ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu định lƣợng
02 phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức: Phòng khám Linh Xuân và Phòng khám Linh Tây
2.1.2 Đối tƣợng nghiên cứu định tính Đối tƣợng nghiên cứu định tính là các đối tƣợng/ cán bộ liên quan tới hoạt động cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của PKĐKTT
- Lãnh đạo Bệnh viện Quận Thủ Đức, Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp Bệnh viện Quận Thủ Đức
- Trưởng PKĐKTT, điều dưỡng trưởng PKĐKTT và nhân viên làm việc tại PKĐKKV
Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm nhân viên có thời gian công tác dưới 6 tháng, nhân viên đang tham gia học dài hạn, nhân viên nghỉ thai sản, và những nhân viên từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 10/2020 Địa điểm nghiên cứu: Tại 2 PKĐKTT bệnh viện quận Thủ Đức: PKĐKTT Linh Xuân, PKĐKTT Linh Tây.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang, kết hợp cả định lượng và định tính Phương pháp định lượng được thực hiện trước để đạt được mục tiêu nghiên cứu số 1, trong khi phương pháp định tính được áp dụng sau đó nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu số 2.
Cỡ mẫu
Toàn bộ báo cáo về hoạt động của PKĐKTT từ năm 2017 đến 2019, gồm:
- Báo cáo về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc, nguồn lực, hệ thống công nghê thông tin từ ngày 01/01/2017-31/12/2019
- Báo cáo về kết quả hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động KCB từ ngày 01/01/2017-31/12/2019
- Báo cáo hoạt động về tài chính từ ngày 01/01/2017-31/12/2019
Báo cáo kết quả khảo sát hài lòng của bệnh nhân tại hai phòng khám trong 6 tháng đầu năm 2020 cho thấy sự hài lòng của người bệnh được đánh giá thông qua báo cáo khảo sát định kỳ hàng quý Các phòng khám thực hiện khảo sát này dựa trên Bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh ngoại trú do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 4969/QĐ-BYT ngày 01/11/2017, nhằm kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ y tế.
Chọn mẫu có chủ đích cần đảm bảo tính đa dạng về giới, tuổi, vị trí công tác, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác Đã tiến hành 6 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng liên quan đến hoạt động khám chữa bệnh của các phòng khám đa khoa tư nhân.
- 01 Lãnh đạo Bệnh viện Quận Thủ Đức
- 01 Lãnh đạo phòng KHTH – Bệnh viện Quận Thủ Đức phụ trách về 02
- 01 Điều dưỡng trưởng PKĐKTT Linh Xuân
- 01 Điều dưỡng trưởng PKĐKTT Linh Tây
- Thực hiện 2 cuộc TLN với tổng số 12 người là nhân viên của 2
PKĐKTT.TLN: bao gồm các 04 Bác sĩ, 02 điều dƣỡng, 02 kỹ thuật viên, 02 dƣợc sĩ và 02 nhân viên hành chính.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.5.1 Xây dựng bộ dụng cụ
Dựa trên khung lý thuyết, bài nghiên cứu sẽ tập trung vào các biến số nghiên cứu và sử dụng bộ công cụ thu thập số liệu để phân tích thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại phòng khám quản lý sức khỏe.
Trong giai đoạn 2012 – 2016, HUPH đã tiến hành thu thập số liệu về thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa tư nhân (PKĐKTT) ở tỉnh Bắc Giang Bộ công cụ này nhằm đánh giá hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế trong khu vực.
2017 đến 2019 (chi tiết xem tại phụ lục 2, 3)
Dựa trên khung lý thuyết và kết quả nghiên cứu định lượng, bài viết xây dựng bộ hướng dẫn PVS và TLN từ hai nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ KCB tại các PKĐKTT trong giai đoạn 2017-2019 Thông tin chi tiết có thể tham khảo trong phụ lục 4, 5, 6.
Sử dụng bảng trống và bảng kiểm từ bộ công cụ đã thiết kế sẵn để thu thập số liệu cần thiết từ báo cáo tổng kết hoạt động của các PKĐKTT từ năm.
Nghiên cứu viên trực tiếp tiến hành cuộc phỏng vấn các cán bộ quản lý (PVS
Bài viết đề cập đến việc phỏng vấn 01 giám đốc bệnh viện, 01 trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, 02 trưởng phòng khám đa khoa và 02 điều dưỡng trưởng phòng đa khoa Nội dung phỏng vấn được ghi chép và ghi âm, sau đó tóm tắt bằng văn bản Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 25-30 phút, với nguồn số liệu do học viên trực tiếp thực hiện và có biên bản phỏng vấn kèm theo.
Tổ chức hai cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của 12 nhân viên y tế để làm rõ mục tiêu nghiên cứu Mỗi cuộc thảo luận do một nghiên cứu viên chủ trì và có một thư ký ghi biên bản Địa điểm tổ chức thảo luận là tại hai phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện.
Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lƣợng
Các biến số nghiên cứu định lƣợng gồm:
- Nhân lực phục vụ khám chữa bệnh của PKĐKTT, trình trình độ chuyên môn của bác sĩ
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc của PKĐKTT
- Nguồn thu của của PKĐKTT
- Tỷ lệ hài lòng của người bệnh khi đến khám chữa bệnh tại PKĐKTT
Kết quả cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại phòng khám đa khoa bao gồm số lượt khám bệnh chung, số lượt khám bảo hiểm y tế (BHYT), số lượt khám theo từng chuyên khoa, số lượng cận lâm sàng, số lượng phẫu thuật/thủ thuật, số cấp cứu, các dịch vụ khám chữa bệnh theo danh mục kỹ thuật, và tỷ lệ phần trăm dịch vụ kỹ thuật khám chữa bệnh được thực hiện.
(chi tiết xem tại phụ lục 1)
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 PKĐKTT bệnh viện quận Thủ Đức trong giai đoạn 2017-2019, chúng tôi đã dựa vào khung lý thuyết và tài liệu tham khảo để thực hiện nghiên cứu.
- Nhân sự: Số lƣợng và trình độ chuyên môn có đảm báo đáp ứng viêc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh
- Cở sở vật chất, trang thiết bị, thuốc có ảnh hưởng gì tới việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh
- Tài chính: Tự chủ tài chính, nguôn thu có đáp ứng đƣợc nhƣ cầu cung ứng dịch vụ
Quản lý điều hành bao gồm việc thực hiện các chính sách và văn bản từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời tổ chức hoạt động của bệnh viện và phòng khám, cũng như đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan.
- Hệ thống công nghê thông tin: Chức năng của các phần mềm tại các phòng khám.
Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi làm sạch, số liệu thứ cấp được nhập và xử lý trên Excel, từ đó tính toán tỷ lệ phần trăm để đạt được các kết quả mô tả theo mục tiêu nghiên cứu.
Thông tin từ PVS và TLN, bao gồm dữ liệu ghi âm và ghi chép, được kiểm tra và tổng hợp cẩn thận để phục vụ cho quá trình phân tích Các bản ghi âm được tách ra và lưu trữ thành một file riêng biệt Nghiên cứu viên tiến hành phân tích và mã hóa các thông tin thu thập được theo từng chủ đề.
Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu đƣợc sự đồng ý của Ban Lãnh đạo Bệnh viện, Lãnh đạo các phòng khám, Hội đồng khoa học, trưởng khoa/phòng liên quan
Nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo số 163/2020/YTCC-HD3 vào ngày 24 tháng 4 năm 2020.
Việc tham gia của đối tượng nghiên cứu hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, sau khi đã được giải thích rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu.
- Đảm bảo bí mật các thông tin mà đối tƣợng tham gia nghiên cứu cung cấp
- Thông tin thu thập trung thực, khách quan
- Thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về các phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức
3.1.1 Nhân sự tại 02 PKĐK Linh Xuân và Linh Tây
Bảng 1 Số lƣợng nhân sự tại 02 PKĐK từ năm 2017-2019
Hiện nay, số lượng nhân sự tại các phòng khám đa khoa thuộc bệnh viện đang tăng lên hàng năm để đáp ứng nhu cầu của người bệnh Cụ thể, số bác sĩ tại Phòng khám đa khoa Linh Xuân có xu hướng gia tăng, trong khi đó, số bác sĩ tại Phòng khám đa khoa Linh Tây không có sự thay đổi trong suốt 3 năm qua.
Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 So sánh %
Linh Xuân (% so với tổng NV)
Linh Tây (% so với tổng NV)
Linh Xuân (% so với tổng NV)
Linh Tây (% so với tổng NV)
Linh Xuân (% so với tổng NV)
Linh Tây (% so với tổng NV)
Phòng khám Tây không có sự phát triển về chuyên khoa, nhưng tất cả nhân viên đều có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên Trong khi đó, tại PKĐK Linh Xuân, số lượng nhân viên tăng lên, với gần 9,8% tổng số nhân viên có trình độ từ trung cấp trở lên, chủ yếu là y sĩ, dược sĩ và điều dưỡng Kết quả này cũng được thể hiện qua các đánh giá định tính.
Phòng khám đa khoa Linh Tây có đội ngũ nhân viên đông đảo hơn so với phòng khám Linh Xuân nhờ quy mô lớn hơn, cùng với số lượng bác sĩ được hỗ trợ nhiều hơn từ bệnh viện tại Linh Xuân.
Phòng khám gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự chuyên khoa và không có đủ cơ sở vật chất để mở rộng thêm các phòng chuyên khoa khác Do đó, đội ngũ bác sĩ tại phòng khám không có sự thay đổi Tuy nhiên, phòng khám vẫn nhận được sự hỗ trợ từ các bác sĩ chuyên khoa tại bệnh viện.
Nhu cầu của người dân ngày càng tăng, vì vậy hàng năm chúng tôi đều tuyển thêm nhân sự, chủ yếu là bác sĩ, kỹ thuật viên và dược sĩ để phục vụ bệnh nhân Hiện tại, số lượng bác sĩ chiếm ưu thế tại phòng khám, do nhu cầu khám bệnh và thực hiện thủ thuật là rất lớn, trong khi các khâu hỗ trợ khác như hành chính cần ít nhân sự hơn.
Bảng 2 Trình độ chuyên môn của Bác sĩ tại 02 PKĐK từ năm 2017-
(n, % so với tổng bác sĩ)
(n, % so với tổng bác sĩ)
(n, % so với tổng bác sĩ)
(n, % so với tổng bác sĩ)
(n, % so với tổng bác sĩ)
(n, % so với tổng bác sĩ)
Theo bảng số liệu về trình độ chuyên môn của bác sĩ tại hai phòng khám, chỉ có 32,2% bác sĩ đạt trình độ chuyên môn sau đại học, và chỉ có một bác sĩ có chứng chỉ chuyên khoa.
II Số bác sĩ tại PKĐK Linh Xuân là cao nhất với 23 bác sĩ nhƣng chỉ có 26,1% bác sĩ có trình độ sau đại học và PKĐK Linh Tây có 8 bác sĩ trong đó có 4 bác sĩ có trình độ sau đại học Hiện tại PKĐK Linh Xuân có 6 bác sĩ và PKĐK Linh Tây có 2 bác sĩ đang theo học lớp chuyên khoa 1 tại trường đại học Y dược TP.HCM về các chuyên khoa mắt, da liễu, tai mũi họng, y học cổ truyền, 01 bác sĩ đang học chuyên khoa II quản lý y tế Trình độ chuyên môn của 2 phòng khám đã đƣợc thể hiện rõ ở bảng trên, điều này đƣợc đề cập và giải thích ở kết quả định tính nhƣ sau:
Trình độ chuyên môn của bác sĩ tại hai phòng khám còn hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Sự thiếu hụt bác sĩ có kinh nghiệm trong các chuyên khoa khiến bệnh viện phải thường xuyên cử nhân sự hỗ trợ.
Phòng khám gặp khó khăn trong việc tuyển dụng bác sĩ chuyên khoa, đặc biệt là những bác sĩ có trình độ sau đại học Thay vào đó, họ chỉ có thể tuyển bác sĩ đa khoa, trong khi các bác sĩ có bằng sau đại học không muốn làm việc tại phòng khám, mặc dù có các chế độ đãi ngộ và cơ hội nâng cao chuyên môn.
3.1.2 Cơ sở vật chất của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ năm 2017-2019 Bảng 3 Cở sở vật chất các khoa phòng tại PKĐK Linh Xuân từ năm 2017-
2 Số phòng cận lâm sàng
3 Số phòng tiểu phẫu/VLTL
Cơ sở vật chất tại các phòng khám đa khoa được đánh giá là tương đối đầy đủ Tại phòng khám đa khoa Linh Xuân, số lượng phòng đã tăng từ 24 phòng vào năm 2017 lên 31 phòng vào năm 2019, trong khi đó, phòng khám đa khoa Linh Tây không có sự thay đổi về số lượng phòng khám.
Hiện tại, cơ sở vật chất của phòng khám chưa đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh, dẫn đến việc không thể mở rộng các chuyên khoa hoặc bổ sung trang thiết bị.
Phòng khám Linh Xuân có diện tích 493,4 m2, cao hơn nhiều so với Linh Tây, với kết cấu bao gồm 1 tầng hầm.
Phòng khám Linh Tây được xây dựng trên diện tích 205 m² với kết cấu gồm 1 trệt và 3 tầng lầu Để làm rõ về cơ sở vật chất của hai phòng khám, kết quả định tính đã đưa ra những ý kiến giải thích.
Hai phòng khám Linh Xuân và Linh Tây có sự khác biệt rõ rệt về cơ sở hạ tầng Phòng khám Linh Xuân có quy mô lớn hơn nhiều so với Linh Tây, điều này phần nào do vị trí địa lý của hai phòng khám Linh Tây không thể mở rộng do chưa xin được thêm đất xung quanh và vị trí gần chợ cũng hạn chế quy hoạch xây dựng.
3.1.3 Trang thiết bị y tế và dƣợc của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-
Bảng 4 Số lƣợng trang thiết bị của từng phòng khám so với quy định
Bộ Y tế năm 2017 – 2019 và Danh mục trang thiết bị cấp cứu thiết yếu của phòng khám theo quy định của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
STT Trang thiết bị theo từng chuyên khoa
1 Số lƣợng trang thiết bị hiện tại phòng cấp cứu của từng phòng khám so với quy định
Sở Y tế (33 thiết bị ban hành kèm theo công văn số
Tỷ lệ % so với số lƣợng trang thiết bị hiện tại phòng cấp cứu của từng phòng khám so với quy định Sở Y tế
2 Số lƣợng trang thiết bị của từng phòng khám so với quy định Bộ Y tế (94 thiết bị theo
Tỷ lệ % so với số lƣợng trang thiết bị của từng phòng khám so với quy định Bộ Y tế
Kết quả từ bảng 4 cho thấy cả hai phòng khám đều có đầy đủ trang thiết bị thiết yếu cho phòng cấp cứu theo quy định của Sở Y tế Tuy nhiên, cả hai vẫn chưa đáp ứng đủ trang thiết bị y tế theo quyết định 431/QĐ-BYT của Bộ Y tế, và trong ba năm qua, số lượng trang thiết bị này không thay đổi do một số thiết bị đã được thay thế bằng các thiết bị hiện đại hơn Thêm vào đó, tất cả các phòng khám đa khoa không được phê duyệt để thực hiện sinh đẻ, dẫn đến việc thiếu trang thiết bị liên quan đến đỡ đẻ Ngoài các trang thiết bị theo quy định của Bộ Y tế, phòng khám còn được trang bị thêm máy X-quang và CT-Scan.
Kết quả cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019
3.2.1 Kết quả hoạt động khám chữa bênh
Bảng 11: Số liệu khám chữa bệnh Phòng khám đa khoa Linh xuân Đơn vị tính: Số lƣợt khám
STT Nội dung 2017 2018 2019 Tỷ lệ % tăng năm 2018 so với năm
1 Tổng số lƣợt khám bệnh
2 Số lƣợt khám trung bình/ngày
4 Số lƣợt khám không BHYT
6 Số lƣợt NB chuyển về BV điều trị
Bảng 11 cho thấy tổng số lượt khám chữa bệnh tại phòng khám đã tăng đều qua các năm, đặc biệt là vào năm 2018 với mức tăng 95% so với năm 2017 Năm 2019, số lượt khám chữa bệnh tiếp tục tăng 13% so với năm 2018 Cụ thể, số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) đã tăng từ 72.227 lượt năm 2017 lên 156.083 lượt năm 2019.
2018 tăng 272% so với 2017 nhƣng đến năm 2019 lại giảm 18% so với năm 2018
Số bệnh nhân chuyển về bệnh viện đã tăng từ 125 lượt vào năm 2017 lên 389 lượt vào năm 2019 Trong đó, số lượt khám bảo hiểm y tế (BHYT) chiếm 92,4% tổng số lượt khám chữa bệnh (KCB) Kết quả này được thể hiện và giải thích qua các kết quả định tính.
Số lượng bệnh nhân đến khám tại phòng khám ngày càng tăng, chủ yếu là những người có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), trong khi số lượng bệnh nhân không có thẻ rất ít, chủ yếu là lao động tự do.
Số lượng chuyển tuyến gia tăng do sự tăng cao trong số người dân đến khám, cùng với việc thiếu hụt một số chuyên khoa như ung bướu và thần kinh, dẫn đến nhu cầu nhập viện để điều trị.
Bảng 12: Số liệu khám chữa bệnh Phòng khám đa khoa Linh Tây Đơn vị tính: Số lƣợt khám
STT Nội dung 2017 2018 2019 Tỷ lệ % tăng năm
Tỷ lệ % tăng năm 2019 so với năm
1 Tổng số lƣợt khám bệnh
2 Số lƣợt khám trung bình/ngày
4 Số lƣợt khám không BHYT
5 Số lƣợt KCB trẻ em < 6 tuổi
6 Số lượt người bệnh chuyển về bệnh viện điều trị
Bảng 12 cho thấy số lượt khám chữa bệnh (KCB) tăng qua các năm, với mức tăng 8% trong năm 2018 so với năm 2017 và 33% trong năm 2019 so với năm 2018 Cụ thể, số lượt KCB bảo hiểm y tế (BHYT) đã tăng từ 67.003 lượt năm 2017 lên 96.697 lượt năm 2019.
KCB không BHYT năm 2018 tăng 32% so với 2017 nhƣng đến năm 2019 lại giảm
19% so với năm 2018 Số người bệnh chuyển về bệnh viện cũng tăng theo từng năm từ 22 lượt năm 2017 lên 245 lượt năm 2019 Số lượt khám trẻ em dưới 6 tuổi giảm
18% năm 2018 so với 2017 Số lƣợt khám BHYT chiếm 97,74% tổng số lƣợt KCB
Số lượng bệnh nhân đến phòng khám ngày càng tăng, chủ yếu là người dân sống gần khu vực Đáng chú ý, 95% bệnh nhân đến khám đều có thẻ bảo hiểm y tế.
Bảng 13: Số liệu khám chữa bệnh của 02 phòng khám Đơn vị tính: Số lƣợt khám
HUPH số lƣợt KCB) số lƣợt KCB) số lƣợt KCB) với năm
1 Tổng số lƣợt khám bệnh
2 Số lƣợt khám trung bình/ngày
4 Số lƣợt khám không BHYT
5 Số lƣợt KCB trẻ em < 6 tuổi
6 Số lượt người bệnh chuyển về bệnh viện điều trị
Số liệu khám chữa bệnh tại hai phòng khám đa khoa đã tăng đều qua các năm, cho thấy sự tin tưởng của người dân Năm 2017, tổng số lượt khám đạt 145.494, trong đó lượt khám bảo hiểm y tế (BHYT) chiếm 95,7% Đến năm 2019, tổng số lượt khám tăng lên 327.783, với tỷ lệ lượt khám BHYT giảm nhẹ xuống 94,4% Tuy nhiên, số lượng khám cho trẻ em chỉ chiếm 9% tổng số lượt khám do vị trí phòng khám gần các khu dân cư Một số bệnh nhân phải chuyển về bệnh viện chủ yếu do các chuyên khoa không có bác sĩ hoặc bác sĩ trẻ thiếu kinh nghiệm, bên cạnh đó cũng có trường hợp bệnh nhân cần điều trị nội trú.
Hai phòng khám được xem là mô hình điểm của thành phố, với số lượt khám ngày càng tăng Trung bình, phòng khám Linh Xuân tiếp nhận khoảng 500 bệnh nhân mỗi ngày, trong khi phòng khám Linh Tây cũng ghi nhận lượng khám tương tự.
Phòng khám đã chứng minh hiệu quả trong việc khám chữa bệnh cho người dân địa phương với 250 bệnh nhân Trong thời gian tới, bệnh viện dự kiến mở thêm một số phòng khám mới tại Linh Trung, Làng Đại học Quốc gia và phường Trường Thọ.
Sau 3 năm triển khai, cả hai phòng khám đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của bệnh viện, góp phần giảm tải lượng bệnh nhân tại bệnh viện Số lượng bệnh nhân đến khám tại bệnh viện gần phòng khám đã giảm, cho thấy việc đưa dịch vụ y tế gần gũi với người dân đã phát huy hiệu quả Các bệnh nhân mắc bệnh mãn tính đang điều trị tại bệnh viện sẽ được chuyển về phòng khám để tiếp tục theo dõi và điều trị.
Bảng 14 Số ca cấp cứu của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019 Đơn vị tính: Số lƣợt khám
Số ca cấp cứu tại hai phòng khám có xu hướng trái ngược nhau Tại PKĐK Linh Xuân, số ca cấp cứu tăng từ 115 ca năm 2017 lên 363 ca năm 2019 Ngược lại, PKĐK Linh Tây ghi nhận sự giảm số ca cấp cứu từ 31 ca năm 2017 xuống còn 28 ca năm 2019 Sự khác biệt này có thể được lý giải bởi vị trí của phòng khám, nằm ở trục giao thông gần chợ Thủ.
Tình trạng tắc đường thường xuyên xảy ra tại HUPH Đức, đặc biệt là do đường một chiều dẫn đến Phòng khám, khiến xe phải quay đầu Trong các trường hợp cấp cứu, bệnh nhân thường chọn đi thẳng đến bệnh viện vì đường đi thuận lợi hơn Đáng chú ý, phần lớn các ca cấp cứu tại phòng khám đều là người dân sống gần khu vực này.
Bảng 15 Số lƣợt khám chữa bệnh theo từng chuyên khoa tại PKĐK Linh Xuân Đơn vị tính: Số lƣợt khám
(n,% so với tổng số lƣợt khám)
(n,% so với tổng số lƣợt khám)
(n,% so với tổng số lƣợt khám)
Tỷ lệ % tăng năm 2019 so với năm
Số lượt khám tại PKĐK Linh Xuân đã tăng đáng kể qua các năm, với chuyên khoa nội từ 37.709 lượt năm 2017 lên 80.192 lượt năm 2019 Chuyên khoa nhi cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ 10.663 lượt lên 31.138 lượt Chuyên khoa ngoại tăng từ 3.750 lượt năm 2017 lên 14.914 lượt năm 2019 Mặc dù hầu hết các chuyên khoa đều có xu hướng tăng, chuyên khoa mắt lại ghi nhận sự giảm, từ 969 lượt năm 2017 xuống còn 721 lượt năm 2019.
Tại phòng khám, số lượt khám chuyên khoa cao nhất thuộc về chuyên khoa nội, nhi, tai mũi họng, ngoại và y học cổ truyền Đặc biệt, bệnh nhân chủ yếu mắc các bệnh mãn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp và COPD, với chuyên khoa nội (nội tổng hợp, nội tiết, nội tim mạch) là nơi có số lượng khám nhiều nhất Tiếp theo là bệnh nhi, tai mũi họng, ngoại, y học cổ truyền, răng hàm mặt, sản, da liễu, và cuối cùng là khoa mắt Hiện tại, khoa mắt đang thiếu nhân sự do bác sĩ đi học và không có sự hỗ trợ từ bác sĩ mắt của bệnh viện, cùng với việc thiếu máy đo thị lực, dẫn đến số lượng bệnh nhân khám tại đây ít.
Bảng 16 Số lƣợt khám chữa bệnh theo từng chuyên khoa tại PKĐK Linh Tây Đơn vị tính: Số lƣợt khám
(n,% so với tổng số lƣợt khám)
(n,% so với tổng số lƣợt khám)
(n,% so với tổng số lƣợt khám)
Tỷ lệ % tăng năm 2018 so với năm 2017
Tỷ lệ % tăng năm 2019 so với năm
Số lượt khám chuyên khoa tại PKĐK Linh Tây đã tăng đều qua các năm, trong đó chuyên khoa ngoại và răng hàm mặt có mức tăng cao nhất.
Những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả cung cấp dịch vụ KCB của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây
Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ khám chữa bệnh tại hai phòng khám đa khoa thuộc bệnh viện đã được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và khảo sát định lượng Phân tích cho thấy các yếu tố quan trọng đã nổi lên từ quá trình này.
3.3.1 Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc của 02 phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viên
Về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế:
Cơ sở vật chất và trang thiết bị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh (KCB), ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của bệnh nhân và khả năng quay lại của họ Nghiên cứu cho thấy hai phòng khám đa khoa thuộc bệnh viện được xây dựng với cơ sở vật chất mới, sạch sẽ và hoạt động tốt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa phương Phòng khám Đa khoa Linh Xuân được đầu tư đầy đủ về các chuyên khoa, giúp phát triển chuyên môn Cơ sở vật chất của hai phòng khám được bố trí hợp lý, đảm bảo quy trình khám chữa bệnh Tuy nhiên, phòng khám đa khoa Linh Tây hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu của bệnh nhân do không gian chật hẹp, chỉ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu và chưa có đủ diện tích để mở rộng.
Việc lắp đặt thiết bị y tế mới tại HUPH và các chuyên khoa có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân cũng như sự phát triển của phòng khám Bên cạnh đó, vị trí địa điểm của các phòng khám cũng góp phần quan trọng vào hiệu quả công tác khám chữa bệnh.
Hai phòng khám đa khoa được trang bị đầy đủ thiết bị y tế, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Các thiết bị hiện đại như máy X-quang, siêu âm, xét nghiệm, CT-Scan và hệ thống nội soi giúp nâng cao hiệu quả hoạt động khám chữa bệnh Tuy nhiên, mặc dù trang thiết bị đã khá đầy đủ, nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng cao của người dân Việc đầu tư trang thiết bị y tế gặp khó khăn do phải tuân thủ các gói thầu của bệnh viện, không được tự ý mua sắm bên ngoài.
Cơ sở phòng khám hiện tại gặp khó khăn do không gian hạn chế, không thể bố trí đầy đủ trang thiết bị mới và mở rộng chuyên khoa Vị trí phòng khám cũng không thuận lợi về giao thông, và việc đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại như thiết bị xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh diễn ra chậm do phải chờ vào danh sách mua sắm của bệnh viện Điều này dẫn đến khả năng thu hồi vốn từ trang thiết bị cũng bị kéo dài.
Phòng khám hiện đang thiếu các trang thiết bị cần thiết cho công tác chẩn đoán và điều trị, bao gồm máy MRI, hệ thống nội soi tiêu hóa và máy laser Việc thiếu xe cứu thương 4 bánh đã dẫn đến tình trạng một số ca cấp cứu phải chờ xe từ bệnh viện, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng kịp thời cho bệnh nhân Hơn nữa, quá trình đầu tư mua sắm trang thiết bị diễn ra chậm do phải chờ các gói thầu của bệnh viện và lập kế hoạch mua sắm từ đầu năm.
Thuốc là yếu tố thiết yếu trong việc điều trị bệnh nhân; nếu phòng khám không đáp ứng đủ nhu cầu thuốc, hiệu quả điều trị và sự tin tưởng của bệnh nhân sẽ giảm theo thời gian Nghiên cứu cho thấy thuốc tại hai phòng khám đa khoa đều được cung cấp bởi bệnh viện, do đó hầu hết bệnh nhân phụ thuộc vào nguồn cung này.
Tại HUPH, các loại thuốc có sẵn tại bệnh viện cũng được cung cấp tại các phòng khám, giúp người bệnh yên tâm khi đến khám Các phòng khám đa khoa đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trong khu vực, với thuốc được cung cấp từ bệnh viện Khi thiếu thuốc, các phòng khám sẽ chủ động liên hệ với khoa dược của bệnh viện để được hỗ trợ Đồng thời, phòng khám cần căn cứ vào nhu cầu sử dụng thuốc để đề xuất số lượng thuốc cần thiết cho thời gian tới với khoa dược.
Hai phòng khám mới đi vào hoạt động chưa nắm bắt được các bệnh lý của người dân, ảnh hưởng đến việc dự trù thuốc Nhu cầu về một số loại thuốc ngoài danh mục chưa được cấp phép vẫn tồn tại, trong khi một số thuốc không được bảo hiểm y tế chi trả, gây khó khăn cho công tác khám chữa bệnh Mặc dù bệnh viện cung cấp thuốc, nhưng một số loại đã hết hàng, khiến bệnh nhân phải chờ gói thầu của bệnh viện.
Một số thuốc tại phòng khám hiện đang thiếu do bệnh viện hết hàng và phải chờ gói thầu mới Mặc dù một số thuốc không nằm trong danh mục được phép cung cấp tại phòng khám, nhưng nhu cầu của người dân vẫn rất cao.
Số lượng danh mục thuốc bảo hiểm y tế (BHYT) được Sở Y tế và Bảo hiểm xã hội phê duyệt cho phòng khám hiện còn hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu thực tế, đặc biệt là đối với các loại thuốc dành cho bệnh nhân mãn tính và trong các chuyên khoa nội, nhi.
3.3.2 Yếu tố về nhân sự
Nhân lực y tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Đây là yếu tố then chốt trong việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại các phòng khám, bao gồm chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ phục vụ Khi chất lượng nhân sự không đảm bảo, trình độ chuyên môn của cán bộ tại phòng khám sẽ tác động tiêu cực đến việc người dân sử dụng dịch vụ Nghiên cứu cho thấy số lượng nhân sự tại các phòng khám đa khoa gần đáp ứng nhu cầu.
HUPH đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân nhờ sự hỗ trợ nhân sự từ bệnh viện Hiện tại, cả hai phòng khám đều có đội ngũ nhân sự trẻ, nhiệt huyết và năng nổ Nhân sự mới sẽ được đào tạo trong 03 tháng về chuyên môn, nội quy và phần mềm trước khi làm việc tại phòng khám, giúp nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn Các phòng khám có bác sĩ chuyên khoa và nhận được sự hỗ trợ chuyên môn từ bệnh viện, từ đó nâng cao trình độ, tạo niềm tin cho bệnh nhân và phát triển chuyên môn, mở rộng thêm các chuyên khoa.
Nhân sự tại phòng khám luôn được đảm bảo để duy trì hoạt động khám chữa bệnh hiệu quả Ban giám đốc và bệnh viện thường xuyên hỗ trợ về nhân sự, đặc biệt trong các chuyên khoa, nhất là khi lượng bệnh nhân tăng cao Đội ngũ nhân sự trẻ, nhiệt huyết và luôn nỗ lực học hỏi, không chỉ trong chuyên môn mà còn trong các hoạt động khác của phòng khám.
Nhân sự của phòng khám đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh Để thực hiện danh mục kỹ thuật và phát triển các dịch vụ kỹ thuật cao, phòng khám cần không chỉ trang thiết bị và cơ sở vật chất mà còn phải chú trọng đến nguồn nhân lực Việc tạo điều kiện cho nhân viên tham gia học tập và làm việc ngoài giờ sẽ giúp tăng cường nguồn thu cho các bác sĩ.