ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nữ từ 18 đến 49 tuổi, có chồng, không phân biệt dân tộc hiện đang sinh sống tại địa điểm nghiên cứu
- Người không sử dụng các thuốc đặt âm đạo trong vòng 2 tuần, không thụt rửa âm đạo trước khi đến khám
- Người không có thai kỳ (test HCG âm tính) tại thời điểm nghiên cứu
- Có hộ khẩu thường trú tại địa điểm nghiên cứu có mặt vào thời điểm nghiên cứu
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Những người có thời gian sống liên tục ở địa phương < 6 tháng
- Phụ nữ đang kỳ kinh nguyệt, Phụ nữ đã bị cắt tử cung, cổ tử cung
- Những người trong tình trạng không tỉnh táo, khó tiếp xúc, mắc các bệnh về trí lực, câm, điếc, mất năng lực hành vi dân sự.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 2/2022 đến tháng 10/2022
- Thời gian thu thập số liệu: Tháng 7/2022 đến tháng 9/2022
Tại 5 xã, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình: Quảng Châu, Quảng Tiến, Quảng Phú, Phù Hoá và Quảng Xuân.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, phương pháp nghiên cứu định lượng
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh phẩm: Dịch âm đạo
Kỹ thuật nhuộm soi (sàng lọc)
Kỹ thuật nuôi cấy (định danh)
Nhuộm Gram (khẳng định) Thử nghiệm sinh ống mầm
Cỡ mẫu cho nghiên cứu
Theo công thức ước tính cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang 1 tỷ lệ (44)
N: cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
Z(1-α/2) = 1,96(với độ tin cậy 95%, α = 0,05) d: là xác suất sai lệch của mẫu nghiên cứu so với quần thể (d= 0,05)
Dựa trên nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Thông và Cs (11), tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục dưới do nấm Candida sp là 20,4%, ta có p=0,204
Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán là 249, cộng thêm 10% để phòng ngừa mất mẫu và từ chối tham gia Cuối cùng, nghiên cứu thực tế đã thu thập dữ liệu từ 275 phụ nữ đáp ứng đủ tiêu chuẩn tuyển chọn.
Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn
Huyện Quảng Trạch bao gồm 17 xã, trong đó có 7 xã miền núi, 7 xã biển đảo và 3 xã đồng bằng Danh sách các xã được lập theo địa dư, và qua bốc thăm ngẫu nhiên, đã chọn được 2 xã miền núi là Quảng Tiến và Quảng Châu, 2 xã biển đảo là Quảng Phú và Phù Hoá, cùng 1 xã đồng bằng là Quảng Xuân.
Giai đoạn 2: Chọn đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu 275 người, trong đó các xã đã lập danh sách tất cả phụ nữ có chồng từ 18 đến 49 tuổi đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn Từ danh sách này, mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên.
Bảng 2.1: Số lượng mẫu chọn nghiên cứu theo từng xã
TT Xã Số phụ nữ
Từ mỗi xã được chọn, số lượng phụ nữ trong độ tuổi 18 - 49 gần như tương đương, dựa trên danh sách toàn bộ phụ nữ của các xã đã được lập, sau đó tiến hành chọn ngẫu nhiên.
Trong nghiên cứu, 55 phụ nữ từ các xã được mời đến Trạm Y tế xã Sau khi tìm hiểu thông tin nghiên cứu và đồng ý tham gia, các đối tượng được phỏng vấn để thu thập thông tin chung theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Tiếp theo, họ sẽ trải qua khám phụ khoa và lấy mẫu xét nghiệm tại từng xã.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
Nghiên cứu được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp các phụ nữ tham gia, nhằm thu thập dữ liệu về các yếu tố liên quan thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn, với thời gian phỏng vấn khoảng 10 - 15 phút cho mỗi người.
Khám phụ khoa và lấy mẫu dịch âm đạo là quy trình quan trọng, trong đó thực hiện xét nghiệm nhuộm soi và nuôi cấy 275 mẫu dịch âm đạo thu thập được Đồng thời, thử nghiệm sinh ống mầm được tiến hành với các mẫu nuôi cấy dương tính để phân loại Candida albicans và các loài Candida khác.
2.6.2 Tổ chức thu thập số liệu
Bộ câu hỏi được xây dựng và thử nghiệm dựa trên nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Quang Thông và Nguyễn Thị Bình.
Bộ câu hỏi được thiết kế bởi Lê Hoài Chương (7) nhằm điều chỉnh phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, bao gồm các phần thông tin nhân khẩu học, tiền sử bệnh lý, tiền sử sản phụ khoa, biện pháp tránh thai và điều kiện vệ sinh của đối tượng nghiên cứu.
HUPH là hành vi và triệu chứng lâm sàng được ghi nhận trong quá trình khám phụ khoa Kết quả xét nghiệm được thực hiện thông qua các kỹ thuật nhuộm soi và nuôi cấy (Phụ lục 1: bộ câu hỏi kèm theo)
- Tiến hành điều tra thử 20 đối tượng để hiệu chỉnh lại bộ công cụ thu thập số liệu trước khi điều tra chính thức
Tập huấn điều tra viên là quá trình mà cán bộ y tế tại trạm y tế và chuyên trách dân số xã giải thích các nội dung trong bộ câu hỏi cho điều tra viên Trong buổi tập huấn, các tình huống thực tế được đưa ra để điều tra viên có thể thực hành phỏng vấn lẫn nhau, từ đó nâng cao kỹ năng và hiệu quả trong công tác điều tra.
Bước đầu tiên trong nghiên cứu là viên chức dân số tại 5 trạm y tế xã phối hợp với địa phương để lập danh sách phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 18 đến 49 Sau đó, 55 phụ nữ sẽ được chọn ngẫu nhiên từ mỗi xã và nhận thông báo mời tham gia nghiên cứu tại trạm y tế xã.
Tại trạm y tế xã, điều tra viên sẽ giải thích rõ ràng về mục đích của cuộc điều tra cho đối tượng tham gia, đồng thời cam kết rằng các thông tin cá nhân sẽ được mã hóa và bảo mật Sau đó, điều tra viên tiến hành phỏng vấn để thu thập thông tin theo phiếu điều tra.
Bác sỹ sản khoa và cử nhân Hộ sinh tại Trung tâm Y tế huyện tiến hành khám phụ khoa, ghi nhận các triệu chứng lâm sàng và lấy mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo để gửi đến phòng xét nghiệm.
Phòng xét nghiệm tại Trung tâm Y tế huyện Quảng Trạch thực hiện các xét nghiệm mẫu, bao gồm soi tươi, nhuộm Gram, nuôi cấy trên môi trường Sabouraud Agar và thử nghiệm sinh ống mầm Các mẫu được kiểm tra đồng thời với mẫu chứng âm và chứng dương (Candida albican) Quy trình khám phụ khoa, lấy mẫu dịch âm đạo và các kỹ thuật xác định nấm men Candida sp được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế và quy trình chuẩn của phòng xét nghiệm.
Bước 5: Tổng hợp các thông tin và kết quả xét nghiệm của đối tượng tham gia nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu
Các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa lý và tình trạng kinh tế, cùng với tiền sử bệnh lý và sản phụ khoa, cũng như điều kiện và hành vi vệ sinh, đều có ảnh hưởng quan trọng (Chi tiết tại Phụ lục 2)
Các biến số về tỷ lệ nhiễm nấm Candida sp được xác định thông qua các kỹ thuật xét nghiệm như soi tươi, nhuộm Gram, nuôi cấy và thử nghiệm sinh ống mầm, cùng với thông tin nhân khẩu học và các yếu tố liên quan.
Các khái niệm, quy trình kỹ thuật
2.8.1 Quy trình kỹ thuật khám phụ khoa, lấy bệnh phẩm dịch âm đạo và làm tiêu bản
Dịch âm đạo, hay còn gọi là khí hư, là chất nhầy trắng trong ở vùng kín, đóng vai trò quan trọng trong việc vệ sinh hệ thống sinh dục nữ Chất lỏng này được sản xuất bởi các tuyến bên trong âm đạo và cổ tử cung, giúp loại bỏ tế bào chết và vi khuẩn, từ đó giữ cho âm đạo luôn sạch sẽ và ngăn ngừa nhiễm trùng.
Chuẩn bị dụng cụ, hóa chất:
- Dụng cụ khám phụ khoa (Van khám/Mỏ vịt)
- Ống nghiệm vô khuẩn có nút bông, tăm bông vô khuẩn
- Hộp vận chuyển bệnh phẩm
- Lam kính, lamen, giá lam
- Bộ thuốc nhuộm Gram, Nước muối sinh lý NaCl 0,9%
Khám phụ khoa và lấy bệnh phẩm :
Bác sĩ sản khoa hoặc Cử nhân nữ hộ sinh tuyến huyện thực hiện khám phụ khoa và lấy mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo
Bước 1: Giải thích thủ thuật, hướng dẫn tư thế nằm để khám và lấy mẫu bệnh phẩm
Bước 2: Thực hiện khám phụ khoa, ghi nhận các triệu chứng lâm sàng
Bước 3: Sử dụng que tăm bông vô trùng đã được đánh mã số để lấy mẫu bệnh phẩm từ dịch tiết ở thành âm đạo, cùng đồ hoặc cổ tử cung Đặt bệnh phẩm vào ống nghiệm vô khuẩn có nút bông và chuyển đến phòng xét nghiệm trong thùng vận chuyển.
Làm tiêu bản soi tươi:
Bước 1: Pha loảng bệnh phẩm trong dung dịch nước muối sinh lý NaCl 0.9 % vô trùng
Bước 2: Nhỏ một giọt bệnh phẩm pha loãng lên lam kính
Bước 4: Soi dưới kính hiển vi với vật kính 10X và 40X, khảo sát các vi trường để tìm vi nấm có dạng sợi hay hạt men (18,21,22)
Hình 5: Tế bào nấm Candida sp trên tiêu bản soi tươi Vk 40X
Làm tiêu bản nhuộm Gram :
Bước 1: Chọn lam kính khô sạch, không bị dính dầu mở, không mốc, ghi thông tin bằng bút chì kính, hơ qua ngọn lữa đèn cồn, để nguội
Sử dụng que tăm bông để dàn đều bệnh phẩm lên tiêu bản theo hình xoắn ốc từ trong ra ngoài, tạo thành hình ô van kích thước 1x2 cm Sau đó, để tiêu bản khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng hoặc đặt vào tủ ấm 37℃.
Bước 3: Cố định tiêu bản bằng cách hơ nhanh qua ngọn lữa đèn cồn 3-4 lần (18,22)
2.8.2 Quy trình nhuộm Gram tiêu bản dịch âm đạo
Chuẩn bị dụng cụ, hoá chất:
- Bộ thuốc nhuộm Gram (Dung dịch tím Gentian, dung dịch Lugol, dung dịch Safranin)
Đặt tiêu bản đã khô lên giá nhuộm, sau đó nhỏ dung dịch tím Gentian trong 1 phút Nghiêng tiêu bản để đổ thuốc nhuộm và rửa nhẹ dưới vòi nước chảy.
Bước 2: Nhỏ dung lịch Lugol trong thời gian 30 - 40 giây, nghiêng tiêu bản đổ dung dịch Lugol, rửa nhẹ dưới vòi nước chảy
Bước 3: Sử dụng cồn tuyệt đối để tẩy màu trong 30 giây Nhỏ 1-2 giọt cồn lên tiêu bản và nghiêng tiêu bản để cồn chảy từ bên này sang bên kia, sau đó rửa nhẹ dưới vòi nước chảy.
Bước 4: Nhỏ dung dịch Safranin lên tiêu bản trong thời gian 30 giây, nghiêng tiêu bản đổ thuốc nhuộm và rửa nhẹ dưới vòi nước chảy
Bước 5: Để tiêu bản nhuộm khô tự nhiên và soi dưới kính hiển vi quang học vật kính dầu 100X (18,22)
Hình 6: Tế bào nấm men Candida sp trên tiêu bản nhuộm Gram VK 100X
2.8.3 Quy trình nuôi cấy bệnh phẩm dịch âm đạo tìm vi nấm và thử nghiệm sinh ống mầm
Chuẩn bị dụng cụ, hóa chất:
- Đĩa môi trường Sabouraud Destrose Agar
Bệnh phẩm : Dịch âm đạo
Nuôi cấy bệnh phẩm dịch âm đạo tìm vi nấm:
Thực hiện nuôi cấy trước khi làm tiêu bản nhuộm soi
Bước1: sử dụng que cấy vô trùng cấy bệnh phẩm vào đĩa môi trường Sabouraud Destrose Agar đã chuẩn bị bằng phương pháp cấy phân vùng
Bước 2: U ấm 37 ℃/18 - 24h Quan sát đặc điểm, hình dạng, màu sắc khuẩn lạc nấm sau thời gian nuôi cấy 18 - 24h
Bước 3: Nhuộm Gram khuẩn lạc sau nuôi cấy, quan sát đặc điểm hình thể, màu sắc bào tử nấm
Bước 4: Các đĩa cấy có vi nấm Candida sp mọc, chọn khuẩn lạc nấm làm thử nghiệm sinh ống mầm để phân biệt C albican và non - C albican HUPH
Hình 7: Hình ảnh khuẩn lạc Candidia sp trên môi trường nuôi cấy
( nguồn: https://medlatec.vn/tin-tuc/xet-nghiem-vi-nam-nuoi-cay-dinh-danh)
Hình 8 : Candida sp trên tiêu bản nhuộm Gram sau nuôi cấy (VK 100X)
Thử nghiệm sinh ống mầm:
Bước 1: Lấy một ít khuẩn lạc nấm từ môi trường nuôi cấy hòa tan trong 1ml nước cất vô trùng tạo thành một huyền dịch vi nấm
Bước 2: Nhỏ 1 - 2 giọt huyền dịch vi nấm trên vào ống nghiệm có chứa 0,5ml
Bước 3: Cho vào tủ ấm ủ ở nhiệt độ 37 o C từ 2 - 4h
Bước 4: Dùng piped Pasteur hoặc khuyên cấy vô trùng lấy mẫu cấy nhỏ ra lam kính, đậy lamen, soi tươi quan sát hình dạng bào tử nấm (15,19,22)
Hình 9: Bào tử Non - C albican trên TB soi tươi sau nuôi cấy trong huyết thanh
Hình 10: Bào tử C albican sinh ống mầm trên tiêu bản soi tươi sau nuôi cấy trong huyêt thanh
Tiêu chuẩn đánh giá
Dịch âm đạo được lấy bằng tăm bông vô trùng phết ở túi cùng Duoglag hay các mảng trắng ở thành âm đạo (15,17)
Tiêu chuẩn lấy bệnh phẩm bao gồm việc thực hiện đúng kỹ thuật, chọn vị trí chính xác, đảm bảo vô khuẩn và cung cấp đủ lượng bệnh phẩm cần thiết cho xét nghiệm Bệnh phẩm sẽ được kiểm tra một cách cẩn thận.
Trước khi chuyển mẫu bệnh phẩm về phòng xét nghiệm, cần đảm bảo rằng mẫu đạt tiêu chuẩn Mẫu bệnh phẩm phải được vận chuyển đến phòng xét nghiệm trong vòng 2 giờ và có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng Nếu quá 2 giờ sau khi lấy mẫu mới chuyển về phòng xét nghiệm, bệnh phẩm cần được bảo quản trong môi trường vận chuyển ở nhiệt độ từ 4 đến 8℃ Ngoài ra, bệnh phẩm phải có thông tin trùng khớp với danh sách yêu cầu xét nghiệm và đáp ứng các tiêu chuẩn nhận mẫu của phòng xét nghiệm.
Hóa chất, sinh phẩm: Phải có đầy đủ lô, hạn dùng, được bảo quản theo hướng dẫn của nhà sản xuất và thực hiện nội kiểm tra hàng ngày (22,45)
Nhân viên xét nghiệm cần có chứng nhận đào tạo vi sinh theo quy định Mỗi mẫu bệnh phẩm phải được kiểm tra hai lần bởi hai kỹ thuật viên khác nhau; nếu có sự sai lệch trong kết quả, sẽ tiến hành kiểm tra lại Sau khi nuôi cấy bệnh phẩm trong 3 ngày mà không có khuẩn lạc mọc, cần tiếp tục theo dõi thêm 2 ngày nữa để đảm bảo không bỏ sót các trường hợp có số lượng bào tử nấm ít.
2.9.2 Nhận định kết quả xét nghiệm
+ Kết quả âm tính: Kết luận soi tươi âm tính khi không quan sát thấy hình ảnh các bào tử, phải quan sát ít nhất 100 vi trường
Kết quả dương tính được quan sát dưới vật kính 10X và 40X cho thấy hình ảnh các bào tử nấm có hình dạng bầu dục hoặc tròn, có thể có chồi hoặc không, với kích thước từ 3 - 6 µm Để xác nhận, cần có ít nhất 3 bào tử nấm trên một vi trường.
+ Kết quả âm tính: Kết luận âm tính khi không tìm thấy vi nấm trên các vi trường
Kết quả dương tính cho thấy sự hiện diện của nấm men Candida sp, được xác định qua việc quan sát tế bào nấm men có kích thước từ 2-6μm, với hình dạng tròn hoặc bầu dục Ngoài ra, bào tử nấm có thể xuất hiện dưới dạng nảy búp hoặc sợi nấm giả, là những sợi nhánh được hình thành từ các chỗ thắt.
Kiểm tra đĩa môi trường nuôi cấy hàng ngày là cần thiết để theo dõi sự phát triển của khuẩn lạc Nhuộm soi các đĩa cấy có khuẩn lạc giúp xác định sự hiện diện của Candida sp, loại khuẩn lạc này thường phát triển nhanh chóng trong vòng 1-2 ngày.
+ Kết luận âm tính: Khi không có khuẩn lạc nấm mọc sau 3 ngày
Các mẫu dịch âm đạo được thu thập từ phụ nữ trong cộng đồng, bao gồm cả những người có và không có viêm nhiễm đường sinh dục Đối với các đĩa cấy không phát hiện được khuẩn lạc, chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi trong vòng 5 ngày.
Kết luận dương tính cho thấy sự hiện diện của khuẩn lạc Candida sp nhỏ, có hình dạng trơn, nhẵn và màu trắng kem Qua nhuộm soi, hình ảnh bào tử nấm men Candida sp được quan sát rõ ràng.
Kết quả thử nghiệm sinh ống mầm :
Kết quả thử nghiệm sinh ống mầm âm tính cho thấy bào tử vi nấm chỉ nảy búp khi soi tươi huyết thanh sau nuôi cấy, từ đó kết luận rằng đây không phải là loài C albican (hay Non - C albican).
+ Thử nghiệm sinh ống mầm dương tính: khi soi tươi thấy bào tử nấm mọc ra một chồi dài, kết luận loài nấm men Candida albican
+ Kết quả âm tính: Khi soi tươi huyết thanh sau nuôi cấy 4h bào tử Non - C albican chỉ nảy búp (test sinh ống mầm âm tính
+ Kết quả dương tính: khi soi tươi thấy bào tử nấm C.albican mọc ra một chồi dài (22).
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được kiểm tra 2 lần trước khi nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
Kết quả xử lý từ kiểm định thống kê mô tả tình trạng nhiễm nấm được trình bày qua bảng và biểu đồ, thể hiện tần suất và tỷ lệ phần trăm (%).
HUPH kiểm định Khi bình phương χ 2 , tỷ suất chênh (OR) với khoảng tin cậy 95% và giá trị p < 0,05 kiểm định các yếu tố liên quan.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo các yêu cầu của Hội đồng đạo đức nhà trường, tuân thủ Quyết định số 270/2022/YTCC-HD3 ban hành ngày 27/06/2022 của Hội đồng đạo đức nghiên cứu Trường Đại học Y tế công cộng.
Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu đều được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, đồng thời có quyền từ chối tham gia Họ ký vào bản cam kết đồng ý tham gia, đảm bảo rằng cấu trúc và nội dung bộ câu hỏi không vi phạm đạo đức xã hội Nghiên cứu cam kết bảo mật thông tin cá nhân và chỉ phục vụ cho mục đích khoa học và sức khỏe cộng đồng Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày một cách trung thực Thời gian tham gia nghiên cứu ngắn, không gây ảnh hưởng lớn đến công việc của đối tượng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 3 1: Thông tin nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n'5) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tuổi trung bình: 33.62 + 8,18 Độ tuổi lớn nhất là 49, tuổi nhỏ nhất là 18 tuổi
Buôn bán/ nghề tự do 49 17,8
Cán bộ CCVC nhà nước/ tư nhân 33 12,0
Tình trạng kinh tế gia đình
Đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 33,66 ± 8,18, với độ tuổi lớn nhất là 49 và nhỏ nhất là 18 Trong số đó, có nhiều phụ nữ thuộc nhóm tuổi từ 26.
35 chiếm gần một nửa 124/275 (45,1%), tỷ lệ thấp nhất là nhóm tuổi 18 - 25 (17,5%)
Tỷ lệ phụ nữ làm nghề nông trong ĐTNC đạt 38,2%, cho thấy đây là lĩnh vực chiếm ưu thế Ngoài ra, tỷ lệ phụ nữ có trình độ học vấn bậc trung học cơ sở cao nhất là 45,8%, trong khi tỷ lệ phụ nữ không biết chữ chỉ ở mức 0,7%.
Về tình trạng kinh tế của ĐTNC, tỷ lệ phụ nữ có kinh tế trung bình cao nhất (78,5%), tỷ lệ phụ nữ nghèo, cận nghèo thấp nhất (8%)
3.1.2 Đặc điểm tiền sử bệnh lý kèm theo
Bảng 3.2: Một số yếu tố tiền sử bệnh lý, miễn dịch ( n'5) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tiền sử bệnh lý kèm theo
Sử dụng kháng sinh dài ngày
Hầu hết phụ nữ tham gia nghiên cứu không có tiền sử bệnh lý kèm theo (96,7%), trong khi tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh lý khác chỉ là 3,3% Đặc biệt, 85,8% phụ nữ không sử dụng kháng sinh dài ngày, và chỉ có 14,2% đã từng sử dụng kháng sinh trên 7 ngày.
3.1.3 Đặc điểm tiền sử sản, phụ khoa
Bảng 3.3: Một số yếu tố tiền sử thai sản và biện pháp tránh thai (n'5) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Biện pháp tránh thai đang dùng
Thuốc tránh thai/que cấy tránh thai
Tiền sử nạo phá thai
Trong nghiên cứu, đối tượng tham gia chủ yếu có từ 2 con trở lên, với tỷ lệ 45,5% có 2 con và 35,6% có từ 3 con trở lên Gần 79,6% người tham gia đã áp dụng biện pháp tránh thai, trong đó 33,1% sử dụng vòng tránh thai, 27,6% dùng bao cao su, và 14,9% sử dụng thuốc tránh thai hoặc que cấy Đáng chú ý, đa số không có tiền sử nạo phá thai, với 91,3% (251/275) không từng thực hiện, trong khi chỉ có 24 người (8,7%) đã nạo phá thai từ 1-2 lần.
3.1.4 Đặc điểm điều kiện vệ sinh và hành vi của ĐTNC
Bảng 3.4: Một số yếu tố điều kiện vệ sinh và hành vi (n'5) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Làm việc trong môi trường nóng ẩm
Nơi có nhiệt độ, độ ẩm cao 6 2,2
Nguồn nước sinh hoạt đang sử dụng
Nước ao, hồ, sông, suối 1 0,4
Thói quen vệ sinh vùng kín hàng ngày
Thói quen vệ sinh trong quan hệ tình dục
Vệ sinh trước khi QHTD 68 24,7
Vệ sinh sau khi QHTD 76 27,6
Vệ sinh trước và sau khi QHTD 128 46,5
Thói quen khám phụ khoa
Kết quả cho thấy, 96,4% phụ nữ làm việc trong điều kiện môi trường bình thường, trong khi chỉ 3,7% phải làm việc trong điều kiện nóng ẩm, bao gồm 1,5% ngâm mình dưới nước và 2,2% làm việc ở nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao.
Tỷ lệ phụ nữ sử dụng nước giếng để vệ sinh bộ phận sinh dục đạt 60,7%, trong khi 38,2% sử dụng nước máy Chỉ có 0,7% phụ nữ sử dụng nước mưa và 4% sử dụng nước từ ao hồ, sông suối.
Phụ nữ có thói quen vệ sinh vùng kín khi quan hệ tình dục, với tỷ lệ cao nhất là 46,5% (128/275) thực hiện vệ sinh trước và sau khi quan hệ Trong khi đó, 24,7% (68/275) chỉ vệ sinh trước khi quan hệ và 27,6% (76/275) chỉ vệ sinh sau khi quan hệ Tỷ lệ phụ nữ không vệ sinh trước và sau khi quan hệ là thấp nhất, chỉ chiếm 1,1% (3/275).
Thực trạng viêm đường sinh dục dưới ở phụ nữ có chồng (18-49 tuổi) tại huyện Quảng Trạch, Tỉnh Quảng Bình
3.2.1 Tỷ lệ viêm đường sinh dục dưới qua thăm khám lâm sàng
Biểu đồ 3.2 1: Tỷ lệ viêm đường sinh dục dưới qua thăm khám lâm sàng(n'5)
Trong một nghiên cứu lâm sàng với 275 phụ nữ, tỷ lệ phụ nữ có triệu chứng viêm nhiễm đường sinh dục dưới đạt 40,4%, trong khi đó, 59,6% phụ nữ không có biểu hiện viêm nhiễm đường sinh dục.
Không triệu chứng Có triệu chứng lâm sàng
Bảng 3 5: Phân bố phụ nữ có viêm nhiễm đường sinh dục dưới theo xã ( n'5)
Kết quả bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ VNĐSDD cao nhất ở xã Quảng Châu (50,9%), tỷ lệ VNĐSDD thấp nhất ở xã Quảng Xuân (27,3%)
3.2.2 Tỷ lệ viêm đường sinh dục dưới do nhiễm Candida sp
Bảng 3 6: Tỷ lệ nhiễm nấm Candida sp qua các phương pháp xét nghiệm(n'5) Đặc điểm
Nuôi cấy Âm tính Dương tính
Kết quả xét nghiệm từ 275 mẫu bệnh phẩm dịch âm đạo cho thấy 100% mẫu nhuộm soi dương tính cũng cho kết quả nuôi cấy dương tính Tuy nhiên, có 12,6% mẫu nhuộm soi âm tính nhưng lại phát hiện dương tính khi nuôi cấy Đặc biệt, tỷ lệ phát hiện Candida sp qua kỹ thuật nuôi cấy (34,2%) cao hơn so với phương pháp nhuộm soi.
3.2.3 Tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp có triệu chứng lâm sàng
Bảng 3 7: Tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp có triệu chứng lâm sàng (n) xét nghiệm
Trong số 94 phụ nữ có mẫu dịch âm đạo dương tính, 67% (63/94) có triệu chứng viêm nhiễm đường sinh dục, trong khi 33% (31/94) không có triệu chứng lâm sàng.
3.2.4 Tỷ lệ phân bố loài Candida sp qua kỹ thuật xét nghiệm nuôi cấy và test sinh ống mầm
Bảng 3 8: Tỷ lệ phân bố loài Candida sp qua kỹ thuật xét nghiệm nuôi cấy và thử nghiệm sinh ống mầm (n)
Nuôi cấy dương tính Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tiếp tục làm thử nghiệm sinh ống mầm các mẫu nuôi cấy dương tính, xác định tỷ lệ C albican là 54,3% và các loài Candida sp khác (Non - C.albican) là (45,7%).
Các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm men Candida sp
3.3.1 Các yếu tố cá nhân
- Yếu tố nhân khẩu học
Bảng 3 9: Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu với nhiễm nấm men Candida sp
Yếu tố Âm tính Dương tính
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm nấm men Candida sp có sự khác biệt theo độ tuổi, với tỷ lệ cao nhất ở nhóm 36 - 49 tuổi đạt 36,9% và thấp nhất ở nhóm 18 - 25 tuổi là 29,2% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, với OR = 1,322; KTC 95% = 0,670 - 0,264; p = 0,344.
Tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp ở phụ nữ làm nghề nông là 35,2%, trong khi nhóm CBCCVC Nhà nước/tư nhân có tỷ lệ thấp nhất là 30,3% Mặc dù tỷ lệ nhiễm Candida sp giữa hai nhóm nghề nghiệp này khác biệt so với các ngành nghề khác, nhưng không có ý nghĩa thống kê (OR = 1,191; KTC 95% = 0,710 - 1,998; p = 0,497).
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm nấm Candida sp thấp nhất ở nhóm có trình độ học vấn trên THPT, chỉ đạt 21,8%, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê so với các nhóm học vấn khác Phụ nữ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống có nguy cơ nhiễm nấm Candida sp cao gấp 2,129 lần so với nhóm có trình độ học vấn trên THPT (OR = 2,129; KTC 95% 1,062 – 4,270; p = 0,031).
Tỷ lệ nhiễm Candida sp cao nhất ở phụ nữ có kinh tế trung bình (84%) khác biệt với nhóm phụ nữ có kinh tế khá giả (6,4%) (OR = 0,336; KTC 95% = 0,134 - 0,840; p = 0,015)
Tỷ lệ nhiễm Candida sp có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng địa lý, với tỷ lệ cao nhất ở phụ nữ tại các xã miền núi (40,4%) và thấp nhất ở vùng đồng bằng (20,2%) Đặc biệt, tỷ lệ nhiễm ở phụ nữ khu vực miền biển (39,4%) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hai vùng còn lại, với giá trị OR là 0,960 và khoảng tin cậy 95% từ 0,577 đến 1,598 (p = 0,024).
- Yếu tố tiền sử bệnh lý kèm theo
Bảng 3 10: Mối liên quan giữa tiền sử bệnh với nhiễm Candida sp (n'5)
Tỷ lệ nhiễm Candida sp χ 2 , p Âm tính Dương tính Tần số
Tiền sử bệnh lý miễn dịch
Sử dụng kháng sinh dài ngày
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp ở phụ nữ có bệnh lý kèm theo là 94,7%, tương đương với 97,8% ở nhóm không có bệnh lý kèm theo.
Trong nghiên cứu này, 100% phụ nữ tham gia không mắc bệnh nhiễm khuẩn và phải sử dụng kháng sinh dài ngày Do đó, không thể quan sát mối liên quan giữa các yếu tố tiền sử bệnh lý và việc sử dụng kháng sinh dài ngày với nhiễm Candida sp đường sinh dục dưới.
3.3.2 Yếu tố tiền sử sản, phụ khoa
Bảng 3 11: Liên quan giữa tiền sử sản, phụ khoa đến nhiễm Candida sp (n'5)
Tỷ lệ nhiễm Candida sp
95% χ 2 , p Âm tính Dương Tính Tần số (n)
1,998 Tiền sử nạo hút thai
Trong nghiên cứu về 94 trường hợp viêm nhiễm do nấm men Candida sp, tỷ lệ phụ nữ có từ 0 đến 2 con chiếm 65,7%, trong khi nhóm phụ nữ có hơn 3 con chỉ chiếm 34,3% Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với OR = 1,191; KTC 95% = 0,710 - 1,998; p > 0,05.
Trong nghiên cứu về phụ nữ nhiễm Candida sp, tỷ lệ nhiễm bệnh ở nhóm không có tiền sử nạo phá thai là 88,3%, trong khi nhóm có tiền sử nạo phá thai chỉ chiếm 11,7% Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với OR = 1,713; KTC 95% = 0,736 - 3,987; p = 0,208.
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm Candida sp có sử dụng biện pháp tránh thai đạt 76,6%, trong khi nhóm không sử dụng biện pháp này chỉ chiếm 23,4% Sự khác biệt này cho thấy mối liên hệ giữa việc sử dụng biện pháp tránh thai và nguy cơ nhiễm Candida sp ở phụ nữ.
Phụ nữ mắc Candida sp có tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai cao gấp 4,017 lần so với những người không sử dụng Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ odds (OR) là 1,907, khoảng tin cậy 95% từ 1,008 đến 3,606, và giá trị p là 0,045.
3.3.3 Yếu tố vệ sinh và hành vi vệ sinh liên quan đến nhiễm Candida sp
Bảng 3 12: Tỷ lệ nhiễm Candida sp liên quan điều kiện vệ sinh và hành vi vệ sinh
Tỷ lệ nhiễm Candida sp
OR KTC 95% χ 2 , p Âm tính Dương Tính
Môi trường làm việc nóng ẩm
Thói quen vệ sinh đường sinh dục hằng ngày
Hầu hết phụ nữ nhiễm nấm men Candida sp sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, với tỷ lệ lên tới 98,9% Tỷ lệ phụ nữ có vệ sinh và không vệ sinh khi quan hệ tình dục ở hai nhóm dương tính và âm tính là tương đương, cũng đạt 98,9% Ngoài ra, tỷ lệ phụ nữ có khám phụ khoa ở hai nhóm này cũng không có sự khác biệt đáng kể, với 73,4% và 77,9% Kết quả phân tích cho thấy không có mối liên quan giữa nguồn nước vệ sinh, hành vi vệ sinh khi quan hệ tình dục và thói quen khám phụ khoa định kỳ với việc nhiễm nấm.
Candida sp đường sinh dục dưới
Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm Candida sp ở phụ nữ làm việc trong môi trường nóng, ẩm và có thói quen vệ sinh vùng kín hàng ngày trên hai lần cao hơn đáng kể so với phụ nữ không làm việc trong môi trường này (OR = 8,326; KTC 95% = 1,731 - 40,045; p 0,002) và vệ sinh vùng kín 1-2 lần trong ngày (OR = 1,875; KTC 95% = 1,014 - 3,469; p = 0,043).
BÀN LUẬN
4.1 Tỷ lệ nhiễm nấm Candida sp đường sinh dục
Nghiên cứu của chúng tôi tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã thu hút 275 phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 18 đến 49 Kết quả cho thấy nhóm tuổi 26 - 35 chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,1%, trong khi nhóm tuổi 18 - 25 có tỷ lệ thấp nhất là 17,5% Những phát hiện này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Mỹ Hoài, trong đó nhóm tuổi 25 - 34 chiếm 49,3%, và Phạm Thanh Bình, với tỷ lệ phụ nữ độ tuổi 20 - 29 là 40,8%.
Nghiên cứu cho thấy, nhóm tuổi 25 - 34 chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,17%, trong đó nghề nông là phổ biến nhất, với 38,2% người tham gia Điều này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Loan, nơi nghề buôn bán và nội trợ chiếm 41,8%, và công nhân 37,1%, trong khi nghề nông chỉ chiếm 8,2% Nghiên cứu của Phan Anh Tuấn cho thấy tỷ lệ công nhân cao nhất với 53,4%, còn Nguyễn Thị Xuân Trúc ghi nhận tỷ lệ nghề nông cao nhất lên đến 93,2% Quảng Trạch, huyện thuộc khu vực nông thôn, có nhiều phụ nữ tham gia sản xuất nông nghiệp, phản ánh đặc trưng của đối tượng nghiên cứu.
Về trình độ học vấn, ĐTNC của chúng tôi cho thấy 45,8% có trình độ THCS, trong khi tỷ lệ người không biết chữ chỉ là 0,7%, điều này phản ánh việc huyện Quảng Trạch đã hoàn thành phổ cập bậc THCS Về tình trạng kinh tế, 78,5% người dân có điều kiện kinh tế trung bình, cho thấy đời sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, dẫn đến mức sống chung chưa cao.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phụ nữ có tiền sử mắc các bệnh lý miễn dịch chỉ chiếm 3,3%, trong khi đó, tỷ lệ phụ nữ đã từng sử dụng kháng sinh trên 7 ngày là 14,2% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu tại bệnh viện phong Da liễu Quy Hòa của tác giả Nguyễn Thị Bình và CS, nơi có 38,6% phụ nữ có tiền sử dùng kháng sinh dài ngày Sự phân bố này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh nghiên cứu được thực hiện trong cộng đồng dân cư.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phụ nữ có hai con chiếm tỷ lệ cao (45,5%), vượt qua tỷ lệ 36,6% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Loan Đáng chú ý, 91,3% phụ nữ tham gia không có tiền sử nạo phá thai, cao hơn so với 57,0% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai trong nhóm nghiên cứu này cũng cao, với vòng tránh thai chiếm 33,1%, bao cao su 27,6%, và thuốc/que cấy 14,9% Tuy nhiên, 20,4% phụ nữ không sử dụng biện pháp tránh thai, và tỷ lệ sử dụng dụng cụ tránh thai thấp hơn so với 42,7% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình.
Mỹ Hoài có tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai 65,3%(32)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 96,4% đối tượng không làm việc trong điều kiện nóng, ẩm, và 60,7% sử dụng nước giếng cho sinh hoạt, tương đương với nghiên cứu của Phạm Thanh Bình (50,6%) Tỷ lệ sử dụng nước tự nhiên không qua xử lý trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình và cộng sự là 37,8%, thấp hơn so với kết quả của chúng tôi Đặc biệt, tỷ lệ phụ nữ có thói quen vệ sinh vùng kín từ 1-2 lần/ngày đạt 80%, trong đó 57,5% vệ sinh 2 lần và 22,5% vệ sinh 1 lần, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Loan (18,2%).
Trong nghiên cứu với 275 phụ nữ, có 111 trường hợp mắc ít nhất một triệu chứng lâm sàng viêm nhiễm đường sinh dục dưới, chiếm tỷ lệ 40,4% Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Quang Thông (58,6%) và Lê Hoài Chương (83,1%) Tỷ lệ viêm nhiễm cao nhất được ghi nhận ở các xã miền núi Quảng Châu (50,9%) và Quảng Tiến (45,5%), trong khi xã đồng bằng Quảng Xuân có tỷ lệ thấp nhất (27,3%) Sự khác biệt này có thể do thời gian, điều kiện địa lý, tập quán sống và hành vi của đối tượng nghiên cứu Phụ nữ tự đến cơ sở y tế có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm được khám tầm soát trong cộng đồng.
Phụ nữ ở đồng bằng thường đi khám bệnh khi có triệu chứng bất thường như viêm, ngứa, hay tăng tiết dịch, trong khi phụ nữ miền núi gặp khó khăn do địa hình và khoảng cách xa Trạm y tế Điều kiện chăm sóc sức khỏe sinh sản của họ cũng hạn chế hơn, dẫn đến hiểu biết và sự quan tâm thấp hơn về sức khỏe sinh sản Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSDD) ở phụ nữ có chồng tại huyện Quảng Trạch là 40,4%, cho thấy bệnh này vẫn phổ biến và ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, khả năng lao động và trở thành gánh nặng cho phụ nữ Do đó, ngành y tế và các ban ngành địa phương cần triển khai các hoạt động thiết thực để giảm tỷ lệ VNĐSDD.
Kỹ thuật nuôi cấy cho thấy tỷ lệ phát hiện nhiễm Candida sp là 34,2%, cao hơn so với nhuộm soi (24,7%) Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình (35,5%) và Lê Hoài Chương (35,5%), nhưng thấp hơn so với Đỗ Thị Thùy Dung (52,2%) Sự khác biệt trong tỷ lệ nhiễm nấm có thể do phương pháp xét nghiệm được sử dụng Xét nghiệm soi tươi, mặc dù đơn giản và chi phí thấp, nhưng có tỷ lệ phát hiện thấp hơn so với nhuộm soi và nuôi cấy Kỹ thuật nuôi cấy giúp tăng số lượng vi nấm và dễ dàng quan sát khuẩn lạc nấm Nhiễm nấm có thể gây triệu chứng như ngứa và khó chịu, nhưng một số người có thể không biểu hiện triệu chứng Do đó, việc khám phụ khoa định kỳ và lựa chọn xét nghiệm cận lâm sàng là rất cần thiết để phát hiện sớm bệnh, tránh khó khăn trong điều trị khi bệnh phát hiện muộn.
HUPH là một bệnh lây truyền qua đường tình dục, vì vậy việc tuyên truyền và cung cấp thông tin cùng dịch vụ là rất quan trọng Điều này nhằm khuyến khích phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đi khám phụ khoa và thực hiện các xét nghiệm định kỳ phù hợp để phát hiện bệnh kịp thời.
4.2 Một số yếu tố liên quan
Nghiên cứu này chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, với tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi 36 – 49 (36,9,7%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 18 - 25 (29,2%) Mặc dù các nhóm tuổi có những đặc điểm sinh học, xã hội và sinh lý sinh dục khác nhau, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan rõ ràng giữa nhóm tuổi và tỷ lệ nhiễm Ngược lại, nghiên cứu của Đỗ Thị Thuỳ Dung cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp cao hơn ở phụ nữ dưới 30 tuổi (55,3%) so với nhóm phụ nữ trên 30 tuổi.
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trúc và cộng sự năm 2021 cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp ở phụ nữ dưới 40 tuổi là 33,2%, trong khi ở nhóm phụ nữ trên 40 tuổi chỉ là 19,2% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với tỷ lệ nhiễm chung là 50,9% ở độ tuổi 30.
Nhiều nghiên cứu trong nước chỉ ra rằng nghề nghiệp có liên quan đến việc nhiễm nấm men Candida sp Trong số 94 trường hợp dương tính, phụ nữ làm nghề nông chiếm tỷ lệ cao (39,4%), tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp và nhiễm bệnh Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Trúc và cộng sự cũng cho kết quả tương đồng Tác giả Phan Anh Tuấn ghi nhận tỷ lệ nhiễm Candida sp cao hơn ở nhóm công nhân và nội trợ (53,4%) Ngoài ra, nghiên cứu của Phạm Thị Mỹ Hoài cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở nhóm phụ nữ là CCVC nhà nước (34,7%).
Nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm nấm men Candida sp ở đường sinh dục dưới của phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 18 đến 49 tại huyện Quảng Trạch Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ trong khu vực.
Năm 2022, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng trình độ học vấn dưới THPT có liên quan đến sự xuất hiện của Candida sp (OR = 2,219; KTC 95% = 1,016 - 4,270; p = 0,031) Phụ nữ có trình độ học vấn cao có khả năng tiếp cận thông tin và kiến thức về phòng bệnh tốt hơn, từ đó giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh so với nhóm phụ nữ có trình độ học vấn thấp.
HUPH Điều kiện kinh tế trung bình có liên quan đến tỷ lệ nhiễm nhiễm nấm men