1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chăm sóc y tế và xã hội tại cộng đồng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt trong chương trình quốc gia về sức khỏe tâm thần tại thành phố tuyên quang, năm 2016

103 6 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc y tế và xã hội tại cộng đồng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt trong chương trình quốc gia về sức khỏe tâm thần tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016
Tác giả Nguyễn Văn Khoa
Người hướng dẫn PGS.TS.BS Nguyễn Thị Minh Thủy
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản lý Y tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Giới thiệu chung về bệnh tâm thần (TT) (13)
      • 1.1.1. Định nghĩa Sức khoẻ tâm thần (SKTT) (13)
      • 1.1.2. Định nghĩa Người bị bệnh TT (13)
    • 1.2. Nguyên nhân và phòng ngừa (13)
    • 1.3. Các khó khăn mà người bệnh TT và gia đình họ phải đối mặt (14)
    • 1.4. Phát hiện bệnh Tâm thần (15)
    • 1.5. Bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL) (16)
    • 1.6. Khái quát về công tác chăm sóc người bệnh TTPL và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc y tế và xã hội. [3], [15] (18)
    • 1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc y tế và xã hội (20)
    • 1.8. Thực trạng bệnh TT trên thế giới và tại Việt Nam (20)
    • 1.9. Các nghiên cứu về chăm sóc bệnh nhân TTPL (22)
    • 1.10. Giới thiệu chung về thành phố Tuyên Quang và công tác chăm sóc, hỗ trợ, phục hồi chức năng tại địa bàn nghiên cứu (25)
    • 2. Khung lý thuyết (27)
  • Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (28)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (28)
    • 2.4. Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu (29)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (29)
    • 2.6. Quy trình thu thập số liệu (30)
    • 2.7. Biến số nghiên cứu (phụ lục 3) (30)
    • 2.8. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (31)
    • 2.9. Quản lý và phân tích số liệu (34)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (34)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Thực trạng chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt (36)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. Thực trạng người bệnh tâm thần được chăm sóc y tế và xã hội tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016 (59)
    • 4.2. Việc triển khai chương trình chăm sóc SKTT quốc gia tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016 và các yếu tố ảnh hưởng (68)
  • KẾT LUẬN (72)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (75)
  • PHỤ LỤC (79)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng: Toàn bộ người chăm sóc chính (NCSC) cho người bệnh TTPL tại địa bàn thành phố Tuyên Quang, năm 2016

Chọn cán bộ y tế xã phường tham gia vào chương trình quản lý sức khoẻ tâm thần tại địa bàn thành phố Tuyên Quang, năm 2016

Cán bộ y tế trung tâm y tế tỉnh tham gia vào chương trình quản lý sức khoẻ tâm thần tại địa bàn thành phố Tuyên Quang, năm 2016

Cán bộ xã hội tại xã/phường và cán bộ phòng Lao động, Thương binh và Xã hội có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) Tiêu chuẩn chọn mẫu đối tượng là những nhân viên chăm sóc (NCSC) thường xuyên trực tiếp đưa người bệnh đi khám định kỳ, nhận thuốc và chăm sóc họ.

18 tuổi và sống cùng NB trong thời gian 1 năm trở lại đây, đồng ý tham gia nghiên cứu [5]).

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 4/2016 đến tháng 07/ 2016 Địa điểm: thành phố Tuyên Quang

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng

Nghiên cứu định lượng này nhằm mô tả thực trạng chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt trong chương trình quốc gia về sức khoẻ tâm thần Bài viết cũng phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng.

Nghiên cứu định tính này tập trung vào việc mô tả công tác chăm sóc y tế và xã hội dành cho người bệnh tâm thần phân liệt tại thành phố Tuyên Quang Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác chăm sóc người bệnh trong khu vực này.

Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu định lượng: Chọn mẫu toàn bộ Cỡ mẫu cho nghiên cứu dự kiến là 134 người CSC của bệnh nhân TTPL

Nhóm cán bộ y tế sẽ bao gồm toàn bộ cán bộ từ các trạm y tế xã/phường và cán bộ của trung tâm y tế tỉnh, những người phụ trách chương trình quản lý sức khỏe tâm thần Dự kiến, nhóm sẽ có 14 thành viên, trong đó có 13 người từ các phường xã và 01 người từ trung tâm y tế.

Nhóm cán bộ xã hội: chọn chủ đích cán bộ xã hội xã/ phường và 01 đại diện của phòng Lao động thương binh xã hội Dự kiến 14 người.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Cơ sở xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên tài liệu Phục hồi chức năng của Bộ Y tế năm 2008 và quyết định của Thủ tướng chính phủ về chương trình quốc gia về sức khoẻ tâm thần.

Bản hướng dẫn TLN được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết

2.5.2 Giới thiệu bộ công cụ

Bộ câu hỏi được chia thành 04 phần: Phần 1 cung cấp thông tin chung về NCSC; phần 2 tập trung vào thông tin về người bệnh TTPL; phần 3 đánh giá thực trạng chăm sóc y tế cho người bệnh TTPL; và phần 4 xem xét thực trạng chăm sóc xã hội của người bệnh TTPL.

Hướng dẫn TLN (phụ lục 2) cung cấp thông tin quan trọng về chăm sóc y tế cho người bệnh, bao gồm những khó khăn và thuận lợi trong quá trình điều trị cũng như việc hòa nhập cộng đồng.

Hướng dẫn TLN (phụ lục 3) đề cập đến các vấn đề chăm sóc xã hội cho người bệnh TTPL, bao gồm những khó khăn và thuận lợi trong quá trình điều trị cũng như việc hòa nhập cộng đồng.

Quy trình thu thập số liệu

Tập huấn cho điều tra viên sẽ được thực hiện với 05 điều tra viên là học viên lớp chuyên khoa II Tổ chức quản lý y tế, những người có kinh nghiệm trong điều tra và nghiên cứu Nội dung tập huấn bao gồm kiến thức chăm sóc PHCN dựa vào cộng đồng cho bệnh nhân TTPL và thực hành phỏng vấn người bệnh theo bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc (phụ lục 1), nhằm thống nhất cách điều tra chung.

Thử nghiệm bộ câu hỏi: điều tra thử 10 NCSC bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp để chỉnh sửa những điểm chưa phù hợp Điều tra chính thức:

Số liệu sẽ được học viên trực tiếp thu thập và có sự hỗ trợ thu thập một phần thông qua các điều tra viên (ĐTV)

Học viên lớp CKII Tổ chức quản lý y tế, ĐTV, đã tham gia nghiên cứu cộng đồng và được trang bị kiến thức cùng kỹ năng điều tra ĐTV cũng đã trải qua khóa tập huấn về thực hành phỏng vấn người bệnh và thống nhất phương pháp điều tra Giám sát viên sẽ đảm nhận vai trò nghiên cứu viên chính trong dự án này.

Chọn toàn bộ NCSC của người bệnh trong danh sách chương trình quản lý sức khoẻ TT để phỏng vấn Các điều tra viên sẽ gửi giấy hẹn đến từng hộ gia đình có người bệnh TTPL, mời đối tượng tham gia phỏng vấn tại trạm y tế xã, phường theo ngày hẹn Trước khi phỏng vấn, ĐTV cần giải thích rõ mục đích và nội dung của buổi phỏng vấn.

Các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) được tổ chức dưới sự điều hành của một người chủ trì và một thư ký, người sẽ ghi chép lại diễn biến của từng cuộc phỏng vấn Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn cũng được ghi âm để phục vụ cho việc phân tích theo nhóm chủ đề Nghiên cứu viên sẽ thực hiện các cuộc PVS và thu thập thông tin.

Biến số nghiên cứu (phụ lục 3)

Nhóm Thông tin chung của người CSC: gồm 07 biến số về Tuổi, Giới tính,

Quan hệ với người bệnh, Trình độ văn hoá, Nghề nghiệp, Thu nhập, Tiếp cận thông

22 tin về hướng dẫn chăm sóc

Nhóm thông tin chung của người bệnh bao gồm 07 biến số: Tuổi, Giới tính, Năm mắc bệnh, Số lần tái phát, Tiền sử gia đình và Phản ứng phụ của thuốc Dữ liệu được thu thập thông qua bảng phỏng vấn có cấu trúc và bảng thu thập số liệu thứ cấp.

Nhóm Thực trạng chăm sóc: thực trạng được mô tả qua các cấu phần lớn là chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội

Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến việc chăm sóc y tế và xã hội cho bệnh nhân TTPL tại cộng đồng bao gồm công tác tư vấn, mô hình hoạt động, sự phối hợp giữa các cấp ban ngành, và tính phù hợp của hệ thống y tế.

Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Bộ câu hỏi được thiết kế theo khung lý thuyết và tài liệu số 16 về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho bệnh nhân tâm thần, phù hợp với quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chương trình quốc gia về sức khỏe tâm thần.

Thước đo về Chăm sóc Y tế

Mỗi câu trả lời đúng được mã hoá là 1 điểm và trả lời sai thì 0 điểm

1 Khám bệnh định kỳ: chấm đúng khi chọn khám 30 ngày/ 1 lần

2 Tần suất lĩnh thuốc: chấm đúng khi chọn nhận thuốc 30 ngày/ 1 lần

3 Tên thuốc trong chương trình: chấm đúng khi chọn a/ b/ c/ d/ e

(Aminazine, Haloperiadol, Tisecrin, Amitriptyline, Seduxen)

4 Tên loại thuốc mua: chấm đúng khi chọn a/ b/ c/ (Clozapin, Olanzapin, Risperidon)

5 Số lần dùng thuốc trong ngày: chấm đúng khi dùng 01 lần/ ngày với bệnh ổn định và 2 lần/ ngày với bệnh chưa ổn định

6 Thời gian dùng thuốc: chấm đúng khi chọn uống vào bữa tối sau ăn (01 lần/ ngày) và uống vào bữa tối sau ăn + bữa trưa sau ăn (02 lần/ ngày)

7 Tần suất dùng thuốc: chấm đúng khi chọn dùng hàng ngày

8 Liều dùng thuốc: chấm đúng khi chọn theo chỉ định của bác sỹ

9 Cách uống thuốc: chấm đúng khi chọn đưa thuốc cho người bệnh và bảo uống trước mặt mình

10 Các tác dụng phụ khi dùng thuốc: chấm đúng khi chọn vã mồ hôi, run tay chân, cứng hàm

11 Xử trí khi gặp tác dụng phụ: chấm đúng khi chọn báo nhân viên y tế

12 Thăm khám/ giám sát của cán bộ y tế: chấm đúng khi chọn 1 quý/ lần

Thước đo về Chăm sóc Xã hội

1 Có đôn đốc, nhắc nhở người bệnh TTPL vệ sinh cá nhân hàng ngày

2 Trang phục của người bệnh TTPL hàng ngày sạch sẽ

3 Hỗ trợ một phần hoặc hoàn toàn trong vấn đề vệ sinh của người bệnh TTPL

4 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn gặp và nói chuyện với các thành viên trong gia đình

5 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn ăn chung với gia đình

6 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn được khuyến khích làm việc phù hợp với khả năng

7 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn tham gia các hoạt động đoàn thể

8 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn tham gia câu lạc bộ thể thao hay môt hội có cùng sở thích hay đoàn thể tại địa phương

9 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn quan tâm tới tin tức thời sự hoặc nói chuyện thời sự với người khác

10 Người bệnh TTPL thường xuyên hoặc luôn luôn đọc các bài viết trên báo về tin tức trong nước và quốc tế

11 Người bệnh TTPL có nhận được bất kỳ sự hỗ trợ của chính phủ/các cơ quan đoàn thể/cá nhân

12 Người bệnh TTPL có nhận được sự hỗ trợ của CBXH

Cách tính điểm dựa vào hướng dẫn chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng và quyết định của thủ tướng chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia Theo phiếu khảo sát dành cho người CSC, mỗi tiêu chí đạt được sẽ được cho 1 điểm, trong khi không đạt sẽ được cho 0 điểm Cuối cùng, điểm số sẽ được tính dựa trên thang điểm 10, với điểm tối đa về chăm sóc y tế là

Điểm chăm sóc xã hội tối đa là 12 Sau khi tính toán, cần xác định điểm trung bình chăm sóc chung và khảo sát số lượng đối tượng đạt trên hoặc dưới điểm trung bình này.

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng với nguyên nhân chưa được xác định rõ Bệnh này tiến triển với những rối loạn đặc trưng về tư duy và cảm giác, dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tâm lý và nhân cách Tình trạng này gây ra sự mất hài hòa và thống nhất trong các hoạt động tâm thần.

Người chăm sóc chính là người thường xuyên đưa bệnh nhân đi khám định kỳ, nhận thuốc và đảm bảo bệnh nhân uống thuốc hàng ngày Họ cũng có trách nhiệm đôn đốc và hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị.

Người bệnh cần thực hiện vệ sinh cá nhân hàng ngày, đặc biệt là những người trên 18 tuổi sống cùng với người bệnh Chương trình quản lý sức khỏe tại trạm y tế đã tiến hành sàng lọc thông qua việc ghi nhận thông tin trong hồ sơ bệnh án ngoại trú, bằng cách hỏi ai là người chăm sóc chính cho người bệnh trong gia đình trong vòng một năm qua.

Phân loại hộ nghèo được xác định là những hộ gia đình có sổ nghèo do xã/phường cấp, dựa trên tiêu chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2011 – 2015 theo chỉ thị số 1752/CT – TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ Những hộ này phải được ngành Lao động Thương binh và Xã hội cấp sổ, với mức chuẩn nghèo là thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và dưới 500.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị.

Người bệnh cần uống thuốc đúng cách, tức là phải uống thuốc dưới sự giám sát của người chăm sóc (NCS) NCS sẽ kiểm tra để đảm bảo rằng người bệnh đã uống hết thuốc và thuốc đã vào dạ dày.

Người bệnh uống đúng liều: là người bệnh được NCS cho uống đúng theo chỉ định của bác sĩ (BS)

Hỗ trợ hoàn toàn cho người bệnh bao gồm việc gia đình thực hiện tất cả các công việc cần thiết như giặt quần áo, tắm rửa, nấu ăn và cho người bệnh ăn.

Người bệnh có khả năng tự thực hiện một số hoạt động như tắm rửa hoặc tự lấy cơm để ăn, nhưng vẫn cần hỗ trợ trong việc nấu nướng.

Quản lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra tính phù hợp và làm sạch trước khi tiến hành nhập liệu bằng phần mềm epidata 3.1

Kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu được nhập để đảm bảo nhập liệu chính xác

Kiểm tra các giá trị mất, giá trị bất thường và lỗi do mã hóa

Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0

Các thông tin định tính được mã hoá theo chủ đề và viết báo cáo.

Đạo đức nghiên cứu

Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Việc phỏng vấn chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận hợp tác từ đối tượng Đối tượng nghiên cứu có quyền rút lui bất cứ lúc nào trong quá trình tham gia.

Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi đã được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công Cộng thông qua bằng văn bản

Kết quả nghiên cứu được phản hồi tới Cán bộ quản lý chương trình chăm sóc

Kết thúc nghiên cứu tại SKTT, Trung tâm Y tế thành phố Tuyên Quang, kết quả thu được sẽ là nền tảng quan trọng cho các hoạt động nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe tại thành phố Tuyên Quang.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng chăm sóc y tế và xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt

trong chương trình quốc gia về sức khoẻ tâm thần tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016

1.1 Thông tin về người CSC bệnh nhân TTPL

Bảng 3.1: Thông tin chung về người CSC bệnh nhân TTPL

Thông tin chung Số lượng (n = 134) Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi

Không biết chữ, Tiểu học 17 12,7

Trung cấp, Cao đẳng, ĐH 39 29,1

Kinh tế hộ gia đình

Hưu trí, nghỉ mất sức 34 25,4

Quan hệ với người bệnh

Trong số 134 người chăm sóc, độ tuổi từ 36 – 55 chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,5%, trong khi độ tuổi từ 18 – 35 chỉ chiếm 11,9% Phụ nữ là 64,2% trong số những người chăm sóc, trong khi nam giới chiếm 35,8% Trình độ học vấn của họ nhìn chung còn thấp, với 12,7% chỉ có trình độ tiểu học, 58,2% có trình độ THCS và PTTH, và chỉ 29,1% có trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học Về tình hình kinh tế, 85,1% không thuộc hộ nghèo, trong khi 14,9% là hộ nghèo Nghề nghiệp chủ yếu của họ là làm nông (32,1%), tiếp theo là hưu trí và nghỉ mất sức (25,4%), trong đó 15,7% là cán bộ, viên chức nhà nước Đối tượng chăm sóc chủ yếu là bố mẹ của người bệnh (34,9%), vợ chồng (31,3%), và anh chị em ruột (23,9%), trong khi 6,7% là con của người bệnh và 3,7% là họ hàng.

Bảng 3.2: Người CSC được tiếp cận các thông tin hướng dẫn cách chăm sóc

Nguồn thông tin NCSC tiếp cận Số lượng Tỷ lệ (%)

Tranh tuyên truyền, cổ động 40 30,5

Không được nhận thông tin nào 03 2,2

Trong một khảo sát về nguồn thông tin mà người chăm sóc chính tiếp cận, 97,8% cho biết họ đã nhận được thông tin, trong khi chỉ 2,2% không nhận được bất kỳ thông tin nào Nguồn thông tin chủ yếu đến từ nhân viên y tế tư vấn (97,7%), tiếp theo là truyền thanh, truyền hình (66,4%), và 30,5% đã tiếp cận thông qua tranh tuyên truyền, cổ động Ngoài ra, 6,1% người chăm sóc chính cũng cho biết họ đã nhận thông tin từ tờ rơi do nhân viên y tế phát.

Bảng 3.3 Nội dung người CSC được tư vấn, hướng dẫn

Nội dung người CSC được tư vấn

Tư vấn sử dụng thuốc 131 100,0

Tư vấn chăm sóc y tế 123 93,9

Tư vấn phục hồi chức năng 98 74,8

Nghiên cứu cho thấy trong số 131 người CSC, 100% đã nhận được tư vấn về việc sử dụng thuốc, trong khi 93,9% (123 trường hợp) được tư vấn về chăm sóc y tế Tuy nhiên, tỷ lệ tư vấn phục hồi chức năng chỉ đạt 74,8% (98 trường hợp).

3.2 Thực trạng người bệnh TTPL được chăm sóc và PHCN tại cộng đồng

1.1.1 Thực trạng về chăm sóc y tế

Bảng 3.4: Người bệnh TTPL được khám theo định kỳ

TT Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

3 Khi nào nào tái phát mới đến khám 18 13,4

77,6% người tham gia cho biết họ thực hiện việc khám sức khỏe định kỳ hàng tháng, trong khi 8,2% chỉ đi khám mỗi quý một lần Ngoài ra, 13,4% chỉ đến khám khi có triệu chứng tái phát, và 0,7% trường hợp chỉ tái khám hàng năm.

Bảng 3.5: Tần suất lĩnh thuốc tại trạm y tế xã/ phường

TT Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Mặc dù có tỷ lệ cao người bệnh không đến khám định kỳ hàng tháng, nhưng 96,3% vẫn nhận thuốc hàng tháng Phần lớn người nhận thuốc là người chăm sóc chính hoặc người nhà, trong khi chỉ có 3,7% trường hợp cho biết nhận thuốc mỗi 10 ngày một lần.

Bảng 3 6: Nguồn thuốc mà người bệnh TTPL sử dụng

TT Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Về nguồn thuốc mà người bệnh TTPL sử dụng, 95,5% dùng thuốc của chương trình; 4,5% cho biết sử dụng kết hợp vừa dùng thuốc chương trình vừa mua ngoài

Bảng 3.7: Loại thuốc người bệnh TTPL đang được cấp sử dụng

TT Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Trong số các loại thuốc được cấp, 79,9% bệnh nhân đang sử dụng Aminazine, trong khi Haloperidol chiếm 19,4% Tỷ lệ sử dụng Amitriptyline là thấp nhất, chỉ 1,5% Ngoài ra, có 03 trường hợp bệnh nhân không nhớ được tên thuốc đang sử dụng.

Bảng 3 8: Loại thuốc mà người bệnh TTPL mua ngoài

TT Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Thuốc mua ngoài chủ yếu là Risperidon (05 trường hợp) và 01 trường hợp dùng Clozapin

Bảng 3.9 Số lần dùng thuốc của người bệnh TTPL trong ngày

ST Nội Số lượng Tỷ lệ ( %)

Số lần dùng thuốc trong ngày phụ thuộc vào mức độ ổn định của bệnh nhân Nếu bệnh nhân ổn định, thuốc được sử dụng một lần mỗi ngày; nếu chưa ổn định, cần dùng hai lần mỗi ngày Trong nghiên cứu của chúng tôi, 97,8% (131 trường hợp) cho biết sử dụng thuốc một lần mỗi ngày, trong khi chỉ có 2,2% (03 trường hợp) phải dùng hai lần mỗi ngày.

Bảng 3.10: Thời điểm dùng thuốc cho người bệnh TTPL

ST Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

1 Dùng buổi tối sau ăn 128 95,5

2 Dùng buổi sáng sau ăn 03 2,2

3 Dùng buổi tối và trưa sau ăn 03 2,2

Với bệnh nhân ổn định, thuốc được sử dụng một lần duy nhất vào buổi tối sau ăn, chiếm 95,5% Đối với bệnh nhân chưa ổn định, thuốc được dùng hai lần vào buổi trưa và tối, chiếm 2,2% Một tỷ lệ nhỏ 2,2% người trả lời đã sử dụng thuốc vào buổi sáng sau ăn, điều này được coi là sai chỉ định.

Bảng 3.11: Tần suất dùng thuốc của bệnh nhân TTPL

ST Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Tâm thần phân liệt là một bệnh mãn tính cần điều trị bằng thuốc thường xuyên Theo thống kê, 97,8% bệnh nhân cho biết họ sử dụng thuốc hàng ngày, trong khi chỉ có 2,2% thỉnh thoảng mới uống thuốc.

Bảng 3.12: Liều dùng thuốc của người bệnh TTPL

ST Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

1 Theo chỉ định của bác 134 100,0

Mặc dù 100% trường hợp cho biết họ uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, vẫn có những trường hợp sử dụng thuốc sai thời điểm và sai tần suất.

Bảng 3.13: Cách uống thuốc của người bệnh TTPL

ST Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

1 Tự người bệnh lấy thuốc và uống 16 11,9

2 Đưa thuốc cho NB tự uống 52 38,8

3 Đưa thuốc cho NB, bảo NB uống trước mặt mình 66 49,3

Gần 50% người chăm sóc (CSC) thực hiện đúng hướng dẫn về cách uống thuốc, tức là đưa thuốc cho bệnh nhân (NB) uống dưới sự giám sát của mình Trong khi đó, 38,8% CSC chỉ đưa thuốc cho NB tự uống mà không kiểm tra Đáng chú ý, có tới 11,9% bệnh nhân tự lấy thuốc uống mà không được kiểm tra hay theo dõi.

Bảng 3.14: Tác dụng phụ khi uống thuốc của người bệnh TTPL

Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Không bị tác dụng phụ 83 61,9

Trong một nghiên cứu, 51 trường hợp cho thấy người bệnh gặp phải tác dụng phụ, với tác dụng phụ phổ biến nhất là vã mồ hôi (49,2%) và tiếp theo là run tay chân (41,2%) Ngoài ra, 23,5% người bệnh báo cáo bị cứng hàm Đáng chú ý, có 83 trường hợp (61,9%) cho biết không gặp phải tác dụng phụ nào do thuốc.

Bảng 3.15: Xử trí của NCSC khi người bệnh TTPL gặp tác dụng phụ của thuốc

Trong số 51 đối tượng báo cáo gặp tác dụng phụ, 96,1% đã thực hiện đúng quy trình bằng cách thông báo cho nhân viên y tế Tuy nhiên, vẫn có 2 trường hợp (3,4%) tự ý mua thuốc khác để điều trị cho người bệnh.

Bảng 3.16: Tần suất thăm khám tại nhà bệnh nhân của CBYT

ST Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của cán bộ y tế là thực hiện thăm khám định kỳ tại nhà cho bệnh nhân TTPL Tuy nhiên, chỉ có 42,5% bệnh nhân được thăm khám mỗi quý, trong khi 31,3% chỉ được khám 6 tháng một lần và 17,9% khám mỗi năm một lần.

Và 8,2% cho biết chưa thấy có CBYT nào đến tận nhà thăm khám cho người bệnh

1.1.2 Chăm sóc xã hội cho người bệnh TTPL

Bảng 3.17: Chăm sóc về vệ sinh cá nhân hàng ngày của bệnh nhân TTPL

Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

Người bệnh được nhắc nhở trong vệ

Người bệnh có khả năng 72 53,7

Người bệnh Được gia đình hỗ trợ 52 38,8 được chăm sóc trong vệ sinh cá Được gia đình hỗ trợ 10 7,5 nhân

Trang phục của người bệnh TTPL

Công tác chăm sóc vệ sinh cá nhân được đánh giá qua việc nhắc nhở về vệ sinh cá nhân (VSCN) và chăm sóc trang phục cho người bệnh Đáng chú ý, 95,5% nhân viên cho biết họ thường xuyên nhắc nhở người bệnh thực hiện VSCN Trong số đó, 53,7% người bệnh có khả năng tự thực hiện VSCN, 38,8% nhận được sự hỗ trợ một phần từ gia đình, và 7,5% hoàn toàn phụ thuộc vào người nhà trong việc chăm sóc vệ sinh cá nhân.

Về trang phục, đa số người CSC cho biết trang phục người bệnh sạch sẽ ở mức bình thường (48,5%); 36,6% sạch sẽ và 14,9% lôi thôi

Bảng 3 18: Tần suất gặp và nói chuyện với các thành viên trong gia đình

TT Nội Số lượng (n) Tỷ lệ ( %)

BÀN LUẬN

Thực trạng người bệnh tâm thần được chăm sóc y tế và xã hội tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016

Trong số 134 người chăm sóc, độ tuổi từ 36 – 55 chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,5%, trong khi độ tuổi từ 18 – 35 chỉ chiếm 11,9% Phụ nữ chiếm 64,2% trong số người chăm sóc, trong khi nam giới chiếm 35,8% Tỷ lệ giới tính này tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải tại Đồng Nai, với nữ là 59,4% và nam 40,6% Về trình độ học vấn, 12,7% có trình độ tiểu học, 58,2% có trình độ THCS và PTTH, trong khi chỉ 29,1% có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học So với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải, trình độ học vấn của đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn, với 39,3% có trình độ PTTH và THCS, trong khi tỷ lệ tiểu học là 43,0% Nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh cũng cho thấy tỷ lệ tiểu học chiếm khá cao với 32%.

[5] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung, người CSC thuộc nhóm học vấn PTTH, THCS cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (65,5%) [8]

Theo nghiên cứu, 85,1% dân số không thuộc hộ nghèo, trong khi 14,9% là hộ nghèo; riêng tại Vĩnh Phúc, tỷ lệ hộ nghèo lên tới 29% theo Đinh Quốc Khánh Nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp (32,1%), tiếp theo là hưu trí và nghỉ mất sức (25,4%), trong đó đối tượng cán bộ, viên chức nhà nước chiếm 15,7% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh (2010) tại Vĩnh Phúc, cho thấy đa số cán bộ, công chức là làm nông (67%).

Tất cả các người chăm sóc (CSC) đều có mối quan hệ gần gũi với bệnh nhân mắc bệnh TTPL, trong đó 34,9% là bố mẹ, 31,3% là vợ chồng, và 23,9% là anh chị em ruột Ngoài ra, 6,7% là con cái của bệnh nhân và 3,7% là họ hàng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh và Nguyễn Minh Hải.

Gia đình có người bệnh TTPL, đặc biệt là người CSC, thường có tình trạng kinh tế trung bình và thuộc nhóm tuổi nhất định, cho thấy bối cảnh nghiên cứu này có sự khác biệt so với các nghiên cứu khác.

Chăm sóc sức khỏe thường gặp tại HUPH chủ yếu tập trung vào đối tượng trung niên từ 35 tuổi trở lên, với thành phần nghề nghiệp chủ yếu là nông dân Đặc biệt, tỷ lệ người chăm sóc là nữ giới cao hơn đáng kể Tất cả những người chăm sóc này đều có mối quan hệ gần gũi với bệnh nhân mắc bệnh tật liên quan đến tình trạng sức khỏe.

Tâm thần phân liệt là một bệnh quan trọng trong chương trình mục tiêu quốc gia, và việc chăm sóc tại gia đình đóng vai trò thiết yếu trong quá trình phục hồi của bệnh nhân Hệ thống y tế đã chú trọng cung cấp kiến thức cho người chăm sóc chính, với 97,8% người chăm sóc cho biết họ đã tiếp cận thông tin, chủ yếu từ nhân viên y tế (97,7%) và phương tiện truyền thông đại chúng (66,4%) Tuy nhiên, vẫn còn 2,2% người chăm sóc không được thông tin về chăm sóc, điều trị và sử dụng thuốc Nội dung thông tin chủ yếu xoay quanh tư vấn sử dụng thuốc (100%), tư vấn chăm sóc y tế (93,9%) và tư vấn phục hồi chức năng (74,8%).

Chăm sóc y tế hiện nay bao gồm việc khám bệnh định kỳ, sử dụng thuốc và theo dõi tác dụng phụ, cùng với sự hỗ trợ từ cán bộ xã hội trong công tác thăm khám.

Bệnh TTPL có đặc điểm tiến triển mãn tính và thường tái phát, làm tình trạng người bệnh xấu đi Vai trò của gia đình trong việc chăm sóc người bệnh TTPL rất quan trọng, với các thành viên cần có kiến thức cơ bản về bệnh Việc quản lý thuốc tại gia đình và NCSC giúp người bệnh uống thuốc hàng ngày, đồng thời khám định kỳ và sử dụng thuốc đều đặn giúp ổn định tình trạng sức khỏe Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chỉ 77,6% người bệnh đi khám hàng tháng, trong khi 13,4% chỉ đi khám khi tái phát, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với 91% trong nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh và Trần Hữu Bình.

(2011) tại Bắc Ninh là 74,5%, thấp hơn so với kết quả của chúng tôi Và mặc dù tỷ

Tỷ lệ người bệnh không đến khám định kỳ hàng tháng là 52%, trong khi đó, tỷ lệ nhận thuốc hàng tháng đạt 96,3% Đối tượng nhận thuốc chủ yếu là người chăm sóc chính (CSC) hoặc người nhà Chỉ có 3,7% trường hợp cho biết nhận thuốc mỗi 10 ngày một lần, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh tại Vĩnh Phúc (91%) Đáng chú ý, 95,5% đối tượng nghiên cứu hiện đang sử dụng thuốc cấp phát từ chương trình, trong khi 4,5% sử dụng thuốc từ hai nguồn: chương trình cấp và mua ngoài.

Kiến thức về sử dụng thuốc bao gồm số lần, thời điểm, tần suất và liều dùng Số lần dùng thuốc trong ngày phụ thuộc vào mức độ ổn định của bệnh nhân: nếu ổn định, dùng một lần mỗi ngày; nếu chưa ổn định, dùng hai lần mỗi ngày Trong nghiên cứu của chúng tôi, 97,8% trường hợp sử dụng thuốc một lần mỗi ngày, trong khi 2,2% phải dùng hai lần Thời điểm dùng thuốc cũng quan trọng, với bệnh nhân ổn định chỉ cần dùng thuốc một lần.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 95,5% người tham gia sử dụng thuốc một lần vào buổi tối sau ăn, trong khi 2,2% sử dụng thuốc hai lần vào trưa và tối do bệnh chưa ổn định Chỉ có 2,2% người trả lời sai khi cho rằng dùng thuốc vào buổi sáng sau ăn là đúng chỉ định Tổng cộng, 97,7% người tham gia đã trả lời đúng về thời điểm sử dụng thuốc Đặc biệt, 97,8% thực hiện đúng tần suất dùng thuốc hàng ngày và 100% đều biết phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Minh Hải tại thị trấn Vĩnh An, nơi chỉ có 75% người bệnh uống thuốc đều đặn, còn 20,4% uống không đều và 4,06% bỏ trị.

Việc sử dụng thuốc tâm thần phân liệt thường gây ra nhiều tác dụng phụ như run tay chân, cứng hàm, và vã mồ hôi, dẫn đến mệt mỏi cho người bệnh Do đó, nhiều bệnh nhân có xu hướng giảm liều hoặc ngừng thuốc Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 38,1% người tham gia báo cáo gặp phải tác dụng phụ, trong đó vã mồ hôi là phổ biến nhất (49,2%), tiếp theo là run tay chân (41,2%) và cứng hàm (23,5%) Kết quả định tính cũng chỉ ra rằng một số trường hợp

HUPH khuyến cáo người bệnh TTPL sử dụng thuốc mua ngoài do chương trình gặp tác dụng phụ Kiến thức về sử dụng thuốc rất quan trọng, bao gồm số lần, thời điểm, tần suất và liều lượng thuốc cần dùng.

Số lần dùng thuốc trong ngày phụ thuộc vào mức độ ổn định của người bệnh Nếu bệnh nhân ổn định, thuốc được sử dụng một lần mỗi ngày; nếu chưa ổn định, cần dùng hai lần mỗi ngày Trong nghiên cứu của chúng tôi, 97,8% trường hợp cho biết sử dụng thuốc một lần mỗi ngày, trong khi chỉ 2,2% phải dùng hai lần Thời điểm dùng thuốc cũng rất quan trọng: 95,5% bệnh nhân ổn định dùng thuốc vào buổi tối sau ăn, trong khi 2,2% bệnh nhân chưa ổn định dùng thuốc vào buổi trưa và tối Chỉ có 2,2% trả lời sai khi dùng thuốc vào buổi sáng sau ăn Kết quả cho thấy 97,7% người tham gia trả lời đúng về thời điểm dùng thuốc, và 100% đều biết phải sử dụng theo chỉ định của bác sĩ Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Minh Hải, nơi chỉ có 75% bệnh nhân uống thuốc đều đặn, với 20,4% không uống đều và 4,06% bỏ trị Kết quả của chúng tôi cũng cao hơn so với nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh.

Theo nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh (2010) tại Vĩnh Phúc, tỷ lệ bệnh nhân uống đúng thuốc đạt 88%, đúng liều là 85%, tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân uống thuốc đúng thời gian chỉ đạt 67%, cho thấy vấn đề tuân thủ điều trị còn nhiều hạn chế.

Việc triển khai chương trình chăm sóc SKTT quốc gia tại thành phố Tuyên Quang, năm 2016 và các yếu tố ảnh hưởng

Quang, năm 2016 và các yếu tố ảnh hưởng

Chương trình sức khoẻ tâm thần tại thành phố hiện đang quản lý 134 bệnh nhân tâm thần phân liệt và 130 bệnh nhân động kinh Đây là một trong những chương trình trọng điểm của tỉnh, nhận được sự quan tâm từ chính quyền địa phương và ngành y tế.

Chương trình quốc gia về bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng tại thành phố đã được triển khai với sự phối hợp của nhiều ban ngành, nhưng hiệu quả đối với người khuyết tật (NKT) về tâm thần còn hạn chế Hỗ trợ chủ yếu mà bệnh nhân và gia đình nhận được là khám và cấp thuốc y tế hàng tháng Mặc dù Hội người khuyết tật đã tổ chức các hoạt động hướng dẫn NKT phát triển kỹ năng tự chăm sóc và tái hoà nhập xã hội, nhưng các hoạt động này chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng khuyết tật vận động và khiếm thính Đối với NKT về tâm thần và gia đình họ, sự hỗ trợ, đặc biệt là tư vấn tâm lý và cách chăm sóc bệnh nhân tâm thần, vẫn còn thiếu.

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố cũng có chính sách trợ cấp xã hội cho đối

Nhiều hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn hoặc thuộc diện NKT nặng theo quy định của nhà nước vẫn chưa nhận được trợ cấp do thủ tục phân loại và cấp xét còn nhiều rào cản Điều này dẫn đến số lượng hộ gia đình được hưởng trợ cấp thấp hơn so với nhu cầu thực tế.

Về phân công nhiệm vụ và sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể

Tại thành phố Tuyên Quang, cơ quan Y tế thực hiện giám định bệnh TTPL thông qua trung tâm các bệnh xã hội Sau khi khám và kết luận tình trạng bệnh, hồ sơ sẽ được chuyển đến Trung tâm Y tế thành phố, từ đó được chuyển đến các Trạm Y tế để theo dõi và quản lý Ngoài ra, trung tâm các bệnh xã hội cũng tổ chức các đợt thăm khám định kỳ nhằm đánh giá lại tình trạng người bệnh, từ đó điều chỉnh thuốc và tư vấn các hoạt động chăm sóc, phục hồi chức năng kịp thời.

Trung tâm Y tế thành phố có một cán bộ chuyên trách về bệnh tâm thần, nhưng cán bộ trạm y tế xã còn phải kiêm nhiệm thêm từ 3 đến 4 chương trình khác như tăng huyết áp và đái tháo đường Do đó, các hoạt động tại địa bàn cần sự hỗ trợ mạnh mẽ từ nhân viên y tế thôn bản Trung tâm Y tế thành phố cũng phối hợp với trung tâm TTGDSK để tuyên truyền về bệnh tâm thần phân liệt, nhưng số đợt truyền thông rất hạn chế do thiếu kinh phí.

Trung tâm khuyết tật phối hợp với Sở LĐTBXH và Trung tâm Y tế thành phố để xác định mức hỗ trợ phù hợp dựa trên tình trạng bệnh của bệnh nhân Cụ thể, bệnh nhân có tình trạng khuyết tật nặng sẽ nhận hỗ trợ 150.000 đồng mỗi tháng, trong khi bệnh nhân có tình trạng khuyết tật rất nặng sẽ được hỗ trợ 270.000 đồng mỗi tháng.

Chính quyền địa phương hỗ trợ bệnh nhân TTPL bằng cách phối hợp với trạm y tế để thành lập hội đồng xét duyệt Những người có hồ sơ bệnh án được quản lý sẽ nhận được bảo hiểm y tế miễn phí, trong khi bệnh nhân nặng sẽ được hỗ trợ một phần kinh phí tùy thuộc vào ngân sách của Ủy ban nhân dân phường/xã.

Sự sẵn có của nguồn thuốc

Bệnh TTPL là bệnh mãn tính cần điều trị suốt đời, do đó việc khám định kỳ và sử dụng thuốc đều đặn rất quan trọng cho sự ổn định của người bệnh Chương trình mục tiêu quốc gia về bệnh TTPL tại thành phố Tuyên Quang đang được triển khai hiệu quả trong lĩnh vực chăm sóc y tế, với sự phối hợp giữa trung tâm bệnh xã hội và trung tâm y tế thành phố Tuy nhiên, tình trạng thiếu thuốc đã gây ra khó khăn, khi hơn 95% người bệnh phụ thuộc vào thuốc cấp phát Việc thiếu nguồn cung cấp thuốc có thể dẫn đến gián đoạn trong điều trị, và một số hộ gia đình không có điều kiện đã phải tạm ngưng thuốc hoặc mua thuốc ngoài.

Trung tâm Y tế thành phố Tuyên Quang đã phối hợp với Trung tâm các bệnh xã hội để tổ chức khám định kỳ và đột xuất tại từng trạm y tế nhằm theo dõi tình hình diễn biến bệnh của bệnh nhân Họ cũng kê đơn thuốc thay thế từ nguồn thuốc còn tồn Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời, vì một số bệnh nhân đang sử dụng thuốc cũ và đáp ứng tốt, việc thay thế thuốc có thể làm giảm hiệu quả hoặc gây ra phản ứng phụ.

Sự tiếp cận dịch vụ của chương trình:

Kết quả khảo sát cho thấy các trung tâm chăm sóc người khuyết tật gần như không hoạt động, trong khi cán bộ y tế và nhân viên y tế thôn bản rất tích cực trong việc hướng dẫn và tư vấn thuốc Trung tâm bệnh xã hội định kỳ khám và điều chỉnh thuốc cho người bệnh, nhưng đa số người chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt có trình độ học vấn không cao (58,2%) và 32,1% là nông dân, dẫn đến kiến thức chăm sóc và hiểu biết về tầm quan trọng của điều trị không cao Họ thường không có thời gian đưa người bệnh đi khám và lấy thuốc, vì vậy nhân viên y tế địa phương chủ động thăm khám và tuyên truyền tại nhà, kịp thời thực hiện các chính sách hỗ trợ để người bệnh không bị thiệt thòi Tuy nhiên, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người nhà vẫn cần được cải thiện.

Sự hiểu biết của 62 người bệnh còn rất hạn chế, và bên cạnh đó, các hoạt động đoàn thể, vui chơi, sinh hoạt xã hội cũng như các nhóm đội gần như không tồn tại.

Cộng đồng và gia đình người bệnh TTPL

Theo ý kiến của cán bộ hỗ trợ xã hội và người nhà bệnh nhân, gánh nặng lớn nhất cho gia đình là người chăm sóc chính, thường là lao động chính trong nhà, phải vừa làm việc vừa chăm sóc người bệnh, gây áp lực tài chính Tuy nhiên, nhờ vào việc thăm khám định kỳ và sự tư vấn tận tình, người nhà và người chăm sóc có thể hỗ trợ bệnh nhân tốt hơn, giúp họ duy trì khả năng giao tiếp và ăn uống cùng gia đình Mặc dù vậy, bệnh nhân vẫn không tham gia vào các hoạt động xã hội như câu lạc bộ hay cập nhật thông tin thời sự.

Hiện nay, với sự nâng cao dân trí, sự kỳ thị đối với người bệnh đã giảm đáng kể, và nhiều người coi đây là một bệnh xã hội cần được quan tâm và hỗ trợ Tuy nhiên, sự quan tâm này chủ yếu dừng lại ở mức độ không phân biệt và giao tiếp, mà chưa có các hoạt động cụ thể hay chương trình giao lưu để giúp người bệnh hòa nhập vào xã hội.

Tại Tuyên Quang, việc hỗ trợ cho bệnh nhân TTPL chủ yếu phụ thuộc vào nguồn kinh phí từ Chính Phủ, trong khi sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng vẫn chưa đạt hiệu quả cao Ngành Y tế xem điều trị bệnh TTPL là nhiệm vụ chính, dẫn đến các hoạt động chăm sóc xã hội chưa có tác động rõ rệt đến sự cải thiện tình trạng của người bệnh.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi gặp phải một số hạn chế trong quá trình thu thập số liệu định lượng, khi chỉ thực hiện trên đối tượng người chăm sóc chính, dẫn đến sai số do hồi tưởng và trả lời không chính xác Thêm vào đó, việc chỉ phỏng vấn mà không thực hiện quan sát cũng là một hạn chế cần được khắc phục trong các nghiên cứu sau.

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Tâm thần Trung ương (2010). Khái niệm cơ bản về sức khoẻ tâm thần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm cơ bản về sức khoẻ tâm thần
Tác giả: Bệnh viện Tâm thần Trung ương
Năm: 2010
2. Bệnh viện Tâm thần Trung ương (2012), Nghiên cứu dịch tễ các rối loạn tâm thần ở Việt Nam, truy cập tạih t t p : / / w w w . b v t t t w 1 . g o v . v n / ? lang=V&func=newsdetail&newsid=697&CatID=83&MN=26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ các rối loạn tâm thần ở Việt Nam
Tác giả: Bệnh viện Tâm thần Trung ương
Năm: 2012
3. Bộ Y tế (2008), "Tài liệu số 16: Phục hồi chức năng người có bệnh tâm thần", Bộ tài liệu phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu số 16: Phục hồi chức năng người có bệnh tâm thần
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ tài liệu phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Năm: 2008
4. Bộ Y tế (2015), Cần có chiến lược dài hơi về sức khoẻ Tâm thần, truy cập tại http://kcb.vn/can-co-chien-luoc-dai-hoi-ve-suc-khoe-tam-than.html 29/2/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có chiến lược dài hơi về sức khoẻ Tâm thần
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
5. Đinh Quốc Khánh, Trần Hữu Bình (2010), “Kiến thức-thái độ- thực hành của người chăm sóc chính người bệnh TTPL tại nhà và một số yếu tố liên quan ở Huyện Bình Xuyên. Vĩnh Phúc năm 2010”, Tạp chí Y tế Công cộng số 10.2011, tr.18-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức-thái độ- thực hành của người chăm sóc chính người bệnh TTPL tại nhà và một số yếu tố liên quan ở Huyện Bình Xuyên. Vĩnh Phúc năm 2010
Tác giả: Đinh Quốc Khánh, Trần Hữu Bình
Nhà XB: Tạp chí Y tế Công cộng
Năm: 2010
6. Chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần dựa vào cộng đồng, truy cập tại http://www.socialwork.vn/cham-soc-va-phục-hồi-chức-nang-cho-bệnh-nhan-tam-thần-dựa-vao-cộng-dồng, ngày 29/2/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần dựa vào cộng đồng
Năm: 2016
7. Lê Thị Kim Dung và cộng sự (2005), “Bước đầu tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần của học sinh ở một số trường THCS”, Hội thảo Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khoẻ tinh thần trẻ em Việt Nam năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần của học sinh ở một số trường THCS
Tác giả: Lê Thị Kim Dung, cộng sự
Nhà XB: Hội thảo Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khoẻ tinh thần trẻ em Việt Nam năm 2007
Năm: 2005
8. Nguyễn Thị Dung (2014), “Thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tại gia đình ở Nam Định”, Đề tài cấp cơ sở năm 2014, ĐH Y Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tại gia đình ở Nam Định
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: ĐH Y Nam Định
Năm: 2014
9. Nguyễn Thanh Hải (2007), “Đánh giá tình hình quản lý điều trị người bệnh tâm thần phân liệt dựa vào cộng đồng tại thị trấn Vĩnh An. Vĩnh Cửu. tỉnhHUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình quản lý điều trị người bệnh tâm thần phân liệt dựa vào cộng đồng tại thị trấn Vĩnh An. Vĩnh Cửu
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w