ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
10 mẫu bệnh phẩm người bệnh sốt xuất huyết Dengue lưu trữ trong 2 năm
2015, 2016 đã được xác định dương tính với NS1, PCR dương tính, có kết quả đếm tải lượng virus >10 3 copies, xác định là DENV-1 để làm mẫu đối chứng
Hồ sơ bệnh án của người bệnh từ 6 tuổi trở lên được chẩn đoán xác định SXHD trong giai đoạn 2017-2019, dựa trên tiêu chuẩn của WHO và Bộ Y tế năm 2011, không phân biệt giới tính, và đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn đã đề ra.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu
K hi xét hồ sơ bệnh án của bệnh nhân, yêu cầu có các tiêu chí sau:
Lâm sàng: Sốt cao, liên tục từ 2-7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau:
- Xuất huyết: dưới da, chân răng, chảy máu cam, hoặc dây thắt (+)
- Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn
- Da xung huyết, phát ban
- Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt
Có kết quả xét nghiệm hematocrit, tiểu cầu, bạch cầu:
- Có xét nghiệm NS1 dương tính
- Xét nghiệm PCR dương tính với DENV
- Nhập viện trong 3 ngày đầu của bệnh
- Người bệnh đang mắc các bệnh cấp tính khác
Người bệnh mắc các bệnh lý máu đang tiến triển, bao gồm các bệnh liên quan đến tiểu cầu, đông máu và suy tủy, cũng như những người bị suy gan, suy thận và nhiễm HIV, cần được chú ý đặc biệt trong quá trình điều trị.
Thời gian thu thập số liệu và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, từ tháng 02/2022 đến tháng 10/2022
Thời gian tìm bệnh án, thu thập số liệu từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022 Thời gian phân tích số liệu cận lâm sàng từ tháng 6 đến tháng 8/2022
Viết luận văn từ tháng 8/2022 đến tháng 10/2022.
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang sử dụng số liệu thứ cấp HUPH
B ảng 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Cỡ mẫu
Chúng tôi đã xác định cỡ mẫu cho xét nghiệm genotyp và tải lượng virus cho ba phân độ lâm sàng theo công thức ở mục tiêu thứ nhất.
𝑑𝑑 2 Trong đó tỷ lệ mắc p ước tính theo tỷ lệ chung của các nghiên cứu trước đây là 0,5 (50%) và sai số lựa chọn d=0,1 Do đó cỡ mẫu tối thiểu cần cho một phân độ
Lựa chọn 300 hồ sơ bệnh án theo tiêu chuẩn có đủ 3 cấp độ lâm sàng
Phân tích kết quả lâm sàng
Phân tích kết quả cận lâm sàng
Từ kết quả phân tích chọn ra
60 mẫu huyết tương để mô tả trình tự bộ gen DENV.
Mô tả mối liên quan giữa đặc điểm bộ gen với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Lấy 10 mẫu bệnh phẩm trong
2 năm 2015, 2016 mô tả trình tự bộ gen làm đối chứng.
HUPH lâm sàng là 97 người bệnh Ba cấp độ phân sàng là 270 người và để đảm bảo số liệu phân tích chúng tôi làm tròn thành 300 người bệnh
- Sau khi có kết quả, chúng tôi chọn 60 mẫu huyết tương có tải lượng DENV
> 10 3 copies/mL thỏa mãn điều kiện có ít nhất 30 mẫu DENV tuýp 1 trong phân độ SXHD nặng và SXHD cảnh báo để giải trình tự toàn bộ hệ gen
- Để đánh giá sự đột biến di truyền của virus Dengue chúng tôi đối chứng với
10 mẫu bệnh phẩm người bệnh SXHD lưu trữ trong 2 năm 2015 – 2016
- Như vậy tổng số mẫu cần giải trình tự là 60 + 10 = 70 mẫu
Chúng tôi đã tiến hành đánh giá mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở 60 bệnh nhân thông qua việc giải trình tự gen, tập trung vào các biến đổi của các chỉ số sinh hóa và huyết học.
Phương pháp chọn mẫu
- Để chọn mẫu cho 2 mục tiêu chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo ba phân độ lâm sàng là SXHD, SXHD cảnh báo, SXHD nặng
Nghiên cứu gốc “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, giá trị của các dấu ấn sinh học (biomarker) trong tiên lượng bệnh sốt xuất huyết Dengue” do PGS.TS Bùi Vũ Huy chủ trì đã được hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phê duyệt Thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ 1/1/2017 đến 31/12/2019.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn lựa 300 hồ sơ bệnh án từ tổng số 1158 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia, với sự chấp thuận của chủ đề tài và Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương Các hồ sơ này đã được trình bày chi tiết tại mục 2.1 và được nghiên cứu tại phòng Kế hoạch tổng hợp.
Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, chúng tôi đã tiến hành rút số bệnh án SXHD dựa vào cỡ mẫu theo tỉ lệ số người nhập viện hàng tháng tại phòng lưu trữ hồ sơ, tuân thủ các tiêu chuẩn đã đề ra.
Để làm rõ mối liên quan giữa đột biến gen và các đặc điểm lâm sàng cũng như cận lâm sàng, chúng tôi đã phân nhóm người lớn và trẻ em nhằm xác định tác động của virus lên từng nhóm đối tượng.
Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập thông tin nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án: Theo các chỉ số nghiên cứu và các đặc điểm lâm sàng
- Mỗi bệnh nhân có một phiếu điều tra riêng theo mẫu bệnh án hồi cứu đánh giá các biểu hiện lâm sàng
Dữ liệu từ các xét nghiệm cơ bản và xét nghiệm xác định bệnh bao gồm công thức máu, xét nghiệm đông máu cơ bản, sinh hóa, chẩn đoán hình ảnh và chẩn đoán vi sinh.
- Lựa chọn các HSBA của bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
Bệnh nhân được phân loại thành các nhóm dựa trên phân độ lâm sàng, bao gồm nhóm SXHD, SXHD cảnh báo và SXHD nặng Các kết quả chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm và kết quả điều trị sẽ được ghi chép theo mẫu bệnh án đã được thiết kế.
Các biến số nghiên cứu
- Nhóm chỉ số về đặc điểm nhân khẩu, dịch tễ của đối tượng nghiên cứu: + Tuổi, nhóm tuổi: các người bệnh được chia nhóm và phân nhóm: trẻ em 6-
1,25,
PT và Fibrinogen dưới ngưỡng bình thường
Đặc điểm hệ gen của DENV-1
3.4.1 K ết quả giải trình tự genome của DENV -1
Hình 3.1 Kết quả giải trình tự hệ gen của các chủng DENV-1 trong nghiên cứu
Kết quả giải trình tự gen DENV-1 cho thấy độ tin cậy cao với chất lượng giải trình tự tốt, thể hiện qua mức độ đọc lặp lại của các gen Cụ thể, gen NS3 có mức độ đọc lặp lại thấp nhất khoảng 350X, trong khi gen NS2B đạt mức cao nhất với khoảng 7,000X Các gen mã hóa protein cấu trúc như C, M, E có mức độ đọc lặp lại trung bình khoảng 1,000X, đủ để phát hiện các đột biến nhỏ với tần suất thấp Ngược lại, 7 gen mã hóa protein không cấu trúc có mức độ đọc lặp lại trung bình cao hơn, khoảng 2,500X.
3.4.2 K ết quả phân tích đặc điểm bộ gen của DENV -1
B ảng 3.5 : Biến đổ i acid amin ở protein Capsid của DENV -1
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
- Vị trí acid amin thay đổi ví dụ vị trí 26A (4)/V (56): Ở vị trí 26, acid amin Adenin ở vị trí số 4 được thay thế bởi acid amin Valine vị trí 56
- Tên các acid amin: Adenin (A), Lysine (L), Histidine (H), Threonine (T), Methionin (M), Valine (V), Leucine (L), Isoleucine (I), Phenylalanine (P)
- Dấu (-): không thay đổi trình tự acid amin
So sánh trình tự acid amin của protein Capsid giữa các chủng DENV-1 trong nghiên cứu và các chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam cũng như trên thế giới cho thấy sự biến đổi acid amin rất ít, chỉ từ 1 đến 4 chủng Một số vị trí biến đổi đáng chú ý bao gồm V26A, L46M và K86R.
B ảng 3.6 : Biến đổ i acid amin ở protein Pre - M của DENV -1
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Phân tích trình tự acid amin của protein Pre-M cho thấy có 16 vị trí đột biến, trong đó A48T và I125M có tần suất cao Các vị trí đột biến với tần suất thấp hơn bao gồm E35D, R44C, T96A, S136T Mặc dù không ghi nhận đột biến so với chủng DENV-1 tại Việt Nam năm 2016, protein này lại có sự khác biệt với các chủng tham chiếu toàn cầu ở các vị trí T48, D61, T62, D78, K107, L127.
B ảng 3.7 : Đột biến acid amin trên protein E
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Phân tích trình tự acid amin của protein E cho thấy có 37 vị trí đột biến, trong đó nổi bật là các vị trí M85V, S173T, G344E với tần suất đột biến cao Ngoài ra, một số vị trí đột biến khác như N54D, K212R, A226T, S229L, K345R, E386G, A388T có tần suất thấp hơn Đặc biệt, không ghi nhận đột biến ở một số vị trí khi so sánh với chủng DENV-1 tại Việt Nam năm 2016, nhưng lại có sự khác biệt với các chủng tham chiếu toàn cầu như S10, D39, A90, K130, S157, A164, T361.
B ảng 3.8 : Đột biến acid amin trên protein NS1
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vùng protein NS1 có 33 vị trí acid amin đột biến, trong đó H111Y là vị trí có tần suất đột biến cao nhất Các đột biến với tần suất thấp hơn bao gồm L13F, A213T, I246V, R314K và K324R So với chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam năm 2016, một số vị trí không ghi nhận có đột biến, nhưng lại có sự khác biệt với các chủng tham chiếu toàn cầu như D92, I123, D146, R192, I256 và K347.
B ảng 3.9 : Đột biến acid amin trên protein NS2A
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vùng protein NS2A có 33 vị trí acid amin đột biến, trong đó H111Y là vị trí có tần suất đột biến cao nhất Các đột biến với tần suất thấp hơn bao gồm L13F, A213T, I246V, R314K và K324R So với chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam năm 2016, một số vị trí không ghi nhận có đột biến, nhưng lại khác biệt với các chủng tham chiếu toàn cầu như D92, I123, D146, R192, I256 và K347.
B ảng 3 10: Đột biến acid amin trên protein NS2B
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
So sánh trình tự acid amin của protein NS2B giữa các chủng DENV-1 trong nghiên cứu và các chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam cho thấy sự biến đổi acid amin là rất ít Chỉ có một vị trí đột biến F67L với tần suất cao được ghi nhận Một số vị trí đột biến, khi so sánh chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam năm 2016 với các năm khác, không có sự thay đổi, nhưng lại khác biệt so với các chủng tham chiếu trên thế giới như V3, E55, và L104.
B ảng 3.11 : Đột biến acid amin trên protein NS3
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vùng protein NS3 chứa 15 vị trí đột biến acid amin, nhưng không có đột biến nào có tần suất cao được ghi nhận Một số đột biến với tần suất thấp như V75L, A87E, V298M, V307I, và E369D đã được phát hiện Năm 2016, một số vị trí biến đổi acid amin của DENV-1 tại Việt Nam khác biệt so với các chủng DENV-1 tham chiếu, bao gồm R61 và V495 Đặc biệt, các đột biến giữa các chủng DENV-1 của Việt Nam qua các năm so với chủng tham chiếu được ghi nhận như N65, V75, N80, A87, và P94.
B ảng 3.12 : Đột biến acid amin trên protein NS4A
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vùng protein NS4A có 12 vị trí đột biến acid amin, trong đó không có đột biến tần suất cao Một số vị trí đột biến tần suất thấp được ghi nhận là L16M và M60I Ngoài ra, một vài vị trí như L2, N4, R10, D21, V64, R96 không ghi nhận đột biến giữa chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam năm 2016 và chủng tham chiếu từ các năm khác, nhưng lại có sự khác biệt so với các chủng trên thế giới.
B ảng 3.13 : Đột biến acid amin trên protein NS4B
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Có 11 vị trí đột biến acid amin trên vùng protein NS4B được ghi nhận Các đột biến tần xuất thấp được ghi nhận ở các vị trí D28N, T119I Các vị trí không ghi nhận đột biến giữa chủng DENV-1 gây bệnh tại Việt Nam 2016 với chủng tham chiếu nhưng có sự khác biệt với chủng trên thế giới là H15, V16, V18, H22, A25,
B ảng 3.14 : Đột biến acid amin trên protein NS5
Vị trí Nghiên cứu Việt Nam
Vùng protein NS5 có 32 vị trí đột biến acid amin được xác định khi so sánh trình tự acid amin giữa chủng nghiên cứu và các chủng tham chiếu Các vị trí đột biến có tần suất cao bao gồm R345K, Q402H, K403R, K518R, T532K, L596S, V796I và G800E Trong khi đó, các vị trí đột biến có tần suất thấp như R19K, V131I, K166R, L176F, V232A, K355R, I359A, D399N, K412R, K536E, S827T và G859S cũng được ghi nhận.
Mối liên quan giữa đột biến gen và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
B ảng 3.15 : Mối liên quan giữa genotype và tải lượng của DENV -1 v ớ i các phân độ lâm sàng
Kết quả xác định tải lượng virus từ 300 mẫu bệnh phẩm dương tính với serotype 1 cho thấy không có sự khác biệt về tải lượng DENV-1 giữa ba phân độ lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết dengue (SXHD) với giá trị p > 0,05.
B ảng 3.16 : Mối liên quan giữa genotype và tải lượng của DENV -1 v ới đố i tượng bệnh nhân là người lớn và trẻ em
Kết quả xác định tải lượng virus của các mẫu dương tính với serotype 1 của
Nghiên cứu trên 300 mẫu bệnh phẩm từ trẻ em và người lớn cho thấy không có sự khác biệt về tải lượng DENV-1 giữa hai nhóm bệnh nhân SXHD (p > 0,05).
B ảng 3.17 : Mối liên quan giữa mức độ biến đổ i acid amin v ới mức độ lâm sàng bệnh SXHD
Protein Vị trí aa gốc aa biến đổi (%)
Phân tích đột biến acid amin của các chủng DENV-1 cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ mang đột biến giữa hai nhóm bệnh nặng và không nặng Cụ thể, các đột biến tại vị trí 67R/G, 126H/Y (trên protein NS2A); 94T/A (trên protein NS2B) và 821A/T (trên protein NS5) xuất hiện nhiều hơn ở nhóm SXHD nặng Ngược lại, đột biến tại vị trí 125I/M (trên protein Pre-M) và 68M/V (trên protein NS4A) lại phổ biến hơn trong nhóm SXHD không nặng.
B ảng 3.18 : Mối liên quan giữa mức độ biến đổi axít amin ở chủng DENV -1 gây bệnh trên đối tượng bệnh nhân là người lớn và trẻ em
Protein Vị trí aa gốc aa biến đổi (%)
Hầu hết các vị trí biến đổi acid amin giữa người lớn và trẻ em không có sự khác biệt Tuy nhiên, có hai đột biến acid amin quan trọng tại vị trí 298V/M trên protein NS3 và 166H/Y trên protein NS5, thường gặp ở các chủng DENV-1 gây bệnh cho trẻ em, cho thấy sự khác biệt so với các chủng DENV-1 ở người lớn.
BÀN LUẬN
Tuổi, giới, nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu
Bệnh nhân trong nghiên cứu này được thu dung trong ba năm 2017, 2018 và
Năm 2017 ghi nhận dịch SXHD lớn với số lượng người mắc và tỷ lệ bệnh nhân nặng cao Trong số 300 bệnh nhân, bao gồm 100 trẻ em và 200 người lớn, tỷ lệ nam mắc bệnh gần tương đương với nữ (tỷ lệ nam/nữ = 1,05/1) Mặc dù tỷ lệ mắc SXHD giữa nam và nữ không có sự khác biệt qua các năm, nhưng có thể thay đổi trong các vụ dịch khác nhau Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu này tương đồng với một số nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quân năm 2018.
Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ có sự khác biệt rõ rệt, như nghiên cứu của Khan E và cộng sự năm 2010 tại Pakistan cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 63,2% và nữ là 36,8%, với tỷ lệ 1,72/1 Sự khác nhau này so với một số nghiên cứu quốc tế có thể do các hoạt động ngoài trời làm tăng nguy cơ phơi nhiễm Bên cạnh đó, các yếu tố văn hóa, lối sống, đặc điểm sinh học, khí hậu và cỡ mẫu nghiên cứu cũng có thể ảnh hưởng đến quy mô dịch và tỷ lệ mắc bệnh.
Trong nghiên cứu, chúng tôi đã chọn cả trẻ em và người lớn để đảm bảo tính đầy đủ về mọi lứa tuổi Nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là từ 11-20 tuổi, trong khi nhóm tuổi mắc bệnh thấp nhất là trên 60 tuổi Các báo cáo trước đây tại Việt Nam cho thấy lứa tuổi mắc bệnh SXHD chủ yếu là từ 16-40, với tỷ lệ từ 68,0% - 76,6% Trên thế giới, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm tuổi từ 12-35 có tỷ lệ mắc bệnh SXHD cao nhất, dao động từ 68,6% - 87,4% Các hoạt động ngoài trời được cho là làm tăng nguy cơ mắc SXHD, do trẻ em thường tham gia nhiều hoạt động ngoài trời hơn, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
Bệnh nhân HUPH thường là người lớn trẻ tuổi, thuộc nhóm có nhiều hoạt động xã hội và thường xuyên tiếp xúc với môi trường ngoài trời Do đó, họ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với người cao tuổi, những người có ít hoạt động ngoài trời hơn.
Nghề nghiệp nghiên cứu cho thấy bệnh SXHD phổ biến ở nhiều ngành nghề, với tỷ lệ mắc cao nhất ở học sinh, sinh viên và lao động trẻ Đặc điểm này phản ánh tình trạng thuê trọ trong các khu nhà ẩm thấp gần sông hồ, nơi có nhiều muỗi mang mầm bệnh Ngược lại, công nhân và nông dân lại có tỷ lệ mắc SXHD thấp nhất, điều này cần được giải thích qua các nghiên cứu dịch tễ sâu hơn với cỡ mẫu lớn hơn và đa dạng đối tượng.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập bệnh nhân mắc SXHD trong 3 ngày đầu và theo dõi đến ngày thứ 10 khi bệnh nhân hồi phục Bệnh SXHD diễn ra qua ba giai đoạn lâm sàng: giai đoạn 1 là sốt cấp tính (1-3 ngày đầu), giai đoạn 2 là giai đoạn nguy hiểm (ngày 4-6) với nhiều biến chứng, và giai đoạn 3 là giai đoạn hồi phục Sau điều trị, chúng tôi phân loại lâm sàng theo hướng dẫn của Bộ Y tế thành ba phân độ: SXHD thường (37%), SXHD cảnh báo (33%) và SXHD nặng (30%).
Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân sốt xuất huyết
4.2.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân sốt xuất huyết D engue
Dựa vào các chỉ số lâm sàng trong bệnh án, chúng tôi nhận thấy rằng 100% bệnh nhân đều có biểu hiện sốt, một triệu chứng đặc trưng của nhiễm DENV Nhiệt độ cơ thể thường duy trì ở mức ≥ 38,5 °C, kèm theo các triệu chứng như nhức đầu, nhức hai hố mắt, nôn mửa, đau cơ và đau khớp Giai đoạn sốt thường kéo dài từ ba đến bảy ngày.
HUPH xuất hiện các nốt xuất huyết với mức độ khác nhau tùy thuộc vào tình trạng bệnh Nghiên cứu ghi nhận biểu hiện sốt cao nhất trong ba ngày đầu, với nhiệt độ từ 38,5 - 39,5 o C trong suốt chín ngày theo dõi Sau ba ngày đầu, nhiệt độ có xu hướng giảm dần và đạt khoảng 37 o C vào ngày thứ bảy Diễn biến nhiệt độ của bệnh nhân trong nghiên cứu phù hợp với tài liệu y khoa và các nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tần số nhịp thở được điều hòa bởi trung tâm hô hấp ở cầu não và hành não, với nhịp thở bình thường của người lớn từ 16 – 20 lần/phút và trẻ em trên 6 tuổi là 18 – 20 lần/phút Nghiên cứu cho thấy nhịp thở của bệnh nhân cao nhất vào ngày đầu tiên (21 lần/phút), sau đó ổn định quanh mức 20 lần/phút từ ngày thứ hai đến ngày thứ chín Trong các yếu tố như CO2, O2 và pH máu, chỉ có CO2 và pH ảnh hưởng đáng kể đến tần số nhịp thở Ở người bình thường, nồng độ CO2 được duy trì ổn định nhờ nhiều cơ chế, trong đó có điều chỉnh tần số nhịp thở Khi nồng độ CO2 tăng, pH máu cũng tăng theo, gây rối loạn và kích thích tăng nhịp thở Do đó, cơ thể sẽ nhanh chóng điều chỉnh để giảm CO2 về mức bình thường, trong khi O2 ít ảnh hưởng hơn đến tần số thở.
Chỉ số SpO2 của nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu không có sự thay đổi đáng kể trong suốt chín ngày theo dõi ở cả ba nhóm phân độ lâm sàng Giá trị SpO2 ở người bình thường dao động từ 95 – 100%, là chỉ số quan trọng để đánh giá dấu hiệu sinh tồn và cảnh báo tình trạng oxy hóa máu khi dưới 95%, nguy hiểm khi dưới 90% Mức độ bão hòa oxy trong máu của bệnh nhân ghi nhận dao động từ 97,3 - 98,25%, cho thấy không có dấu hiệu suy hô hấp ở cả ba nhóm phân độ lâm sàng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biểu hiện lâm sàng bệnh SXHD ở người lớn và trẻ em tương tự nhau.
4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng bệnh nhân sốt xuất huyết D engue
Chúng tôi đã đánh giá các chỉ số xét nghiệm vào các ngày thứ 1, 3, 6 và 9 trong quá trình theo dõi Kết quả cho thấy số lượng bạch cầu giảm sớm (