất quan trọng, bao gồm tần suất và thời gian mỗi lần chơi các môn thể thao, cũng như việc trẻ tham gia các môn thể thao trong nhà hay ngoài trời Thêm vào đó, tần suất làm việc nhà theo tuần, thời gian xem ti vi, thời gian sử dụng máy tính, và thời gian ngủ trong một ngày của trẻ cũng là những yếu tố cần được xem xét.
+ Phần 2: Phỏng vấn cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ chính
Nhóm biến số về tiền sử dinh dưỡng của trẻ: cân nặng khi sinh của trẻ; tình trạng dinh dưỡng (thiếu hoặc thừa) lúc nhỏ của trẻ (dưới 3 tuổi)
Nhóm biến số về tiền sử gia đình: tiền sử thừa cân/béo phì; tiểu đường; tăng huyết áp; tim mạch của gia đình trẻ
Nhóm biến số thông tin chung của bố mẹ trẻ bao gồm năm sinh, nghề nghiệp và trình độ học vấn Điều kiện kinh tế hộ gia đình được thể hiện qua thu nhập trung bình hàng tháng, số người trong gia đình, chi phí ăn uống hàng tháng, cùng với số lượng đồ gia dụng và phương tiện đi lại hiện có.
Nhập và xử lý số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:
+ Phần mô tả:bảng, biểu thể hiện tần số của các biến số nghiên cứu
+ Phần phân tích: Kiểm định χ 2 , OR, p, 95% CI, hồi quy logistic được sử dụng để mô tả mối liên quan.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này nhận được sự đồng ý và ủng hộ từ Sở Giáo dục Hà Nội cùng với lãnh đạo hai trường THCS Đống Đa và Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Việc triển khai nghiên cứu chỉ được thực hiện sau khi được Hội đồng đạo đức của Viện Dinh dưỡng và Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt.
Bộ câu hỏi nghiên cứu không chứa các vấn đề nhạy cảm, riêng tư, do đó không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Trước khi thực hiện các biện pháp như đo vòng eo, đo huyết áp, lấy máu và phỏng vấn, đối tượng được thông báo rõ ràng về mục đích nghiên cứu và các biện pháp phòng ngừa tình huống xấu khi lấy máu Họ cũng có quyền từ chối tham gia nếu cảm thấy không phù hợp.
Nghiên cứu cam kết chỉ lấy đúng 5 ml máu theo quy định xét nghiệm mà không ảnh hưởng đến sức khỏe của đối tượng Quy trình lấy máu được thực hiện bởi cán bộ y tế có chuyên môn, đảm bảo an toàn vệ sinh và dụng cụ Toàn bộ quá trình được giám sát bởi giám sát viên, giáo viên và phụ huynh học sinh, đồng thời có trang thiết bị phòng chống sốc để xử lý các tình huống xấu có thể xảy ra.
Các số liệu trong nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích nâng cao sức khoẻ cho học sinh THCS và không phục vụ cho mục đích khác Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị khả thi trong công tác phòng chống Hội chứng chuyển hóa và các bệnh mạn tính không lây cho đối tượng học sinh THCS.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Thông tin thu thập thường là hồi cứu, dễ dẫn đến sai số nhớ lại Để khắc phục, điều tra viên cần giải thích rõ mục đích nghiên cứu và thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn tập trung vào thông tin cần thu thập Bộ câu hỏi phải sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và có hướng dẫn trả lời chi tiết Ngoài ra, điều tra viên và kỹ thuật viên sẽ được tập huấn, và bộ công cụ sẽ được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi tiến hành thu thập số liệu thực địa chính thức.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng trẻ theo giới tính
Giới tính Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Về giới tính, tỷ lệ nam trong mẫu nghiên cứu là 74,8%, tỷ lệ nữ là 25,2%
Bảng 3.2 Phân bố tỷ lệ nam và nữ theo tuổi Đặc điểm Nam (n, %) Nữ (n, %)
Bảng 3.2 trình bày tỷ lệ nam và nữ theo độ tuổi trong mẫu nghiên cứu, cho thấy tỷ lệ nam luôn cao hơn tỷ lệ nữ ở mọi độ tuổi.
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ nam và nữ theo TC - BP
Bảng 3.3 cho thấy, trong nhóm BP, tỷ lệ nam là 84,7% và tỷ lệ nữ là 15,3% Trong nhóm TC, tỷ lệ nam là 61,4% và tỷ lệ nữ là 38,6%
3.1.2 Đặc điểm các chỉ số nhân trắc
Bảng 3.4 Cân nặng và chiều cao trung bình theo tuổi và giới
Chiều cao TB (cm) (n ± SD)
Cân nặng TB (kg) (n ± SD)
Chiều cao TB (cm) (n ± SD)
Bảng 3.4 trình bày thông tin về cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh TC BP trong độ tuổi từ 11 đến 15 theo giới tính Kết quả cho thấy, cả cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh TC BP đều có xu hướng tăng dần theo độ tuổi.
Bảng 3.5 Các chỉ số nhân trắc của trẻ TC, BP
Bảng 3.5 chỉ ra rằng giá trị trung bình về cân nặng (CN), chiều cao (CC), chỉ số BMI và vòng eo (VE) của nhóm BP vượt trội hơn so với quần thể chung và nhóm TC.
Bảng 3.6 Các chỉ số nhân trắc theo giới tính
Bảng 3.6 trình bày giá trị trung bình các chỉ số nhân trắc theo giới tính, cho thấy rằng giá trị trung bình của CN, CC, BMI và VE ở nam giới đều cao hơn so với nữ giới.
Biểu đồ 3.1 Phân bố béo trung tâm theo giới và theo tình trạng TC, BP
Theo biểu đồ 3.1, trong số 330 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ người có béo trung tâm với vòng eo ≥ 90 percentile (80%) cao hơn so với tỷ lệ người có vòng eo < 90 percentile.
Tỷ lệ vòng eo đạt 90 th percentile theo tiêu chí của IDF cho nam giới là 81,4% và cho nữ giới là 75,9% Điều này cho thấy sự quan trọng của việc theo dõi chỉ số vòng eo trong việc đánh giá sức khỏe.
BP là 96,3% và trong nhóm TC là 57,9%
3.1.3 Đặc điểm các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng
Bảng 3.7 Các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng theo giới
HAtt (mmHg) 114,79 ± 12,55 115,93 ± 12,87 111,40 ± 10,93 HAttr (mmHg) 72,83 ± 7,84 72,99 ± 8,02 72,36 ± 7,31 Triglycerid (mg/dL) 109,86 ± 57,27 111,75 ± 59,73 104,23 ± 49,13 HDL C (mg/dL) 44,72 ± 6,04 44,40 ± 6,22 45,69 ± 5,40 Glucose (mg/dL) 92,78 ± 7,08 92,88 ± 7,14 92,71 ± 6,93
Bảng 3.7 chỉ ra rằng giá trị trung bình của HAtt, HAttr, TG và Glucose ở trẻ nam cao hơn so với trẻ nữ, trong khi giá trị trung bình của HDL C ở trẻ nam lại thấp hơn so với trẻ nữ.
Bảng 3.8 Các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng theo giới và theo tình trạng
Trong nhóm TC, giá trị trung bình HAtt, HAttr, TG và Glucose của trẻ nam cao hơn so với trẻ nữ, trong khi giá trị trung bình HDL C của trẻ nữ lại vượt trội hơn trẻ nam.
Giá trị huyết áp (BP) và hàm lượng HAtt trung bình của nhóm trẻ nam cao hơn so với nhóm trẻ nữ Tuy nhiên, nhóm trẻ nữ lại có giá trị trung bình HAttr, HDL-C và Glucose cao hơn nhóm trẻ nam.
So sánh giữa trẻ nam TC và trẻ nam BP cho thấy, giá trị trung bình HAtt, HAttr, TG, và Glucose ở nhóm nam BP cao hơn nhóm nam TC, trong khi giá trị trung bình HDL C của nhóm nam BP lại thấp hơn Ngược lại, khi so sánh trẻ nữ TC và trẻ nữ BP, giá trị trung bình HDL C của nhóm nữ TC lại cao hơn nhóm nữ BP.
Bảng 3.9 Phân bố các rối loạn HA, TG, HDL-C và Glucose máu của trẻ TC - BP
Chỉ số Giá trị Chung BP TC
Tỷ lệ rối loạn huyết áp (HAtt ≥ 130 mmHg hoặc HA tâm trương ≥ 85 mmHg) trong nghiên cứu đạt 14,5% Cụ thể, tỷ lệ rối loạn huyết áp trong nhóm BP là 18,9%, trong khi nhóm TC ghi nhận tỷ lệ 8,6%.
Tỷ lệ rối loạn Triglycerid (TG ≥ 150 mg/dL) trong nghiên cứu là 15,2% Trong đó, tỷ lệ rối loạn TG trong nhóm BP là 17,4% và trong nhóm TC là 12,1%
Tỷ lệ rối loạn HDL C (HDL C ≤ 40 mg/dL) trong nghiên cứu là 20,9% Trong đó, tỷ lệ rối loạn HDL C trong nhóm BP là 24,2% và trong nhóm TC là 16,4%
Tỷ lệ rối loạn Glucose máu (Glucose lúc đói ≥ 100 mg/dL) trong nghiên cứu đạt 17,9% Cụ thể, nhóm BP có tỷ lệ rối loạn Glucose máu là 21,6%, trong khi nhóm TC chỉ ghi nhận 12,9%.
3.1.4 Các dạng rối loạn HA, TG, HDL-C và Glucose máu với béo trung tâm
Bảng 3.10 Các dạng rối loạn HA, TG, HDL-C và Glucose máu với béo trung tâm
Béo trung tâm (Vòng eo ≥ 90 th percentile) Các dạng rối loạn
Trong nhóm béo trung tâm (vòng eo ≥ 90 th percentile), tỷ lệ người có từ 1 đến 4 rối loạn sức khỏe cao hơn so với nhóm không có béo trung tâm Đặc biệt, trong nhóm không có béo trung tâm, không có đối tượng nào ghi nhận từ 3 rối loạn trở lên.
Đặc điểm Hội chứng chuyển hóa trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.11 Tỷ lệ học sinh THCS TC - BP mắc HCCH Hội chứng chuyển hóa Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Theo bảng 3.11, tỷ lệ mắc HCCH trong nghiên cứu là 14,8% và không mắc HCCH là 85,2%
3.2.2 Tỷ lệ mắc HCCH theo tuổi và giới tính
Bảng 3.12 Phân bố HCCH theo tuổi và giới tính
Trẻ em trên 13 tuổi có tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương cao hơn so với nhóm trẻ dưới 13 tuổi, với tỷ lệ lần lượt là 25% và 10,9% Nguy cơ mắc hội chứng chấn thương ở trẻ trên 13 tuổi gấp 2,72 lần so với trẻ dưới 13 tuổi Sự khác biệt này giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 9,31 và p < 0,05.
Tỷ lệ trẻ nam mắc hội chứng chậm phát triển (HCCH) là 16,2%, cao hơn so với 10,8% ở trẻ nữ Nhóm trẻ nam có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 1,59 lần so với nhóm trẻ nữ Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 1,02 và p > 0,05.
3.2.3 Mối liên quan giữa HCCH và mức độ TC, BP
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa HCCH và TC, BP
HCCH Mức độ TC, BP
Theo bảng 3.13, 20% đối tượng có chỉ số BMI > +2SD (BP) mắc Hội chứng HCCH, trong khi chỉ 7,9% đối tượng có BMI trong khoảng +1SD < BMI ≤ +2SD (TC) mắc hội chứng này Tỷ suất chênh 2,93 cho thấy những đối tượng có BMI cao hơn có nguy cơ mắc bệnh lớn hơn.
BP có nguy cơ bị mắc HCCH cao gấp 2,93 lần so với những đối tượng TC Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với χ 2 = 8,46 và p < 0,05
3.2.4 HCCH và các rối loạn HA, TG, HDL-C, Glucose máu
Tăng TG Giảm HDL-C Tăng HAtt Tăng HAttr Tăng Glucose
Biểu đồ 3.2 Phân bố các rối loạn HA, TG, HDL-C và Glucose máu với HCCH
Biểu đồ 3.2 minh họa sự phân bố các rối loạn huyết áp (HA), triglyceride (TG), cholesterol HDL (HDL C) và glucose máu trong nhóm có hội chứng chuyển hóa (HCCH) Trong nhóm này, rối loạn cholesterol HDL C chiếm tỷ lệ cao nhất với 75,5%, trong khi rối loạn huyết áp tâm thu (HAttr) có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 18,4%.
3.2.5 Các dạng kết hợp của HCCH
3.2.5.1 Phân bố các dạng kết hợp của HCCH
Bảng 3.14 Phân bố các dạng kết hợp của HCCH
Các dạng kết hợp Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Có 38 đối tượng có 3 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 77,6%
Có 10 đối tượng có 4 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 20,4%
Có 1 đối tượng có cả 5 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 2,04%
3.2.5.2 Các dạng kết hợp của 3 tiêu chí
VE TG Glucose VE HA Glucose VE HA HDL C VE TG HDL C VE Glucose HDL C
Biểu đồ 3.3 Các dạng kết hợp của 3 tiêu chí chẩn đoán HCCH
Biểu đồ 3.3 chỉ ra rằng trong các dạng kết hợp của ba tiêu chí, dạng kết hợp VE HA HDL C chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,6% Tiếp theo là dạng VE TG HDL C với 21,1%, trong khi dạng VE HA TG ít phổ biến nhất, chỉ đạt 2,6%.
3.2.5.3 Các dạng kết hợp của 4 tiêu chí
VE HA TG HDL C VE HA TG Glucose VE HA Glucose HDL C VE TG Glucose HDL C
Biểu đồ 3.4 Các dạng kết hợp của 4 tiêu chí chẩn đoán HCCH
Bểu đồ 3.4 cho thấy rằng trong các dạng kết hợp của 4 tiêu chí, dạng kết hợp VE HA TG HDL C chiếm ưu thế nhất với tỷ lệ 70%, trong khi các dạng kết hợp còn lại đều có tỷ lệ 10% mỗi loại.
3.2.5.4 Các dạng kết hợp của 5 tiêu chí
VE HA TG HDL C Glucose (100%)
Dạng kết hợp của 5 tiêu chí chỉ có duy nhất 1 trường hợp
Một số yếu tố liên quan đến HCCH trên học sinh THCS TC BP
3.3.1 Các yếu tố từ tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ với HCCH
HCCH Tần suất tiêu thụ thực phẩm Có
Nhóm TP có nguy cơ
Bơ, pho mát < 1 lần/tuần 35 (13,9) 217 (86,1) 0,49 1,36
Nước ngọt, có ga < 1 lần/tuần 32 (12,4) 226 (87,6) 4,74 2,18
Bảng 3.15 chỉ ra mối liên hệ thống kê quan trọng giữa tần suất tiêu thụ mỳ ăn liền, sữa, nước ngọt, nước có ga và snack, bim bim với hội chứng HCCH ở trẻ em Thông tin chi tiết về tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ được trình bày trong phụ lục 7, trang 115.
Trẻ em tiêu thụ mì ăn liền với tần suất ≥ 3 lần/tuần có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao hơn, đạt 26,7%, so với 11,4% ở trẻ ăn mì ăn liền < 3 lần/tuần Nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa ở nhóm trẻ ăn mì ≥ 3 lần/tuần cao gấp 2,83 lần so với nhóm ăn < 3 lần/tuần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với χ² = 9,55 và p < 0,05.
Trẻ em uống nước ngọt có ga với tần suất ≥ 1 lần/tuần có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao hơn đáng kể so với trẻ uống dưới 1 lần/tuần, cụ thể là 23,6% so với 12,4% Nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa ở nhóm trẻ này cao gấp 2,18 lần so với nhóm uống ít hơn Sự khác biệt giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 4,74 và p < 0,05.
Trẻ em có tần suất ăn snack và bim bim từ 1 lần/tuần trở lên có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao hơn, với tỷ lệ lần lượt là 19,6% so với 8,1% ở nhóm ăn dưới 1 lần/tuần Ngoài ra, trẻ ăn mì ăn liền từ 1 lần/tuần trở lên có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 2,77 lần so với trẻ ăn mì ăn liền dưới 1 lần/tuần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 7,48 và p < 0,05.
Trẻ em có tần suất uống sữa dưới 3 lần mỗi tuần có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao hơn so với trẻ uống sữa từ 3 lần trở lên, với tỷ lệ lần lượt là 23,3% và 11,9% Nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa ở nhóm trẻ uống sữa ít hơn 3 lần mỗi tuần cao gấp 2,25 lần so với nhóm uống sữa 3 lần trở lên Sự khác biệt này giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 5,63 và p < 0,05.
Bảng 3.15 cho thấy sự khác biệt trong tần suất tiêu thụ các thực phẩm khác nhau so với HCCH ở trẻ em, tuy nhiên, những khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê.
3.3.2 Các yếu tố từ thói quen ăn uống của trẻ
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa việc ăn sáng của trẻ với HCCH
HCCH Yếu tố liên quan Có
Thức ăn sáng Gia đình tự chế biến 25 (13,8) 156 (86,2)
Bảng 3.16 cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc HCCH giữa trẻ em ăn sáng và không ăn sáng Cụ thể, tỷ lệ mắc HCCH ở trẻ không ăn sáng là 20%, trong khi ở trẻ ăn sáng chỉ là 14,1% Trẻ không ăn sáng có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 1,52 lần so với trẻ ăn sáng Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với χ² = 0,55 và p > 0,05.
Bảng trên chỉ ra sự khác biệt về tỷ lệ mắc HCCH giữa trẻ ăn sáng mua ngoài cửa hàng và trẻ ăn sáng do gia đình tự chế biến Cụ thể, trẻ ăn sáng ngoài cửa hàng có tỷ lệ mắc HCCH là 14,7%, cao hơn so với 13,8% của trẻ ăn sáng tự chế biến Nguy cơ mắc HCCH ở trẻ ăn sáng ngoài cửa hàng gấp 1,08 lần so với trẻ ăn sáng do gia đình tự chế biến Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với χ² = 0,004 và p > 0,05.
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thói quen ăn vặt, ăn đêm, ăn mặn của trẻ với HCCH
Bảng 3.17 chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa thói quen ăn vặt của trẻ em và tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) Cụ thể, tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm trẻ ăn vặt đạt 22,3%, trong khi nhóm trẻ không ăn vặt chỉ là 10% Điều này cho thấy trẻ ăn vặt có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 2,58 lần so với trẻ không ăn vặt, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 8,49 và p < 0,05.
Bảng 3.17 cho thấy sự khác biệt giữa thói quen ăn đêm và không ăn đêm liên quan đến tỷ lệ mắc HCCH ở trẻ em Cụ thể, trẻ có thói quen ăn đêm có tỷ lệ mắc HCCH cao hơn (20,5%) so với trẻ không ăn đêm (14,0%), với nguy cơ mắc HCCH cao gấp 1,58 lần Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với χ² = 0,80 và p > 0,05.
Thói quen ăn mặn ở trẻ em có liên quan đến tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) Cụ thể, tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm trẻ ăn mặn là 17,8%, cao hơn so với 13,8% ở nhóm trẻ không ăn mặn Trẻ ăn mặn có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 1,36 lần so với trẻ không ăn mặn Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê với χ HUPH 2 = 0,55 và p > 0,05.
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa một số sở thích ăn của trẻ với HCCH
HCCH Các sở thích ăn Có
Có 34 (17,4) 161 (82,6) Thích ăn bánh kẹo, đồ ngọt Không 15 (11,1) 120 (88,9) 2,05 1,69
Có 36 (17,8) 166 (82,2) Thích ăn các món xào, rán Không 13 (10,2) 115 (89,8) 3,06 1,92
Có 23 (19,3) 96 (80,7) Thích ăn các thức ăn nhanh Không 26 (12,3) 185 (87,7) 2,43 1,71
Theo bảng 3.18, có sự khác biệt rõ rệt trong sở thích ăn uống của trẻ, bao gồm sở thích ăn bánh kẹo, đồ ngọt, món xào, rán và thức ăn nhanh, liên quan đến tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở trẻ em.
Trẻ em có sở thích ăn bánh kẹo và đồ ngọt có tỷ lệ mắc hội chứng HCCH cao hơn, với 17,4% so với 11,1% ở trẻ không có sở thích này Nguy cơ mắc HCCH ở trẻ thích ăn bánh kẹo, đồ ngọt cao gấp 1,69 lần so với trẻ không thích Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, với χ² = 2,05 và p > 0,05.
Trẻ em có sở thích ăn các món xào rán có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) cao hơn so với trẻ không có sở thích này, với tỷ lệ lần lượt là 17,8% và 10,2% Nguy cơ mắc HCCH ở trẻ thích ăn món xào rán cao gấp 1,92 lần so với trẻ không thích Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² = 3,06 và p > 0,05.
Trẻ em có sở thích ăn thức ăn nhanh có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa cao hơn, với 19,3% so với 12,3% ở trẻ không thích ăn nhanh Nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa ở trẻ thích ăn thức ăn nhanh cao gấp 2,43 lần so với trẻ không có sở thích này Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với χ² = 2,43 và p > 0,05.
3.3.3 Các yếu tố từ hoạt động thể lực của trẻ
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa phương tiện đi học hàng ngày của trẻ với HCCH
HCCH Phương tiện đi học hàng ngày
Có (n, %) Không (n, %) χ 2 p Ô tô, xe máy, xe điện 25 (16,4) 127 (83,6) Đạp xe đạp 14 (14,7) 81 (85,3) Đi bộ 10 (12,0) 73 (88,0)
BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu bao gồm 330 trẻ em từ 11 đến 15 tuổi, với sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm tuổi Nhóm tuổi 12 chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,5%, trong khi nhóm tuổi 15 có tỷ lệ thấp nhất là 9,1% Kết quả này khác với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu, nơi mẫu nghiên cứu được phân bố đồng đều giữa các độ tuổi Sự khác biệt này xuất phát từ tỷ lệ trẻ em trong hai nghiên cứu, với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu có tỷ lệ tương đối đồng đều, được chọn ngẫu nhiên từ 16 trường THCS tại Biên Hòa Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về tỷ lệ giữa các độ tuổi từ kết quả sàng lọc ban đầu tại hai trường Đống Đa và Phương Mai.
TC BP được tổ chức theo từng lớp tuổi, sau đó tiến hành chọn ngẫu nhiên trong hệ thống Điều này dẫn đến sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm tuổi.
Trong nghiên cứu, tỷ lệ nam chiếm 74,8% và nữ là 25,2%, cho thấy tỷ lệ nam cao hơn ở tất cả các độ tuổi Kết quả này khác với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu, trong đó tỷ lệ nam nữ tương đồng do phương pháp lập danh sách theo giới tính và chọn mẫu đảm bảo số lượng nam và nữ gần bằng nhau.
Trong nghiên cứu với 330 đối tượng, tỷ lệ BP ở nhóm trẻ nam đạt 84,7%, cao hơn nhiều so với nhóm nữ chỉ 15,3% Tỷ lệ này tương đồng với các nghiên cứu trước đó của Trần Thị Xuân Ngọc tại Hà Nội năm 2012 và Hà Văn Thiệu tại Biên Hòa năm 2014 Sự chênh lệch tỷ lệ BP giữa nam và nữ có thể được giải thích bởi vai trò của leptin trong sự phát triển và tăng trưởng của trẻ em, với nồng độ leptin tuần hoàn có sự phân hướng rõ rệt giữa trẻ nam và trẻ nữ.
Trong giai đoạn tiền dậy thì, trẻ nữ chỉ có sự gia tăng nồng độ hormone mà không có sự thay đổi đáng kể khác Điều này có thể ảnh hưởng đến nguy cơ sinh học, khiến trẻ nam có khả năng bị béo phì cao hơn so với trẻ nữ.
4.1.2 Đặc điểm các chỉ số nhân trắc
Cân nặng, chiều cao, BMI và vòng eo là những chỉ số nhân trắc quan trọng trong việc xác định tình trạng TC BP và sàng lọc HCCH ở trẻ
Trong nghiên cứu này, cân nặng và chiều cao trung bình của các đối tượng
TC BP tăng dần theo tuổi với mức cân nặng khá cao từ 51,21 ± 7,17 kg đến 77,87 ± 6,76 kg và chiều cao trung bình từ 147,65 ± 6,71 cm đến 167,39 ± 6,18 cm
Cân nặng trung bình (CNTB) của mẫu nghiên cứu là 58,65 ± 12,29 kg, với CNTB của trẻ nam cao hơn trẻ nữ (59,21 ± 12,56 kg so với 56,98 ± 11,35 kg) và CNTB của trẻ BP cao hơn trẻ TC (62,49 ± 12,38 kg so với 53,44 ± 10,07 kg) Kết quả này tương đồng nhưng thấp hơn nghiên cứu của Hà Văn Thiệu, cho thấy CNTB là 62,07 ± 12,54 kg, với nam cao hơn nữ (62,97 ± 13,66 kg so với 61,18 ± 11,26 kg) và BP cao hơn TC (64,88 ± 13,10 kg so với 58,19 ± 10,55 kg) Nghiên cứu của Asayama Kohtaro cũng ghi nhận CNTB của trẻ nam lớn hơn trẻ nữ và trẻ BP lớn hơn trẻ TC.
Chiều cao trung bình (CCTB) của mẫu nghiên cứu đạt 153,16 ± 9,53 cm, cao hơn so với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu là 153,06 ± 10,56 cm Đặc biệt, CCTB của trẻ nam (153,81 ± 10,12 cm) vượt trội hơn so với trẻ nữ (151,22 ± 7,22 cm), và trẻ BP cũng có chiều cao cao hơn trẻ khác.
Chiều cao trung bình của trẻ TC là 154,01 ± 9,89 cm, trong khi trẻ BP là 151,99 ± 8,92 cm Kết quả này không giống với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu, trong đó chiều cao trung bình của trẻ TC lại lớn hơn trẻ BP (153,81 ± 10,37 cm so với 152,52 ± 10,68 cm) [18].
BMI trung bình của mẫu nghiên cứu là 24,74 ± 2,85 kg/m², thấp hơn so với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu (26,24 ± 2,78 kg/m²) và cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa (23,78 ± 6,85 kg/m²) Đặc biệt, BMI trung bình của trẻ nam (24,74 ± 2,67 kg/m²) cao hơn trẻ nữ (24,73 ± 3,34 kg/m²), và trẻ BP có BMI cao hơn trẻ TC (26,09 ± 2,62 kg/m² so với 22,91 ± 1,98 kg/m²) Kết quả này tương đồng nhưng vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu và Caceres M cùng cộng sự, trong đó BMI của trẻ nam là 26,7 ± 3,7 kg/m² và trẻ nữ là 25,5 ± 3,1 kg/m².
Về vòng eo, vòng eo trung bình (VETB) của mẫu nghiên cứu là 78,46 ± 8,25 cm Chỉ số vòng eo này thấp hơn nghiên cứu của Hà Văn Thiệu (85,13 ± 6,62 cm)
Nghiên cứu cho thấy rằng VETB của trẻ nam cao hơn trẻ nữ, với giá trị lần lượt là 79,73 ± 7,54 cm và 74,69 ± 9,12 cm Bên cạnh đó, VETB của trẻ BP cũng lớn hơn trẻ TC, với số liệu là 82,09 ± 6,73 cm so với 73,54 ± 7,56 cm Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Diễm Chi năm 2004.
Tỷ lệ đối tượng có vòng eo (VE) ≥ 90 th percentile đạt 80%, cao hơn so với tỷ lệ đối tượng có vòng eo < 90 th percentile chỉ 20% Đặc điểm vòng eo thỏa mãn tiêu chí lựa chọn của IDF cho thấy tỷ lệ VE ≥ 90 th percentile ở nam giới (81,4%) cao hơn ở nữ giới (75,9%) Ngoài ra, tỷ lệ này trong nhóm BP (96,3%) cũng vượt trội hơn so với nhóm TC (57,9%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Argentina.
VE ≥ 90 th percentile là 87,5% ở nhóm trẻ BP và 28,6% ở nhóm trẻ TC [49]
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các chỉ số nhân trắc như chiều cao (CC), cân nặng (CN), chỉ số khối cơ thể (BMI) và vòng eo (VE) ở trẻ em trai cao hơn so với trẻ em gái Đồng thời, các chỉ số CN, BMI và VE ở trẻ em Bình Phước (BP) cũng cao hơn so với trẻ em Tiền Giang (TC) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của cả tác giả trong và ngoài nước.
4.1.3 Đặc điểm các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng
Theo IDF, để xác định chính xác đối tượng mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH), cần xem xét các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng như huyết áp, triglycerid, HDL C và glucose máu, với yêu cầu mắc từ 2 tiêu chí trở lên Yếu tố tiên quyết là có béo trung tâm, cụ thể là vòng eo (VE) đạt ≥ 90 th percentile.
Nghiên cứu cho thấy chỉ số huyết áp tâm thu trung bình là 114,79 ± 12,55 mmHg, với nam giới có chỉ số cao hơn nữ giới (115,93 ± 12,87 mmHg so với 111,40 ± 10,93 mmHg) Chỉ số huyết áp tâm trương trung bình là 72,83 ± 7,84 mmHg, cũng cho thấy nam giới có chỉ số cao hơn nữ giới (72,99 ± 8,02 so với 72,36 ± 7,31) Trong khi đó, huyết áp tâm trương của nam giới cao hơn nữ giới, thì huyết áp tâm thu của nữ giới lại cao hơn nam giới.
Tỷ lệ rối loạn HA trong nghiên cứu của chúng tôi là 14,5% Tỷ lệ này ở trẻ
Trẻ em bị béo phì có tỷ lệ huyết áp cao hơn so với trẻ em có trọng lượng bình thường, với tỷ lệ lần lượt là 18,9% và 8,6% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Schwiebbe L và cộng sự tại Ấn Độ, cho thấy tỷ lệ rối loạn huyết áp ở trẻ béo phì là 43% và ở trẻ có trọng lượng bình thường là 15,3% Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối liên quan giữa mức độ béo phì và huyết áp.
Đặc điểm Hội chứng chuyển hóa ở học sinh THCS TC BP
4.2.1 Tỷ lệ mắc Hội chứng chuyển hóa ở học sinh THCS TC - BP
Tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương ở học sinh trung học cơ sở tại hai trường Đống Đa và Phương Mai được ghi nhận là 14,8%, thấp hơn so với nghiên cứu của Hà Văn Thiệu với 33,37% và nghiên cứu tại Bolivia năm 2007 với 36%.
Kết quả của nghiên cứu khá tương đồng với nghiên cứu của Yoshinaga năm
2005 (17,7%) [90] và nghiên cứu tiến hành trên 1241 trẻ BP của 5 quốc gia châu Âu
HUPH năm 2008 (16,4%) [29] Trong khi, kết quả này ở Mỹ là 28,7% và ở Trung Quốc là 27,7% [88]
4.2.2 Tỷ lệ mắc Hội chứng chuyển hóa theo tuổi và giới tính
Tuổi thiếu niên là giai đoạn có nguy cơ cao phát triển các bệnh chuyển hóa ở trẻ em, do sự thay đổi của hormone tăng trưởng ảnh hưởng đến phân bố mỡ cơ thể, huyết áp, lipid máu, và sự tiết cũng như độ nhạy cảm insulin.
Ở lứa tuổi từ 12 đến 14, nguy cơ mắc bệnh chuyển hóa gia tăng do sự thay đổi huyết áp, nồng độ lipid và kích cỡ cơ thể theo tuổi Nghiên cứu của NHANES từ 1999 đến 2002 cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở trẻ em trong độ tuổi này cao hơn so với trẻ từ 8 đến 11 tuổi, bất kể tiêu chuẩn chẩn đoán nào được sử dụng.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm trẻ từ 14 đến 15 tuổi có tỷ lệ mắc HCCH cao hơn nhóm từ 11 đến 13 tuổi, với tỷ lệ lần lượt là 25% và 10,9% Trẻ 14-15 tuổi có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 2,72 lần so với nhóm 11-13 tuổi, và sự khác biệt giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương tâm lý (HCCH) ở nam giới cao hơn nữ giới, với tỷ lệ lần lượt là 16,2% và 10,8% Kết quả này không giống như những phát hiện trong các nghiên cứu trước đó.
Hà Văn Thiệu cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm nữ cao hơn nhóm nam, với 34,77% so với 27,95% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê trong cả hai nghiên cứu, với p > 0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới cao hơn nữ giới, với tỷ lệ lần lượt là 40% và 32,2%, tương đồng với nghiên cứu tại Bolivia năm 2007.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới cao hơn nữ giới, điều này phù hợp với thực tế khi tỷ lệ BP ở nam cũng cao hơn ở nữ.
4.2.3 Mối liên quan giữa HCCH và mức độ TC, BP
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mối liên quan giữa HCCH và mức độ
TC, BP (theo BMI) Gia tăng mức độ TC, BP làm tăng nguy cơ mắc HCCH trong số TC, BP [87]
Trẻ em có chỉ số khối cơ thể (BMI) lớn hơn +2SD có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) cao hơn so với nhóm trẻ có BMI trong khoảng +1SD đến +2SD, với tỷ lệ lần lượt là 20% và 7,9% Cụ thể, trẻ có BMI > +2SD có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 2,93 lần so với trẻ có BMI trong khoảng +1SD < BMI ≤ +2SD Sự khác biệt giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Kết quả này tương đồng với kết quả của Hà Văn Thiệu với BMI ở mức 3 (BMI ≥ 95 th percentile) có HCCH chiếm tỷ lệ là 32,09%, cao hơn BMI ở mức 1 và
2 (85 th ≤ BMI < 95 th percentile) là 30,37%, nhưng sự khác biệt này trong nghiên cứu của Hà Văn Thiệu là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 [18]
Một nghiên cứu khác trên đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên 8 19 tuổi tại
Mỹ (1988-1996) cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) là dưới 0,1% ở trẻ có cân nặng bình thường (BMI < 85th percentile), nhưng tăng lên 6,8% ở trẻ thừa cân (BMI từ 85-95th percentile) và 28,7% ở trẻ béo phì (BMI ≥ 95th percentile) Nghiên cứu của Saffari Fatemeh (2012) trên trẻ em từ 6-16 tuổi tại Iran cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm béo phì cao hơn nhóm thừa cân, với 42,5% so với 25%.
4.2.4 HCCH và các rối loạn HA, TG, HDL-C, Glucose máu
Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong phân bố các rối loạn huyết áp, triglyceride, HDL-C và glucose máu giữa nhóm có hội chứng chuyển hóa (HCCH) và nhóm không có HCCH, với tỷ lệ các rối loạn này ở nhóm có HCCH cao hơn Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Camhi MS năm 2008.
Hà Văn Thiệu [14] và nghiên cứu của Caranti DA tại Brasil và Italia [33]
4.2.5 Các dạng kết hợp của HCCH
Theo IDF, HCCH được xác định khi có ít nhất 3 tiêu chí trở lên, trong đó luôn phải có sự hiện diện của béo trung tâm (VE ≥ 90 th percentile), vì đây là điều kiện tiên quyết không thể thiếu của HCCH.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phát hiện rằng các dạng kết hợp của HCCH bao gồm 3, 4 và 5 tiêu chí Dạng có 3 tiêu chí chiếm tỷ lệ cao nhất với 77,6% (n = 38), tiếp theo là dạng có 4 tiêu chí với 20,4% (n = 10), và dạng có 5 tiêu chí chiếm tỷ lệ thấp nhất với 2,04% (n = 1) Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Chinali M và cộng sự tại Ấn Độ năm 2008, trong đó dạng có 3 tiêu chí chiếm 17,3% (n = 77), dạng có 4 tiêu chí chiếm 7,2% (n = 32), và dạng có 5 tiêu chí chỉ chiếm 0,4% (n = 2).
Trong các dạng có 3 tiêu chí, dạng kết hợp VE HA HDL C chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,6%, tiếp theo là VE TG HDL C với 21,1%, trong khi dạng VE HA TG ít phổ biến nhất với 2,6% Tuy nhiên, nghiên cứu của Hà Văn Thiệu lại cho thấy VE HA TG là dạng phổ biến nhất với 41,15%, theo sau là VE HA Glucose với 21,05%, và dạng ít phổ biến nhất là VE Glucose HDL C với 4,78% Điều này cho thấy sự khác biệt trong kết quả giữa hai nghiên cứu, khi dạng VE HA TG trong nghiên cứu của chúng tôi lại là dạng ít phổ biến nhất.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong các dạng kết hợp của 4 tiêu chí, dạng kết hợp VE HA TG HDL C chiếm tỷ lệ phổ biến nhất với 70%, trong khi các dạng còn lại chỉ chiếm 10% mỗi loại Đặc biệt, dạng kết hợp của 5 tiêu chí (VE HA TG HDL C Glucose) chỉ xuất hiện duy nhất 1 trường hợp.
Một số yếu tố liên quan đến HCCH trên đối tượng học sinh THCS TC BP
4.3.1 Các yếu tố từ tần suất tiêu thụ thực phẩm của trẻ
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tần suất tiêu thụ thực phẩm và chế độ ăn uống có ảnh hưởng đáng kể đến mức kháng insulin, một yếu tố quan trọng trong hội chứng chuyển hóa (HCCH) Các can thiệp vào chế độ ăn đã được thực hiện nhằm giảm tỷ lệ mắc HCCH.
Phân tích đơn biến cho thấy có mối liên quan thống kê đáng kể giữa tần suất tiêu thụ mỳ ăn liền, sữa, nước ngọt, nước có ga và snack, bim bim với hội chứng chuyển hóa ở trẻ em.
Nghiên cứu cho thấy trẻ em tiêu thụ mỳ ăn liền từ 3 lần/tuần trở lên có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 2,83 lần so với trẻ ăn dưới 3 lần/tuần Tương tự, nghiên cứu của Shin H J tại Hàn Quốc cũng chỉ ra rằng việc tiêu thụ mỳ tôm từ 2 lần/tuần có liên quan đến hội chứng chuyển hóa (OR = 1,68, 95%CI: 1,10 - 2,55) và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường và đột quỵ Nguyên nhân có thể do mỳ ăn liền chủ yếu chứa bột mỳ, chất béo bão hòa chiên ở nhiệt độ cao và muối, thiếu hụt dinh dưỡng, dẫn đến tăng cholesterol và huyết áp, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa.
Trẻ em uống sữa ít hơn 3 lần mỗi tuần có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 2,25 lần so với trẻ uống sữa từ 3 lần trở lên Nghiên cứu của Hyuk Tae Kwon (2010) tại Hàn Quốc cho thấy tiêu thụ sữa nhiều giúp giảm nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa nhờ vào việc sữa cung cấp đầy đủ các nhóm thực phẩm cần thiết Đối với những người có chỉ số BMI ≥ 23 kg/m², nhóm uống sữa nhiều nhất (≥ 1 lần/ngày) có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa thấp hơn đáng kể so với nhóm ít uống sữa, với tỷ lệ odds là 0,72 (95% CI: 0,57 - 0,92) Nghiên cứu của M Mosley (2013) tại Mexico cũng chỉ ra rằng những người không đáp ứng đủ nhu cầu sữa hàng ngày có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 2,9 lần so với những người đáp ứng đủ.
Trẻ em tiêu thụ nước ngọt và nước có ga với tần suất ≥ 1 lần/tuần có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 2,18 lần so với trẻ uống dưới 1 lần/tuần Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Jennifer A Nettleton và cộng sự, cho thấy mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nước ngọt, nước có ga với hội chứng chuyển hóa Nghiên cứu năm 2009 của họ chỉ ra rằng việc tiêu thụ nước ngọt, nước có ga có liên quan đến vòng eo lớn và đường máu cao, ngay cả trong nhóm có chỉ số sức khỏe tốt.
Nghiên cứu cho thấy, mức tiêu thụ soda thấp nhất trong ngày có thể làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) lên tới 36% so với nhóm không uống soda Cụ thể, những người tiêu thụ ít nhất 1 lon nước ngọt mỗi ngày có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 1,44 lần so với những người uống dưới 1 lon Sự liên quan giữa việc tiêu thụ nước ngọt và HCCH được giải thích bởi hàm lượng đường cao trong các loại nước này, dẫn đến tích tụ mỡ, đặc biệt là mỡ bụng, từ đó làm tăng nguy cơ kháng insulin và mắc HCCH.
Trẻ em tiêu thụ snack và bim bim với tần suất ≥ 1 lần/tuần có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao gấp 2,77 lần so với trẻ ăn ít hơn 1 lần/tuần Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực phẩm chứa nhiều carbohydrate, như snack và bim bim, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe trẻ em Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy chế độ ăn giàu carbohydrate liên quan đến vòng eo lớn hơn và nồng độ triglyceride cao ở trẻ từ 7 đến 12 tuổi Tương tự, nghiên cứu của Zahra Bahadoran tại Iran cũng ghi nhận mối liên quan thống kê giữa tiêu thụ snack mặn và hội chứng chuyển hóa.
4.3.2 Các yếu tố từ thói quen ăn uống của trẻ
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thói quen ăn uống không tốt ở trẻ em là yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa (HCCH) Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan thống kê đáng kể giữa thói quen ăn vặt của trẻ và HCCH với tỷ lệ odds (OR) là 2,58 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Pimenta.
AM và cộng sự khi chỉ ra thói quen ăn vặt giữa các bữa ăn chính có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với HCCH (RR = 1,44, 95%CI: 1,18 1,77) [69]
Nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc không ăn sáng và hội chứng chuyển hóa ở trẻ em, mặc dù tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa trong nhóm trẻ không ăn sáng là 25%, cao hơn so với 14,2% ở nhóm trẻ có ăn sáng.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) cao hơn ở những người ưa thích đồ ngọt, món xào rán và thức ăn nhanh so với nhóm không mắc HCCH.
HUPH giống như thói quen ăn sáng, chúng tôi chưa phát hiện mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa sở thích ăn đồ ngọt, món xào rán và thức ăn nhanh với hội chứng HCCH ở trẻ em.
4.3.3 Các yếu tố từ hoạt động thể lực của trẻ
Sự thay đổi trong thói quen ăn uống của trẻ em và người lớn thường đi đôi với sự thay đổi trong hoạt động thể lực Tình trạng thừa năng lượng ở trẻ không chỉ xuất phát từ việc ăn uống quá mức mà còn do thiếu hoạt động thể chất, dẫn đến thời gian ngồi yên quá lâu, làm giảm tiêu hao năng lượng và tăng nguy cơ mắc các bệnh như tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa ở lứa tuổi này.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có mối liên quan thống kê giữa thời gian ngồi học hàng ngày của trẻ và hội chứng chuyển hóa (OR = 3,14) Việc trẻ ngồi học quá nhiều dẫn đến thiếu thời gian cho các hoạt động vui chơi và thể thao Mặc dù chế độ ăn uống tốt, nhưng việc vận động ít đã làm gia tăng tỷ lệ béo phì ở trẻ, đặc biệt là béo trung tâm, gây ra những tác động lâu dài đến sức khỏe như tăng mỡ máu, huyết áp cao, tiểu đường và các vấn đề tim mạch.
Việc ngồi học lâu và thụ động trước màn hình ti vi, máy tính làm giảm hoạt động thể lực và chuyển hoá cơ bản, dẫn đến tăng sở thích ăn vặt, đặc biệt là thức ăn giàu béo, từ đó làm tăng nguy cơ béo phì và hội chứng chuyển hoá ở trẻ Nghiên cứu cho thấy trẻ xem ti vi ≥ 60 phút/lần có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hoá cao gấp 2,26 lần so với trẻ xem ti vi < 60 phút/lần (p < 0,05), và trẻ sử dụng máy tính ≥ 60 phút/lần có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hoá cao gấp 2,93 lần so với trẻ sử dụng máy tính < 60 phút/lần (p < 0,05).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Earl S Ford, khi cả hai đều chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian xem ti vi, thời gian sử dụng máy tính và hội chứng chuyển hóa (HCCH) Cụ thể, Ford ghi nhận rằng những người xem ti vi hoặc sử dụng máy tính 1 giờ mỗi ngày có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 1,41 lần so với những người có thời gian xem ti vi hoặc sử dụng máy tính dưới 1 giờ mỗi ngày.
Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu
4.4.1 Ưu điểm của nghiên cứu Đề tài được thiết kê theo nghiên cứu cắt ngang có phân tích, có cỡ mẫu đủ lớn để có thể áp dụng các thuật toán thống kê Các cán bộ nghiên cứu và điều tra
Cán bộ xét nghiệm tại HUPH được đào tạo bài bản và có nhiều năm kinh nghiệm, đảm bảo chất lượng trong công tác xét nghiệm Đề tài nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc y đức, giúp phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến huyết áp và các chỉ số sinh hóa, từ đó cung cấp tư vấn kịp thời cho học sinh TC.
Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ thừa cân có sự rối loạn về huyết áp, mỡ máu và đường máu, không chỉ khi trẻ bị huyết áp cao Đồng thời, nghiên cứu cũng phát hiện một số mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hội chứng chuyển hóa ở trẻ, cung cấp dữ liệu ban đầu về tình trạng mắc hội chứng chuyển hóa ở học sinh THCS thừa cân béo phì để phục vụ cho các can thiệp tiếp theo.
4.4.2 Hạn chế của nghiên cứu
Do hạn chế về nhân lực và tài chính, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại 2 trường THCS ở quận Đống Đa, chưa đủ đại diện cho toàn bộ thành phố Hà Nội Điều này hạn chế cái nhìn tổng quát về thực trạng mắc hội chứng HCCH và mối liên quan đến đối tượng học sinh THCS.
Phạm vi nghiên cứu không cho phép theo dõi tiếp các đối tượng có biến đổi bất thường về chỉ số nhân trắc, lâm sàng và cận lâm sàng, điều này hạn chế khả năng tìm hiểu sâu hơn về những bất thường này và tìm kiếm các giải pháp khắc phục hiệu quả.
Nghiên cứu chưa xác định được lượng thực phẩm cụ thể mà trẻ tiêu thụ hàng tuần, mà chỉ tập trung vào tần suất tiêu thụ và một số biến số khác chưa được khai thác một cách sâu sắc.