1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn, giảm thính lực và biện pháp dự phòng ở người lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá an giang năm 2018

118 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn, giảm thính lực và biện pháp dự phòng ở người lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang năm 2018
Tác giả Huỳnh Thị Hồng Giang
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Bích
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cắt ngang phân tích được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2018 tại Công ty TNHH một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang nhằm xác định mức độ ô nhiễm tiếng ồn tạ

Trang 1

HUỲNH THỊ HỒNG GIANG

THỰC TRẠNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN, GIẢM THÍNH LỰC

VÀ BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG Ở NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN ĐÁ AN GIANG NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2018HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HUỲNH THỊ HỒNG GIANG

THỰC TRẠNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN, GIẢM THÍNH LỰC

VÀ BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG Ở NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN ĐÁ AN GIANG NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn, em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Y tế công cộng, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, Ban Giám đốc Sở Y tế An Giang, Ban Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh An Giang đã tạo điều kiện cho em tham dự khóa học này

Em xin chân thành cám ơn đến Quý Thầy/Cô các Phòng, Bộ môn Trường Đại học

Y tế công cộng và các cán bộ Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Giáo viên hướng dẫn đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, định hướng cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, điều tra viên Khoa Sức khỏe nghề nghiệp – Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh An Giang và anh Võ Tấn Khoa đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu Luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Phòng/Bộ phận sản xuất của Công ty TNHH MTV khai thác & Chế biến đá An Giang đã nhiệt tình hỗ trợ, hợp tác, giúp

đỡ trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận văn đã nhận được sự động viên, chia

sẻ, giúp đỡ của gia đình, anh em, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân Em xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

Xin trân trọng cảm ơn./

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC BẢNG vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số vấn đề cơ bản về tiếng ồn 4

1.1.1 Tiếng ồn 4

1.1.2 Giảm thính lực 7

1.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe người lao động 8

1.2.1 Các yếu tác hại của tiếng ồn và khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động của tiếng ồn 8

1.2.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe con người 9

1.3 Biện pháp phòng chống tiếng ồn tại nơi làm việc 12

1.4 Thực trạng tiếng ồn nơi làm việc và giảm thính lực của người lao động 14

1.4.1 Thực trạng tiếng ồn nơi làm việc và giảm thính lực của người lao động trên thế giới 14

1.4.2 Thực trạng tiếng ồn nơi làm việc và giảm thính lực của người lao động tại Việt Nam 15

1.4.3 Thực trạng tiếng ồn và thính lực của người lao động trong ngành khai thác đá 17

1.5 Các yếu tố liên quan đến giảm thính lực và biện pháp dự phòng giảm thính lực ở người lao động 19

1.6 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 21

HUPH

Trang 5

KHUNG LÝ THUYẾT 24

Chương 2 25

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Thiết kế nghiên cứu 25

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.4.1 Đối với mẫu nghiên cứu về tiếng ồn 25

2.4.2 Đối với người lao động 26

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.5.1 Số liệu về tiếng ồn 27

2.5.2 Số liệu về giảm thính lực và các biện pháp dự phòng 28

2.5.3 Quá trình thu thập số liệu 30

2.6 Các biến số nghiên cứu 30

2.6.1 Biến số về cường độ tiếng ồn 30

2.6.2 Biến số về giảm thính lực 30

2.6.3 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 31

2.6.4 Nhóm biến về biện pháp dự phòng giảm thính lực của người lao động và một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng 32

2.6.5 Tiêu chuẩn đánh giá 32

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 32

2.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 33

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 33

Chương 3 35

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Kết quả đo tiếng ồn tại các khu vực sản xuất của công ty 35

3.2 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 38

3.3 Thực trạng giảm thính lực của người lao động tại công ty 40

3.4 Mô tả thực hành phòng, chống giảm thính lực tại công ty và một số yếu tố liên quan đến thực hành của người lao động tại Công ty 42

HUPH

Trang 6

3.4.1 Mô tả thực hành phòng, chống giảm thính lực tại công ty và kiến thức,

thái độ của người lao động 42

3.4.2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống giảm thính lực của người lao động tại công ty 48

Chương 4 51

BÀN LUẬN 51

4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 51

4.2 Kết quả khảo sát thực trạng phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc của NLĐ 52

4.2.1 Nguồn gây ồn 52

4.2.2 Thực trạng tiếng ồn tại mỏ khai thác 53

4.3 Thực trạng giảm thính lực của người lao động tại công ty 54

4.4 Mô tả thực hành dự phòng giảm thính lực tại công ty và một số yếu tố liên quan đến thực hành của người lao động tại Công ty 54

4.4.1 Thực hành dự phòng giảm thính lực của người lao động tại công ty 54

4.4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng giảm thính lực của người lao động tại Công ty 56

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Phụ lục 1 71

Phụ lục 2 76

Phụ lục 3 80

Phụ lục 4 85

Phụ lục 5 89

Phụ lục 6 90

Phụ lục 7 91

Phụ lục 8 92

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ATLĐ An toàn lao động

ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động

ILO Tổ chức lao động quốc tế

MTLĐ Môi trường lao động

NLĐ Người lao động

QCKT Quy chuẩn kỹ thuật

TCVSLĐ Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TTYTDP Trung tâm Y tế dự phòng

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Dây chuyền công nghệ sản xuất của công ty 23

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Mức áp âm của một số nguồn ồn trong sản xuất công nghiệp 5

Bảng 1.2 Mức áp suất âm tại các vị trí làm việc 7

Bảng 3.1 Kết quả đo tiếng ồn chung theo từng vị trí làm việc tại 3 khu vực 35

Bảng 3.2 Kết quả phân tích tiếng ồn theo dải tần tại 3 khu vực 36

Bảng 3.3 Cường độ tiếng ồn theo từng dải tần số 37

Bảng 3.4 Phân tích cường độ tiếng ồn theo từng dải tần số 37

Bảng 3.5 Một số đặc điểm về nhân khẩu học của người lao động (N = 215) 38

Bảng 3.6 Vị trí công tác của người lao động 39

Bảng 3.7 Đặc tính về tuổi nghề theo bộ phận công tác 40

Bảng 3.8 Tình trạng GTL của người lao động tham gia đo thính lực sơ bộ 40

Bảng 3.9 Tình trạng tai giảm thính lực của người lao động được chuẩn đoán giảm thính lực sơ bộ 41

Bảng 3.10 Phân bố số người lao động giảm thính lực theo vị trí làm việc 41

Bảng 3.11 Thực hành sử dụng nút tai chống ồn và tần suất sử dụng nút tai chống ồn trong quá trình làm việc của người lao động 42

Bảng 3.12 Thực hành bảo quản nút tai chống ồn 43

Bảng 3.13 Thực hành tự nhắc nhở với nhau cùng sử dụng nút tai chống ồn 43

Bảng 3.14 Thực hành luân chuyển vị trí công tác 43

Bảng 3.15 Thời gian tiếp xúc với tiếng ồn trong lúc làm việc và thời gian nghỉ giữa giờ của người lao động 44

Bảng 3.16 Thực trạng tham gia khám sức khỏe định kỳ 44

Bảng 3.17 Đánh giá thực hành chung của NLĐ về phòng, chống GTL 44

Bảng 3.18 Người lao động được tập huấn kiến thức về phòng, chống giảm thính lực (N = 215) 45

HUPH

Trang 9

Bảng 3.19 Kiến thức của người lao động về nguyên nhân gây GTL (N= 215) 45Bảng 3.20 Kiến thức của người lao động về tác dụng của chụp tai/nút tai chống ồn (N = 215) 45Bảng 3.21 Kiến thức của người lao động về việc điều trị và các biện pháp phòng, chống giảm thính lực (N = 215) 46Bảng 3.22 Kiến thức chung của NLĐ về phòng, chống GTL (N = 215) 46Bảng 3.23 Các kết quả về thái độ của người lao động trong việc phòng, chống giảm thính lực (N = 215) 47Bảng 3.24 Thái độ chung của người lao động trong việc phòng, chống giảm thính lực 48Bảng 3.25 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống GTL của NLĐ 48

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tiếng ồn là một trong những yếu tố tác hại gây ô nhiễm phổ biến nhất trong sản xuất và gây ra tình trạng giảm thính lực dẫn đến bệnh điếc nghề nghiệp luôn là một trong ba bệnh nghề nghiệp đứng đầu về tỷ lệ người mắc ở nhiều quốc gia, trong

đó có Việt Nam Ngành khai thác đá là ngành đặc thù, trong đó người lao động thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn, tỷ lệ mắc giảm thính lực nghề nghiệp ở người lao động luôn ở mức cao

Nghiên cứu cắt ngang phân tích được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2018 tại Công ty TNHH một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang nhằm xác định mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại các vị trí làm việc trực tiếp của người lao động (NLĐ), thực trạng giảm thính lực (GTL) sơ bộ và các biện pháp thực hành của NLĐ trong phòng chống tác hại do tiếng ồn Đối tượng nghiên cứu là môi trường lao động và NLĐ làm việc trực tiếp sản xuất tại Công ty Số liệu được thu thập phục vụ nghiên cứu bằng cách đo xác định mức độ tiếng ồn tại các vị trí làm việc, đo GTL sơ bộ và phỏng vấn toàn bộ 215 NLĐ bằng bộ câu hỏi

Kết quả nghiên cứu cho thấy cường độ tiếng ồn tại thời điểm nghiên cứu dao động từ 74,5 – 100,5dBA, số mẫu vượt QCKT là 127/176 mẫu (71,16%) và tỷ lệ mẫu phân tích theo dải tần vượt QCKT là 76,14%, tập trung vào bộ phận Khu vực

Mỏ khai thác và khu vực Nghiền sàng, tại các dải tần số từ 250 – 8000Hz Mức độ

ồn tại các khu vực này vượt QCKT cho phép cao nhất tại dải tần 1000Hz (100%) là 17,6dBA và dải tần 4000Hz (100%) là 18,8dBA

Tỷ lệ GTL sơ bộ đường khí ở NLĐ tại công ty chiếm 10,70%, trong nhóm có giảm thính lực, tỷ lệ NLĐ bị GTL một bên tai là 69,56% và 30,44% GTL hai tai

Người lao động thực hành đúng dự phòng giảm thính lực chỉ đạt 21,40% Lĩnh vực thực hành không đạt chủ yếu là NLĐ không sử dụng chụp tai/nút tai chống ồn (78,6%) hoặc sử dụng chụp tai/nút tai chống ồn không xuyên suốt trong quá trình làm việc (100% không đạt)

Nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố liên quan tới thực hành dự phòng của NLĐ là yếu tố tuổi đời, tuổi nghề của NLĐ trong đó tuổi đời > 39 và tuổi nghề hơn

HUPH

Trang 11

10 năm có thực hành đúng tỷ lệ cao hơn nhóm còn lại Trong nghiên cứu này chưa phát hiện thấy mối liên quan giữa yếu tố kiến thức, thái độ, trình độ học vấn, dân tộc và vị trí làm việc của NLĐ với thực hành dự phòng GTL

Từ kết quả nghiên cứu, khuyến nghị đặt ra đối với Công ty là cần có kế hoạch nâng cao nhận thức, khả năng thực hành trong công tác phòng chống ô nhiễm tiếng ồn, giảm thính lực cho người lao động

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với quá trình phát triển công nghiệp các thiết bị công suất lớn, năng suất cao được sử dụng nhiều hơn, tiếng ồn là một trong những loại hình gây ô nhiễm ngày càng phổ biến cho môi trường và trong sản xuất, đưa đến việc mắc phải giảm thính lực (GTL) là giai đoạn đầu tiên của điếc nghề nghiệp (ĐNN), khi được phát hiện, dự phòng ở giai đoạn này sẽ giúp người lao động (NLĐ) dự phòng điếc nghề nghiệp vĩnh viễn (không hồi phục) Bệnh điếc nghề nghiệp luôn đứng đầu về

tỷ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp (BNN) [32] Thực tế đó đòi hỏi công tác an toàn,

vệ sinh lao động (ATVSLĐ) cũng phải có những sự thích ứng mới, đối phó kịp thời trước những nguy cơ, rủi ro có thể ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ

Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế, của 57 tỉnh thành trên

cả nước trong năm 2016 bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn chiếm tỷ lệ cao nhất là 64,40% tổng số các trường hợp bị bệnh nghề nghiệ, tiếng ồn vượt quy chuẩn cho phép chiếm thứ 2 (14,7%) trong tổng số mẫu quan trắc môi trường lao động không đạt tiêu chuẩn vệ sinh [1]

Trong những năm gần đây, lĩnh vực khai thác khoáng sản nói chung và khai thác đá nói riêng phát triển rất mạnh mẽ cả về số lượng đơn vị khai thác lẫn qui mô

và lực lượng lao động [18] Các đơn vị khai thác đá ra đời đã giải quyết việc làm trực tiếp cho hàng trăm nghìn lao động, tạo việc làm gián tiếp cho hàng triệu lao động, góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, xã hội Bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển của địa phương, ngành khai thác đá cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về vấn đề ATVSLĐ Công tác chăm sóc sức khỏe và phòng chống BNN cho NLĐ được quan tâm thực hiện nhưng chưa đồng bộ, nhận thức của người sử dụng lao động, NLĐ về ATVSLĐ, phòng chống BNN còn hạn chế và thực trạng môi trường lao động (MTLĐ) vẫn còn ô nhiễm do đặc thù ngành khai thác đá phải tiếp xúc với hàm lượng bụi và đặc biệt là cường độ tiếng ồn cao [18] Đặc thù sản xuất của ngành khai thác và chế biến đá dẫn đến vấn đề ô nhiễm tiếng ồn trong môi trường lao động ở mức cao, tần suất tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép luôn đứng đầu trong các yếu tố nguy cơ

HUPH

Trang 13

ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ trong ngành này

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang tại ấp Tô Bình, xã Cô Tô, huyện Tri Tôn với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực chính là khai thác đá, cát sỏi, đất sét Là đơn vị với chức năng chuyên sản xuất

và cung ứng các loại đá xây dựng cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, với qui

mô 4 công trường khai thác và 17 dây chuyền nghiền sàng Hiện tại, công tác chăm sóc sức khỏe NLĐ tại đơn vị luôn được quan tâm, hằng năm đều tổ chức khám sức khỏe định kì, đo môi trường lao động nhưng với đặc thù của ngành sản xuất đá mức độ ô nhiễm tiếng ồn còn khá cao gây ảnh hưởng đến thính lực của NLĐ khi tiếp xúc trong thời gian dài nên vẫn còn có một số trường hợp NLĐ mắc phải GTL do

tiếng ồn gây ra Vì vậy, nghiên cứu“Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn, giảm thính lực

và biện pháp dự phòng ở người lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang năm 2018” đã được triển khai với

mong muốn tìm hiểu về thực trạng ô nhiễm tiếng ồn, giảm thính lực của người lao động tại công ty và một số biện pháp dự phòng giảm thính lực

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng ô nhiễm tiếng ồn tại khu vực sản xuất trực tiếp của Công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang năm

2018

2 Mô tả thực trạng giảm thính lực ở người lao động trực tiếp sản xuất tại

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang năm 2018

3 Mô tả thực hành dự phòng giảm thính lực và xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang năm 2018

HUPH

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Một cách định nghĩa khác: Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ

và tần số khác nhau, được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi hay là những âm thanh mà người ta không mong muốn [12], [28], [56]

1.1.1.2 Phân loại tiếng ồn

Tiếng ồn là một trong số những loại hình gây ô nhiễm ngày càng phổ biến cho môi trường và trong sản xuất Tiếng ồn rất đa dạng và có nhiều nguồn gốc khác nhau Có nhiều cách phân loại nguồn ồn như:

có những lúc ngắt quãng từ 1 giây trở lên và cuối cùng là tiếng ồn xung, có cường

độ âm tăng lên đột ngột trong thời gian không quá 1 giây [32], [22], [28]

Theo năng lượng âm:

HUPH

Trang 16

+ Tiếng ồn dải rộng: Khi năng lượng âm thanh phân bố đều ở tất cả các dải tần số Còn gọi là tiếng ồn trắng

+ Tiếng ồn dải hẹp: Khi năng lượng âm thanh phân bố không đều ở tất cả các dải tần số, mức chênh lệch trên 6dB Còn gọi là tiếng ồn âm sắc, gây kích thích mạnh hơn tiếng ồn dải rộng [22], [28]

Bảng 1.1 Mức áp âm của một số nguồn ồn trong sản xuất công nghiệp

Nói chuyện thường 55 – 65

Phân xưởng cơ khí: máy tiện, bào 85 – 95

Phân xưởng sợi con 85 – 95

Máy dệt thoi (các loại) 85 – 102

Máy khoan đá cầm tay (khí nén) 100 – 105

Máy của đĩa khi cưa gỗ rắn 100 – 105

Máy mài kim loại cầm tay 100 – 105

Máy tán ri vê trên cầu 100 – 110

Động cơ > 100 mã lực, không giảm âm 105 – 115

Động cơ phản lực >140

(Nguồn: Giáo trình Tiếng ồn, rung động trong sản xuất) [32]

1.1.1.3 Tiêu chuẩn đánh giá tiếng ồn trong môi trường lao động

Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với mục đích cuối cùng

là đưa ra tiêu chuẩn khuyến cáo về sự nguy hại của người tiếp xúc với tiếng ồn Để định mức tiêu chuẩn tiếng ồn trước hết phải xuất phát từ đặc điểm cảm thụ âm thanh của tai người và các đặc điểm bức xạ của tiếng ồn như mức âm, tần số, thời gian tiếp xúc

HUPH

Trang 17

Định mức vệ sinh của tiếng ồn trong sản xuất là giới hạn cho phép về tiếng

ồn, mà trong giới hạn đó NLĐ có thể làm việc trong nhiều năm không bị BNN do tiếng ồn Mỗi nước trên thế giới đều có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành hoặc các quy định bắt buộc thi hành hay khuyến khích thi hành [32]

Mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới đều xây dựng một tiêu chuẩn về giới hạn mức âm tương đương khác nhau, nhưng vẫn nằm trong giới hạn từ 85 – 90dBA trong thời gian làm việc 8 giờ/ngày

Tại Việt Nam, hiện nay đang sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 24:2016/BYT được ban hành kèm Thông tư số 24/2016/TT-BYT ngày 30/6/2016 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn – Mức độ tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc Trong đó quy định cụ thể mức tiếng ồn cho phép tại các vị trí làm việc trong MTLĐ của các xí nghiệp, cơ sở sản xuất, cơ quan chịu ảnh hưởng của tiếng ồn

+ Mức ồn cho phép tại vị trí làm việc được đánh giá bằng mức áp suất âm tương đương tại mọi vị trí làm việc, đo theo đặc tính thang A, thang A được lập ra

để nhấn mạnh vào những tần số mà tai người nhạy cảm nhất, cũng để giảm thiểu tác động của những âm thanh có tần số rất thấp hoặc rất cao Trong thời gian lao động 8 giờ, mức âm liên tục tại nơi làm việc không được vượt quá 85dBA

+ Thời gian tiếp xúc với tiếng ồn giảm 1/2, mức ồn cho phép tăng thêm 3dBA.Mức cực đại không được vượt 115dBA.Thời gian lao động còn lại trong ngày làm việc chỉ được tiếp xúc với tiếng ồn dưới 80dBA

+ Mức áp suất âm cho phép đối với tiếng ồn xung thấp hơn 5dBA so với các giá trị tương ứng nêu trên

+ Để đạt được năng suất làm việc tại các vị trí lao động khác nhau cần đảm bảo mức áp suất âm theo tần số cho phép tại các vị trí làm việc, cụ thể như sau:

HUPH

Trang 18

Bảng 1.2 Mức áp suất âm tại các vị trí làm việc [29]

Vị trí lao động

Mức

âm dBA

Mức âm dB ở các dải ốc ta với tần số trung bình nhân (Hz) không vƣợt quá (dB)

63 125 250 500 1000 2000 4000 8000 Tại vị trí làm việc,

+ Đo tại chỗ làm việc của người tiếp xúc

+ Micro của máy đo ồn để ngang tầm tai người công nhân (tùy thuộc vào người công nhân đứng hay ngồi), hướng về phía nguồn ồn

+ Máy đo ồn để cách cán bộ kỹ thuật đo 0.5m

+ Tốt nhất là sử dụng máy đo liều ồn (Noise dosimeter) Cài máy trên người tiếp xúc với tiếng ồn theo đúng tài liệu chỉ dẫn sử dụng máy [37]

1.1.2 Giảm thính lực

Tiêu chuẩn xác định giảm thính lực: Giảm thính lực là khi dùng máy đo thính lực âm đo theo dẫn truyền đường khí ở hai tần số 1000Hz và 4000Hz mà ngưỡng nghe của đối tượng từ 50 – 60dB ở tần số 4000Hz thì gọi là GTL[37]

Tiêu chuẩn chẩn đoán giảm thính lực theo Bộ Y tế:

HUPH

Trang 19

+ Yếu tố tiếp xúc: Tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ từ 90dBA trở lên, nếu tiếng ồn có xung thì mức này là 85dBA, thời gian tiếp xúc tối thiểu là 3 tháng (với mức 6 giờ một ngày trở lên)

+ Không bị tổn thương tiền đình, không có tổn thương thực thể màng nhĩ và không có tiền sử bệnh tật về: chấn thương sọ não, ngộ độc hóa chất độc, chấn thương âm

+ Khi đo thính lực sơ bộ bằng máy đo thính lực âm đo ở hai tần số 1000Hz

và 4000Hz theo dẫn truyền đường khí Đo ngay tại cơ sở, với phòng cách âm có âm nền không quá 45dBA Dùng đo định kỳ hàng năm nếu phát hiện những người GTL

từ 50 – 60dBA ở tần số 4000Hz, giảm đều ở hai tai thì chẩn đoán là GTL và cần đo thính lực hoàn chỉnh để phát hiện bệnh ĐNN [37]

1.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe người lao động

1.2.1 Các tác hại của tiếng ồn và khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động của tiếng ồn

Tiếng ồn là một trong các yếu tố của môi trường tác động xấu lên NLĐ khi làm việc Tác hại của tiếng ồn phụ thuộc vào bản chất vật lý, vào các yếu tố nguy cơ tác nhân phối hợp trong quá trình làm việc như nhiệt độ cao, hơi khí độc, rung Ngoài ra thời gian tiếp xúc càng kéo dài, càng có hại, thời gian tối thiểu để tiếng ồn gây ra bệnh ĐNN phải là 3 tháng, nếu dưới 3 tháng mà tiếng ồn đã gây hại thì được coi là tai nạn lao động do tiếng ồn và một phần vào tính cảm thụ của từng cá nhân trong từng thời điểm khác nhau mà tiếng ồn gây hại nhiều hay ít [22], [28]

Ảnh hưởng đặc trưng: Tiếng ồn được hấp thụ qua tai, một số âm thanh tần số thấp và siêu tần được hấp thụ trực tiếp vào cơ thể [21] Tiếp xúc liên tục với tiếng

ồn cao đầu tiên sẽ bị mệt mỏi thính giác rồi đến GTL dần dần và cuối cùng là giảm toàn phần thính lực hay gọi là ―Điếc nghề nghiệp‖ [27], [41]

Ngoài ảnh hưởng đến thính giác tiếng ồn còn gây ảnh hưởng chung đến cơ thể (tác hại không đặc trưng) như ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương, sau khi tiếp xúc với tiếng ồn thường xuất hiện các dấu hiệu ban đầu như ù tai, chóng mặt đau đầu, mệt mỏi, giảm trí nhớ, giảm độ tập trung, ngủ không ngon và không sâu

HUPH

Trang 20

giấc, dễ đưa đến suy nhược thần kinh [12], [50] Ngoài ra, khi làm việc trong điều kiện ồn ào có thể bị ức chế tiêu hoá, rối loạn chức năng hệ tim mạch Tiếng ồn cao

là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất lao động và tăng tỷ lệ tai nạn lao động [27], [41], [51]

1.2.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe con người

1.2.2.1 Ảnh hưởng đến sức nghe

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếng ồn ảnh hưởng đến sức nghe của con người Các tác giả Burns.W, Robinson.D.W (1973); Satalop.N.N (1976); Roger.P, Hamernik (1988) [49], Melamed S, Luz J, Green MS (1992) [64]; M.Nathaniel Mead (2007) [62] đã cho thấy tiếng ồn gây ảnh hưởng xấu sức nghe và tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn sẽ giảm thính lực

Bộ Môi trường Mỹ (EPA) cảnh báo để hạn chế bệnh điếc, mọi người không nên tiếp xúc với môi trường có độ ồn lớn hơn 70dBA trong khoảng thời gian 24 giờ liên tục Ngoài ra, nếu làm việc liên tục trong môi trường có độ ồn trên 55dBA (ngoài trời) và 45dBA (trong nhà) trong thời gian dài liên tục cũng sẽ gây ảnh hưởng đến sức nghe [7] Theo Viện an toàn và sức khỏe nghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH), có mười triệu người ở Hoa Kỳ bị mất thính giác do tiếng ồn [39]

Bộ Môi trường Đức (GFEA) gần đây đã hoàn thành nhiều nghiên cứu và phát hiện thấy mối nguy hại của tiếng ồn đối với sức khoẻ, như giảm thính lực, làm tăng stress, tăng huyết áp Cũng theo GFEA, ngoài tiếng ồn công nghiệp, thì tiếng

ồn về âm nhạc, như nhạc rock, nhạc disco, hoặc các loại nhạc phát ra từ thiết bị giải trí cá nhân cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ Một trong những hiện tượng thường thấy là

ù tai và dần dẫn đến mất sức nghe và thực tế có người còn rất trẻ nhưng do nghe nhạc ở độ ồn lớn và quá lâu nên đã bị điếc [7]

Năm 2000, Hernández-Gaytán SI và cộng sự đã tiến hành kiểm tra thính lực của 85 công nhân và đo cường độ ồn trong một nhà máy xi măng tại Tây Ban Nha Kết quả cho thấy 55% công nhân có vấn đề về sức nghe do tiếp xúc với tiếng ồn và công nhân làm việc tại khu vực nung có tỷ lệ cao nhất, mức độ ồn cao xuất hiện tại khu vực nghiền, xay thô và đóng bao [65]

HUPH

Trang 21

Tại Việt Nam, theo các tác giả Nguyễn Thị Toán, Lê Trung (1992); Nguyễn Quang Khanh (2002) [15]; Nguyễn Đăng Quốc Chấn (2003) [4] và 2006 [5]; Hà Lan Phương (2007) [23], tiến hành các nghiên cứu đều cho thấy rằng ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe của NLĐ gây ra GTL và bệnh ĐNN Năm 2009 tác giả Hoàng Minh Thúy đã cho thấy rằng ảnh hưởng do tiếng ồn gây ra bệnh ĐNN [34]

Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Hiền từ năm 2007 – 2009 tại Công ty than Hà Lầm: Kết quả khám BNN cho thấy, tỷ lệ điếc ĐNN là 11,0%, trong đó nhóm tiếp xúc với tiếng ồn là 8,8% [13]

Theo tác giả Phạm Thúy Hoa, Nguyễn Xuân Tâm và cộng sự (2006) nghiên cứu MTLĐ và bệnh tật của công nhân một số ngành nghề ở Tây Nguyên cho thấy, tiếng ồn gây tác hại đến sức nghe của NLĐ, tỷ lệ công nhân sản xuất xi măng giảm sức nghe đường khí tai phải là 15,38% và giảm sức nghe đường khí 2 tai là 7,69% [14] Trong năm 2006 tác giả Nguyễn Thị Thoại, Trịnh Hồng Lân và cộng sự chỉ ra rằng 12,31% NLĐ bị ĐNN do tiếp xúc với tiếng ồn tại Nhà máy Xi măng Hòn Chông [31]

Theo PGS Doãn Ngọc Hải (2017), tiếng ồn là nguyên nhân gây ảnh hưởng sức khỏe lớn thứ 2 sau bụi Tiếng ồn tác động lên con người ở 3 khía cạnh: che lấp

âm thanh cần nghe làm suy giảm phản xạ tự nhiên của con người với âm thanh; gây bệnh đối với thính giác và hệ thần kinh, gián tiếp gây ra bệnh tim mạch; tiếp xúc với tiếng ồn cao lâu ngày dẫn tới bệnh đãng trí và bệnh điếc không thể phục hồi Nếu sống trong môi trường có tiếng ồn quá lớn thì không chỉ gây tâm thần mà còn gây tổn thương đối với phần tai trong, dây thần kinh thính giác bị teo lại…Với trẻ

em, tiếng ồn có thể khiến trẻ mất tập trung, ảnh hưởng đến hiệu quả học từ ngữ của chúng ngay từ những năm đầu đời [20]

1.2.2.2 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn

Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn là bệnh nghe kém không hồi phục do tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao trong quá trình lao động [30] Điếc nghề nghiệp diễn ra rất chậm, nhưng không có quy luật nhất định về thời gian Diễn biến theo lâm sàng chia ra 04 giai đoạn tiến triển [28]:

HUPH

Trang 22

+ Giai đoạn đầu mệt mỏi thính giác: Đây là giai đoạn thích ứng, xảy ra từ

vài tuần đến vài tháng sau khi tiếp xúc với tiếng ồn Bệnh nhân cảm thấy ù tai, cảm giác tức ở tai như bị nút tai, có cảm giác nghe kém vào cuối hay sau giờ lao động, ít chú ý đến Toàn thân suy nhược, mệt mỏi, nhức đầu, mất ngủ Đo thính lực sau ngày làm việc giảm rất giới hạn ở tần số 4000Hz Khi nghỉ ngơi, thính lực hồi phục hoàn toàn Tần số 4000Hz hồi phục chậm nhất

+ Giai đoạn tiềm tàng: Giai đoạn này kéo dài hằng năm, đến 5 – 7 năm

Người bệnh không biết vì các triệu chứng chủ quan và toàn thân qua đi Tiếng nói

to ở nơi ồn ào lại nghe được rõ hết, chỉ cảm thấy trở ngại khi nghe âm nhạc, vì nghe kém ở tần số cao Khuyết chữ V rõ rệt, đỉnh có thể tới 50 – 60dB ở 4000Hz và có thể lan rộng tới các tần số 3000 và 6000Hz Ở thời kỳ này, đo thính lực âm là cách phát hiện hàng loạt tốt và sớm Có thể cho nghe tiếng tích tắc đồng hồ, tiếng này có cường độ 30 – 40dB, có tần số 3000 – 4000Hz

+ Giai đoạn tiềm tàng gần hoàn toàn: Đường biểu diễn thính lực âm có

khuyết hình chữ V nhưng các nhánh đã mở rộng ra tới các tần số 2000, 1000Hz, vùng nói chuyện bị ảnh hưởng (500 – 2000Hz) có thể mất 70dBA ở 4000Hz Tần số 8000Hz cũng có thể bị ảnh hưởng Người bệnh khó chịu khi nghe và không nghe được tiếng nói thầm Giai đoạn này kéo dài 10 – 15 năm

+ Giai đoạn điếc rõ rệt: Ở giai đoạn này tiếng nói to cũng khó nghe Bệnh

nhân thường ù tai thường xuyên, nói chuyện khó khăn Đo thính lực khuyết chữ V lan rộng tới cả tần số 1000, 500 và 250Hz Thính trường thu hẹp, không những ngưỡng nghe tăng cao mà ngưỡng đau còn hạ thấp xuống

1.2.2.3 Ảnh hưởng đến tim mạch

Một nghiên cứu ở Anh cho thấy, tiếng ồn từ các phương tiện giao thông sẽ làm rút ngắn tuổi thọ của con người, tăng nguy cơ đột quỵ Nghiên cứu trên do Tạp chí Tim mạch châu Âu thực hiện Dữ liệu được thu thập từ 8,6 triệu người sống tại London từ năm 2003 – 2010 cho thấy: Những người bị bao bọc bởi tiếng ồn giao thông lớn hơn 60dB (decibel) có nguy cơ chết sớm hơn khoảng 4% so với những người chịu tiếng ồn dưới 55dB [7]

HUPH

Trang 23

Theo tác giả Wolfgang Babisch và các cộng sự (2013) đã kết luận tiếng ồn

có ảnh hưởng đến việc tăng huyết áp [47] Ngoài thính giác bị ảnh hưởng nhiều nhất thì tiếng ồn còn gây ra cảm giác bị xáo trộn, bực bội và ảnh hưởng sức khoẻ tim mạch Năm 2011, WHO ước tính rằng ở các nước Tây Âu có thu nhập cao (dân số khoảng 340 triệu người), ít nhất 1 triệu năm sống khỏe mạnh (năm điều chỉnh khuyết tật) bị mất hàng năm do tiếng ồn môi trường [68]

Theo nghiên cứu của các tác giả Swinburn TK, Hammer MS, Neitzel RL (2015) tại Mỹ, đã kết luận khi giảm tiếng ồn 5dB sẽ làm giảm tỷ lệ cao huyết áp 1,4% và bệnh mạch vành là 1,8% [67]

1.3 Biện pháp phòng chống tiếng ồn tại nơi làm việc

Biện pháp giảm tiếng ồn có hiệu quả và tích cực là khi phân xưởng sản xuất

sử dụng các thiết bị, máy móc ít gây ồn hoặc sử dụng các máy móc tự động, nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện kinh phí của đơn vị Do đó, các vấn đề đặt ra nhằm khắc phục nguồn ồn từ các thiết bị, máy móc lạc hậu và nếu cần thiết phải trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân phòng, chống ảnh hưởng của tiếng ồn trong môi trường sản xuất cho người lao động

Biện pháp kỹ thuật

+ Dự phòng ngay từ khi thiết kế xây dựng công nghiệp hệ thống nhà xưởng,

bố trí máy móc, chọn lựa thiết bị… [8]

+ Giảm tiếng ồn ngay nguồn phát sinh là một biện pháp chủ động và tích cực, giảm tận gốc nguồn phát sinh tiếng ồn Các biện pháp công nghệ có thể áp dụng như thay vật liệu, giảm tốc độ, bôi trơn, đệm cao su…, giảm nguồn ồn bằng cách cách ly nguồn phát sinh tiếng ồn, làm hệ thống hai cửa, tường dày, vật liệu xốp hoặc bọc kín máy gây ồn nhiều và tổ chức bố trí máy móc, sắp xếp trang thiết bị hợp lý [27, 28] Ngoài ra có thể tính toán, áp dụng các biện pháp giảm tiếng ồn trên đường truyền như sử dụng các vật liệu hấp thu bề mặt và phản xạ tại chỗ, loại bỏ các bề mặt phản xạ thay bằng các vật liệu hấp thu tiếng ồn như len, thủy tinh… [32]

+ Thay thế bằng công nghệ sản xuất không gây ồn, sử dụng công nghệ mới,

cơ giới hóa, tự động hóa, điều khiển từ xa… [8]

HUPH

Trang 24

độ quá cao, có thể điều trị bằng bố trí nghỉ ngơi trong một số ngày hoặc vài tuần lễ [27, 28]

Biện pháp giám sát môi trường

+ Đánh giá tiếp xúc nghề nghiệp của NLĐ, chỉ định phòng hộ

+ Kiểm tra hiệu quả của các biện pháp kỹ thuât

+ Khuyến cáo hoặc bắt buộc áp dụng các luật lệ hiện hành liên quan đến tiếng ồn trong sản xuất đối với các cơ sở sản xuất

+ Xác định độ ồn bằng máy Khi chưa có máy đo ồn, có thể nhận xét sơ bộ

về ồn bẳng cảm quan như sau: trong môi trường ồn, nếu nói to nghe được rõ, tiếng

ồn khoảng 70dB Nói thật to mới nghe được tiếng ồn khoảng 90dB Nói to như hét lên mà vẫn không nghe thấy, tiếng ồn khoảng 100dB [8]

sẽ được bố trí vào vị trí có tiếng ồn cần phải kiểm tra kỹ về tai, mũi, họng và đo

HUPH

Trang 25

thính lực Không bố trí vào vị trí có tiếng ồn cao các đối tượng bị các bệnh sau: viêm mũi, viêm tai giữa nhiều lần, tổn thương mê đạo, thần kinh không bình thường, bệnh tuyến nội tiết, bệnh tim mạch, loạn thính giác [8]

+ Kiểm tra sức khỏe định kỳ hoặc đột xuất những người tiếp xúc: Khi làm việc trong môi trường ồn, ít nhất là từ 6 tháng đến 1 năm NLĐ phải được đo sức nghe để so sánh với biểu đồ sức nghe của lần trước và không giảm quá 10dB, người nào GTL trên 50 – 60dBA ở tần số 4000Hz cần được đo thính lực hoàn chỉnh để phát hiện ĐNN Để tăng hiệu quả phòng chống, định kỳ tổ chức tuyên truyền, học tập để NLĐ tự hiểu được tác hại của tiếng ồn và họ sẽ tự giác làm tốt công tác phòng hộ lao động cá nhân và ATVSLĐ [27, 28]

+ Nghiệm pháp mệt mỏi thính giác: nhằm phát hiện sớm sự mệt mỏi thính lực và khả năng hồi phục thính lực của NLĐ để can thiệp kịp thời (cho nghỉ ngơi…) [8]

+ Đo thính lực sơ bộ: trên các đối tượng tiếp xúc với tiếng ồn trên 85dBA, đình kỳ để phát hiện những trường hợp GTL[8]

+ Đo thính lực âm hoàn chỉnh: từ kết quả đo thính lực sơ bộ, trường hợp nào nghi ngờ cần đo thính lực hoàn chỉnh nhằm phát hiện bệnh ĐNN [8]

1.4 Thực trạng tiếng ồn nơi làm việc và giảm thính lực của người lao động

1.4.1 Thực trạng tiếng ồn tại nơi làm việc và giảm thính lực của người lao động trên thế giới

Những trường hợp bị điếc có liên quan đến công việc đầu tiên được biết đến

ở những người làm nồi chảo Đầu thế kỉ XIX đã thấy điếc ở công nhân tán rive Đến năm 1831 gặp ở thợ rèn Giữa thế kỉ XIX bệnh điếc được phát hiện ở công nhân đường sắt, thợ dệt Ngày càng có nhiều nghiên cứu trên thế giới về những vấn đề có liên quan đến các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp trong các doanh nghiệp cho chúng ta thấy được thực trạng sức khoẻ bệnh tật và điều kiện lao động của NLĐ trong các cơ

sở sản xuất Theo MA Cook (1996), tỷ lệ mắc bệnh của công nhân ngành sản xuất ô

HUPH

Trang 26

tô là 11,4% Nghiên cứu của KG Rampal và I.Noorhassim (1996) thì có 19% biểu hiện bệnh do tiếp xúc với tiếng ồn [60]

Ribeiro FS, Oliveira S (2002) tiến hành đánh giá quá trình làm việc và các rủi do sức khỏe của công nhân trong nhà máy sản xuất xi măng ở Bang Rio de Janeiro Kết quả cho thấy tiếng ồn dao động từ 83 – 110 dBA Phần lớn các giá trị cao hơn so với giới hạn tối đa cho phép Những kết quả này cho thấy môi trường làm việc có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe [58]

Một nghiên cứu khác của tác giả Stucken EZ và Hong RS (2014) tại Michigan USA cho thấy hàng ngày có hơn 30 triệu NLĐ tại Mỹ bị ô nhiễm tiếng ồn tại MTLĐ và bệnh ĐNN là phổ biến nhất Chương trình phòng chống tiếng ồn là tối quan trọng trong việc giảm mất thính lực do tiếp xúc nghề nghiệp Điếc nghề nghiệp hoàn toàn có thể dự phòng được, bằng các biện pháp thông qua giảm thiểu tiếng ồn trong môi trường sản xuất và việc sử dụng các thiết bị bảo vệ thính giác cá nhân [57]

1.4.2 Thực trạng tiếng ồn tại nơi làm việc và giảm thính lực của người lao động tại Việt Nam

Vấn đề nghiên cứu về ATVSLĐ luôn được quan tâm, đặc biệt là các nghiên cứu về thực trạng tiếng ồn trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông và hàng không đã được công bố Những năm 80, số người ĐNN được xác định và hưởng chế độ bảo hiểm chiếm 4,63% trong tổng số các BNN được bảo hiểm Đến những năm 90, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường đã nghiên cứu ở 11 nhà máy

có tiếng ồn lớn hơn 90dBA, với xấp xỉ 4.000 công nhân, có tỷ lệ hiện mắc là 10,94% [28]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Quốc Chấn và cộng sự về mức độ ĐNN

do tiếng ồn ở một số nhà máy tại thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2006 –

2007, cho kết quả số mẫu về tiếng ồn vượt khá cao 17% - 20%, chẩn đoán ĐNN 10% và ra Hội đồng Giám đinh Y khoa 5% [6] Một nghiên cứu khác của Nguyễn Đăng Quốc Chấn (2008) về kiến thức và thái độ phòng chống ô nhiễm tiếng ồn và ĐNN của công nhân ở một số nhà máy, xí nghiệp có tiếng ồn cao (>85dBA) tại thành phố Hồ Chí Minh Cho kết quả tỷ lệ NLĐ được học về vệ sinh lao động khá

HUPH

Trang 27

cao 96,4% Số người được trang bị bảo hộ phòng chống tiếng ồn và ĐNN 92,7%

Tỷ lệ sử dụng trang bị bảo hộ còn thấp với mức độ thường xuyên là 78,8%, thỉnh thoảng 14,2% Hài lòng với môi trường làm việc chiếm khá cao 92,5%, môi trường

có tiếng ồn vượt mức có tỷ lệ rất cao 88,1% Không sợ mắc ĐNN chiếm 25,1% Thích thay đổi môi trường làm việc chiếm 34,7% [2]

Cũng theo một nghiên cứu khác của Nguyễn Đăng Quốc Chấn về mức độ ô nhiễm tiếng ồn ở một số nhà máy, xí nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện trong 4 năm (2005 – 2008) Kết quả cho thấy mức độ ô nhiễm tiếng ồn vượt khá cao, có tỷ lệ 22,5%;ngành thép – cơ khí có tỷ lệ số điểm ồn và cường độ vượt mức nhiều nhất (47,4% - 98dBA), theo thứ tự từ nhiều đến ít là các ngành nghề sau in (32,7% - 95dBA); đến dệt may (26% - 94dBA); và da giày (13,3% - 91dBA) [3]

Tác giả Nguyễn Thanh Hải và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang kết hợp hồi cứu số liệu được tiến hành tại nhà máy sản xuất thép Việt Úc, Hải Phòng từ tháng 12/2015 đến tháng 04/2016 nhằm mô tả thực trạng tiếng ồn và đặc điểm thính lực của công nhân tại nhà máy Số liệu được điều tra và thu thập thông qua hồi cứu kết quả đo tiếng ồn của 21 vị trí lao động và phiếu điều tra cá nhân của tổng số 204 công nhân theo mẫu dựng sẵn Kết quả đã chỉ ra một tỷ lệ cao

số mẫu vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (71,4%) về cường độ tiếng ồn, trung bình mức áp âm chung là 87,2 ± 6,0dBA, cường độ tiếng ồn dao động từ 76,9 – 96,1dBA Tỷ lệ GTL chung là 48,5%, GTL tần số cao 2 tai là 38,7%, theo dõi ĐNN

là 3,9% Mức độ nghe kém nhẹ chiếm 34,3%, vừa chiếm 60,6% và nặng chiếm 5,1% Tỷ lệ GTL cao tại các vị trí sản xuất trực tiếp (dây chuyền cán thép, cơ – điện) và tăng theo thâm niên làm việc và tuổi của NLĐ [11]

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Tấn Tiến và Huỳnh Bảo Trân về

tỷ lệ bệnh ĐNN và các yếu tố liên quan tại công ty TNHH Tàu Thủy Sài Gòn năm

2011 Nghiên cứu trên 324 công nhân kết quả như sau: Có 271 công nhân tiếp xúc với tiếng ồn > 85dBA Mức độ ô nhiễm tiếng ồn khá cao với 85,2% công nhân làm việc tại 11 bộ phận tiếp xúc với môi trường tiếng ồn > 85dBA trong tổng số 19 bộ phận của công ty Phát hiện 20 người ĐNN, chiếm tỷ lệ 7,3% Kiến thức chung

HUPH

Trang 28

đúng thấp, chiếm 49,6% Trong số đó, kiến thức ―Điếc nghề nghiệp không thể chữa được‖ đúng là thấp nhất (69,6%), 100% công nhân được phát nút tai chống ồn nhưng tỷ lệ sử dụng bảo hộ chống ồn đúng thấp, chiếm 49,6% Nguyên nhân chủ yếu công nhân không thường xuyên sử dụng nút tai chống ồn là: chỉ đeo khi quá ồn (80,1%), bảo hộ chống ồn gây khó chịu (43,3%), cản trở công việc (41,9%) [35]

Tóm lại, qua các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu

về lĩnh vực GTL do ô nhiễm tiếng ồn trong lao động còn ít, các nghiên cứu chủ yếu chỉ ra tỷ lệ GTL chung và một số tỷ lệ khác về KAP, việc xác định một số mối liên quan với nguy cơ GTL trong lao động còn hạn chế, chưa đưa ra được giải pháp cụ thể cho việc dự phòng GTL do tiếng ồn trong lao động

1.4.3 Thực trạng tiếng ồn và thính lực của người lao động trong ngành khai thác đá

Nghiên cứu của Krzysztof Kosała & Bartłomiej Stępień về phân tích ô nhiễm tiếng ồn trong mỏ đá andesite với việc sử dụng các nghiên cứu mô phỏng và chỉ số đánh giá cho thấy mức độ âm thanh của máy và thiết bị liên quan đến quá trình vận hành còn cao Xem xét nguồn của tiếng ồn, máy ở các ca khác nhau, liên tục chỉ số tiếng ồn gần bằng 0, có nghĩa là không có tiếng ồn liên tục ô nhiễm Phân tích hiện tượng nổ, đi kèm với các công trình nổ, cho thấy đối với các thông số nổ cụ thể và lượng vật liệu nổ tương đối nhỏ và khối lượng vật liệu khai quật thì không có tiếng

ồn xung quanh mỏ đá andesite Giá trị thấp của chỉ số ô nhiễm tiếng ồn đã bị ảnh hưởng bởi một giá trị lớn không đổi lấy từ việc đánh giá diện tích mỏ đá (khoảng 71.646,7 m2) [61].Trong một nghiên cứu khai thác mỏ ngầm lớn ở Zimbabwe cho thấy: Giảm thính lực là một trong những vấn đề lớn phải đối mặt với công nhân khai thác khoáng sản ngày hôm nay Môi trường nghề nghiệp ở mỏ phải làm việc với những máy móc hạng nặng và thiết bị khoan và nghiền, và quy trình sản xuất với tiếng ồn có nguy hiểm tiềm tàng[53]

Mustafa Onder và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu xác định tiếng ồn gây

ra mất thính giác trong khai thác mỏ Kết quả chỉ ra rằng nhóm công nhân từ 46 đến

54 tuổi tiếp xúc tiếng ồn (70 – 79dBA) có nguy cơ giảm thính lực Ngoài ra, các tài

xế lái xe trong khu vực mỏ cũng có thể giảm thính lực với tuổi nghề 12 – 19 năm và

HUPH

Trang 29

tiếp xúc tiếng ồn (70 – 79dBA) Đối với nhóm công nhân nghiền đá có kinh nghiệm

từ 4 – 11 năm làm việc và tiếp xúc tiếng ồn (90 – 99dBA) có nguy cơ rất cao về giảm thính lực Ở nhóm công nhân khoan tiếp xúc tiếng ồn từ 20 – 27 năm làm việc

có nguy cơ giảm thính lực [44]

Nghiên cứu của Charles Kwame R Gyamfi và các cộng sự về khả năng tiếp xúc tiếng ồn và khả năng thính giác của người lao động khai thác mỏ ở Ghana với mẫu là 400 công nhân ngẫu nhiên được lựa chọn từ 5 mỏ đá thuộc khu vực Ashanti

từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2012 Kết quả cho thấy, tất cả các máy được sử dụng tại các mỏ khai thác khác nhau đã tạo ra tiếng ồn vượt quá ngưỡng tối thiểu với mức (85,5dBA – 102,7dBA) Có 176 (44%) người trả lời nghiên cứu có ngưỡng nghe cao hơn 25dBA; 18% và 2% trong số này tương ứng là 41 – 55dBA và nặng (71 –

90 dBA) Tuổi, thời gian làm việc và sử dụng tai nghe dự đoán một cách độc lập sự phát triển của thính giác Sử dụng nút tai cho thấy hiệu quả bảo vệ sự phát triển của chứng suy giảm thính giác (OR = 0,45, 95% CI = 0,25, 0,84) [43]

Nghiên cứu cắt ngang của Ahmad Filza Ismail và các cộng sự về việc mất thính giác do tiếng ồnở các công nhân mỏ đátại một quốc gia đông bắc của Malaysia từ tháng 10/2009 đến 7/2010 Kết quả khảo sát 97 công nhân cho thấy, tỷ

lệ GTL do tiếng ồn là 57% tương đương với 55 người Trong số 55 người bị GTL

có 62% đã bị mất thính lực song phương, 25% chỉ bị mất thính giác ở bên trái và 13% chỉ mất thính giác ở phía bên phải Nghiên cứu cũng chỉ ra tuổi và thực hành của công nhân có liên quan đến GTL [40]

Theo nghiên cứu của Neonila Szeszenia-Dąbrowska và Urszula Wilczyńska

Ba Lan về BNN ở các ngành khác nhau giai đoạn 2009 – 2011, tỷ lệ bệnh trung bình tính trên 100.000 dân mỗi năm cho kết quả: Số người làm việc trung bình trong khai thác mỏ và khai thác đá là 180,4 nghìn Một trong các bệnh phổ biến ở các thợ mỏ là bệnh về thính giác (10,2%), nguyên nhân do tiếp xúc với tiếng ồn [66]

Tại Việt Nam theo nhiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Kiên và cộng sự

―Đánh giá ban đầu điều kiện lao động, sức khỏe nghề nghiệp trong khai thác mỏ tỉnh Đồng Nai‖ từ tháng 8/2012- tháng 3/2013 Kết quả cho thấy có 11 doanh

HUPH

Trang 30

nghiệp khai thác m ỏ đá cỡ vừa và nhỏ trong t ỉnh với 1273 NLĐ điều kiện lao độ ng chủ yếu là ngoài trời Kết quả đo kiểm MTLĐ cho 05 mỏ khai thác đá thí điểm năm 2013: Số mẫu MTLĐ vượt tiêu chu ẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) về tiếng ồn là 48,0%[17]

Theo nhận xét của tiến sĩ Nguyễn Thị Toán (2013), qua các số liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy công nhân khai thác mỏ phải tiếp xúc với tiếng ồn hầu hết vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép và cao nhất ở khu vực khoan, nghiền đá có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 – 18dBA Tỷ lệ mắc bệnh ĐNN của công nhân nghiền sàng than, khoan than, khoan đá từ 8 – 23,6% [36]

Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam các nghiên cứu về giảm thính lực và một số yếu tố liên quan đến nguy cơ GTL trong ngành khai thác và chế biến đá còn rất ít và còn nhiều hạn chế Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xác định tỷ

lệ GTL và tỷ lệ tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, chưa chỉ ra được các mối liên quan cụ thể Và chưa nêu ra được sự phơi nhiễm khác nhau giữa các nhóm công nhân ở khu vực làm việc khác nhau

1.5 Các yếu tố liên quan đến giảm thính lực và biện pháp dự phòng giảm thính lực ở người lao động

Theo nghiên cứu của Evangelos C.Alexopoulos và cộng sự (2009) về ―Thực trạng ĐNN và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của công nhân Nhà máy đóng tàu ở

Hy Lạp giai đoạn 2006 – 2009‖ Kết quả cho thấy tỷ lệ ĐNN ở công nhân là 27,1%

Có mối liên quan giữa ĐNN với tuổi đời của công nhân, tuổi đời càng cao thì khả năng bị ĐNN càng cao Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy mối liên quan giữa ĐNN với vị trí làm việc và trình độ học vấn của công nhân [48]

Tuổi nghề cũng có liên quan đến GTL, tuổi nghề càng cao nguy cơ GTL càng nhiều, theo tác giả Pelegrin và các cộng sự (2009 – 2010) nghiên cứu về ― Các yếu tố liên quan của mất thính giác do tiếng ồn nghề nghiệp trong công nhân ngành công nghiệp xây dựng ở Tây Ban Nha‖ [46]

Theo nghiên cứu của Chadambuka và các cộng sự (2012) về sự phổ biến của tiếng ồn gây ra vấn đề thính giác của các nhân viên tại một ngành công nghiệp khai thác mỏ ở Zimbabwe Kết quả cho thấy tỷ lệ GTL do tiếng ồn là 37% Ngoài ra, kết

HUPH

Trang 31

quả còn cho thấy tuổi đời và thời gian tiếp xúc với tiếng ồn có mối liên quan với GTL[42]

Ở Tanzanian (Đông Phi), tổng cộng có 246 thính lực đồ đã được nghiên cứu Sự phổ biến của GTL là 47%, với 12% thính giác kém và 35% khiếm thính nhẹ Tỷ lệ GTL tăng lên với tổng số năm tiếp xúc với tiếng ồn (tuổi nghề) Thợ mỏ dưới lòng đất đã bị ảnh hưởng nhiều hơn (71%) so với thợ mỏ hầm lò (28%) Những phát hiện này có ý nghĩa về mặt thống kê Tỷ lệ cao nhất của thợ mỏ với GTL là 60% và thuộc trong nhóm tuổi trẻ (20-29 tuổi) [63]

Năm 2015 một nghiên cứu của Nor Afiah Mohd Zulkefli và các cộng sự về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống GTL và một số yếu tố liên quan của công nhân trong một nhà máy ô tô ở Shah Alam, Selangor Kết quả có sự liên quan giữa số năm làm việc (tuổi nghề) trong môi trường tiếng ồn cao với GTL Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra sự liên quan giữa công tác đào tạo an toàn với GTL Tỷ lệ đạt yêu cầu về kiến thức là 21,7%, thái độ 39,8% và thực hành 38,1% [45]

Nghiên cứu của N Bhumika, GV Prabhu và các cộng sự về ĐNN do tiếng ồn trong ngành đóng tàu tại GOA, Ấn Độ giai đoạn 2008 – 2009, kết quả ĐNN chiếm

tỷ lệ 6% Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa ĐNN với việc sử dụng thường xuyên nút tai chống ồn và vị trí công tác của công nhân Công nhân thường xuyên

sử dụng nút tai chống ồn có tỷ lệ ĐNN thấp hơn công nhân không sử dụng nút tai thường xuyên [52]

Cũng theo tác giả Pelegrin và các cộng sự (2009 – 2010) cho rằng có sự khác biệt giữa nhóm công nhân ít sử dụng và nhóm thường xuyên sử dụng thiết bị chống

ồn, nhóm ít sử dụng thiết bị chống ồn có tỷ lệ GTL cao hơn và chiếm 94,1%[46]

Tại Việt Nam, theo tác giả Hoàng Thái Lộc và các cộng sự (2012 – 2014) đánh giá tình trạng sức khỏe, BNN của NLĐ ngành dầu khí Việt Nam Kết quả cho thấy ĐNN được phát hiện tại 3/12 đơn vị: Liên doanh Việt - Nga ―Vietsovpetro‖, Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) và Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí - CTCP (PVFCCo) với tổng số ca mắc là 299 ca (năm 2014) Tỷ lệ NLĐ mắc bệnh ĐNN so với số lượng người được khám tính trung bình trong giai đoạn 2012 - 2014 tại các đơn vị này dao động trong khoảng

HUPH

Trang 32

2,7 - 8,5% Số lượng NLĐ bị suy GTL cao hơn số NLĐ đã mắc ĐNN từ 2 đến 4 lần Độ tuổi có nguy cơ mắc ĐNN nhiều nhất là 36 - 45 tuổi, tiếp theo là độ tuổi 26

- 35 tuổi Tỷ lệ NLĐ mắc bệnh ĐNN có sự thay đổi theo các vị trí làm việc, trong

đó tiếng ồn được xác định là yếu tố liên quan chính Kết quả đánh giá MTLĐ cho thấy, tiếng ồn là yếu tố có hại phổ biến nhất với tỷ lệ mẫu đo không đạt chuẩn cao nhất (chiếm trên 23%), dẫn đến tăng số ca mắc BNN, trong đó chủ yếu là ĐNN[19]

Từ các nghiên cứu trên cho thấy, các yếu tố liên quan đến GTL ở NLĐ là: tuổi đời, tuổi nghề, trình độ học vấn, thời gian tiếp xúc với tiếng ồn, vị trí làm việc, thực hành sử dụng nút tai chống ồn, cường độ tiếng ồn tại nơi làm việc

1.6 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Tại An Giang công tác chăm sóc sức khỏe (CSSK) NLĐ ngày càng được sự quan tâm của các cấp chính quyền và cơ sở lao động Do đặc thù, các cơ sở sản xuất trên địa bàn rất đa dạng, một bộ phận lớn chỉ quan tâm đến hoạt động kinh doanh, nhận thức của người sử dụng lao động và NLĐ về an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống BNN còn hạn chế, đặc biệt ở các cơ sở vừa và nhỏ

Theo số liệu báo cáo hoạt động y tế lao động năm 2016 của TTYTDP An Giang, tiến hành giám sát MTLĐ tại 488 cơ sở, kết quả các yếu tố tác hại có thể ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ, trong đó tổng số mẫu đo tiếng ồn vượt TCVSLĐ cho phép chiếm 9,6% [10]

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có nhiều loại hình sản xuất, vấn đề sức khỏe an toàn nghề nghiệp rất cấp bách cần can thiệp để đảm bảo sức khỏe cho NLĐ, trong quá trình lao động luôn tìm ẩn các yếu tố tác hại do tiếng ồn như các phân xưởng cơ khí, các phòng máy vận hành của Nhà máy chế biến thủy sản, các đơn vị xay xát, sản xuất xi măng và đặc biệt là tiếng ồn trong ngành khai thác và chế biến đá trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, để tiến hành tiếp xúc với các đơn vị có phơi nhiễm gặp nhiều khó khăn do đây là những vấn đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh tế của đơn vị Vì vậy mà đến hiện nay các nghiên cứu về MTLĐ cũng như bệnh nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh còn hạn chế

Hiện tại trên địa bàn tỉnh đã có 01 nghiên cứu về vấn đề tình hình bệnh tật của công nhân lao động tại nhà máy th ủy sản và có 01 nghiên cứu về thực trạng

HUPH

Trang 33

phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc và kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống

ĐNN của NLĐ tại nhà máy xi măng An Giang

Công ty TNHH MTV Khai thác và Chế biến đá An Giang (ANGISTONE)

Công ty TNHH MTV Khai thác và Chế biến đá An Giang (ANGISTONE) tiền thân là Xí nghiệp đá Núi Sam (Châu Đốc – An Giang) trực thuộc Công ty xây dựng An Giang theo cơ chế chủ quản, được thành lập sau ngày giải phóng miền nam 1975 Năm 2005 UBND tỉnh ra quyết định chuyển đổi thành Công ty TNHH Một thành viên Khai thác và Chế biến đá An Giang do Nhà nước sở hữu 100% vốn Năm 2007 được chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ UBND tỉnh An Giang về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo biên bản ngày 12/01/2007 Công ty (ANGISTONE) luôn là đơn vị khai thác khoáng sản đứng đầu ở tỉnh An Giang, trở thành một thương hiệu uy tín khắp các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long trong việc mang đến cho khách hàng những sản phẩm đá xây dựng tốt nhất với giá thành cạnh tranh nhất Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực khai thác, chế biến đá, tổng công suất từ 1.6 triệu đến 2 triệu m3/năm Sau 36 năm hoạt động trong ngành, Công ty đã không ngừng khẳng định vị thế, thương hiệu trên thị trường và niềm tin với khách hàng [9]

Công ty rất quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe NLĐ, hằng năm công

ty đều thực hiện giám sát môi trường lao động, tổ chức kiểm tra sức khỏe tổng quát cho toàn thể NLĐ trong đơn vị và sàng lọc các đối tượng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ khám BNN nhằm phát hiện sớm các bệnh nghề nghiệp nếu có Bên cạnh đó Công ty cũng chú trọng việc cải thiện điều kiện làm việc cho NLĐ như tập huấn về ATLĐ, trang bị BHLĐ và sử dụng các biện pháp giảm thiểu tác hại HUPH

Trang 34

Sơ đồ 1.1 Dây chuyền công nghệ sản xuất của công ty

Ngoài ra, để phục vụ cho quá trình khai thác và chế biến đá công ty còn có

bộ phận cơ khí chuyên sửa chữa, bảo trì trang thiết bị máy móc Cường độ tiếng ồn phát sinh tại khu vực này chủ yếu từ các máy cắt, mài, cưa, khoan, hàn,

Thuyết minh công nghệ: Đầu tiên là chuần bị tại mỏ khai thác, bao gồm các việc bốc tầng phủ đất đá, khoan nổ mìn và phá đá quá cỡ Đá sau khi được phá cho phù hợp thì được vận chuyển đến khu vực chế biến đá Các loại đá sau khi phá vỡ không đủ tiêu chuẩn sẽ được vận chuyển ra bải thải Tại khu vực chế biến sẽ gia công, nghiền sàng thành nhiều loại sản phẩm đá khác nhauvà được đưa đến bãi chứa Sản phẩm đá từ bãi chứa sẽ được cung cấp ra thị trường

Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu Công ty đã đi vào khai thác ổn định và không thực hiện công đoạn bới tầng phủ

Bới tầng phủ, khoan nổ mìn phá đá quá cỡ

Trang 35

KHUNG LÝ THUYẾT

Ô nhiễm tiếng ồn và giảm thính lực

Môi trường lao động:

- Tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép

- Thiếu hệ thống cảnh báo khu vực có tiếng ồn cao

- BHLĐ gây khó khăn trong khi làm việc

Dự phòng từ phía Người lao động:

- Sử dụng nút tai/chụp tai chống ồn

- Nghỉ ngơi giữa ca

- Tham gia KSK định kì và khám BNN

- Luân chuyển vị trí làm việc

Dự phòng từ phía Người sử dụng lao động:

- Tập huấn kiến thức ATVSLĐ

- Trang bị nút tai/chụp tai chống ồn dự phòng GTL cho NLĐ

- Kiểm tra chất lượng nút tai/chụp tai chống ồn Bố trí nhà nghỉ giữa ca yên tĩnh

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Môi trường lao động của công ty TNHH một thành viên khai thác và chế biến đá An Giang được đưa vào nghiên cứu

Công nhân trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất của công ty

Tiêu chí lựa chọn công nhân: Công nhân hiện đang làm việc tại công ty có thời gian lao động liên tục từ 6 tháng trở lên (công nhân tham gia trực tiếp vào quy trình khai thác, chế biến đá) Có khả năng trả lời câu hỏi và tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại trừ công nhân: Những công nhân làm việc hành chính trong văn phòng, những công nhân vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu, hoặc hẹn lịch phỏng vấn 3 lần không gặp

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 đến hết tháng 8 năm 2018

Địa điểm nghiên cứu: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác

và chế biến đá An Giang tọa lạc tại tại ấp Tô Bình, xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh

An Giang

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Đối với mẫu nghiên cứu về tiếng ồn

Tiến hành lấy mẫu quan trắc tiếng ồn chung và tiếng ồn phân tích theo dải tần số tại 05 vị trí của 03 khu vực sản xuất trực tiếp của đơn vị: khu vực Cơ khí; khu vực Mỏ khai thác (Khoan tay và Xe xúc đá); Khu vực nghiền sàng (Phễu đỗ đá và Trực vận hành máy xay)

HUPH

Trang 37

Mẫu nghiên cứu tiếng ồn tại đơn vị được lấy 02 lần/ngày (vào thời điểm giữa

ca sáng và giữa ca chiều và mỗi lần đo ghi nhận 02 giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất)

Số mẫu là: 176 mẫu

Khu vực Cơ khí: Làm việc không theo dây chuyền, lấy mẫu ở vị trí giữa khu vực phân xưởng (02 phân xưởng cơ khí tại Cô Tô và Bà Đội x 02 vị trí đo x 02 thời điểm đo x 02 giá trị ghi nhận = 08 mẫu)

Khu vực Mỏ khai thác (Khoan tay và Xe xúc đá): Lấy mẫu theo vị trí làm việc (04 công trường x 02 vị trí đo x 02 thời điểm đo x 02 giá trị ghi nhận = 32 mẫu)

Khu vực nghiền sàng (Phễu đỗ đá và Trực vận hành máy xay): Lấy mẫu theo từng dây chuyền, tại các vị trí làm việc (17 dây chuyền x 02 vị trí đo x 02 thời điểm

đo x 02 giá trị ghi nhận = 136 mẫu)

Mẫu nghiên cứu về tiếng ồn là 176 mẫu, cụ thể như sau:

STT Khu vực lấy mẫu Số mẫu tiếng ồn

Ồn chung Ồn theo dãi tần

1 Khu vực Cơ khí 08 08

2 Khu vực Mỏ khai thác 32 32

3 Khu vực nghiền sàng 136 136

2.4.2 Đối với người lao động

Cỡ mẫu nghiên cứu cắt ngang (n) được tính theo công thức:

Trang 38

P: Trị số ước đoán của tỉ lệ thực hành đúng của người lao động (Theo nghiên cứu của tác giả Võ Tấn Khoa (2016) tỷ lệ thực hành đúng về dự phòng GTL là 25%) là P = 0,25

: Mức ý nghĩa thống kê ( = 0,05)

Z1- /2: Hệ số tin cậy lấy từ bảng phân phối chuẩn (với α=0,05: Z1-  /2 =1,96)

d : Độ chính xác mong muốn (sai số cho phép) d = 0,06

Tính được n = 200,08

Tổng số NLĐ trực tiếp tại 3 khu vực sản xuất có thâm niên công tác từ 6 tháng trở lên (cơ khí, mỏ khai thác, nghiền sàng) là 215 người, vì vậy nghiên cứu này chọn mẫu toàn bộ là 215 đối tượng theo tiêu chuẩn chọn vào và tiêu chuẩn loại trừ đã nêu trên đã được chọn để tham gia nghiên cứu Khi khảo sát địa bàn nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có 219 NLĐ đang làm tại công ty đủ tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu Nhưng đến thời điểm thu thập số liệu có 4 người không có mặt tại thời điểm lấy mẫu nghiên cứu Nên nghiên cứu chọn lấy mẫu toàn bộ

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

+ Thực hiện lấy mẫu tiếng ồn 2 lần/ngày vì do thời gian làm việc của NLĐ được chia làm 2 ca sáng và chiều, để thu được số mẫu ổn định và tương đối chính xác trong nghiên cứu này chúng tôi lấy mẫu 2 lần vào 2 khoảng thời gian làm việc

ổn định của ca sáng và ca chiều

HUPH

Trang 39

+ Kết quả ghi nhận: mỗi lần đo ghi nhận 02 giá trị là lớn nhất và nhỏ nhất + Cách lấy mẫu: Ðo tại chỗ làm việc của người tiếp xúc Micro của máy đo

ồn để ngang tầm tai NLÐ (tuỳ thuộc vào NLÐ đứng hay ngồi), hướng về phía nguồn ồn Máy đo ồn để cách cán bộ kỹ thuật đo 0,5m [37],[38]

+ Đơn vị đo tiếng ồn: dBA

Thiết bị đo tiếng ồn: bằng máy NL-21 (RION - Nhật) và bộ phân tích dải tần NX-21 SA (Phụ lục 6)

Người đo tiếng ồn: Kỹ thuật viên của Trung tâm Y tế dự phòng (TTYTDP) tỉnh An Giang thực hiện

Đánh giá: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 24:2016/BYT được ban hành kèm Thông tư số 24/2016/TT-BYT ngày 30/6/2016 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn – Mức độ tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc (Phụ lục 4)

2.5.2 Số liệu về giảm thính lực và các biện pháp dự phòng

+ Kỹ thuật đo: Đo sức nghe đường khí Đo tai nghe tốt trước Bắt đầu với tần

số 1000Hz, sau đó với các tần số cao dần (2000, 4000, 8000Hz đối với đường khí) hay thấp dần (500, 250Hz) Cho nghe thử với cường độ ước tính cao hơn ngưỡng 30dB để làm quen, nhưng không được quá 80dB

+ Kỹ thuật viên thực hiện đo thính lực sơ bộ: kỹ thuật viên có chuyên môn

về đo thính lực sơ bộ của Trung tâm Y tế dự phòng Tỉnh An Giang

+ Tiến hành đo:

▪ Giải thích về âm thanh đối tượng được nghe: thay đổi cường độ và tần số (to-nhỏ; thanh-trầm) Trả lời khi nghe được âm với cường độ nhỏ nhất (ngay khi bắt đầu nghe được) Tập trung tốt trong khi đo để trả lời chính xác và kịp thời Khi nghe

HUPH

Trang 40

thấy âm thanh trả lời bằng cách bấm vào nút tín hiệu giữ nút cho đến khi nào không còn nghe thấy thì thả ra hoặc giơ ngón tay khi không còn nghe thấy thì cụp tay xuống Lưu ý: Đối tượng được bố trí ngồi sao cho không nhìn thấy bản điều khiển trên máy, thao tác của nhân viên đo và kết quả ghi lại

▪ Đặt chụp tai: Đúng bên (thường chụp có màu xanh bên trái, màu đỏ bên phải) Đúng chỗ (loa của chụp tai hướng đúng, thẳng vào lỗ của ống tai ngoài, nếu đặt lệch sẽ làm sai lệch ngưỡng nghe) Điều chỉnh để chụp tai ôm khít vành tai, không làm gập vành tai, không quá chặt gây đau, không quá lỏng làm sai lệch ngưỡng nghe

+ Xác định ngưỡng nghe theo cách đi lên: Bắt đầu từ 0dB hay cường độ ước tính thấp hơn ngưỡng 30dB; cách làm tương tự như tìm ngưỡng nghe đi xuống nhưng ngược lại Bắt đầu từ 0 tăng dần lên từng nấc 10dB cho tới khi người bệnh trả lời Rồi giảm từng nấc 5dB cho đến khi không nghe thấy Nâng lên 5dB, nếu nghe thấy thì đấy là ngưỡng nghe

+ Lưu ý: Ngưỡng đi lên thông thường chính xác hơn ngưỡng đi xuống và cao hơn ngưỡng đi xuống 5dB Dù thực hiện theo ngưỡng đi lên hay ngưỡng đi xuống cũng cần lưu ý khi thấy được ngưỡng thì phải nâng lên hoặc giảm xuống mỗi nấc 5dB ít nhất 2 lần để xác định chính xác ngưỡng nghe Do đó độ sai lệch giữa hai cách không quá 5dB (mức sai số cho phép)

+ Xác định GTL: Nếu ngưỡng nghe bằng đường khí của đối tượng từ 50 – 60dB ở tần số 4000Hz thì xác định là bị GTL[37]

2.5.2.2 Thông tin về các biện pháp dự phòng

Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc để phỏng vấn toàn bộ NLĐ của công ty về thông tin chung, đặc điểm cá nhân, thực trạng ô nhiễm tiếng ồn, giảm thính lực, thực hành biện pháp dự phòng và một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng GTL Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu về tiếng ồn, giảm thính lực của các tác giả như: Trần Văn Sung (2017) [25], Võ Tấn Khoa (2016) [16], Nguyễn Đăng Quốc Chấn và cộng sự (2008) [6], Phạm Thúy Hoa và cộng sự (2006) [14]

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm