KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin đối tượng nghiên cứu
Một số những thông tin, đặc điểm cá nhân của 300 đối tượng nghiên cứu đã cho thấy một số kết quả như sau:
Bảng 3.1: Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo giới tính và trình độ học vấn
Nghiên cứu được thực hiện với 300 đối tượng, trong đó tỷ lệ nam giới gấp đôi nữ giới, với 66,67% nam và 33,33% nữ Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 50-59 tuổi (29%), tiếp theo là nhóm trên 60 tuổi (26%) và nhóm từ 40-49 tuổi (24,7%) Về trình độ học vấn, 51,7% đối tượng có trình độ THCS, 26% có trình độ tiểu học, 20% có trình độ THPT, và 2,3% có trình độ học vấn khác.
Bảng 3.2: Diện tích trồng hoa, cây cảnh và loại dụng cụ phun HCBVTV, thâm niên và số đợt phun trung bình hằng năm
Theo bảng 3.2, diện tích trồng hoa và cây cảnh của đối tượng nghiên cứu chủ yếu nằm trong khoảng từ 1 đến dưới 2 ha, chiếm 47,3% Tiếp theo là diện tích trên 2 ha với tỷ lệ 32,3%, và diện tích từ 0,5 đến dưới 1 ha chiếm 16,3%.
Kết quả phân tích cho thấy rằng 53,7% người dân tại đây sử dụng bình phun điện, trong khi 31,6% chọn bình phun cơ Loại máy phun nén có số lượng người lựa chọn thấp nhất, chỉ đạt 14,6%.
Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Diện tích trồng hoa, cây cảnh
Từ 0,5 ha đến dưới 1 ha 49 16,3
Từ 1 ha đến dưới 2 ha 142 47,3
Thâm niên tiếp xúc với HCBVTV
Phần lớn đối tượng nghiên cứu có kinh nghiệm sử dụng HCBVTV từ 6-10 năm, chiếm 43,3% Tiếp theo là nhóm có thâm niên trên 10 năm với tỷ lệ 36,7%, và nhóm có thâm niên từ 1-5 năm chiếm 16,7%.
Thực trạng kiến thức về HCBVTV của ĐTNC
Dưới đây trình bày các kết quả nghiên cứu về kiến thức sử dụng HCBVTV của các đối tượng dựa theo các nội dung phỏng vấn
3.2.1 Nhóm kiến thức cơ bản về HCBVTV
Bảng 3.3: Kiến thức về tác dụng, tác hại, đường xâm nhập của HCBVTV
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Diệt chuột 27 9,0 Điều hòa sinh trưởng 35 11,7
Nhiễm độc cho vật nuôi 141 47,0 Ô nhiễm môi trường 232 77,3
Kiến thức về đường xâm nhập của HCBVTV vào cơ thể
Kết quả phân tích cho thấy, 100% đối tượng nghiên cứu cho rằng HCBVTV có tác dụng lớn nhất là diệt trừ sâu bệnh, tiếp theo là diệt trừ cỏ (90,7%) và điều hòa sinh trưởng (11,7%) Tuy nhiên, chỉ có 6% đối tượng nghiên cứu biết được từ ba tác dụng của HCBVTV trở lên HCBVTV gây nhiễm độc cho người là tác hại được 98,3% đối tượng nghiên cứu biết đến, tiếp theo là ảnh hưởng đến vật nuôi (47%) và gây ô nhiễm môi trường (77,3%) Mặc dù vậy, chỉ có 1/3 số đối tượng nghiên cứu biết đầy đủ các tác hại này.
Theo nghiên cứu, 96% đối tượng tham gia khảo sát nhận thức được rằng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường ăn uống, trong khi 91,7% biết rằng chúng cũng có thể vào qua đường hô hấp Tuy nhiên, chỉ có 26,3% người được hỏi nhận thức về khả năng xâm nhập qua da và mắt, và tỷ lệ người biết đầy đủ về tất cả các con đường xâm nhập chỉ đạt 24,3%.
Bảng 3.4: Kiến thức về tác hại của thu hoạch sản phẩm sớm và đối tượng không nên đi phun HCBVTV
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tác hại khi thu hoạch sớm
Gây độc cho người sử dụng 294 98,0
Gây độc cho người thu hoạch 279 93,0
Không biết 1 0,3 Đối tượng không nên đi phun HCBVTV
Người ốm/ mắc các bệnh về đường hô hấp 253 84,3
Phụ nữ có thai/cho con bú 99 33,0
Người đang say bia/rượu 30 10,0
Việc thu hoạch sớm sau khi phun hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) có thể gây hại nghiêm trọng cho người sử dụng và người thu hoạch Đa số đối tượng nghiên cứu (98%) nhận thức được rằng hành động này sẽ gây hại cho người tiêu dùng, trong khi 93% hiểu rằng nó cũng gây độc cho người thu hoạch Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ nhỏ (0,3%) đối tượng không nhận thức được các tác hại này.
Nhóm đối tượng không nên đi phun HCBVTV bao gồm người già, trẻ em, người ốm, và những người mắc bệnh về đường hô hấp Chỉ có 33% ĐTNC nhận thức rằng phụ nữ mang thai hoặc cho con bú không nên tham gia phun, và tỷ lệ này còn thấp hơn đối với những người đang say bia hoặc rượu (10%) Tỷ lệ ĐTNC hiểu biết đầy đủ về các nhóm đối tượng không nên đi phun HCBVTV chỉ đạt 24,7%.
3.2.2 Nhóm kiến thức về lựa chọn HCBVTV đúng
Bảng 3.5 Kiến thức về thông tin cần đọc, tìm hiểu khi mua HCBVTV và ý nghĩa vạch màu cảnh báo
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thông tin cần đọc/ tìm hiểu khi mua HCBVTV
Hướng dẫn sử dụng (liều lượng, cách pha) 245 81,7 Độ độc 56 18,7
Nơi sản xuất/ hạn sử dụng 235 78,3
Cách bảo quản 200 66,7 Ý nghĩa vạch màu cảnh báo
Màu vàng - Độ độc cao 123 41,0
Màu xanh da trời - Nguy hiểm 41 13,7
Màu xanh lá cây - Cẩn thận 26 8,7
Kết quả phân tích cho thấy, đa số ĐTNC (81,7%) nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc hướng dẫn sử dụng HCBVTV, cũng như thông tin về nơi sản xuất và hạn sử dụng (78,3%) Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ ĐTNC tìm hiểu về tác dụng (34,3%) và độ độc (18,7%) của HCBVTV.
Hiểu biết về ý nghĩa của các vạch màu cảnh báo là rất quan trọng, nhưng kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ người tham gia có kiến thức về vấn đề này còn thấp Cụ thể, chỉ có 41% biết ý nghĩa của màu vàng, 34% biết màu đỏ, 18,7% biết màu xanh da trời, và thấp nhất là chỉ 8,7% nhận biết được ý nghĩa của màu xanh lá cây.
3.2.3 Nhóm kiến thức về sử dụng HCBVTV đúng cách
Bảng 3.6: Kiến thức về thời gian, thời tiết, hướng gió khi phun HCBVTV
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kiến thức về thời gian đi phun
Kiến thức về thời tiết đi phun
Phun theo chiều gió, đi giật lùi 269 89,7
Phun theo chiều rãnh ruộng 9 3,0
Phun ngược chiều gió, giật lùi 12 4,0
Phun không quan tâm đến hướng gió 10 3,3
Theo phân tích, 88,4% ĐTNC chọn phun HCBVTV vào buổi sáng và chiều Tỷ lệ ĐTNC phun trong điều kiện thời tiết râm mát đạt 89% Về hướng gió, 89,7% ĐTNC phun theo chiều gió và đi giật lùi, trong khi 4% chọn phun ngược.
HUPH chiều gió, đi giật lùi, và 3,3% người dân không quan tâm đến hướng gió khi phun HCBVTV
Bảng 3.7: Kiến thức về liều lượng, cách pha và nơi pha HCBVTV
Theo khảo sát, 66,3% ĐTNC cho biết đã pha thuốc HCBVTV cách xa nguồn nước, trong khi 27% thực hiện pha tại nhà và 4% pha tại các mương, rãnh, suối, sông, ao hồ Đáng chú ý, 85,3% ĐTNC hiểu đúng về liều lượng pha thuốc theo hướng dẫn trên bao bì Tuy nhiên, một số ĐTNC (8%) đã pha đặc hơn so với hướng dẫn và 3,7% pha theo kinh nghiệm cá nhân Phần lớn ĐTNC đã sử dụng đúng cách hòa tan thuốc.
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%) Địa điểm pha thuốc an toàn
Pha tại mương, rãnh, suối, sông, ao hồ 12 4,0
Pha cách xa nguồn nước 199 66,3
Liều lượng, nồng độ pha
Pha như trên HDSD 256 85,3 Đặc hơn so với HDSD 24 8,0
Loãng hơn so với HDSD 7 2,3 Ước lượng theo kinh nghiệm 11 3,7
Dùng tay đeo găng để khuấy 17 5,7
Lắc cho tan HUPH 11 đạt tỷ lệ 88,7% với que khuấy, nhưng vẫn còn 5,7% người dùng sử dụng tay để pha chế, dù có đeo găng tay Ngoài ra, có 1,7% người dùng chọn dội nước để hòa tan và 3,7% lắc cho tan.
3.2.4 Nhóm kiến thức về xử lý dụng cụ phun, HCBVTV dư thừa và vỏ bao bì đựng trước và sau khi phun
Bảng 3.8: Kiến thức về xử lý dụng cụ phun trước và sau phun
Kết quả phân tích cho thấy 95,7% ĐTNC kiểm tra dụng cụ trước khi phun Sau khi phun, 74,3% ĐTNC có kiến thức đúng về việc rửa dụng cụ xa nguồn nước hoặc chỗ gia súc, trong khi 9,7% rửa ngay tại ruộng Tuy nhiên, vẫn còn 20% ĐTNC mang dụng cụ về nhà để rửa và 2,3% rửa tại ao, hồ, sông, suối, mương.
Bảng 3.9: Kiến thức về xử lý HCBVTV dư thừa sau khi phun
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kiểm tra dụng cụ trước khi phun
Không 13 4,3 Địa điểm rửa dụng cụ, bình đựng sau phun
Rửa tại ao, hồ, sông, suối, mương 7 2,3
Rửa xa nguồn nước, chỗ gia súc 223 74,3
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xử lý HCBVTV đã pha mà dư thừa
Mang về nhà để dùng cho lần tiếp sau 23 7,7
Phun tiếp lên cây trồng 42 14,0 Đổ, chôn vào một chỗ theo quy định 248 82,7
HCBVTV dư thừa được chia thành hai loại: đã pha và chưa pha, mỗi loại yêu cầu phương pháp xử lý khác nhau Nghiên cứu cho thấy 82,7% ĐTNC xử lý đúng HCBVTV đã pha dư thừa bằng cách đổ hoặc chôn theo quy định Một số ĐTNC khác xử lý bằng cách mang về nhà để sử dụng cho lần sau (7,7%) hoặc phun lên cây trồng (14%) Tuy nhiên, 1,3% ĐTNC đã xử lý sai khi đổ lượng dư thừa xuống mương, suối, ao hoặc hồ.
Đối với việc xử lý hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) chưa pha dư thừa, 77% ĐTNC đã tuân thủ quy định bằng cách chôn vào một chỗ Tuy nhiên, 22% ĐTNC đã mang về nhà để sử dụng cho lần sau hoặc pha và phun tiếp lên cây trồng Đáng lưu ý, vẫn có 2% ĐTNC xử lý sai cách khi vứt HCBVTV xuống mương, suối, ao hay hồ.
Bảng 3.10 Kiến thức về xử lý vỏ bao bì sau khi phun và điều kiện bảo quản dụng cụ & HCBVTV Đổ xuống mương, sông, suối, ao, hồ 4 1,3
Xử lý HCBVTV chưa pha mà dư thừa
Mang về nhà để dùng cho lần tiếp sau 66 22,0
Pha và phun tiếp lên cây trồng 9 3,0
Chôn vào một chỗ theo quy định 231 77,0
Vứt xuống mương, sông, suối, ao, hồ 6 2,0
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xử lý vỏ bao bì đựng HCBVTV
Bỏ ngay tại chỗ pha, phun 9 3,0
Vứt xuống mương, sông, suối, ao, hồ 1 0,3 Đem chôn lấp 40 13,3
Gom vào đúng nơi quy định 250 83,3
Theo khảo sát, 83,3% đối tượng nghiên cứu đã xử lý vỏ bao bì sau khi phun đúng quy định, trong khi 13,3% chôn lấp, 3% bỏ lại tại chỗ pha phun, và 0,3% vứt xuống nguồn nước gần đó Về việc bảo quản an toàn dụng cụ phun và hóa chất bảo vệ thực vật, 84,3% đối tượng đã để chúng ở nơi kín đáo, xa người và gia súc, 71,7% để ở nơi riêng biệt có khóa, trong khi một tỷ lệ nhỏ để trong chuồng gia súc, gia cầm (1%) và trong nhà bếp (0,3%).
3.2.5 Nhóm kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm HCBVTV với cơ thể con người và dấu hiệu, cách xử trí khi nhiễm độc HCBVTV
Bảng 3.11 Kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm HCBVTV
Bảo quản an toàn dụng cụ phun và HCBVTV Để nơi kín đáo, xa người và xa gia súc 253 84,3 Để tại kho riêng biệt có khóa 215 71,7
Trong chuồng gia súc, gia cầm 3 1,0
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tính cần thiết phải sử dụng PTATCN khi pha phun
Các trang bị PTATCN nên sử dụng khi pha, phun
Quần áo bảo hộ hoặc áo mưa 278 92,7
Vệ sinh cá nhân sau khi pha, phun
Tắm bằng xà phòng + nước sạch ngay sau phun 272 90,7
Đối với việc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân khi pha và phun HCBVTV, đa phần ĐTNC đã có hiểu biết Theo bảng 3.11, khẩu trang và khăn che được biết đến nhiều nhất với tỷ lệ 95,3%, tiếp theo là găng tay 94,3%, quần áo bảo hộ hoặc áo mưa 92,7% và giày ủng 86,7% Để hạn chế xâm nhập HCBVTV vào cơ thể, việc vệ sinh cá nhân sau khi pha, phun là rất cần thiết Hầu hết ĐTNC đã tắm bằng xà phòng và nước sạch ngay sau khi pha, phun, chiếm 90,7% Tuy nhiên, vẫn có 6,7% chỉ tắm bằng nước sạch và 2,7% cho rằng chỉ cần rửa mặt, mũi, chân, tay là đủ.
Bảng 3.12 Kiến thức về các dấu hiệu và cách xử trí khi bị nhiễm độc HCBVTV
Chỉ rửa mặt, mũi, chân tay 8 2,7
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính HCBVTV Đau đầu, chóng mặt 287 95,7
Tăng tiết nước bọt, mồ hôi 17 5,7
Mờ mắt, nhức mỏi mắt 56 18,7
Cách xử trí khi bị nhiễm độc Đưa ra khỏi nơi có HCBVTV 28 9,3
Chuyển đến cơ sở y tế 264 88,0
Chỉ cần nằm nghỉ ngơi 3 1,0
Kết quả phân tích cho thấy rằng 95,7% ĐTNC nhận biết các dấu hiệu nhiễm độc HCBVTV như đau đầu và chóng mặt, trong khi 97,3% có triệu chứng buồn nôn hoặc nôn Tuy nhiên, chỉ 6,7% ĐTNC nắm rõ tất cả các dấu hiệu này Về cách xử trí, 88% ĐTNC cho rằng cần chuyển đến cơ sở y tế để điều trị, 9,3% cho rằng nên rời khỏi nơi có HCBVTV, 1,7% tin rằng có thể tự xử lý tại nhà bằng nước uống giải độc, và 1% cho rằng chỉ cần nghỉ ngơi.
Biểu đồ 3.1 Kiến thức chung về sử dụng an toàn HCBVTV của ĐTNC
Thực trạng về thực hành sử dụng HCBVTV của ĐTNC
Dưới đây trình bày các kết quả nghiên cứu về thực hành sử dụng HCBVTV của các đối tượng dựa theo các nội dung phỏng vấn
3.3.1 Nhóm thực hành lựa chọn đúng HCBVTV
Bảng 3.13 Thực hành lựa chọn nơi mua HCBVTV
Nơi mua HCBVTV Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đại lý của xã 154 51,3
Tại cửa hàng tư nhân kinh doanh HCBVTV 118 39,3
Tại chợ/cửa hàng tạp hóa 25 8,3
Khác 3 1,0 Đa phần các ĐTNC lựa chọn mua HCBVTV tại các đại lý của xã 51,3%, tiếp đến là các cửa hàng tư nhân kinh doanh về HCBVTV là 39,3% và chỉ có 8,3% lựa chọn mua tại chợ hay cửa hang tạp hóa
Bảng 3.14 Lý do ĐTNC lựa chọn địa điểm mua HCBVTV
Khi được hỏi về lý do chọn mua tại các địa điểm này, các ĐTNC cho biết họ ưu tiên lựa chọn vì chất lượng đảm bảo (59,3%), sự đa dạng về loại thuốc (56%) và tính thuận tiện (41,3%).
Lý do Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Không có cửa hàng nào khác 11 3,7 Được mua chịu 1 0,3
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ thể hiện tần suất thực hành lựa chọn HCBVTV khi mua
Nghiên cứu cho thấy chỉ 22,3% người tiêu dùng luôn kiểm tra nhãn mác khi mua hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), trong khi 41,7% thường xuyên kiểm tra, 27,7% thỉnh thoảng và 2,7% không bao giờ kiểm tra Về việc lựa chọn HCBVTV có hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt, chỉ 19,3% người tiêu dùng luôn chọn loại này, 16,7% hiếm khi và 1,3% không bao giờ Đối với việc đọc thông tin trên vỏ bao bì, chỉ 18,7% luôn đọc, 35,7% thường xuyên đọc, nhưng có tới 10,7% không bao giờ đọc thông tin in trên vỏ bao bì của HCBVTV.
3.3.2 Nhóm thực hành sử dụng HCBVTV đúng cách
Bảng 3.15: Thực hành lựa chọn thời gian, thời tiết, hướng gió khi phun HCBVTV
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thời gian đi phun HCBVTV
Kiểm tra nhãn mác Lựa chọn HCBVTV có HDSD bằng tiếng Việt Đọc thông tin trên vỏ bao bì
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Luôn luôn
Thời tiết đi phun HCBVTV
Khi trời mưa, 99% các ĐTNC thực hành đúng bằng cách lựa chọn thời gian phun vào buổi sáng và chiều Phân tích kết quả cho thấy 80,7% thực hành đúng khi phun trong điều kiện trời râm mát, trong khi 13,3% chọn phun khi trời nắng to, 4,3% phun khi có gió, và chỉ 0,7% phun khi trời mưa.
Biểu đồ 3.3 Liều lượng, nồng độ pha HCBVTV
Biểu đồ 3.3 chỉ ra rằng 76,7% ĐTNC đã thực hiện đúng việc điều chỉnh liều lượng và nồng độ pha HCBVTV Tuy nhiên, vẫn còn 9,3% ĐTNC pha theo kinh nghiệm cá nhân.
Pha theo HDSD trên bao bì Đặc hơn so với HDSDLoãng hơn so với HDSD HUPH Ước lương theo kinh nghiệm
Bảng 3.16: Thực hành lựa chọn nơi pha, số lượng và cách hòa tan HCBVTV
Kết quả nghiên cứu cho thấy 68,7% ĐTNC pha 2 loại HCBVTV với nhau khi phun lên hoa hoặc cây cảnh Đáng chú ý, 83,7% thực hành đúng việc pha HCBVTV tại các địa điểm an toàn, trong đó 69,7% pha cách xa nguồn nước và 26% pha ngay tại ruộng Về cách hòa tan HCBVTV, 81,3% ĐTNC thực hiện đúng bằng cách sử dụng que khuấy, tuy nhiên, vẫn còn 3,7% đeo găng tay để khuấy trực tiếp và 13,3% lắc bình phun để hòa tan hóa chất.
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Số loại HCBVTV pha trộn trong 1 lần
3 loại 12 4,0 Địa điểm pha thuốc an toàn
Pha tại mương, rãnh, suối, sông, ao hồ 11 3,7
Pha cách xa nguồn nước 209 69,7
Dùng tay đeo găng để khuấy 11 3,7
3.3.2 Nhóm thực hành xử lý dụng cụ phun, HCBVTV dư thừa và vỏ bao bì đựng trước và sau khi phun
Bảng 3.17: Thực hành xử lý dụng cụ phun trước và sau phun
Theo bảng 3.17, chỉ có 38,3% ĐTNC luôn kiểm tra dụng cụ trước khi phun, 28% thường xuyên kiểm tra, trong khi 6% hiếm khi và 2,7% không bao giờ kiểm tra Sau khi phun, phần lớn ĐTNC thực hiện đúng việc rửa dụng cụ, với 61,7% rửa xa nguồn nước và chỗ gia súc Tuy nhiên, 9,3% rửa tại ao hồ, suối hay các nguồn nước mở khác, và 23% mang dụng cụ về nhà để rửa.
Bảng 3.18: Thực hành xử lý HCBVTV dư thừa sau khi phun
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kiểm tra dụng cụ trước khi phun
Luôn luôn 115 38,3 Địa điểm rửa dụng cụ, bình đựng sau phun
Rửa tại ao, hồ, sông, suối, mương 28 9,3
Rửa xa nguồn nước, chỗ gia súc 185 61,7
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xử lý HCBVTV đã pha mà dư thừa
Mang về nhà để dùng cho lần tiếp sau 36 12,0
Phun tiếp lên cây trồng 66 22,0 Đổ, chôn vào một chỗ theo quy định 215 71,7
Trong việc xử lý hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) dư thừa, 78,7% đối tượng nông dân đã thực hiện đúng quy định, trong đó 71,7% chọn cách đổ hoặc chôn hóa chất đã pha vào một chỗ theo quy định, và 12% mang về nhà để sử dụng cho lần tiếp theo Đối với hóa chất chưa pha dư thừa, 67% nông dân lựa chọn chôn vào một chỗ theo quy định, trong khi 32% mang về nhà để sử dụng cho lần sau.
Bảng 3.19 Thực hành xử lý vỏ bao bì sau khi phun và điều kiện bảo quản dụng cụ & HCBVTV Đổ xuống mương, sông, suối, ao, hồ 2 0,7
Xử lý HCBVTV chưa pha mà dư thừa
Mang về nhà để dùng cho lần tiếp sau 96 32,0
Pha và phun tiếp lên cây trồng 13 4,3
Chôn vào một chỗ theo quy định 201 67,0
Vứt xuống mương, sông, suối, ao, hồ 3 1,0
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xử lý vỏ bao bì đựng HCBVTV
Bỏ ngay tại chỗ pha, phun 22 7,3
Vứt xuống mương, sông, suối, ao, hồ 5 1,7 Đem chôn lấp 48 16,0
Gom vào đúng nơi quy định 235 78,3
Bảo quản an toàn dụng cụ phun và HCBVTV Để nơi kín đáo, xa người và xa gia súc 237 79,0 Để tại kho riêng biệt có khóa 212 70,7
Trong chuồng gia súc, gia cầm 4 1,3
Theo Bảng 3.19, 78,3% ĐTNC đã thu gom vỏ bao bì đựng HCBVTV đúng quy định, trong khi 16% chọn phương án chôn lấp Về công tác bảo quản, 79% ĐTNC bảo quản ở nơi kín đáo, tránh xa người và gia súc, và 70,7% lưu trữ tại các kho riêng biệt có khóa.
3.3.3 Nhóm thực hành phòng ngừa phơi nhiễm HCBVTV với cơ thể con người và dấu hiệu, cách xử trí khi nhiễm độc HCBVTV
Bảng 3.20 Thực hành phòng ngừa phơi nhiễm HCBVTV
Kết quả nghiên cứu cho thấy 90,3% đối tượng đã thực hiện đúng việc vệ sinh cá nhân sau khi pha và phun hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) bằng cách tắm bằng xà phòng và nước sạch Hành động này giúp giảm thiểu khả năng xâm nhập của HCBVTV vào cơ thể.
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ tần suất sử dụng trang bị PTATCN khi pha, phun thuốc
Khẩu trang, khăn che Găng tay Quần áo bảo hộ hoặc áo mưa
Kính bảo vệ Giầy/ủng Mũ/nón
Luôn luôn Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Vệ sinh cá nhân sau khi pha, phun
Tắm bằng xà phòng + nước sạch ngay sau phun 271 90,3
Chỉ rửa mặt, mũi, chân tay 11 3,7
Kết quả từ biểu đồ 4 cho thấy rằng mặc dù đối tượng nghiên cứu đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, nhưng việc thực hiện vẫn chưa đầy đủ Cụ thể, 92,3% đối tượng thường xuyên đeo khẩu trang và khăn che khi phun hóa chất bảo vệ thực vật, trong khi 7,8% chỉ đeo ở mức hiếm khi hoặc không bao giờ Đối với găng tay, tỷ lệ sử dụng đúng cách chỉ đạt 66,8% ở mức thường xuyên trở lên, và vẫn còn 5% đối tượng hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng.
Bảng 3.21 Thực hành xử trí khi bị nhiễm độc HCBVTV
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 27,3% ĐTNC đã từng bị hoặc chứng kiến người khác bị nhiễm độc cấp tính HCBVTV Trong số những người này, 85,4% đã được chuyển đến cơ sở y tế để điều trị, trong khi 48,8% chọn cách xử trí bằng việc đưa nạn nhân ra khỏi khu vực có HCBVTV.
Thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đã từng bị hoặc nhìn thấy người khác bị nhiễm độc cấp tính HCBVTV
Cách xử trí khi bị nhiễm độc Đưa ra khỏi nơi có HCBVTV 40 48,8
Chuyển đến cơ sở y tế 70 85,4
Tự xử lý ở nhà (Dùng một số nước uống để giải độc: nước đường, trà xanh) 2 2,4
Chỉ cần nằm nghỉ ngơi 3 3,7
3.3.4 Thực hành chung về sử dụng HCBVTV an toàn
Biểu đồ 3.5: Thực hành chung về sử dụng HCBVTV an toàn
Kết quả nghiên cứu cho thấy thực hành sử dụng HCBVTV của ĐTNC thấp hơn so với mức kiến thức, với chỉ 48,7% (146 đối tượng) đạt yêu cầu về thực hành, trong khi 51,3% (154 đối tượng) không đạt.
Một số yếu tố liên quan với kiến thức sử dụng HCBVTV của ĐTNC
Nghiên cứu đã xác định mối liên hệ giữa kiến thức và thực hành sử dụng HCBVTV thông qua các biến số về đặc điểm cá nhân, phương pháp trồng trọt, canh tác, và các yếu tố môi trường Các mối liên quan này được kiểm định bằng phương pháp Chi 2 với mức ý nghĩa 95%.
Bảng 3.22: Mối liên quan các yếu tố nhân khẩu học với kiến thức sử dụng HCBVTV
Các yếu tố Kiến thức sử dụng p OR
(95%CI) Đạt (n,%) Không đạt (n,%) Giới tính
Không có mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với kiến thức về sử dụng hoá chất BVTV giữa các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa các yếu tố nghề nghiệp và tiếp xúc nghề nghiệp với kiến thức sử dụng HCBVTV
Kiến thức sử dụng p OR
Từng bị hoặc thấy người khác bị ngộ độc
Tiếp cận thông tin liên quan đến HCBVTV Đã từng nghe/tìm hiểu 174
Chưa từng nghe/tìm hiểu 44
Nhóm đối tượng có diện tích canh tác dưới 1 ha có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 2,07 lần so với nhóm có diện tích canh tác trên 1 ha, với tỷ lệ Odds Ratio (OR) là 2,07 và khoảng tin cậy 95% (CI95%: 1,09-4,31).
Nhóm người đã từng bị hoặc chứng kiến người khác bị ngộ độc hóa chất có kiến thức cao hơn gấp hơn 2 lần so với nhóm chưa từng trải qua, với tỷ lệ Odds Ratio (OR) là 2,06 và khoảng tin cậy 95% (CI95%: 1,08-1,93).
Một số yếu tố liên quan với thực hành sử dụng HCBVTV của ĐTNC
Phân tích đơn biến được thực hiện với biến đầu ra là tình trạng thực hành đạt hay không đạt, nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến thực hành của đối tượng.
Bảng 3.24: Mối liên quan các yếu tố nhân khẩu học với thực hành sử dụng HCBVTV
Thực hành sử dụng p OR
Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố nhân khẩu học và thực hành sử dụng HCBVTV trong nhóm đối tượng nghiên cứu.
Bảng 3.25: Mối liên quan giữa các yếu tố tạo điều kiện với thực hành sử dụng HCBVTV
Thực hành sử dụng p OR
Tiếp cận thông tin liên quan đến HCBVTV
HUPH Đã từng tìm hiểu 130
Chưa từng nghe/tìm hiểu 14
Từng bị hoặc thấy người khác bị ngộ độc
Nhóm đối tượng đã tìm hiểu về cách sử dụng HCBVTV có tỷ lệ thực hành cao hơn gấp 3,98 lần so với nhóm chưa từng tìm hiểu, với tỷ lệ Odds Ratio (OR) là 3,98 và khoảng tin cậy 95% (CI95%) từ 2,07 đến 7,63.
Bảng 3.26: Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành sử dụng HCBVTV
Thực hành sử dụng p OR
(n,%) Kiến thức sử dụng Đạt 123
Nhóm đối tượng có kiến thức đạt có tỷ lệ thực hành đạt cao hơn gấp 3,06 lần so với nhóm có kiến thức không đạt với OR=3,06; CI95% (1,76-5,31) HUPH
BÀN LUẬN
Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng HCBVTV của đối tượng người trồng hoa, cây cảnh
Kiến thức sử dụng HCBVTV của đối tượng người trồng hoa, cây cảnh
Kiến thức về tác dụng và tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) được nhiều người biết đến, nhưng chỉ một số ít có thể nêu đầy đủ Mặc dù 100% nhận thức về tác hại đối với con người, chỉ hơn 30% hiểu rõ tác hại của HCBVTV lên động vật và môi trường Kiến thức về các đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể cũng có sự chênh lệch; hơn 90% biết đến đường xâm nhập qua ăn, uống và hô hấp, trong khi chỉ 26,3% biết đến đường qua da và mắt Tỷ lệ nhận thức đầy đủ về các đường xâm nhập theo nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa và Nguyễn Tuấn Khanh là 38,4% và 40,5% Đa số cho rằng người già và trẻ em không nên đi phun thuốc (92,7%) và người mắc bệnh hô hấp (84,3%), nhưng chỉ hơn 24% có thể liệt kê nhiều hơn 3 nhóm Nghiên cứu của Vũ Hữu Tuyên (2018) cho thấy tỷ lệ này là 35,6%, trong khi Đinh Thị Phương Hoa tại Hà Nam chỉ là 8,7% Mặc dù 81% người sử dụng quan tâm đến hướng dẫn trên bao bì HCBVTV, thông tin về độ độc của hóa chất chỉ thu hút 18,7% sự chú ý Gần một nửa người tham gia có thể phân biệt màu vàng và đỏ trong các vạch cảnh báo, nhưng dưới 10% nhận biết ít nhất 3 vạch màu, cho thấy kiến thức của họ về an toàn khi sử dụng HCBVTV còn hạn chế.
Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa cho thấy 74,9% đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về cách pha thuốc HCBVTV Trong khi đó, các nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) và Đỗ Tất Thành (2015) chỉ ra rằng tỷ lệ đối tượng nghiên cứu hiểu biết đúng về cách pha HCBVTV theo hướng dẫn sử dụng lần lượt là 25,5% và 24,8%.
Sau khi phun thuốc bảo vệ thực vật (HCBVTV), việc xử lý vỏ bao bì là rất quan trọng Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức về vấn đề này đạt trên 80%, cho thấy sự cải thiện đáng kể so với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014).
Tại Hà Nam, chỉ có 5,3% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có kiến thức đúng về xử lý hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) thừa sau phun, trong khi tỷ lệ này đối với việc xử lý chai, lọ và vỏ bao bì HCBVTV là 39,9% Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa cho thấy tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về xử lý HCBVTV thừa và chai, lọ, vỏ bao bì lần lượt là 5,7% và 67,8% Khi đề cập đến các phương tiện bảo vệ cá nhân, hầu hết chỉ nhắc đến các triệu chứng ngộ độc HCBVTV phổ biến như buồn nôn, chóng mặt và đau đầu, với hơn 30% có thể kể được từ 3 triệu chứng trở lên, nhưng không đề cập đến các triệu chứng khác So với nghiên cứu tại Đăk Lăk năm 2016, tỷ lệ này chỉ bằng một nửa (62,9%) Đối với các loại phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết, nhiều người không nêu được các dụng cụ quan trọng như mũ, nón và kính bảo vệ Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa cho thấy chỉ có 38,1% người dân có thể kể được 4 dụng cụ bảo vệ cá nhân trở lên, và chỉ 2,8% ĐTNC có thể nêu ra 5 triệu chứng ngộ độc HCBVTV, trong khi 44,6% cho rằng chỉ cần xử lý triệu chứng ngộ độc tại nhà là đủ.
Trong số 24 câu hỏi về kiến thức sử dụng HCBVTV, tỷ lệ người có nhận thức cao, nhưng nhiều người vẫn thiếu thông tin quan trọng Kiến thức của đối tượng chủ yếu ở mức cơ bản, chưa có sự hiểu biết sâu sắc về vấn đề này.
Theo đánh giá của HUPH, tỷ lệ đối tượng đạt tiêu chuẩn về kiến thức là 73,7% So với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, tỷ lệ này tương đối tương đồng Cụ thể, nghiên cứu năm 2016 chỉ ra rằng 64,7% người trồng cà phê có kiến thức đạt yêu cầu.
Nghiên cứu năm 2017 tại Hà Nội cho thấy 71,2% người trồng rau có kiến thức tốt về HCBVTV Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy nông dân ở Việt Nam và trên thế giới vẫn thiếu kiến thức về việc sử dụng HCBVTV an toàn Điều này cho thấy rằng kiến thức về HCBVTV của nông dân tại Việt Nam khá đồng nhất, mặc dù có sự khác biệt về địa lý và loại cây trồng.
Tỷ lệ người sử dụng HCBVTV cần được duy trì và nâng cao, hướng đến mục tiêu trên 80-90% người trồng hoa, cây cảnh có kiến thức đảm bảo đủ điều kiện an toàn cho sức khỏe bản thân và môi trường.
Trong nghiên cứu, thực hành của các đối tượng được đánh giá dựa trên việc đảm bảo an toàn và sử dụng đúng cách hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), vệ sinh cá nhân, cũng như bảo quản và vận chuyển hóa chất Hầu hết người được hỏi chọn mua HCBVTV tại các đại lý xã hoặc cửa hàng chuyên doanh, với ít trường hợp sử dụng sản phẩm không rõ nguồn gốc Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) cho thấy 41,2% người tiêu dùng chú trọng đến yếu tố nguồn gốc khi mua sản phẩm Sự thuận tiện và tin tưởng vào các địa điểm này là lý do chính, vì người trồng hoa, cây cảnh đã quen thuộc với việc mua HCBVTV tại đây Tuy nhiên, do sự tin tưởng, nhiều người không kiểm tra sản phẩm khi mua, chỉ khoảng 20% cho biết họ thường xuyên thực hiện việc này, đặc biệt là kiểm tra nhãn mác và liều lượng khi chọn mua HCBVTV.
Trước khi phun, nhiều ĐTNC vẫn chọn HCBVTV dựa trên kinh nghiệm cá nhân thay vì theo hướng dẫn trên bao bì Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) tại Đắk Lắk cho thấy 88,1% ĐTNC lựa chọn HCBVTV có hướng dẫn bằng tiếng Việt, và 87,8% kiểm tra nhãn mác khi mua, tuy nhiên không thường xuyên Chỉ 63,6% ĐTNC pha đúng liều lượng theo hướng dẫn, trong khi 29,8% pha đặc hơn hoặc dựa vào kinh nghiệm Tỷ lệ người pha thuốc sai liều lượng là 14%, và 9,3% hoàn toàn pha theo kinh nghiệm Hơn 80% đối tượng nghiên cứu có kỹ năng đúng về địa điểm pha thuốc và cách hòa tan thuốc.
Việc sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân (PTATCN) khi pha và phun hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là rất quan trọng để đảm bảo an toàn Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân không sử dụng đầy đủ các đồ bảo hộ như ủng, mũ/nón, kính bảo hộ, khẩu trang, áo mưa/áo bảo hộ, găng tay là khá cao Hầu hết chỉ sử dụng các loại đồ bảo hộ cơ bản như khẩu trang và giày, ủng, trong khi các loại đồ bảo hộ khác chỉ được khoảng 40% đến 50% người sử dụng thường xuyên Nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) cho thấy găng tay và khẩu trang là hai loại PTATCN được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt là 96% và 93,6%, tiếp theo là áo bảo hộ/áo mưa với 18,4% So với một số địa bàn dân tộc thiểu số, nghiên cứu của Vũ Hữu Tuyên (2018) cho thấy chỉ có 4,9% người dân sử dụng đồ PTATCN một cách thường xuyên khi pha và phun HCBVTV.
Theo khảo sát, 78,3% đối tượng cho biết họ đã gom vỏ bao thuốc và cất giữ tại các địa điểm quy định Việc bảo quản hóa chất và dụng cụ phun cũng được thực hiện tốt, với 79% người tham gia cho biết họ cất giữ ở những nơi kín đáo Tuy nhiên, tình trạng bảo quản tại chuồng gia súc hoặc trong nhà rất thấp, chỉ khoảng 5% Nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) cho thấy 89% đối tượng cất giữ bình phun trong chuồng gia súc.
57,7% ĐTNC cất giữ HCBVTV dư thừa trong chuồng gia súc, chỉ có 7,5% là có nơi cất giữ HCBVTV dư thừa và bình phun riêng biệt (21)
Nghiên cứu cho thấy một số ĐTNC chưa chú trọng đến vệ sinh cá nhân sau khi pha phun HCBVTV, với khoảng 10% bỏ qua việc tắm bằng xà phòng và nước sạch Cụ thể, trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa năm 2016, chỉ có 84,3% ĐTNC tắm ngay sau khi phun, trong khi tỷ lệ này cao hơn trong các nghiên cứu của Quách Thị Hoa (98,5%) và Đinh Thị Phương Hoa (94,7%) vào năm 2014.
Theo khảo sát, 27,3% người tham gia cho biết họ đã từng chứng kiến hoặc trải qua trường hợp ngộ độc cấp tính do hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), cho thấy hiện tượng này khá phổ biến trong cộng đồng Nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn người bị ngộ độc HCBVTV chưa xử trí đúng cách; chỉ có 23,3% trường hợp được điều trị tại cơ sở y tế So với nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa, con số này vẫn cao hơn, khi có tới 54,8% người bị ngộ độc xử trí tại nhà bằng cách uống nước đường, tắm rửa hoặc nghỉ ngơi, 2,8% đến cơ sở y tế, 11,8% không thực hiện biện pháp nào và 31,3% không biết cách xử trí.
Trong quá trình nghiên cứu, không có lỗi nghiêm trọng nào dẫn đến mất an toàn khi sử dụng HCBVTV Lỗi chủ yếu nằm ở thói quen của người sử dụng chưa đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu, cùng với các yếu tố khách quan như cơ sở vật chất chưa đảm bảo Tỷ lệ 47% đối tượng thực hành đạt tiêu chuẩn cho thấy không có sự cải thiện tích cực trong 5 năm qua, so với 46% người phu thuốc có thực hành tốt năm 2015 Thực hành sử dụng HCBVTV của các hộ trồng trọt tại Việt Nam hiện vẫn còn thấp, với tỷ lệ dưới 50%.
(2014) là 39,5% (21), trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) là 38,1 %
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng HCBVTV của người trồng
Sau khi thực hiện phân tích đơn biến với biến phụ thuộc là kiến thức và thực hành, một số yếu tố liên quan đã được xác định có ý nghĩa thống kê Mối quan hệ giữa các yếu tố này với kiến thức và thực hành cho thấy sự khác biệt, khi một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức nhưng không tác động đến thực hành, và ngược lại.
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tuổi và giới tính không ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành của người trồng hoa cây cảnh Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục xem xét các yếu tố này để so sánh và làm rõ hơn tại địa bàn nghiên cứu Đối tượng nam giới chiếm đa số do đặc thù công việc, nhưng không có sự khác biệt đáng kể về kiến thức và thực hành giữa hai nhóm nam và nữ Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước tại Việt Nam, cho thấy không có bằng chứng rõ ràng về việc nhóm nam hay nữ sử dụng sản phẩm HCBVTV kém hơn Mặc dù một số nghiên cứu quốc tế chỉ ra sự khác biệt, như nghiên cứu của Wenyn Wang (2017) tại Trung Quốc cho thấy nam giới thực hành sử dụng HCBVTV an toàn hơn nữ giới, nhưng kết quả không đồng nhất Nghiên cứu của Kishor Atreya (2007) cũng cho thấy tỷ lệ nam giới chọn hướng gió đúng cao hơn.
HUPH phun tốt hơn và sử dụng đầy đủ trang bị PTATCN khi pha, phun HCBVTV nhiều hơn so với nữ giới (48)
Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố cá nhân như nhóm tuổi và trình độ học vấn không có sự khác biệt đáng kể trong việc ảnh hưởng đến kiến thức và hành vi của đối tượng nghiên cứu Mặc dù một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng người trẻ tuổi và có trình độ học vấn cao hơn thường thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) tốt hơn, nhưng tại Việt Nam, không có bằng chứng rõ ràng về sự khác biệt giữa các nhóm tuổi Nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) cho thấy những người có trình độ học vấn cao hơn thực hành sử dụng HCBVTV an toàn tốt hơn (p