ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đến khám ngoại trú tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
- Người quốc tịch Việt Nam, khám bệnh ngoại trú đủ 18 tuổi trở lên tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM trong thời điểm khảo sát
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Người bệnh có khả năng giao tiếp hạn chế, các trường hợp câm, điếc.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/07/2020 đến tháng 04/07/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (Cơ sở 2)
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính bằng công thức ước lượng một tỷ lệ
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần khảo sát
- α: Xác suất sai lầm loại 1 (α = 0,05)
- Z: Trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z= 1,96
- d: Sai số cho phép, chọn d=0,05
- p: Tỉ lệ thực hành/hành vi phòng COVID-19 ước tính trong nhóm người bệnh/khách hàng đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Đại học
Y Dược TP.HCM (Cơ sở 2) Chọn p=0,5 (tại thời điểm nghiên cứu,
23 chưa có nhiều nghiên cứu về KAP về nội dung này tại TP.HCM, qua thảo luận với Cơ sở 2, nhóm nghiên cứu chọn p=0,5)
- Cỡ mẫu cần có của nghiên cứu
Tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, ước tính tỉ lệ từ chối tham gia nghiên cứu hoặc gián đoạn/ngừng trả lời câu hỏi do các lí do liên quan đến khám chữa bệnh là 10% Cỡ mẫu thực tế trong nghiên cứu này là 415 người.
Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Phỏng vấn viên có thể tiến hành phỏng vấn người bệnh sau khi họ nhận dịch vụ khám chữa bệnh và thuốc tại bệnh viện Nếu người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu, phỏng vấn viên sẽ sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc sẵn để khảo sát Trong trường hợp người bệnh không đồng ý, phỏng vấn viên sẽ chuyển sang phỏng vấn đối tượng khác cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu áp dụng bộ câu hỏi tự soạn dựa trên các quyết định, thông tư và khuyến cáo của Bộ Y tế từ khi dịch bùng phát cho đến nay Bộ câu hỏi này được chia thành 4 phần.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các đặc điểm như nhóm tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn và nghề nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố dịch tễ, tình trạng kinh tế và điều kiện sinh sống của những người nghi nhiễm.
- Phần 2 (19 câu): Các câu hỏi khảo sát về kiến thức chung (12 câu) và kiến thức phòng ngừa bệnh (7 câu)
Phần 3 của bài viết tập trung vào các câu hỏi khảo sát nhằm đánh giá thái độ của mọi người đối với những vấn đề quan trọng như rửa tay, sử dụng khẩu trang và tuân thủ các hướng dẫn khi mắc bệnh Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn góp phần bảo vệ cộng đồng Việc rửa tay đúng cách và thường xuyên là một biện pháp phòng ngừa hiệu quả Sử dụng khẩu trang cũng là một cách quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của bệnh tật Thực hiện đúng các hướng dẫn y tế khi mắc bệnh là cần thiết để đảm bảo an toàn cho bản thân và người xung quanh Tất cả những yếu tố này đều thể hiện tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Phần 4 của bài viết đề cập đến các câu hỏi khảo sát liên quan đến hành vi phòng bệnh Cụ thể, nội dung khảo sát bao gồm cách rửa tay đúng cách, cách sử dụng khẩu trang hiệu quả, và cách thực hiện các chỉ dẫn khi nghi ngờ mắc bệnh Những thông tin này rất quan trọng để nâng cao nhận thức và thực hành phòng ngừa bệnh tật trong cộng đồng.
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Các phỏng vấn viên là sinh viên năm 4 của khoa Y tế Công cộng tại Đại học Y Dược TP.HCM, những người đã tích lũy kinh nghiệm trong việc thu thập số liệu cho các nghiên cứu định lượng.
Phỏng vấn viên được đào tạo về phương pháp thu thập số liệu và thực hiện nghiên cứu thử trên 50 bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Qua đó, họ học cách điều tra và điều chỉnh bộ công cụ thu thập số liệu, đồng thời rút ra kinh nghiệm trong quá trình thu thập Nghiên cứu viên sẽ sử dụng kết quả thu thập để điều chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp hơn.
Nghiên cứu thu thập số liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 10 đến 15 phút Cuối ngày, nghiên cứu viên sẽ kiểm tra lại các bộ câu hỏi đã thu thập, đồng thời tổ chức họp để rút kinh nghiệm và điều chỉnh phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin chính xác nhất.
Nghiên cứu được thực hiện đúng phương pháp và đối tượng nhằm đánh giá tính phù hợp về ngữ nghĩa của câu hỏi theo nhận định của đối tượng nghiên cứu, đồng thời đảm bảo không có nội dung trùng lặp.
2.6.2.2 Quy trình thu thập số liệu
Giai đoạn 1: Chuẩn bị bao gồm việc xin sự chấp thuận từ Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng, sau đó liên hệ với Giám đốc bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM để xin phép tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện Đồng thời, cần xin giấy giới thiệu đến từng khoa phòng liên quan, đặc biệt là phòng Khoa học đào tạo.
Giai đoạn 2: Thu thập dữ kiện
Bước 1: Lên kế hoạch tổ chức lấy mẫu tại bệnh viện: thời điểm, cỡ mẫu cần lấy mỗi ngày, vị trí và khu vực lấy mẫu
Bước 2: Tập huấn phỏng vấn viên về tiêu chuẩn chọn, loại, nội dung bộ câu hỏi, cách thức hỏi và trả lời các thắc mắc của người bệnh
Bước 3: Tiến hành phỏng vấn thử trên người bệnh thực tế để hiệu chỉnh Bước 5: Tiến hành phỏng vấn và thu thập số liệu thực tế.
Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Khái niệm và thang đo
Kiến thức chung về dịch bệnh COVID-19 được đánh giá thông qua 11 câu hỏi liên quan đến vi-rút và các khía cạnh của dịch bệnh này.
Kiến thức phòng ngừa COVID-19 bao gồm các biện pháp bảo vệ bản thân và cộng đồng trước dịch bệnh Được đánh giá qua 7 câu hỏi liên quan đến các biện pháp phòng ngừa cá nhân và cộng đồng, kiến thức này giúp nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe trong bối cảnh dịch bệnh.
Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với các biện pháp phòng ngừa lây lan dịch bệnh COVID-19 được đánh giá thông qua 7 câu hỏi liên quan đến quan điểm về các biện pháp phòng ngừa cá nhân và cộng đồng nhằm bảo vệ sức khỏe.
Hành vi phòng ngừa trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 bao gồm các biện pháp cá nhân và cộng đồng mà đối tượng nghiên cứu thực hiện để bảo vệ sức khỏe của bản thân và người xung quanh Để đo lường hành vi này, chúng tôi đã sử dụng kết quả từ 7 câu hỏi liên quan đến việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe trước dịch bệnh.
Nghiên cứu này áp dụng điểm cắt 80% để phân loại kiến thức thành hai nhóm: tốt và chưa tốt, dựa trên kết luận từ nghiên cứu của Biddle R E (1993) về cách xác định điểm giới hạn cho các bài kiểm tra kiến thức.
- Kiến thức chung đạt: Khi đối tượng có kiến thức đúng 10/12 các kiến thức chung về COVID-19
- Kiến thức chung chưa đạt: Khi đối tượng có kiến thức đúng dưới 10 các kiến thức chung về COVID-19
- Kiến thức phòng ngừa đạt: Khi đối tượng có kiến thức đúng 6/7 các kiến thức chung về COVID-19
- Kiến thức phòng ngừa chưa đạt: Khi đối tượng có kiến thức đúng dưới 6 các kiến thức chung về COVID-19
- Thái độ tích cực: Khi đối tượng có thái độ tích cực 5/6 các câu hỏi thái độ về COVID-19
- Thái độ tiêu cực: Khi đối tượng có thái độ tích cực ít hơn 5 câu hỏi thái độ về COVID-19
- Hành vi phòng ngừa đạt: Khi đối tượng có hành vi đạt 6/7 các câu hỏi hành vi về COVID-19
- Hành vi phòng ngừa chưa đạt: Khi đối tượng có hành vi đạt ít hơn 6 câu hỏi hành vi về COVID-19.
Phương pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu viên kiểm tra từng phiếu thu thập 02 lần, loại bỏ những phiếu không đạt trước khi nhập liệu
Các phiếu thu thập số liệu được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó dữ liệu được chuyển đổi sang định dạng tương thích để sử dụng với phần mềm thống kê phân tích STATA 14.2.
Quá trình thu thập dữ liệu đã hoàn thành với 423 phiếu, trong đó có 8 phiếu khảo sát không đủ thông tin Theo phỏng vấn viên, 8 đối tượng này đã dừng cuộc phỏng vấn do vấn đề cá nhân, thường là khi họ chuẩn bị ra về (6 trường hợp) hoặc vào giờ nghỉ trưa (2 trường hợp) Cuối cùng, 415 phiếu khảo sát đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của nghiên cứu.
Thống kê mô tả được trình bày thông qua tần số và tỷ lệ phần trăm cho các biến số định tính như giới tính, nhóm tuổi, nơi cư trú, nghề nghiệp, mức thu nhập, tình trạng chung sống, bệnh lý khi khám, lịch sử cách ly liên quan đến dịch COVID-19, và việc sống gần hàng xóm bị nhiễm Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến kiến thức, thái độ và hành vi chung về việc phòng ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19.
Số trung bình và độ lệch chuẩn là công cụ hữu ích để mô tả các biến số định lượng có phân phối bình thường, trong khi trung vị và khoảng tứ phân vị được sử dụng để mô tả các biến số định lượng có phân phối lệch.
Kiểm định chi bình phương được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa các giá trị của biến độc lập, bao gồm kiến thức chung, kiến thức phòng ngừa, thái độ và hành vi phòng bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19, với biến số nhị phân.
- Xác định sự khác biệt giữa các biến số độc lập với biến số phụ thuộc bằng giá trị của tỉ số của 2 tỷ lệ PR (Prevelence Ratio).
Khía cạnh đạo đức
Nghiên cứu đã nhận được sự phê duyệt từ Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng trước khi triển khai thực địa, theo Quyết định số 26/2021/YTCC-HD3 ký ngày 03 tháng 02 năm 2021.
Trước khi bắt đầu nghiên cứu, chúng tôi đã giải thích rõ ràng mục đích và nội dung của nghiên cứu cho đối tượng tham gia Nghiên cứu cam kết bảo mật thông tin cá nhân, giúp người bệnh tự nguyện tham gia và hợp tác hiệu quả trong quá trình phỏng vấn.
Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng, với xác nhận đồng thuận bằng chữ ký Đối tượng có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào hoặc ngừng tham gia nghiên cứu mà không bị ảnh hưởng Nghiên cứu đảm bảo không gây tổn hại đến thể chất và tinh thần của đối tượng, điều này được ghi nhận qua phiếu đồng thuận.
Phiếu điều tra không yêu cầu ghi họ tên, nên thông tin nghiên cứu không thể định danh Dữ liệu thu được chỉ phục vụ cho nghiên cứu này và không được sử dụng cho mục đích khác Tất cả số liệu và thông tin trong nghiên cứu được bảo mật theo quy định.
KẾT QUẢ
Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu Đặc tính Tần số Tỷ lệ %
Mức thu nhập theo tháng
Sống cùng người thân, bạn bè 116 28
Nhóm bệnh ít nguy cơ 283 73,3 Đã từng bị cách ly do COVID-19
Sống gần nhà người bị COVID-19
30 Đặc tính Tần số Tỷ lệ % Đã từng 13 3,1
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ người bệnh nam cao hơn nữ, với đa số người bệnh sống tại TP.HCM Nhóm tuổi từ 18 – 35 chiếm 69,4%, trong đó nghề nghiệp chủ yếu là kinh doanh và công nhân viên chức (23,6% và 23%) Người bệnh có thu nhập từ 5 – 10 triệu chiếm tỷ lệ cao nhất (36,1%), và 72,1% trong số họ sống độc thân Mặc dù khảo sát liệt kê các bệnh nền làm tăng nguy cơ mắc COVID-19 theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, chỉ khoảng 26,7% người bệnh có các bệnh lý nguy cơ Đáng chú ý, 96,9% người bệnh chưa từng bị cách ly do COVID-19 hoặc sống gần người nhiễm bệnh.
Bảng 3.2: Giá trị trung bình của các biến số định lượng của đặc điểm cá nhân
Biến số Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất
*Đơn vị tính triệu đồng
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình của người tham gia là 32,07 tuổi, với thu nhập trung bình hàng tháng đạt 10,35 triệu đồng; tuy nhiên, một số đối tượng không có thu nhập.
Kiến thức, hành vi và thái độ về phòng bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-
19 của người bệnh ngoại trú
Biểu đồ 3.1:Kiến thức chung về đường lây truyền
Khảo sát “Đường lây truyền” cho thấy 99% tổng số các đối tượng cho biết đường lây truyền của vi-rút qua đường giọt bắn
Biểu đồ 3.2: Kiến thức chung về nguyên nhân lây nhiễm
Khảo sát về "Nguyên nhân lây nhiễm" cho thấy 89,16% người tham gia cho biết nguyên nhân lây nhiễm chủ yếu là do giao tiếp gần gũi với người nhiễm mà không sử dụng phương tiện phòng hộ Tiếp theo, 79,28% cho rằng tay chạm vào bề mặt có dính giọt bắn từ người nhiễm cũng là một nguyên nhân quan trọng Trong khi đó, chỉ 8,67% người được khảo sát cho rằng việc ở trong phòng máy lạnh nhiều là nguyên nhân lây nhiễm.
Qua giọt bắn (nA1) Qua tiếp xúc da và da (n=2) Qua máu và dịch tiết (n=2)
Giao tiếp gần với người nhiễm mà không có phương tiện phòng hộ
Tay chạm vào bề mặt dính giọt bắn người nhiễm Ở phòng máy lạnh nhiều
Ra đường không mang khẩu trang
- Khoảng cách tiếp xúc gần:
Biểu đồ 3.3: Kiến thức chung về khoảng cách tiếp xúc gần
Về khoảng cách tiếp xúc gần, 76,6% tổng số đối tượng cho biết tiếp xúc gần khi khoảng cách tiếp xúc là dưới 2m
Môi trường sống của vi-rút:
Biểu đồ 3.4: Kiến thức chung về môi trường sống của vi-rút
Virus sống ngoài tự nhiên
Virus hoạt động mạnh môi trường lạnh
Không Có Chưa xác định
Khảo sát cho thấy 76,14% người tham gia tin rằng vi-rút có khả năng sống ngoài tự nhiên, trong khi 34% cho rằng vi-rút hoạt động mạnh mẽ trong môi trường lạnh.
Biểu đồ 3.5: Kiến thức chung về thời gian ủ bệnh
Khảo sát về thời gian ủ bệnh cho thấy, 52,3% các đối tượng cho biết thời gian ủ bệnh là từ 2-14 ngày, kế đến là 2-21 ngày (41,7%), thấp nhất là 2-5 ngày (3,1%)
Biểu đồ 3.6: Kiến thức chung về triệu chứng bệnh
Các triệu chứng phổ biến nhất của bệnh bao gồm sốt, ho, khó thở và mệt mỏi, với tỷ lệ nhận biết vượt quá 90% Trong khi đó, các triệu chứng khác như tiêu chảy, buồn nôn và sổ mũi ít được biết đến hơn.
Ngoài ra, 81,5% tổng số đối tượng cho biết những người mắc bệnh thường không có triệu chứng và rất khó để nhận diện
Các triệu chứng dễ nhận biết
Chính xác Hoàn toàn không
Không chính xác, một số không có triệu chứng 93.72%
Thường không có triệu chứng
- Đối tượng nguy cơ mắc và bệnh nặng
Biểu đồ 3.7: Kiến thức chung về đối tượng nguy cơ mắc bệnh
Trong số các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh, 95,17% là những người trở về từ vùng dịch trong vòng 14 ngày, tiếp theo là 89,13% là người tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh, trong khi chỉ có 6,28% cho rằng các đối tượng tiếp xúc gần với động vật cũng có nguy cơ.
Về đối tượng có nguy cơ mắc bệnh nặng, chỉ 50,72% và 56,28% biết đó là những người có bệnh nền và người cao tuổi
Người về vùng dịch trong 14 ngày
Tiếp xúc gần người nhiễm bệnh
Tiếp xúc gần với động vật
Người làm tại cơ sở y tế Đối tượng nguy cơ mắc bệnh
Trẻ em Thanh niên Người lớn Người cao tuổi Người có bệnh nền Tất cả các lứa tuổi Đối tượng nguy cơ mắc bệnh nặng
- Thuốc điều trị bệnh và vắc xin phòng bệnh:
Biểu đồ 3.8: Kiến thức chung về thuốc điều trị và vắc xin
Tại thời điểm khảo sát, 65,78% đối tượng cho biết chưa có thuốc điều trị bệnh do đang trong giai đoạn thử nghiệm Đồng thời, 31,8% cho biết vắc xin cũng đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong khi chỉ 59,8% xác nhận đã có vắc xin.
- Tổng hợp kiến thức chung về COVID-19
Bảng 3.3: Tổng hợp kiến thức chung về COVID-19
Tần số Tỷ lệ % Đường lây truyền 411 99
Khoảng cách tiếp xúc gần 318 76,6
Vi-rút sống ngoài tự nhiên 316 76,1
Vi-rút hoạt động môi trường lạnh 207 49,9
Chưa có Đã có Không biết
Chưa có Đã có Đang thử nghiệm Không biết
Triệu chứng dễ nhận biết 338 81,5 Đối tượng nguy cơ mắc 351 84,6 Đối tượng dễ mắc bệnh nặng 270 65,1
Kết quả khảo sát cho thấy, đối tượng khảo sát có kiến thức chung đạt 55,9%, với kiến thức cao nhất về đường lây truyền Phần lớn người được hỏi có tỷ lệ kiến thức đạt trên 50%, trong khi kiến thức về “Vi-rút hoạt động trong môi trường lạnh” đạt thấp nhất, chỉ 49,9%.
- Phòng ngừa cho cá nhân
Biểu đồ 3.9: Kiến thức về phòng ngừa cá nhân
100% Đeo khẩu trang Rửa tay Súc miệng Tránh đưa tay lên mắt, mũi, miệng
Uống nhiều Vitamin C Uống nhiều nước
Hơn 95% người được phỏng vấn nhận thức được hai biện pháp quan trọng để phòng ngừa bệnh tật là đeo khẩu trang và rửa tay Ngoài ra, 85,75% cũng biết rằng cần tránh đưa tay lên mắt, mũi, miệng khi tay chưa được rửa sạch.
- Phòng ngừa cho cộng đồng
Biểu đồ 3.10: Kiến thức về phòng ngừa cộng đồng
Đối với phòng dịch bệnh trong cộng đồng, 83% người dân có kiến thức đúng, với tỷ lệ cao nhất là việc đeo khẩu trang khi ra đường (96,39%), tiếp theo là giữ khoảng cách an toàn trên 2m (88,67%) và thông báo cho cơ quan y tế khi bản thân hoặc người xung quanh mắc bệnh (86,02%).
100% Đeo khẩu trang khi ra đường Che mũi miệng khi khạc nhổ, ho, hắt hơi
Giữ khoảng cách an toàn
Rửa tay sau khi tiếp xúc, chạm vào bề mặt
Thông báo cho cơ quan y tế khi bản thân hoặc người xung quanh mắc bệnh
Thông khí nhà ở Lau dọn, vệ sinh nền nhà, tay nắm cửa
Hạn chế sử dụng điều hoà Phun thuốc xịt khuẩn
Biểu đồ 3.11: Kiến thức về vệ sinh nhà cửa
Về vệ sinh nhà cửa, 90,36% người được khảo sát nhận thức được tầm quan trọng của việc lau dọn nền nhà, tay nắm cửa và các đồ vật trong nhà Bên cạnh đó, 83,13% cho rằng cần thông khí cho không gian sống bằng cách mở cửa sổ và cửa lớn Tuy nhiên, chỉ có 40,72% người cho rằng nên hạn chế sử dụng điều hòa không khí.
Biểu đồ 3.12: Kiến thức về thời điểm rửa tay
Biểu đồ 3.13: Kiến thức về dung dịch rửa tay
Sau ho, hắt hơi Sau khi tháo khẩu trang
Sau tiếp xúc dịch mũi, họng
Trước, trong và sau khi nấu ăn
Trước khi ăn Sau khi đi vệ sinh
Sau khi tiếp xúc động vật
Chỉ rửa khi có vết bẩn
Nước sạch và xà phòng
Dung dịch sát khuẩn (Cồn 60 độ)
Dung dịch dùng rửa tay
Biểu đồ 3.14: Kiến thức về thời gian tối thiểu rửa tay
Hơn 50% người tham gia biết thời điểm rửa tay, với tỷ lệ cao nhất là sau khi chăm sóc người bệnh (89,2%), tiếp xúc với dịch mũi họng (87,5%) và sau khi ho, hắt hơi (87,2%).
Theo khảo sát, 95,9% người tham gia biết sử dụng cồn 60 độ để rửa tay, trong khi 75,4% biết sử dụng nước sạch và xà phòng Tuy nhiên, chỉ có 24,1% cho rằng thời gian tối thiểu để rửa tay là 20 giây.
- Xử trí khi nghi ngờ nhiễm bệnh
Biểu đồ 3.15: Kiến thức về xử lý khi nghi ngờ nhiễm bệnh
100% Đến ngay cơ sở y tế gần nhất Gọi cho y tế phường Ở yên tại chỗ, gọi cơ sở y tế gần nhất hoặc đường dây nóng BYT
Thông báo cho người xung quanh
Thời gian tối thiểu rửa tay
Khi nghi ngờ bản thân nhiễm bệnh, đa số người dân (86,5%) chọn ở yên tại chỗ và gọi đến cơ sở y tế gần nhất hoặc đường dây nóng của Bộ Y tế Bên cạnh đó, 77,6% cũng lựa chọn đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được kiểm tra và xử trí kịp thời.
- Tổng hợp kiến thức phòng ngừa COVID-19
Bảng 3.4: Tổng hợp kiến thức về phòng ngừa COVID-19
Phòng ngừa trong cộng đồng 280 67,5
Thời gian tối thiểu rửa tay 100 24,1
Xử trí khi nghi nhiễm 359 86,5
Theo thống kê, 57,8% người bệnh có kiến thức đầy đủ về phòng ngừa bệnh Kiến thức cao nhất được ghi nhận là về “Xử trí khi nghi nhiễm” với tỷ lệ 86,5%, trong khi kiến thức thấp nhất là “Thời gian tối thiểu rửa tay” chỉ đạt 24,1%.
Bảng 3.5: Tần số và tỷ lệ thái độ phòng ngừa của đối tượng nghiên cứu
Phòng ngừa trong cộng đồng 383 92,3 Đeo khẩu trang 383 92,3
Xử trí khi nghi nhiễm 383 92,3
Kết quả phân tích cho thấy 90,6% người bệnh tham gia khảo sát có thái độ tích cực Trong đó, thái độ cao nhất được ghi nhận là “Đeo khẩu trang”, “Phòng ngừa cho cộng đồng” và “Xử trí khi nghi ngờ mắc bệnh” Thái độ về vệ sinh nhà cửa, rửa tay đúng cách và xử trí khi nghi nhiễm cũng đạt trên 90%.
Biểu đồ 3.16: Hành vi đeo khẩu trang
Về mức độ tuân thủ đeo khẩu trang, hơn 97% các đối tượng cho biết việc đeo khẩu trang là thường xuyên và rất thường xuyên
Không mang HUPH Thỉnh thoảng Thường xuyên Rất thường xuyên
Biểu đồ 3.17: Hành vi rửa tay
Tương tự hành vi đeo khẩu trang, việc rửa tay sau khi tiếp xúc ở mức độ thường xuyên và rất thường xuyên chiếm hơn 90%
Về thời gian rửa tay, chỉ 30,4% cho biết thời gian tối thiểu dành cho 1 lần rửa tay là 20 giây
- Tập trung nơi đông người
Biểu đồ 3.18: Hành vi tập trung nơi đông người
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Rất thường xuyên
Chỉ khoảng 44,8% người dân cho biết họ không bao giờ hoặc hiếm khi tuân thủ quy định giãn cách và không tụ tập đông người tại các địa điểm công cộng.
- Xử trí khi nghi ngờ nhiễm bệnh
Biểu đồ 3.19: Hành vi xử lý khi nghi ngờ nhiễm bệnh
Xác định mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với kiến thức, thái độ, hành vi phòng ngừa bệnh
3.3.1 Mối liên quan với kiến thức chung và kiến thức phòng ngừa bệnh
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với kiến thức chung về bệnh Đặc điểm cá nhân KT đạt KT chưa đạt Giá trị p
47 Đặc điểm cá nhân KT đạt KT chưa đạt Giá trị p
Sống cùng người thân, bạn bè 62 53,5 54 46,6
Nhóm bệnh ít nguy cơ 160 56,5 123 43,5 Đã từng bị cách ly do COVID-19 Đã từng 5 38,5 8 61,5
Sống gần nhà người bị COVID-19 Đã từng 9 69,2 4 30,8
Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi với kiến thức chung, cụ thể:
- Nhóm tuổi 36 – 49 có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 2,36 lần so với tỷ lệ đạt trong nhóm tuổi trên 50 với giá trị p